Thứ Ba, 10 tháng 10, 2023

NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI KHÔNG THỂ XEM THƯỜNG

 

Nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội; “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đội lốtt “yêu nước thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc và đất nước với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.

Chủ nghĩa cơ hội vốn không xa lạ. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu đã chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩạ cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường.

Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Khi còn làm việc trong bộ máy công quyền, họ ít kêu ca, than phiền và cũng cố gắng làm tròn chức phận để vừa “giữ ghế”, vừa tận dụng cơ hội để có chức vụ cao hơn. Nhưng trong quá trình công tác, có thể có những điều gì đó làm họ không hài lòng và không đạt được mục đích như tham vọng cá nhân. Thế nên, khi trở về đời thường không còn liên quan đến việc công, họ đã giải tỏa những ức chế tâm lý và sự bức xúc cá nhân thông qua những phát ngôn trái chiều, những bài viết chủ yếu khoét sâu vào những mặt trái, tiêu cực xã hội, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước rồi đưa lên mạng xã hội khiến dư luận hoang mang, phân tâm.

Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Số người này bề ngoài thì tỏ ra am tường, minh triết, học cao, hiểu rộng, nhưng khi viết bài, đóng góp ý kiến lại có những lời lẽ, ý tứ ngụy biện được bọc trong một cái lớp vỏ phản biện trên tinh thần khoa học. Không những thế, có ý kiến còn vẽ ra con đường này, lối dẫn nọ của nước khác để khuyến cáo, thậm chí đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng. Thế nhưng, những “bức vẽ, lối đi” đó không màu sắc, không đường nét rõ ràng, bởi thực chất đấy chỉ là một thứ học đòi, học lỏm hay dung hòa, trộn lẫn hỗn độn bởi đủ thứ lý thuyết, học thuyết rối rắm, xa lạ, không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế ở nước ta.

Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Mặc dù có ý kiến đã được cơ quan chức năng và người có trách nhiệm tiếp thu, giải trình một cách nghiêm túc, cầu thị, nhưng họ vẫn không đồng ý. Lợi dụng mạng xã hội, những người này công khai bày tỏ quan điểm thiếu thiện chí, cực đoan nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc và phủ nhận con đường dân tộc ta đang đi.

Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên Cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có nhưng công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Trên các mạng xã hội, ngoài việc công khai “hối hận”, “mặc cảm” và cố ý chối bỏ quá khứ cống hiến đáng quý của mình, những người này còn có những ý kiến hết sức chủ quan, thiên lệch về tình hình đất nước, xã hội và đời sống nhân dân. Đáng nói hơn, có người đã liên lạc, kết nối với các phần tử thù địch ở hải ngoại để “tiền hô hậu ủng”, tạo thêm bệ đỡ cho các thế lực đó thường xuyên công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý. Có những người triệt để lạm dụng lúc “tranh tối tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân. Xuất phật từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra báo thứ phin toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bc nhau một tấc lên trời, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác... Cái thứ cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng cũng là kẻ thù bên trong không kém phần nguy hiểm.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2023

Đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực bảo vệ tổ quốc từ sớm, từ xa


Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn coi trọng việc bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng nhiều biện pháp khác nhau: một mặt, xây dựng quan hệ bang giao, hòa hiếu, hữu nghị với các nước láng giềng; mặt khác, chủ động xây dựng lực lượng quân đội, củng cố quốc phòng, an ninh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa. Người khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”(3) và căn dặn toàn dân, toàn quân Việt Nam: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”(4).

Kế thừa quan điểm, tư tưởng, bài học kinh nghiệm quý báu ấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục khẳng định chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là cần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, đồng thời triển khai toàn diện trên mọi lĩnh vực, phương diện của đất nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ, để thực hiện được các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, thì một trong những nhiệm vụ là chúng ta phải “thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(5). Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội XIII cũng chỉ rõ: “nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế”(6). Điều này thể hiện sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Đảng ta, đồng thời cũng cho thấy vai trò của công tác đối ngoại và hoạt động đối ngoại quốc phòng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trong đó, ngoại giao được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và quân đội được coi là lực lượng then chốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cụ thể:

Một là, sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Đảng và Nhà nước Việt Nam được thể hiện thông qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XIII). Từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã có sự đổi mới về tư duy đối ngoại, tạo bước chuyển trong mọi hoạt động hợp tác quốc phòng, chuyển từ tình trạng “đối đầu” sang “đối thoại”, “thêm bạn, bớt thù”, “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới”(7). Đại hội VII đã đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình(8). Đại hội VIII khẳng định “Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế”; “đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại” với phương châm “muốn là bạn của tất cả các nước”(9).

Năm 2003, Đảng ta đề ra Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thay đổi quan niệm bạn - thù sang linh hoạt xác định đối tác, đối tượng; lĩnh vực hợp tác quốc phòng đã được đề cập cụ thể hơn trong các văn kiện Đại hội. Đại hội IX xác định “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế”(10). Đây là lần đầu tiên Đảng ta đề ra chủ trương xây dựng quan hệ đối tác và thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong quan hệ quốc tế. Với tinh thần này, đối ngoại và hợp tác quốc phòng được triển khai mạnh mẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, cả trên bình diện song phương và đa phương. Đại hội X khẳng định: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”(11). Đại hội XI bổ sung và phát triển toàn diện hơn khi xác định: “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(12). Đáng chú ý, lần đầu tiên trong các kỳ Đại hội của Đảng, công tác đối ngoại quốc phòng được khẳng định rõ ràng. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội XI của Đảng đã xác định nhiệm vụ quan trọng “Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”(13). Thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế của Đại hội XI, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, trong đó nhấn mạnh, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là định hướng, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng biện pháp hòa bình. Thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng cả song phương và đa phương đi vào chiều sâu, ổn định, vững chắc. Đây là định hướng cơ bản, tạo nền tảng vững chắc góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng lên tầm cao mới, đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XII tiếp tục khẳng định “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”(14). Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(15). Đại hội XIII chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 là “nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước”(16). Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng về hội nhập quốc tế, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, “Về hội nhập quốc tế”, trong đó lần đầu tiên nêu rõ những định hướng hội nhập quốc phòng, gồm: “Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác song phương về quốc phòng, an ninh với các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống” và “Chủ động và tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh mà nước ta là thành viên, trước hết là các cơ chế trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN làm chủ đạo”(17).

Có thể thấy, sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng đã được hoàn thiện sâu sắc hơn qua các kỳ Đại hội, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước qua từng thời kỳ. Đặc biệt, đối ngoại và hợp tác quốc phòng ngày càng được coi trọng và được coi là kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Sự đổi mới về tư duy đối ngoại này của Đảng đã góp phần thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế về quốc phòng ngày càng sâu rộng, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện của Đảng và Nhà nước ta.

Hai là, sự nhất quán trong chủ trương, mục tiêu hợp tác quốc phòng. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2004 xác định, chủ trương đối ngoại quốc phòng là “thiết lập và phát triển quan hệ giao lưu, hợp tác trên cơ sở bình đẳng, hiểu biết lẫn nhau với lực lượng vũ trang các nước khác”(18) Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 nhấn mạnh: “Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước”; “sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển” trên tinh thần “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào”(19)  và “Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia”(20). Với mong muốn “thêm bạn, bớt thù”, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác quốc phòng song phương và đa phương với các nước, tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, cùng có lợi, sẵn sàng tham gia giải quyết những thách thức an ninh chung trên cơ sở tôn trọng, tuân thủ luật pháp quốc tế, như Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 xác định: “Việt Nam xem xét tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương và cơ quan pháp lý quốc tế khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia”(21).

Có thể thấy, chủ trương đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Việt Nam đã thể hiện rõ bản chất của Quân đội Nhân dân Việt Nam là yêu hòa bình, vì hòa bình, chiến đấu để bảo vệ hòa bình, mang tính chất tự vệ để bảo vệ chính nghĩa.

Với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, năng động, sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng và chức năng nhiệm vụ đặc thù của lực lượng vũ trang, mục tiêu của đối ngoại quốc phòng là “góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững hòa bình và an ninh ở khu vực và trên thế giới”(22). Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, xác định đối ngoại quốc phòng nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình; tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác hội nhập quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, đối ngoại quốc phòng còn nhằm mục tiêu duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới; thể hiện trách nhiệm trước các vấn đề của khu vực và cộng đồng quốc tế.

LHQ-ST

Một số vấn đề đặt ra đối với chiến lược bảo vệ tổ quốc hiện nay

 "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới" được Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IX) đề ra và đã đi vào cuộc sống thực tiễn hơn 5 năm qua. Nội dung của Chiến lược đã phản ánh một cách tập trung những tư duy mới của Đảng ta về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Đó là kết tinh trí tuệ sáng tạo của toàn Đảng qua nhiều kỳ Đại hội, đặc biệt là sự kế thừa và phát triển những tư duy mới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ các Đại hội lần thứ VII, VIII và IX.

Thực tiễn triển khai thực hiện "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới" những năm qua đã đem lại nhiều thành tựu to lớn, mà nổi bật là: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, cũng như sự lãnh đạo của Đảng, chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa (XHCN) được giữ vững; thế và lực của nước ta đã tăng lên nhiều; đất nước hòa bình, ổn định đã tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế; nước ta được xem là điểm đến an toàn của khách du lịch và các nhà đầu tư quốc tế, v.v.. Thực tiễn đó đã minh chứng cho tính đúng đắn của những nhận định, dự báo và quan điểm chỉ đạo mà "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới" đã nêu ra. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, thời gian qua, đã xuất hiện những hạn chế, bất cập (cả trong nhận thức và tổ chức hành động), đòi hỏi việc tiếp tục thực hiện Chiến lược này trong giai đoạn hiện nay phải có những giải pháp khắc phục hiệu quả.

Trước hết, phải làm tốt hơn nữa việc quán triệt trong mọi tầng lớp nhân dân hệ thống quan điểm mới của Đảng về mục tiêu và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới" đã nêu ra; sớm khắc phục những hạn chế trong nhận thức và hành động của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề này. Đó là chưa thấy được sự gắn bó chặt chẽ giữa bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ chế độ chính trị XHCN; chưa nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ nền văn hóa với bảo vệ độc lập, chủ quyền, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị... Vì thế, có nơi, có lúc, một bộ phận nhân dân, nhất là thanh niên đã bị các thế lực bên ngoài kích động chạy theo vấn đề bảo vệ Tổ quốc về mặt tự nhiên - lịch sử mà sao nhãng và xem nhẹ việc bảo vệ Tổ quốc về mặt chính trị - xã hội; từ đó, rơi vào âm mưu thâm độc của chiến lược "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch giăng ra, hòng lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về chủ quyền, lãnh thổ mà lịch sử để lại để hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ chính trị XHCN một cách êm thấm, không cần tới chiến tranh. Để khắc phục hạn chế đó, vấn đề đặt ra hiện nay là các cấp, các ngành phải đẩy mạnh công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, nhằm quán triệt có hiệu quả hơn trong các tầng lớp nhân dân về 6 nội dung trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà Chiến lược đã nêu: "Một là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; hai là, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; ba là, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bốn là, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; năm là, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; sáu là, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng XHCN". Điều quan trọng là phải làm cho mọi người dân hiểu rõ hơn mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa các nội dung trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH); khẳng định rõ: bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay là bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; từ đó thường xuyên nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chăm lo xây dựng và củng cố tinh thần yêu nước XHCN, kiên quyết đập tan mọi âm mưu thâm độc trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hai là, cần nâng cao nhận thức của nhân dân về những phát triển mới trong phương thức bảo vệ Tổ quốc hiện nay; làm cho mọi người dân thấy rõ vai trò ngày càng nổi bật của biện pháp phi vũ trang, vấn đề kết hợp giữa xây dựng và bảo vệ, vấn đề tự bảo vệ của mỗi cá nhân, tổ chức và bảo vệ Tổ quốc từ xa đang đòi hỏi tính chủ động, tích cực và thường trực hơn của mọi người dân. Thực tiễn những năm qua cho thấy, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã hội ta về vấn đề này còn hạn chế; chưa thấy được sự thay đổi về chiến lược và phương thức chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, phản động, trong đó chúng sử dụng phương thức phi vũ trang là chủ yếu, lợi dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền", "tôn giáo", "dân tộc" để can thiệp vào nội bộ nước ta với các thủ đoạn "diễn biến hòa bình" kết hợp với bạo loạn lật đổ và khi có thời cơ thì có thể phát động chiến tranh xâm lược. Do vậy, đã có không ít người mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn phá hoại bằng chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; chưa thấy hết tính nguy hại của chiến lược này. Vì thế, một trong những nhiệm vụ cấp bách lúc này là phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân có nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về sự đổi mới tư duy chiến lược của chúng ta về bảo vệ Tổ quốc ngày nay, từ sử dụng các biện pháp vũ trang là chính sang sử dụng các biện pháp phi vũ trang là chính, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh vũ trang khi cần thiết; trong đó, vấn đề đấu tranh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, sự kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng và an ninh, đối ngoại cần phải được quan tâm nhiều hơn. Bên cạnh đó, cần làm cho mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội ta hiểu rõ hơn sự đổi mới phương thức bảo vệ Tổ quốc ngày nay còn được thể hiện ở việc: từng địa phương, cơ sở phải chủ động gắn kết xây dựng với bảo vệ và tự bảo vệ một cách thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi, trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; xem tự bảo vệ là phương thức hữu hiệu nhất để "bảo vệ từ xa", chống "diễn biến hòa bình", nhất là chống "tự diễn biến", v.v.. trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Ba là, cần nâng cao nhận thức của toàn dân về sức mạnh và lực lượng bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ là sức mạnh của lực lượng vũ trang, mà là sức mạnh của toàn dân, sức mạnh tổng hợp của quốc gia và chế độ, lấy sức mạnh kinh tế, chính trị làm cơ sở. Theo đó, cần tiếp tục làm cho mọi người hiểu rõ: ngày nay, trong điều kiện hệ thống XHCN thế giới không còn, thì sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị, sự vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị, sự trong sạch của đội ngũ cán bộ, đảng viên và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong vấn đề này, cần sớm khắc phục những nhận thức phiến diện của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân khi cho rằng: tập trung làm cho kinh tế mạnh, thì tự khắc quốc phòng sẽ mạnh. Từ đó, trong hành động thực tiễn, họ chú trọng nhiều hơn đến mục tiêu kinh tế, mà chưa quan tâm đúng mức đến mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chưa chú ý kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh. Bên cạnh đó, trên cơ sở nhận thức đúng đắn về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc hiện nay, cần làm chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động của mọi tầng lớp nhân dân về vai trò của các lực lượng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay; mà ở đó, lực lượng vũ trang chỉ làm nòng cốt trong đấu tranh vũ trang, còn trong điều kiện đấu tranh phi vũ trang đang nổi lên như là phương thức đấu tranh chủ yếu để bảo vệ Tổ quốc, thì vai trò của toàn dân phải được đặt lên hàng đầu. Theo đó, mỗi người dân, trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước XHCN, với những phương tiện mà khoa học - công nghệ của thời đại đem lại, hoàn toàn có thể và cần phải chủ động, tự giác tham gia bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cơ quan, đơn vị và ngành mình bằng những việc làm và hình thức phù hợp với chức năng của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị cũng như chức trách, nghề nghiệp và phương tiện của mỗi người dân. Như thế, sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia và cũng chính là biểu hiện của hành động bảo vệ Tổ quốc từ xa, bảo vệ Tổ quốc từ cơ sở. Cùng với tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có quy mô hợp lý, trong điều kiện hiện nay, cần chú trọng xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ "vững mạnh, rộng khắp", nhất là trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Bốn là, quán triệt sâu sắc hơn nữa trong mọi tầng lớp nhân dân tư duy biện chứng của Đảng ta về đối tượng và đối tác trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, liên quan chặt chẽ đến sự phối hợp giữa quốc phòng với kinh tế, an ninh và đối ngoại; ảnh hưởng đến hiệu quả việc phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong thực tiễn, do nhận thức chưa đầy đủ về âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, nên thời gian qua, một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức chưa đầy đủ (có lúc chưa đúng) về đối tượng, đối tác của nước ta hiện nay; chưa thấy rõ tính biện chứng trong quan điểm của Đảng về đối tượng và đối tác. Do vậy, nhận thức về hợp tác và đấu tranh, đối tượng và đối tác có lúc, có nơi chưa thật rõ; khả năng cụ thể hóa quan điểm này trong xử lý các tình huống còn hạn chế; một bộ phận nhân dân, đặc biệt là thanh niên, còn mắc mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch trong xử lý các vụ việc cụ thể, nhất là trong xử lý các vấn đề nhạy cảm về đầu tư, về chủ quyền, lãnh thổ do lịch sử để lại, v.v.. Để khắc phục, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vấn đề này; làm cho mọi người dân nắm vững những nguyên tắc xác định đối tượng và đối tác của Đảng: "Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh"(1); đồng thời, phải giúp họ có cách nhìn biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.

Năm là, nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng trong xã hội đối với việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân; kiên quyết khắc phục những nhận thức chưa đúng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân cho rằng: quốc phòng chỉ là việc riêng của quân đội, của Bộ Quốc phòng, và quốc phòng chỉ nhằm chuẩn bị để đánh thắng chiến tranh vũ trang của các thế lực xâm lược. Theo đó, chúng ta cần nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành trong tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân (cả về lực lượng và thế trận), nhất là thực hiện sự kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh, trong xây dựng và tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) theo Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị và trong xây dựng "thế trận lòng dân" của khu vực phòng thủ; bảo đảm việc tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ có sự tham gia đầy đủ hơn của các ban, ngành Trung ương, sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng quân đội, công an, biên phòng (nếu có) trong khu vực phòng thủ, nhằm nâng cao khả năng vận hành cơ chế hoạt động khu vực phòng thủ theo tinh thần Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị. Cùng với đó, tiếp tục đổi mới nhận thức về mối quan hệ giữa quốc phòng với an ninh và đối ngoại trong điều kiện nước ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; bổ sung, hoàn thiện quy chế phối hợp giữa ba lĩnh vực này, làm rõ cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, quản lý sự phối hợp trong điều kiện thực hiện các cam kết quốc tế; đồng thời, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp phối hợp, kết hợp các hoạt động đối ngoại quân sự, quốc phòng, an ninh với đối ngoại của Đảng, Nhà nước và đối ngoại nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; nghiên cứu xây dựng Chiến lược quốc phòng - an ninh - đối ngoại và kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân và đối ngoại nhân dân trong một chiến lược thống nhất về bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng - an ninh toàn dân và bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh theo Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng - an ninh trong tình hình mới" và Nghị định số 116/2007/NĐ-CP của Chính phủ về "Giáo dục quốc phòng - an ninh" cho mọi tầng lớp nhân dân; xem đó là biện pháp cơ bản, có tính chất nền tảng để nâng cao trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành và mọi người dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức to lớn. Để giành lấy cơ hội, vượt qua thách thức, việc tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn nữa những quan điểm cơ bản của Đảng trong "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới" là hết sức cần thiết. Nhưng, quan trọng hơn, là trên cơ sở đó, từng cấp, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương và từng người dân phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo những vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc đó để xử lý các tình huống cụ thể, góp phần vào bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới./.
LHQ-ST

Vấn đề đối tác, đối tượng trong chiến lược bảo vệ tổ quốc

 Sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, đất nước ta vẫn phải đối diện với rất nhiều nguy cơ, thách thức trên mọi lĩnh vực; đồng thời, phải đứng trước sự lựa chọn, phân định bạn - thù, đối tác - đối tượng, để định hình chiến lược, sách lược; đề ra và triển khai có hiệu quả đường lối đối nội, đối ngoại; bảo vệ lợi ích của dân tộc và vai trò lãnh đạo của Đảng, sự vững mạnh của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (từ ngày 02-7 đến ngày 12-7-2003), trên cơ sở phân tích tình hình chính trị thế giới, khu vực và trong nước; đồng thời căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra và âm mưu, khả năng hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta, Đảng ta đã đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong hình hình mới” (gọi tắt là Chiến lược bảo vệ Tổ quốc năm 2003). Trong đó, Đảng ta đã đưa ra một số phương châm chỉ đạo trong việc xác định đối tác - đối tượng, cụ thể là: Phải trên tinh thần thêm bạn, bớt thù, phân hóa, cô lập các thế lực thù địch chống đối ta, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới. Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia, dân tộc là vĩnh viễn. Không nên xác định cả một quốc gia là đối tượng đấu tranh mà chỉ nên nói các thế lực thù địch, hoặc một số người trong giới cầm quyền ở một số nước nào đó có hành động cực đoan, hiếu chiến, chống đối ta, các cơ quan tình báo nước ngoài có hoạt động phương hại đến an ninh quốc gia của ta. Không có đối tác vĩnh viễn, song phải xác định được những đối tác chiến lược, lâu dài, nhất quán trên cơ sở chủ trương thêm bạn, bớt thù, khai thác triệt để mặt đối tác nhằm bảo đảm lợi ích lâu dài và chắc chắn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những phương châm chỉ đạo trên đã cho thấy sự đổi mới mạnh mẽ, khách quan, toàn diện trong tư duy của Đảng ta về vấn đề đối tác - đối tượng: từ chỗ chỉ dựa trên ý thức hệ để xác định bạn - thù, sau đó mới tới lợi ích của quốc gia, dân tộc, đã chuyển sang quan niệm mềm dẻo, biện chứng hơn khi nhìn nhận đúng đắn về sự đan cài lợi ích trong quan hệ với các quốc gia. Đồng thời, cũng trên cơ sở phương châm chỉ đạo trên, Trung ương Đảng ta đã đề ra nguyên tắc trong việc xác định đối tác, đối tượng phù hợp với bối cảnh của đất nước, đó là: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Mặt khác, trong tình hình diễn biến mau lẹ và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn nhận biện chứng: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta. Trên cơ sở đó, cần khắc phục cả hai khuynh hướng mơ hồ, mất cảnh giác hoặc cứng nhắc trong nhận thức, chủ trương và trong xử lý các tình huống cụ thể”(1).

Sau hơn 10 năm quán triệt thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc năm 2003 nói chung và các phương châm, nguyên tắc trong xác định đối tượng, đối tác, chúng ta đã thu được rất nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt chúng ta đã: “...bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc,... Tiềm lực kinh tế, uy tín, vị thế quốc tế của đất nước được nâng cao. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh được tăng cường; sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc được nâng lên một bước”(2). Nước ta đã hội nhập ngày càng sâu với quốc tế, thiết lập quan hệ bình thường với hầu hết các quốc gia; tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm cao vào các tổ chức ở cấp khu vực và thế giới. Đặc biệt, nước ta đã tiếp tục củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống với các đối tác láng giềng; tạo quan hệ ổn định, lâu dài và không ngừng đưa các mối quan hệ với các nước lớn đi vào chiều sâu (3); tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, tri thức, công nghệ mới và các nguồn lực quan trọng khác của quốc tế vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động can thiệp, lật đổ, chống phá mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của các thế lực thù địch.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận đúng về những hạn chế, thiếu sót. Nghị quyết số 28-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, ngày 25-10-2013, nêu rõ: “... một số yếu tố quan trọng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc chậm được củng cố, tăng cường, có mặt còn giảm sút và phát sinh những vấn đề phức tạp mới. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc chưa đầy đủ, sâu sắc; chủ quan, mất cảnh giác; quan liêu, không gắn bó với nhân dân, không nắm chắc tình hình, có nhiều sơ hở... Các nguy cơ mà các Đại hội Đảng đã chỉ ra, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI tiếp tục cảnh báo chưa được khắc phục, có mặt còn nghiêm trọng hơn”(4).

Trên thực tế, một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn mơ hồ, mất cảnh giác, nhìn nhận phiến diện về vấn đề đối tượng, đối tác; chưa có quan điểm khách quan, toàn diện trong đánh giá các nguy cơ, thách thức và cơ hội của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế. Từ đó, chưa nhận thức đầy đủ về các lợi ích quốc gia, dân tộc; đồng thời, chưa gắn kết chặt chẽ giữa yêu cầu hội nhập quốc tế với yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm sự độc lập, tự chủ, bảo vệ vững chắc chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam. Cho nên, trong một số trường hợp chúng ta vẫn còn rơi vào thế bị động, bất ngờ.

Chính từ việc nhận thức đúng về mối nguy hiểm, đe doạ từ những hạn chế nói trên có thể tác động làm giảm sút sức mạnh tổng hợp của đất nước, cũng như khả năng bảo vệ Tổ quốc trước các khó khăn, thách thức đặt ra trong thời gian tới, ngày 25-10-2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã tổ chức Hội nghị lần thứ tám và nhất trí thông qua Nghị quyết số 28-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Với hệ thống 7 quan điểm đề ra trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Nghị quyết lần này tiếp tục nhấn mạnh và làm rõ hơn quan điểm về vấn đề đối tượng - đối tác.

Việc xác định đối tượng, đối tác là tương đối “nhạy cảm” trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta né tránh, để rồi rơi vào trạng thái mơ hồ, mất cảnh giác, mất tính chiến đấu và khó có thể vạch ra chủ trương, sách lược, chiến lược đúng đắn trong bảo vệ Tổ quốc. Thực tế, xác định đối tượng - đối tác là một trong những nội dung căn bản nhất trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Do đó, vấn đề đối tượng, đối tác vừa qua đã được Trung ương Đảng ta khẳng định rõ: “Vận dụng đúng đắn quan điểm về đối tác, đối tượng: Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta. Mặt khác, trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”.

LHQ-ST

Quan điểm của Đảng ta về đối tác, đối tượng trong tình hình mới

 Quan điểm trên của Trung ương Đảng vẫn thể hiện được tính mềm dẻo, biện chứng toàn diện trong cách nhìn nhận về đối tượng và đối tác. So với nội hàm quan điểm cùng về vấn đề này trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, thì quan điểm lần này vừa có tính kế thừa, nhưng vừa có sự bổ sung những nội dung phù hợp, đòi hỏi cần phải được nghiên cứu, quán triệt nghiêm túc. Cụ thể:

Thứ nhất, quan điểm về đối tượng đấu tranh

Trung ương Đảng tiếp tục khẳng định: “... bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta”. Đây là một sự khẳng định khôn khéo, mềm dẻo của chúng ta trong quyết tâm bảo vệ các lợi ích quốc gia, dân tộc Việt Nam và mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng ta không vạch tên, chỉ mặt đối tượng nào, không tạo ấn tượng hiềm khích với ai, nhưng sự khẳng định trên cũng đủ để vừa quy tụ ý chí, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, vừa đề cao được lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc.

Bởi vì, “Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm”(6), cho nên tiếp tục đề cao mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc là hoàn toàn hợp lý, dễ hiểu. Hơn nữa, điều này cũng phù hợp với phương hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà Đại hội VII (năm 1991) đã đề ra đó là “Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc”(7). Thực tế chỉ ra rằng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam chính là nền tảng vững chắc nhất để xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta - đó cũng chính là lợi ích quốc gia, dân tộc ta đang hướng tới.

Do đó, bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng chính là các thế lực có âm mưu, hành động chống lại nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; chống lại các lợi ích quốc gia, dân tộc Việt Nam; chống lại sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn và tất cả những thế lực đó đều là đối tượng đấu tranh của chúng ta.

Thứ hai, quan điểm về đối tác

Trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc năm 2003, xác định “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta”. Tuy nhiên, hiện nay Nghị quyết số 28-NQ/TW “về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, ngày 25-10-2013 đã cắt bỏ đi hai từ “chủ trương” của quan điểm trước đây và khẳng định: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác”.

Điều này vừa bảo đảm sự phù hợp với các nguyên tắc trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, nó cũng phù hợp với đường lối đối ngoại nhất quán của nước ta đã được Đảng ta xác định trong Đại hội XI: “là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(8); “Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế”(9).

Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, uy tín, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, trách nhiệm quốc tế của Việt Nam cũng ngày càng lớn và được các đối tác tin cậy. Do đó, việc cắt bỏ đi hai từ “chủ trương” trong quan điểm cũ là một bước khẳng định rõ ràng rằng chúng ta sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy với những đối tác nào tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với chúng ta; chứ không phải chỉ dừng lại ở mức độ “chủ trương”. Mặc dù vậy, để bảo đảm tính khách quan, toàn diện thì khi nhận thức về vấn đề đối tác cần phải đặt nó trong mối quan hệ với vấn đề đối tượng ngày nay.

Thứ ba, về tính biện chứng giữa đối tượng - đối tác

Trước đây, Trung ương Đảng chỉ nêu “... trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta”. Nhưng hiện nay, Trung ương Đảng đã khẳng định: “... trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”.

Có thể thấy, Trung ương Đảng đã quan niệm một cách khái quát, khách quan, toàn diện và đầy đủ hơn về tính biện chứng trong mỗi đối tác, chứ không chỉ dừng lại ở một số đối tác như trước đây. Thực tế đã khẳng định về tính đúng đắn của quan điểm này, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và tính cạnh tranh song hành cùng tính lệ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia đang ngày càng gia tăng.

Như vậy, đối tượng và đối tác luôn tồn tại trong một thể thống nhất. Do đó, sẽ có những đối tác rất đáng tin cậy, rất khó có khả năng chuyển hóa thành đối tượng, nhưng cũng có những đối tác có thể bị chuyển hóa thành đối tượng trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định, đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn cảnh giác. Thậm chí có đối tác bản thân đã, đang là đối tượng, buộc chúng ta phải vừa hợp tác, vừa phải đấu tranh. Bên cạnh đó, trong các loại đối tượng sẽ có những đối tượng mâu thuẫn, khác biệt ở mức độ nhất định, trong khoảng thời gian nhất định với chúng ta về ý thức hệ, hoặc về lợi ích chủ quyền, lãnh thổ hoặc về lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội,... Tuy nhiên, xét trong tổng thể thì vẫn còn có mặt có thể hợp tác được, mà không phải là đối tượng hoàn toàn hay đối tượng vĩnh viễn.

Thứ tư, chủ trương ứng xử đối với những mặt mâu thuẫn, khác biệt về lợi ích ở đối tác với chúng ta

Quan điểm về vấn đề đối tượng, đối tác mà Trung ương Đảng đề ra trong Nghị quyết 28-NQ/TW còn thể hiện tính cách mạng sâu sắc, rằng với những điểm mâu thuẫn, khác biệt về lợi ích giữa ta với mỗi đối tác đó, chúng ta không phải vì vậy mà chấp nhận nó, mà “cần phải đấu tranh”. Bằng sự mưu trí, sáng tạo để “đấu tranh” nhằm tăng cường sự hiểu biết, lòng tin, tăng cường tính đồng thuận, mở ra các thời cơ thuận lợi, tranh thủ tận dụng được những ưu điểm của mỗi đối tác để giúp chúng ta phát triển nhanh. Mặt khác, hạn chế tiến tới triệt tiêu các mâu thuẫn, lực cản phát sinh ở mỗi đối tác, mà không phải là nhằm mục tiêu triệt tiêu đối tác.

Tóm lại, trong nhận thức về vấn đề đối tượng, đối tác cần phải có cách nhìn khách quan, toàn diện, khoa học. Phải thấy được trong mỗi đối tượng, đối tác đâu là điểm có thể hợp tác được, đâu là điểm cần đấu tranh. Không nên cực đoan, máy móc hoặc rơi vào mơ hồ, ngộ nhận, thiếu cảnh giác rằng đối tác chỉ là hợp tác, còn đối tượng nhất định phải đấu tranh. Đồng thời, phải hết sức mềm dẻo trong hoạch định chủ trương, sách lược, chiến thuật đấu tranh với từng loại đối tượng, ở từng mặt, từng vấn đề vào từng thời điểm cụ thể, trên tinh thần hòa bình, hợp tác và phát triển; tránh xung đột, đối đầu, nhất là với các nước lớn; tránh bị cô lập, lệ thuộc.

Bên cạnh đó, để góp phần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về vấn đề đối tượng, đối tác, đòi hỏi các cơ quan, ban, ngành chức năng cần phải nghiên cứu, xây dựng nội dung phù hợp, tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức cho từng đối tượng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đối với các cán bộ chủ chốt và các lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thì cần phải mở chuyên đề riêng, có sự phân tích sâu sắc, toàn diện hơn để giúp cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu đúng, hiểu rõ, nâng cao sức cảnh giác, đề phòng, nhận diện được đối tượng, đối tác của ta, tạo nên sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Mỗi cơ quan, ban, ngành, tổ chức, doanh nghiệp,... cần phải xây dựng kế hoạch, cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Trung ương Đảng thành các chương trình hành động, kiểm tra, giám sát phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình, để đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc./.

LHQ- ST

CHÀO MỪNG GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ.


Hà Nội thời tiết sáng nay

Mưa bụi lất phất heo may trở về

Đến trưa nắng toả tràn trề

Mừng Ngày giải phóng tứ bề hoan ca.


CHÀO MỪNG 69 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ (10/10/1954 - 10/10/2023).

Nhận diện và đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc hoạt động GGHB LHQ của Quân đội nhân dân Việt Nam

 Hoạt động GGHB LHQ của quân đội là trụ cột của đối ngoại quốc phòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đường lối đối ngoại của chúng ta là kế thừa truyền thống yêu chuộng hòa bình của dân tộc, được đúc kết trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, kết hợp với vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Nhờ thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, Nhà nước, công tác đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế và đặc biệt là những thành công của QĐND Việt Nam khi tham gia lực lượng GGHB LHQ, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên, điều đó lại đang cản trở âm mưu của các thế lực phản động, cơ hội chính trị, khiến chúng điên cuồng tìm cách chống phá cách mạng nước ta. Vì, mục đích sâu xa trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động đối với nước ta vẫn là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, lái nước ta đi theo con đường lệ thuộc.
Hiện nay, việc tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật về đường lối đối ngoại quốc phòng và hoạt động GGHB LHQ của QĐND Việt Nam cũng là mục tiêu để các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước tập trung chống phá. Âm mưu của chúng là nhằm hạ thấp uy tín, vị thế của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, tạo dư luận xấu với bè bạn quốc tế. Họ đã lợi dụng các tổ chức quốc tế để gây áp lực, cô lập, ngăn cản Việt Nam tham gia vào các diễn đàn thế giới, nhất là khi Đại Hội đồng LHQ họp để bỏ phiếu thông qua một nghị quyết nào đó, khi mà Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ và sự độc lập, tự chủ của mình thông qua lá phiếu thì họ lại cho rằng Việt Nam không đứng về số đông mà lại chọn phe,v.v. Các tổ chức phản động sử dụng các trang mạng xã hội để phát tán tài liệu, đăng tải các bài viết có nội dung kích động lòng thù hằn dân tộc, đăng tải những vấn đề chưa được giải quyết kịp thời trong quan hệ quốc phòng cũng như quan hệ giữa nước ta với các nước trong khu vực, núp dưới cái bóng của những “Nhà dân chủ, người yêu nước chân chính…” để xuyên tạc, bóp méo sự thật.
Có những ý kiến cho rằng: tham gia lực lượng GGHB LHQ chỉ là để đánh bóng, gây tốn kém ngân sách nhà nước, rủi ro cho những người lính trực tiếp đi làm nhiệm vụ, v.v. Với thái độ cực đoan và những luận điểm xuyên tạc, các thế lực phản động đã vu khống trắng trợn là Đảng, Nhà nước, không lo việc bảo vệ chủ quyền mà lại đưa Quân đội ra nước ngoài để tham gia hoạt động GGHB là việc làm không cần thiết vì không đem lại lợi ích gì cho đất nước. Có ý kiến rất thâm độc, đã xuyên tạc rằng: Nước ta đưa Quân đội tham gia lực lượng GGHB LHQ là tham gia liên minh quân sự, đi xâm lược, chiếm đóng nước khác.
Chúng ta khẳng định rằng, tham gia lực lượng GGHB LHQ là tham gia vào nỗ lực của nhân loại, hoàn toàn chính nghĩa trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới, việc triển khai các lực lượng GGHB là thực thi theo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ, đặt dưới sự chỉ huy, chỉ đạo của LHQ, các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp cho hoạt động GGHB. Việt Nam chúng ta đã có các Nghị quyết của Đảng, quy định của Hiến pháp và Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghi quyết số 130/2020/QH14 về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Kỳ họp thứ Mười, ngày 13 tháng 11 năm 2020 đó là ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện truyền thống yêu chuộng hòa bình, trách nhiệm với thế giới.

Chặng đường đáng tự hào

Có lẽ, không có dân tộc nào trên thế giới này thấu hiểu sự mất mát, đau thương trong chiến tranh bằng dân tộc Việt Nam, lịch sử từ ngàn xưa dân tộc đã chứng kiến tất cả các triều đại phong kiến ở phương Bắc đều đã đem quân sang xâm lược, đô hộ hoặc khiêu khích gây mất ổn định đối với nước ta. Đến cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX, dân tộc ta phải đương đầu với những kẻ thù xâm lược mạnh nhất thế giới như: thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ. Trải qua những thăng trầm với nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc, Nhân dân ta thấu hiểu giá trị của hòa bình và mong muốn mọi dân tộc trên thế giới đều được hưởng hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đại thắng mùa Xuân 1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước trường kỳ của dân tộc, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Trải qua quá trình đầy gian nan, thử thách, bằng sự nỗ lực không mệt mỏi Việt Nam đã khẳng định được vị thế của mình và nhận được sự ủng hộ của quốc tế. Ngày 20 tháng 9 năm 1977, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 149 của Liên hợp quốc, đây là sự kiện quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, thể hiện quyết tâm hội nhập của Đảng, Nhà nước ta, đóng góp vào nền hòa bình, phát triển và tiến bộ xã hội của nhân loại.
Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ) là hoạt động rất quan trọng trong đối ngoại quốc phòng và là một bộ phận của đối ngoại quốc gia. Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã kiên quyết, kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của nhân dân lên đầu; nguyện trung thành vô hạn với lý tưởng cách mạng của Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân, luôn nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, thể hiện tinh thần đoàn kết, thủy chung, nghĩa tình với bạn bè quốc tế. Chính truyền thống ấy đã giúp QĐND Việt Nam thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ quốc tế cao cả với đất nước Campuchia, giúp đỡ dân tộc Lào và các nước anh em, nối rộng vòng tay với tất cả các nước trên thế giới.
Tham gia GGHB LHQ là một trong những minh chứng để cam kết thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước ta. Hiện nay, “Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia, bao gồm 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và các cường quốc trên thế giới”(1), với nhiều lĩnh vực hợp tác quốc phòng.
Thực tế, từ năm 1996, nước ta đã có những đóng góp cho Quỹ Gìn giữ hòa bình của LHQ, thể hiện trách nhiệm đối với việc bảo vệ hòa bình, an ninh thế giới. Năm 2005, Quân đội đã có chủ trương cử các cán bộ tham gia các đoàn liên ngành để nghiên cứu mô hình và cơ chế hoạt động GGHB, đặc biệt là cử những sĩ quan tham gia các khoa đào tạo về hoạt động GGHB ở trong nước và ở nước ngoài, để chuẩn bị nguồn nhân lực sẵn sàng tham gia hoạt động GGHB LHQ. Xuất phát từ vai trò, trách nhiệm và cam kết chính trị của nước ta với LHQ, Bộ Chính trị đã thông qua Đề án tổng thể về việc Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ tại cuộc họp ngày 23/11/2012, và để cụ thể hóa chủ trương của Đảng; ngày 05/12/2013 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án QĐND Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ giai đoạn 2014 - 2020 và những năm tiếp theo, đây là những chủ trương quan trọng để Bộ Quốc phòng quyết tâm triển khai thực hiện. Ngày 27 tháng 5 năm 2014, Bộ Quốc phòng đã công bố quyết định thành lập Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam (nay là Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam), với chức năng là “Tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Ban chỉ đạo Bộ Quốc phòng trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, chỉ huy lực lượng quân đội tham gia GGHB LHQ”
Từ năm 2014 đến nay, QĐND Việt Nam đã cử hơn 500 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia GGHB LHQ, bao gồm 04 lượt bệnh viện dã chiến cấp 2, 01 đội công binh làm nhiệm vụ tại Nam Sudan và các sĩ quan làm việc tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và tại Trụ sở LHQ. Tham gia GGHB LHQ là một bước tiến của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, thể hiện vai trò, trách nhiệm của một thành viên LHQ. Việt Nam đã 02 lần được bầu và trúng cử vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ (nhiệm kỳ 2008 -2009 và nhiệm kỳ 2020 - 2021) với số phiếu ủng hộ rất cao; qua đó góp phần lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, luôn sẵn sàng đóng góp vì hoà bình và sự phát triển của LHQ. Với hành trang vững chắc là lý tưởng cách mạng, những người “Bộ đội cụ Hồ” đã lên đường đi bất cứ nơi đâu và làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc giao phó; mặc cho những khó khăn và thách thức ở phía trước, những người lính “Bộ đội cụ Hồ” luôn sẵn sàng vì nghĩa vụ quốc tế cao cả.
Hiện nay, Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 của QĐND Việt Nam đang thực hiện sứ mệnh tại Bentiu - Nam Sudan, hoạt động rất hiệu quả, qua đó khẳng định được trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm cao, là chỗ dựa uy tín về chăm sóc sức khỏe cho Phái bộ LHQ tại địa bàn. Đội Công binh số 1 đang làm nhiệm vụ tại khu vực Abyei (khu vực tranh chấp giữa Sudan và Nam Sudan). Năm 2022, Việt Nam cử Đội công binh số 1 với 184 thành viên tham gia lực lượng GGHB LHQ làm nhiệm vụ tại khu vực tranh chấp này, đây là lần đầu tiên Bộ đội Công binh được cử đi làm nhiệm vụ tại Châu Phi, rất xa nước ta; bước đầu có rất nhiều khó khăn, phức tạp, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ do Chỉ huy Phái bộ giao Đội công binh còn phải tập trung củng cố doanh trại, bảo đảm nơi ăn ở, xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu vực đóng quân. Quá trình thực hiện nhiệm vụ Đội Công binh số 1 của QĐND Việt Nam đã được Chỉ huy Phái bộ và các cơ quan chức năng đánh giá cao về năng lực chuyên môn, nhất là sự cần cù, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao. Những kết quả đạt được hôm nay làm cơ sở để Bộ đội Công binh hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao tại Phái bộ GGHB, xứng đáng với truyền thống “Mở đường thắng lợi” của Bộ đội Công binh Việt Nam Anh hùng.
Hình ảnh những quân nhân “Mũ nồi xanh” Việt Nam tại các Phái bộ GGHB, bằng sự nhiệt tình, năng lực chuyên môn và gần gũi đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế và nước sở tại. Ngoài việc khám chữa bệnh, tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, tái thiết trong khu vực, bộ đội ta còn tăng gia sản xuất, trồng rau, chăn nuôi, giúp đỡ người dân bản địa làm nông nghiệp, tặng đồ dùng học tập và dạy học cho các em nhỏ đã làm sâu sắc hơn nữa hình ảnh bộ đội Việt Nam. Đặc biệt tháng 2 năm 2023, lực lượng Công an và Quân đội của Việt Nam lần đầu tiên được điều động sang Thổ Nhĩ Kỳ để hỗ trợ nhân đạo và tham gia cứu trợ thiên tai do thảm họa động đất. Qua đó thể hiện đạo lý nhân văn, tinh thần tương thân tương ái, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn của dân tộc ta, thể hiện trách nhiệm cao trước cộng đồng quốc tế của Đảng, Nhà nước ta; đồng thời cũng khẳng định năng lực và tinh thần trách nhiệm của QĐND Việt Nam trong hội nhập, hợp tác quốc phòng.

Thành công từ việc xây dựng lòng tin trong đối ngoại

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam là sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” . “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình” . Nói về lòng tin, sự tin cậy trong quan hệ ngoại giao, Người viết: “Tôi chắc chắn rằng, với thiện ý chung và sự tin cậy lẫn nhau, chúng ta sẽ rất nhanh chóng đi đến một sự thoả thuận có lợi cho cả hai dân tộc chúng ta”
Kế thừa, vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể của đất nước, Đảng ta luôn “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại” . Đồng thời, tăng cường những biện pháp xây dựng lòng tin với các đối tác. Theo đó, Việt Nam đã từng bước tạo dựng và gia tăng mức độ đan xen lợi ích với các đối tác, nhất là các đối tác lớn, đối tác quan trọng đối với lợi ích an ninh và phát triển của mình. Thực hiện minh bạch hóa chính sách, quy trình hoạch định và triển khai chính sách, trong đó có việc định kỳ công bố Sách Trắng quốc phòng, Sách Xanh ngoại giao, nguyên tắc “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Đồng thời tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế lớn và nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế. Những biện pháp này đã giúp Việt Nam có những đóng góp tích cực vào sự ổn định, phát triển của khu vực, thế giới; đồng thời, là cơ sở để các đối tác ngày càng tin tưởng Việt Nam hơn.
Thực tiễn cho thấy, sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chiến lược sáng suốt, đúng đắn trong công tác đối ngoại đã góp phần quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố.
Với những chính sách tạo được lòng tin, sự tin cậy đối với các tổ chức và các nước trên thế giới, hiện nay mạng lưới các mối quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện tiếp tục được củng cố và mở rộng; quan hệ với các nước từng bước đi vào chiều sâu, đan xen lợi ích được tăng cường; thúc đẩy ký kết và thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó có Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)... Tính đến tháng 9/2023, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao chính thức với 193 quốc gia (bao gồm 190/193 nước thành viên Liên hợp quốc). Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1.200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam cũng là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng. Chúng ta được bạn bè quốc tế tin tưởng, tín nhiệm đề cử đăng cai, tổ chức nhiều hội nghị quốc tế lớn và đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế quan trọng. Bên cạnh đó, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016, 2023 - 2025; Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017; Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018…
Những thành tựu đã đạt được cũng như thực tiễn sinh động về hoạt động đối ngoại của Việt Nam là minh chứng rõ ràng nhất để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, bóp méo chính sách đối ngoại của Việt Nam. Từ đó, củng cố sự tin cậy của các nước đối với Việt Nam; góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước./ (trích báo)

Những ý kiến phiến diện, một chiều

 Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam đã sáng suốt và kịp thời có những thay đổi tư duy về công tác đối ngoại, tạo nền tảng quan trọng giúp công tác đối ngoại có những bước phát triển đột phá. Trong suốt quá trình đó, chúng ta chủ trương “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” . Điều này cho thấy, Việt Nam luôn chú trọng đưa quan hệ với các nước trên thế giới, khu vực đi vào chiều sâu, ổn định và tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, tạo sự đan xen lợi ích nhằm củng cố vị thế của nước ta và bảo đảm lợi ích quốc gia trong quan hệ quốc tế. Có thể nhận thấy, đây là một thông điệp đối ngoại phù hợp vì việc xây dựng lòng tin và thúc đẩy quan hệ tin cậy lẫn nhau góp phần đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển ổn định của quan hệ giữa các nước.         

Tuy vậy, đi ngược lại chính sách vì lợi ích, quốc gia dân tộc, vẫn còn có những ý kiến cố tình xuyên tạc, bóp méo chính sách đối ngoại của Việt Nam nhằm phá hoại công cuộc hội nhập, phát triển của đất nước. Chúng rêu rao rằng, đối ngoại của Việt Nam là “gió chiều nào theo chiều ấy”, uốn kiểu nào cũng được, từ đó bôi nhọ rằng “ngoại giao cây tre” là không có lập trường, không đáng tin cậy. Với thủ đoạn lợi dụng những phát ngôn, những hình ảnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, rồi cắt xén, thêm thắt, bình luận, làm sai lệch nội dung, bản chất vấn đề, cố tình thổi phồng theo hướng kích động chia rẽ “kiểu bắt tay bên này để chống bên kia”, từ đó lấy cớ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động thường tìm cách "cường điệu hóa" khi đặt Việt Nam trong mối quan hệ với những cường quốc lớn, từ đó đưa ra quan điểm “khuyên” Việt Nam nên chọn theo nước này, chống nước kia và ngược lại; thậm chí còn “khuyến cáo” Việt Nam nên bỏ chính sách đối ngoại “bốn không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”, xem đây là giải pháp để “bảo toàn chủ quyền lãnh thổ”. Từ đó, cổ súy, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, làm “ngòi nổ” để truyền bá tư tưởng chống đối, gây chia rẽ, kỳ thị về ngoại giao, gây sự hiểu nhầm đối với người dân trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

Gần đây nhất, lợi dụng chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden (từ ngày 10 đến 11/9/2023), trên một số trang mạng phản động: “Daploisongnui”, “Đài Á Châu tự do”, “Thongluan”, “Baotiengdan”... các thế lực thù địch, phản động lại ra sức đưa ra những luận điệu phiến diện, một chiều. Chúng cho rằng, “Việt Nam đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia”; “Việt Nam đang ngả về phương Tây”; “sẽ có một vận hội mới với phong trào dân chủ ở Việt Nam sau chuyến thăm của Biden”;… Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam, lộ rõ âm mưu hòng phá hoại lòng tin, sự tin cậy, của các nước đối với Việt Nam. Thực chất là nhằm hướng đến mục tiêu gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội, cản trở việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, hạ thấp vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tiến tới đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Đội lốt nhà giáo để chống phá Đảng, Nhà nước

 Được biết đến là một giáo viên âm nhạc tại tỉnh Đắk Lắk nhưng Đặng Đăng Phước đã sử dụng mạng xã hội Facebook thường xuyên biên soạn, đăng tải nhiều bài viết, clip có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, chống Đảng, Nhà nước. Cũng giống như Trần Văn Bang, Bùi Tuấn Lâm vừa được đưa ra xét xử mới đây, Đặng Đăng Phước đã, đang được một số cá nhân, tổ chức thù địch kêu gọi “trả tự do ngay lập tức”, vu cáo Việt Nam “bắt bớ tuỳ tiện”, “đàn áp tiếng nói trí thức”…

Sáng 26/9, TAND cấp cao tại Đà Nẵng tuyên y án 8 năm tù giam và 4 năm quản chế đối với nguyên giảng viên âm nhạc Đặng Đăng Phước. Trước đó, tại phiên toà xét xử sơ thẩm vào tháng 6, TAND tỉnh Đắk Lắk đã tuyên phạt 8 năm tù giam và 4 năm quản chế sau khi chấp hành án phạt tù đối với Đặng Đăng Phước về tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đặng Đăng Phước sinh năm 1963, trú tại phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Năm 1993, Phước tốt nghiệp Học viện Âm nhạc Huế, sau đó làm giảng viên âm nhạc Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk. Được biết đến là thầy giáo dạy nhạc hát hay và có kiến thức tốt về âm nhạc, thế nhưng thay vì vận dụng kiến thức, hiểu biết đã học được để truyền tải những lời hay ý đẹp, kiến thức âm nhạc cho các thế hệ học trò thì y lại lợi dụng ngay cả diễn đàn dạy học để xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, đả kích chế độ. Trước đó, từ năm 2012, Đặng Đăng Phước bắt đầu sử dụng mạng Internet để tham gia vào các hoạt động chống đối do một số đối tượng trong và ngoài nước phát động. Cụ thể là Phước đã đăng tải, chia sẻ hơn 200 bài viết có nội dung công kích lãnh đạo cấp cao và chính quyền, xuyên tạc tình hình chính trị, xã hội trong nước; công khai bôi nhọ lực lượng CAND; lợi dụng các vấn đề đang được xã hội và cộng đồng mạng quan tâm để xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, bôi lem hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phước cũng thường xuyên tham gia các hội, nhóm, diễn đàn trên mạng xã hội để ủng hộ hoạt động của các nhóm chống đối như “No U”, “Phổ biến Hiến pháp”...

Kết quả điều tra cho thấy, Đặng Đăng Phước còn thường xuyên tìm cách lôi kéo những đối tượng bất mãn, chống đối trên địa bàn tỉnh tham gia các phiên tòa xét xử một số đối tượng vi phạm pháp luật rồi căng băng rôn, cản trở hoạt động của các cơ quan chức năng, kích động, gây phức tạp về an ninh trật tự; tụ tập hát những nhạc phẩm có nội dung kích động, phá hoại về tư tưởng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân. Những hành động của Phước đã vi phạm các quy định của ngành giáo dục, trái với đạo đức nhà giáo, vi phạm pháp luật Việt Nam. Các hành vi đó đã diễn ra trong một thời gian dài, mặc dù đã được các cơ quan, lực lượng chức năng nhiều lần mời làm việc để tuyên truyền, vận động, giải thích, nhắc nhở nhưng Phước không chấp hành. Được một số tổ chức, cá nhân phản động bên ngoài tung hô, bày các chiêu thức luồn lách, Phước ngày càng ngông cuồng, thách thức cơ quan chức năng.

Ấy vậy mà, trước, trong và ngay sau khi diễn ra phiên toà phúc thẩm xét xử Đặng Đăng Phước, một số tổ chức, cá nhân chống đối ở hải ngoại đã xuyên tạc, thổi phồng, đánh tráo bản chất vụ án để vu cáo Việt Nam “bắt bớ tuỳ tiện”, “trấn áp nhà hoạt động dân chủ”… Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) và nhiều cá nhân, tổ chức chống phá đã đăng tải các bài viết để kêu gọi “Chính phủ Việt Nam huỷ bỏ mọi cáo buộc chống lại nhà giáo Đặng Đăng Phước”, đòi “trả tự do cho ông Phước ngay lập tức và vô điều kiện”! Họ tô vẽ, tạo dựng Phước thành hình tượng một “người yêu nước”, “nhà đấu tranh” điển hình, từ đó lên tiếng vu khống chính quyền vi phạm dân chủ, nhân quyền, trấn áp nhà “hoạt động cải cách”, “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”!

Những luận điệu rêu rao trên là sai trái, xuyên tạc. Thực tế, chẳng có ai bị khởi tố, bắt tạm giam chỉ vì đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, không ai bị bắt vì “hoạt động cải cách”! Chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật, phạm tội, núp danh dân chủ thực hiện hành vi chống phá đất nước, chống phá chính quyền nhân dân, gây rối trật tự xã hội, ảnh hưởng đến an ninh xã hội bị truy tố, xét xử trước pháp luật. Thật nực cười cho tổ chức vốn mang danh Ân xá quốc tế, Theo dõi nhân quyền lại đòi thả tự do cho kẻ đã có hành vi vi phạm nhân quyền, phạm tội như Đặng Đăng Phước. Một thầy giáo nhưng không giữ chuẩn mực nhà giáo, liên tục lợi dụng mạng xã hội để vu cáo, lan truyền các thông tin sai sự thật, gây rối an ninh, trật tự, xúc phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức thì không thể che đậy bởi lớp áo dân chủ, nhân quyền. Với lăng kính nhìn nhận của Phước, mọi vấn đề trong xã hội đều trở nên đen tối, tiêu cực, quy lỗi do Đảng, chế độ là thể hiện cách nhìn cực đoan, cố tình “đánh bùn sang ao”! Việc các tổ chức mang danh là nhân quyền lại đi bênh vực một kẻ đi ngược lại với lợi ích chung của dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, cáo buộc Việt Nam đang bắt bớ những người yêu nước chân chính, vậy thử hỏi họ đang bảo vệ hay phá hoại nhân quyền?

Có ý kiến cho rằng, nói Ân xá quốc tế và Theo dõi Nhân quyền là công cụ, tay sai hèn mọn cũng chẳng sai bởi mang danh là tổ chức quốc tế nhưng lại thường xuyên không hoạt động độc lập công khai theo tôn chỉ, mục đích đề ra mà hoạt động trá hình, theo sự chỉ đạo, theo ý đồ của một số tổ chức có chính sách thù địch với Nhà nước Việt Nam. Không khó để nhận thấy, các tổ chức này từ lâu luôn giữ một thái độ hằn học, thiếu thiện cảm với Việt Nam, tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Núp dưới vỏ bọc “dân chủ”, “nhân quyền” những tổ chức này đã tiến hành trợ sức, tung hô, phô trương thanh thế cho các “con rối dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh” trong nước như Lê Văn Dũng, Lê Mạnh Hà, Đinh Văn Hải, Bùi Văn Thuận, Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm, Trương Văn Dũng, Nguyễn Lân Thắng… Đồng thời, tổ chức HRW cũng là đạo diễn của cái gọi là “giải thưởng nhân quyền Hellman/Hammet” để trao cho những kẻ có “thành tích” chống phá đất nước như Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Bắc Truyển… Họ cố tình lợi dụng các “con rối” để chống phá Việt Nam từ bên trong, xây dựng các nhân tố từ bên trong để kích động phá hoại, gây mất ổn định.

Thiết nghĩ, với Đặng Đăng Phước, bản án 8 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015 là mức án hợp lý, tương xứng với các hành vi do đối tượng gây ra. Điều này cũng thể hiện sự xem xét toàn diện, thấu đáo các yếu tố tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên bản án đúng người, đúng tội, kịp thời ngăn chặn một kẻ suy thoái, biến chất đội lốt nhà giáo, đội lốt nhân quyền chống phá. Nhân quyền và lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống Đảng, Nhà nước là rất khác nhau. Việt Nam là một đất nước độc lập có chủ quyền, "quốc có quốc pháp", cần được hiểu Việt Nam có quyền thực thi luật pháp trên đất nước của mình, không cho phép bất cứ tổ chức nhân quyền trá hình nào mạo danh quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đó là nguyên tắc và được quy định trong Hiến pháp, pháp luật, phù hợp với luật pháp quốc tế, không thể cố tình bôi lem, làm sai lệch bản chất vụ án. (Báo CAND)

Những thành tựu góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế

 Sau 78 năm giành độc lập, trong đó 37 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ chỗ là một quốc gia thuộc địa, bị xâm lược và rồi bị chia cắt hai miền, Việt Nam đã giành và bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đạt được những bước phát triển vượt bậc. Từ tình trạng chậm phát triển và bị tàn phá nặng nề sau khi thoát khỏi chiến tranh năm 1975, Việt Nam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp từ năm 2010. Liên tiếp trong 4 năm, từ năm 2016-2019, Việt Nam đứng trong tốp 10 nước có tăng trưởng cao nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất.

Là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, nỗ lực thúc đẩy quyền con người. Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò thành viên một số cơ quan của tổ chức quốc tế quan trọng như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ (hai nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021), thành viên Hội đồng nhân quyền LHQ (hai nhiệm kỳ 2014-2016 và 2023-2025), thành viên Hội đồng chấp hành Tổ chức Y tế thế giới - WHO (nhiệm kỳ 2016-2019), thành viên Hội đồng khai thác bưu chính của Liên minh Bưu chính thế giới - UPU (nhiệm kỳ 2022-2025)...Việt Nam cũng đã hoàn thành Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng Nhân quyền LHQ và đang tiến hành những khuyến nghị cho UPR chu kỳ 3. Do vậy, Việt Nam có đủ uy tín, sự minh bạch và kinh nghiệm để hoàn thành tốt vai trò Phó Chủ tịch Đại hội đồng LHQ nhiệm kỳ 2022-2023. Đây là một trong những minh chứng thuyết phục bác bỏ luận điệu xuyên tạc về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội và nhân quyền ở Việt Nam thời gian qua.

Trong nhiệm kỳ vừa qua, Việt Nam đã cùng một số nước đề xuất các sáng kiến, giải pháp trên nhiều vấn đề lớn của LHQ như đề cao luật pháp quốc tế, đại dương và luật biển, an ninh nguồn nước, trách nhiệm bảo vệ và phòng ngừa tội ác chống lại nhân loại, tiếp cận công lý bình đẳng, chuẩn bị cho Hội nghị cấp cao về phòng chống dịch bệnh, bảo hiểm y tế toàn cầu, bệnh lao, cải tổ hoạt động của Đại hội đồng LHQ, báo cáo của Tổng Thư ký LHQ về hoạt động của tổ chức, báo cáo của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), báo cáo của Tòa án Hình sự quốc tế (ICC)…

Nổi bật là Việt Nam đã chủ trì Đại hội đồng LHQ thảo luận và thông qua Nghị quyết yêu cầu Toà án Công lý quốc tế (ICJ) đưa ra ý kiến tư vấn đối với vấn đề biến đổi khí hậu, các nghị quyết về việc tổ chức phiên họp cấp cao về sẵn sàng phòng chống và ứng phó với dịch bệnh, bao phủ bảo hiểm y tế toàn cầu, bệnh lao, thúc đẩy các nội dung thảo luận tại Hội nghị của LHQ về nước… Sự tham gia chủ động và tích cực của ta đều nhằm đóng góp một cách cụ thể, thực chất vào công việc chung và các ưu tiên lớn của LHQ và cộng đồng quốc tế; đóng góp vào thúc đẩy hợp tác, đoàn kết quốc tế và tăng cường chủ nghĩa đa phương để ứng phó hiệu quả trước các thành thức toàn cầu nổi lên ngày càng gay gắt.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã hỗ trợ Chủ tịch Đại hội đồng điều hành suôn sẻ và hiệu quả các công việc chung của LHQ, trong đó có các sự kiện lớn cấp cao và các phiên họp quan trọng của Đại hội đồng cũng như trong điều phối và dẫn dắt quá trình thảo luận, thương lượng xây dựng các văn kiện, tiến trình mang tính định hướng chiến lược lâu dài của LHQ cho các năm tiếp theo. Việt Nam là nước được Chủ tịch Đại hội đồng LHQ Khoá 77 tín nhiệm, giao chủ trì điều hành nhiều cuộc họp của Đại hội đồng. Có thể nói, đất nước ta đã khẳng định được vị thế và chủ động có nhiều đóng góp quan trọng tại các tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương. Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, đồng thời tích cực tham gia giải quyết các vấn đề khu vực, toàn cầu thông qua đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương.

Trong 46 năm là thành viên của LHQ, Việt Nam đã gánh vác nhiều trọng trách lớn, có nhiều đóng góp thực chất và hiệu quả cho tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh. Với đường lối đối ngoại đa phương đúng đắn, lấy LHQ là trọng tâm, Việt Nam - trên cương vị mới, sẽ tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho những mục tiêu cao cả của LHQ, đó là giải quyết xung đột, duy trì hòa bình, ổn định cho tất cả người dân trên thế giới.

Sự kiện Việt Nam hoàn thành nhiệm kỳ Phó Chủ tịch Đại hội đồng LHQ với nhiều đóng góp thiết thực cho nhân loại một lần nữa khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời cho thấy sự ghi nhận xứng đáng của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu và nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy bảo vệ quyền con người trên tất cả các lĩnh vực. Đây là minh chứng sinh động, đầy sức thuyết phục để phản bác những luận điệu xuyên tạc, cố tình phủ nhận những tiến bộ và thành tựu kinh tế, xã hội, đối ngoại nước ta. (trích báo)

Những luận điệu bịa đặt cũ mòn

Với các sự kiện ngoại giao quan trọng, nhất là khi Việt Nam trúng cử vào vị trí của các tổ chức thuộc Đại hội đồng LHQ, các thế lực thù địch, phản động lập tức tổ chức những chiến dịch chống phá cả trước, trong quá trình Việt Nam thực hiện nhiệm kỳ của mình. Nghị sĩ cực đoan tại một số nước phương Tây, các tổ chức phản động lưu vong người Việt Nam ở nước ngoài và những cá nhân người Việt ở trong, ngoài nước bị các thế lực thù địch mua chuộc, lợi dụng, số này thường núp bóng ngọn cờ dân chủ, nhân quyền, chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam. Một số tổ chức phi chính phủ quốc tế như Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá quốc tế (AI), Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), Tổ chức Ngôi nhà tự do (FH)... thường xuyên đưa ra các bài viết vu cáo, xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và tự do dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

Luận điệu này mục đích gây bất lợi cho Việt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm kỳ Phó Chủ tịch Đại hội đồng LHQ, vu cáo rằng Việt Nam “đàn áp nhân quyền”, “vi phạm quyền tự do, dân chủ” thì “không đủ tư cách” tham gia vào các tổ chức của LHQ. Đồng thời, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống phá ở trong, ngoài nước còn tìm cách kêu gọi cộng đồng quốc tế tẩy chay những hoạt động mà Việt Nam đăng cai, gửi “thư ngỏ”, “kiến nghị” đến các đoàn, cơ quan ngoại giao nước ngoài yêu cầu can thiệp những vấn đề trong nước, gây sức ép đối với chính quyền, triệt để thực hiện phương châm “quốc tế hóa các vấn đề nội bộ”. Họ dựng lên các “vụ án nhân quyền”, “tiếng nói dân chủ”, “tù nhân lương tâm”, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại và quan hệ của Việt Nam với các nước đối tác; phủ nhận thành tựu trong công tác đối ngoại, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế...

Với âm mưu chống phá đến cùng, họ cố tình bôi nhọ, đổi trắng thay đen, cố tình không nhìn thấy sự thật rằng: Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương lấy con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực, là mục tiêu cao nhất. Ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo hiến pháp, pháp luật. Những năm qua, người dân Việt Nam đã và đang được thụ hưởng ngày càng tốt hơn từ thành tựu phát triển đất nước trên mọi lĩnh vực về kinh tế, xã hội. Đảm bảo quyền con người luôn là ưu tiên cao nhất của Đảng và Nhà nước ta, nhất là dành sự ưu tiên đối với những nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.

Đương nhiên, trong quá trình thực hiện, có những chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước chưa được đảm bảo tại một số lĩnh vực, địa bàn; còn sự nhũng nhiễu, tiêu cực của một bộ phận cán bộ công quyền, gây khó khăn, phiền hà cho người dân, gây thất thoát tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân; đời sống đồng bào, nhất là vùng sâu, vùng xa còn những khó khăn cả về vật chất và tinh thần… Những tồn tại, hạn chế đó có các nguyên nhân khách quan, chủ quan và trong quá trình phát triển, Đảng, Nhà nước ta luôn có các tổng kết, đánh giá, đưa ra các giải pháp khắc phục để đảm bảo đời sống người dân ngày càng được tốt hơn.

Sự nguy hại của những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt là luôn tìm cách quy hiện tượng thành bản chất, đánh đồng mọi hiện tượng tiêu cực thành bản chất của chế độ. Sự lặp đi lặp lại các luận điệu bôi nhọ, xuyên tạc này nhằm gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại và vị thế, uy tín của Việt Nam với các nước, khiến dư luận quốc tế hiểu sai lệch về Việt Nam. (Trích báo CAND)