Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

“Làm mới thông tin cũ” hòng xuyên tạc Chiến thắng 30/4/1975 là không thể chấp nhận

“Làm mới thông tin cũ” là thủ đoạn mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ráo riết thực hiện nhằm xuyên tạc, hạ thấp tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4 cũng như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Nhưng sự thật lịch sử luôn rõ ràng và thủ đoạn chống phá đầy ác ý, rất thâm độc, mang tính thù địch này là không thế chấp nhận.

Cách đây gần 50 năm, đúng 11 giờ 30 phút, ngày 30/4/1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập - phủ Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, đánh dấu giờ phút thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Chiến thắng này “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Thời gian thấm thoát đi qua, Chiến thắng vĩ đại này đã lùi vào lịch sử. Trong khoảng thời gian ấy, con cháu của thế hệ làm nên chiến thắng càng thấm thía hơn những mất mát, đau thương, sự hy sinh lớn lao của thế hệ cha anh; càng cảm nhận sâu sắc hơn trên mọi phương diện cuộc kháng chiến và càng tự hào về Đảng quang vinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, về dân tộc và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Đó là nguồn động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta hôm nay.

Chiến thắng 30/4/1975 còn được nhân dân thế giới hết lời ca ngợi, coi đó là chiến thắng vĩ đại của “chính nghĩa, lòng nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng”; chứng tỏ không sức mạnh nào có thể “khuất phục được một dân tộc anh hùng”; là thắng lợi “mãi mãi ghi vào sử sách”, v.v. Chính người Mỹ cũng đã phải thừa nhận thất bại và khâm phục sức mạnh của nhân dân Việt Nam: “Lịch sử phải đánh giá họ (người Việt Nam - tác giả) cao nhất về sức chiến đấu ngoan cường và dũng cảm của con người”.

Thế nhưng, trong gần nửa thế kỷ qua, vẫn không ít kẻ cố tình xuyên tạc lịch sử, bản chất, tính chất, ý nghĩa, tầm vóc của cuộc kháng chiến. Những luận điệu bóp méo, hạ thấp, phủ định ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4/1975 được các thế lực thù địch tung lên trên mọi phương tiện thông tin, truyền thông với nhiều hình thức, cả ở trong nước và nước ngoài. Họ xuyên tạc trắng trợn cuộc kháng chiến của nhân dân ta là cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền; rằng cuộc chiến tranh này “hoàn toàn vô nghĩa, “đáng lý đã không xảy ra, nó có thể tránh được”! Tráo trở hơn, họ còn ra sức biện hộ cho hành động xâm lược của Mỹ ở miền Nam là để “giúp” Việt Nam tiếp cận văn minh phương Tây, đó không phải là xâm lược; vì miền Bắc cộng sản “xâm lược miền Nam”, nên Mỹ phải “có trách nhiệm bảo vệ đồng minh của mình”, v.v. Có người còn “thảng thốt” kêu lên “Tháng Tư đen”, ngày 30/4 là ngày “quốc hận”đó “không phải là chiến thắng của Việt Nam”, cuộc chiến tranh này “không có kẻ thua, người thắng, mà chỉ nhân dân là chịu thiệt thòi”.

Những luận điệu xuyên tạc trên thực chất chỉ là chiêu trò “làm mới thông tin cũ”, đầy ác ý, rất thâm độc, thể hiện sự thù địch, thiên kiến lệch lạc và cả sự ngộ nhận, mơ hồ trong nhìn nhận, đánh giá lịch sử ở một số người; và cứ đến dịp nhân dân ta kỷ niệm Chiến thắng, thì sự xuyên tạc đó lại dồn dập hơn. Những mỹ từ “yêu nước”, “vì dân, vì nước”, “tâm huyết”, “tôn trọng sự thật lịch sử”,… được họ tung ra nhằm làm tăng tính thuyết phục, hòng lừa gạt những người dân nhẹ dạ, cả tin, tác động mạnh mẽ, tiêu cực đến tư tưởng, tình cảm và thái độ của nhân dân đối với Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975.

Những luận điệu công kích đó không đơn thuần để xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng, mà còn nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng, công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nó còn reo rắc sự hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ người Việt Nam ở trong nước với người Việt Nam định cư, sinh sống ở nước ngoài, nhằm hạ uy tín, phá hoại các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam nói chung, mối quan hệ ngày càng tốt đẹp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ nói riêng. Đó là mưu đồ thực sự của những kẻ đưa ra những luận điệu xuyên tạc Chiến thắng 30/4.

Chúng ta biết, sự thật luôn phải được tôn trọng, không thể xuyên tạc; đánh giá, nhìn nhận lịch sử phải khách quan, trung thực. Không thể phủ nhận, xem nhẹ những hy sinh, mất mát to lớn của nhiều thế hệ người Việt Nam đã làm nên Chiến thắng. Những người cho đây là cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn” đã cố tình xuyên tạc, làm méo mó bản chất, tính chất cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Cần nhắc lại cho họ rõ, cuộc chiến này là cuộc đụng đầu lịch sử giữa chính nghĩa - chống xâm lược và phi nghĩa - xâm lược, bạo tàn; giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa chống cộng do đế quốc Mỹ đứng đầu. Xâm lược Việt Nam, chúng muốn “đè bẹp mọi phong trào giải phóng dân tộc, chặn đứng bước tiến của chủ nghĩa xã hội ở bất cứ nơi nào trên thế giới”. Mỹ đưa vào Việt Nam hơn nửa triệu quân, sử dụng tất cả các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất, với mưu toan đè bẹp ý chí chiến đấu, buộc nhân dân ta phải khuất phục. Đế quốc Mỹ còn thực thi chiến dịch ném bom hủy diệt Thủ đô Hà Nội và miền Bắc bằng siêu pháo đài bay B.52, hòng biến Hà Nội và Bắc Việt Nam “trở về thời kỳ đồ đá”. Đó là sự thật lịch sử.

Cần nhắc lại cho họ rõ, miền Nam là một bộ phận không tách rời của Việt Nam; đó là máu thịt của Việt Nam, chân lý đó không bao giờ thay đổi. Nhân dân Việt Nam đứng lên chống thế lực xâm lược là nhằm bảo vệ chân lý đó. Chỉ có nhân dân Việt Nam chống kẻ xâm lược chứ không có chuyện miền Bắc xâm lược miền Nam, càng không thể gọi đó là nội chiến “huynh đệ tương tàn” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Nhân dân ta vốn yêu chuộng hòa bình, không hề muốn chiến tranh xảy ra và càng không muốn đất nước mình rơi vào cảnh chết chóc, bị tàn phá. Vì thế, luận điệu về cuộc chiến này là “không cần thiết”, hoàn toàn “có thể tránh khỏi” là sự ngụy biện trơ trẽn, bởi kẻ thù đã chủ động gây chiến, đem quân xâm lược nước ta, buộc nhân dân ta phải vùng lên kháng chiến. Cũng không thể nói xằng, chiến thắng của nhân dân ta “không phải là chiến thắng của Việt Nam trước Mỹ”! Đây là luận điệu vừa phi lịch sử, vừa phi đạo đức. Cần lưu ý và nhấn mạnh cho những ai đưa ra luận điệu trên thấy rằng, Chiến thắng 30/4 là chiến thắng của cả dân tộc Việt Nam trước thế lực xâm lược hùng mạnh, trực tiếp loại trừ “một tội ác chống nhân loại”; là sự phá sản, thất bại của thế lực xâm lược lớn nhất hòng áp đặt ách thống trị, áp bức đối với nhân dân ta ở miền Nam. Lịch sử đã chứng minh, mục tiêu chiến lược của Mỹ là áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, một bàn đạp chiến lược, để thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chứ không phải là “không hề muốn cai trị Việt Nam”. Việc quân Mỹ buộc phải rút khỏi Việt Nam (năm 1973) là do sự phá sản, thất bại trong chính sách xâm lược Việt Nam của Mỹ, chứ không phải là một “sai lầm lịch sử” đơn thuần. Đó cũng chính là do thắng lợi của nhân dân ta trong việc “đánh cho Mỹ cút”, để tiếp đến đánh cho “ngụy nhào”. Sự thất bại của Mỹ và bè lũ tay sai là một tất yếu và đến ngày 30/4/1975 lôgíc tất yếu ấy kết thúc; không thể nói bừa “không có kẻ thua, người thắng”.

Nếu đề cập đến “sai lầm lịch sử” ở đây, thì đó là sai lầm của Mỹ khi tiến hành dã tâm xâm lược Việt Nam. Về điều này, nhiều quan chức và học giả Mỹ đã thừa nhận. Nhà báo nổi tiếng Rubert Conwell đã phải lên tiếng phản bác quan điểm xuyên tạc cho rằng: đó không phải là chiến thắng của Việt Nam trước Mỹ và nhấn mạnh “Hôm nay cách nhìn nhận đó đã sụp đổ”. Trong cuốn Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ, tác giả J.C.Rowe (J.C.Râu-ơ) và R.Berg (R.Bơ-gơ) đã viết: “trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (Mỹ xâm lược Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”; “Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương”.

Như vậy, sự xuyên tạc của các thế lực thù địch là không thể chấp nhận, nó càng trở nên lạc lõng và lố bịch, bởi sự thật lịch sử ngày càng ngời sáng; bởi giá trị, ý nghĩa to lớn của Chiến thắng 30/4 ngày càng thẩm thấu và lan tỏa sâu rộng. Chiến thắng vĩ đại này khiến cả thế giới kính phục, trong đó có cả những học giả, chính khách, tướng lĩnh Mỹ từng trực tiếp tham gia chiến tranh, xem đó như là một biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, tinh thần anh dũng, lòng quả cảm, ý chí không chịu khuất phục trước thế lực đế quốc hung bạo và gọi Việt Nam là “lương tri của thời đại”. Nhiều người Việt bên kia chiến tuyến từng tuyên bố “không đội trời chung với cộng sản” nay đã quay về quê cha đất tổ, rũ bỏ thù hằn và được Mẹ Tổ quốc Việt Nam mở rộng vòng tay đón nhận.

Dù các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, chống đối có cố gắng làm mới những điều đã cũ, những thông tin cũ mà họ đã từng ra rả từ lâu và có tinh vi, xảo quyệt đến đâu, thì cũng không thể xuyên tạc, làm phai mờ được giá trị và ý nghĩa to lớn của Chiến thắng 30/4. Chính nhiều người Mỹ ngày càng có suy nghĩ đúng, nhận thức rõ hơn sự hy sinh, mất mát và chiến thắng của nhân dân ta, tin tưởng vào sự phát triển của Việt Nam trong tương lai. Chính Rôbét Mắc Namara - cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đã phát biểu: “Điều làm tôi thực sự cảm động là tôi không hề nhận thấy sự hận thù nào trong ánh mắt của người Việt Nam đối với tôi. Một Việt Nam thanh bình dẫu chưa phồn vinh nhưng quả là đẹp. Một đất nước như thế, một dân tộc như thế thì họ từng đứng vững trong quá khứ và sẽ tiến lên trong tương lai là điều không thể tranh cãi”7

Nhớ về lịch sử, nhưng chúng ta khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Người Mỹ cũng chủ trương như vậy. Việt Nam và Hoa Kỳ đã bình thường hóa, quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển và hiện đã trở thành đối tác Chiến lược toàn diện của nhau. Điều đó không thể thiếu sự ảnh hưởng, thẩm thấu và lay động bởi những giá trị và ý nghĩa to lớn từ Chiến thắng 30/4 của nhân dân Việt Nam./.

ST.

Liên minh ba nước Đông Dương với Chiến thắng Điện Biên Phủ

Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, nhân dân ba nước Đông Dương luôn phải đương đầu với các thế lực xâm lược lớn mạnh. Do điều kiện địa lý và lịch sử, nhân dân ba nước phải dựa vào nhau mới có đủ sức mạnh để chiến thắng kẻ thù chung.

Lịch sử đã chứng minh nhiều hành động mang tính chất liên minh chiến đấu, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa ba dân tộc. Song chỉ đến khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng của ba nước thì mối quan hệ này mới thực sự trở thành mối quan hệ chiến lược.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ sau này) cả ta và địch đều sớm nhận rõ Đông Dương là một chiến trường, trong đó Việt Nam luôn là chiến trường chính, Lào và Campuchia là hai chiến trường có vị trí chiến lược quan trọng. Muốn thôn tính nước này, kẻ thù phải khống chế, chia rẽ hai nước còn lại, tiến tới thôn tính cả Đông Dương, dựng nên bộ máy ngụy quyền tay sai, áp đặt ách thống trị lên cả ba nước.



Một đơn vị quân tình nguyện Việt Nam tham gia chiến đấu trên chiến trường Lào. Ảnh tư liệu: TTXVN
Trên chiến trường Đông Dương đã thực sự hình thành hai tuyến quan hệ đối địch nhau: Một bên là sự câu kết giữa bọn thực dân phản động Pháp được Mỹ tiếp tay với bọn tay sai bù nhìn, một bên là liên minh giữa các lực lượng kháng chiến, nhân dân ba dân tộc chống kẻ thù chung.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, từ tháng 9/1945 đến cuối năm 1946 nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia bắt đầu triển khai cuộc chiến đấu, đồng thời giúp đỡ nhau xây dựng lực lượng, chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Ở giai đoạn này, Việt Nam sớm đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng mối quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước.

Từ năm 1947 đến năm 1950, nhân dân Việt Nam vừa đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến, vừa hết lòng hết sức giúp đỡ nhân dân hai nước láng giềng. Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn vì lợi ích của bạn và lợi ích chung, tạo điều kiện để phong trào kháng chiến của bạn tự vươn lên, tự đảm nhiệm được yêu cầu chiến đấu và xây dựng lực lượng, giúp bạn là tự giúp mình.

Trong những năm 1951, 1952, 1953, sự nghiệp kháng chiến của ba dân tộc tiếp tục tiến lên, giành thêm nhiều thắng lợi trên các mặt quân sự, chính trị, ngoại giao, đẩy kẻ thù xâm lược vào thế bị động về chiến lược, từng bước đánh bại âm mưu của chúng. Bước vào mùa Hè năm 1953, cục diện chiến tranh trên chiến trường Đông Dương đã có những chuyển biến quan trọng. Sau những thất bại liên tiếp ở Hòa Bình (cuối năm 1951 đầu năm 1952), Thượng Lào (mùa Xuân 1953), quân đội viễn chinh Pháp càng lâm vào tình thế khó khăn. Song bọn thực dân phản động Pháp được Mỹ tiếp sức vẫn cố mong tìm được một lối thoát danh dự bằng một thắng lợi quân sự trên chiến trường.

Chính trong bối cảnh đó, kế hoạch Navarre ra đời. Đó là một kế hoạch dựa trên nỗ lực cao nhất của Pháp và viện trợ quân sự lớn nhất của Mỹ, với sự đóng góp cao nhất về sức người, sức của của các chính phủ bù nhìn. Đó là một kế hoạch nguy hiểm nhằm cứu vãn thất bại của cả Pháp lẫn Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược, là một sự liên minh phản cách mạng giữa chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai phản động để chống lại nhân dân ba nước. Kế hoạch Navarre là thử thách gay go đối với liên minh đoàn kết chiến đấu của nhân dân Đông Dương.

Sau khi đánh giá và phân tích bản kế hoạch quân sự quan trọng của Pháp, ta đã có những chỉ đạo để đối phó. Trên mặt trận chính diện tấn công tiêu diệt quân địch đang đồn trú ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn khu Tây Bắc, phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào giải phóng tỉnh Phong Xa Lỳ, phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào và bộ đội Campuchia đánh địch ở Trung Lào, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, mở rộng vùng giải phóng. Kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954 “bao gồm chiến trường toàn quốc và Việt - Miên - Lào”.

Như vậy trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, bằng các đòn tiến công trên các hướng chiến lược trên khắp các chiến trường Đông Dương, quân dân ba nước đã đoàn kết gắn bó, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, giành những thắng lợi hết sức to lớn.

Tuy đã rơi vào thế bị động đối phó trên khắp chiến trường Đông Dương, nhưng được Mỹ hà hơi tiếp sức, thực dân Pháp vẫn tăng cường xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có trong cuộc chiến tranh Đông Dương, với hy vọng biến tập đoàn cứ điểm này thành “cỗ máy nghiền thịt” chủ lực Việt Minh để giành lại thế chủ động đã mất. Điện Biên Phủ trở thành trung tâm đột xuất của kế hoạch Navarre, điều mà trước đó không chỉ Navarre mà cả giới hiếu chiến Pháp, Mỹ cũng không hề tính đến. Như vậy trận quyết chiến ở Điện Biên Phủ phản ánh kết quả cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước diễn ra trong gần 9 năm liên tục, trước hết là kết quả của các đòn tiến công của liên minh nhân dân ba nước trong Đông Xuân 1953 - 1954.

Điện Biên Phủ không những là trận quyết chiến chiến lược của cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam mà còn là trận quyết chiến chiến lược của liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương. Trong khi quân dân Việt Nam tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, quân dân hai nước Lào và Campuchia anh em đẩy mạnh các hoạt động tác chiến phối hợp với Điện Biên Phủ, hỗ trợ, “chia lửa” với Điện Biên Phủ.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã đánh bại những cố gắng chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của bọn đế quốc và liên minh giữa chủ nghĩa đế quốc với bọn tay sai phản động ở ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. “Điện Biên Phủ đã điểm tiếng chuông báo giờ chết của chủ nghĩa thực dân Pháp không những ở Việt Nam mà cả ở bộ phận còn lại trong khối thuộc địa của nó”.

Đối với ba nước Đông Dương, Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp mà “còn là thắng lợi của tình đoàn kết liên minh chiến đấu toàn diện giữa quân đội và nhân dân ba nước”./.

ST.

Tổng Bí thư Trần Phú – Nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam

Với lòng yêu nước thiết tha, trí thông minh, năng động, đầy nhiệt huyết, đồng chí Trần Phú (01/5/1904 - 06/9/1931) đã tham gia cách mạng từ rất sớm, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đào tạo, huấn luyện, trở thành Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta. Đồng chí là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tấm gương tận trung với nước, tận hiếu với dân, cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.



Tổng Bí thư Trần Phú. Nguồn: dangcongsan.vn

Một trí tuệ lớn, bản lĩnh, năng động, sáng tạo

Cùng với Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng (tháng 02/1930) thảo luận, thông qua, thì Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (Luận cương) do đồng chí Trần Phú khởi thảo, được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (tháng 10/1930) thảo luận, thông qua là những cương lĩnh chính trị có ý nghĩa lớn, định hướng lâu dài cho cách mạng Việt Nam. Nội dung Luận cương cơ bản thống nhất và khẳng định lại nhiều vấn đề cốt yếu thuộc về chiến lược của cách mạng Việt Nam mà Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng đã xác định, như: tính chất của cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền có hai nhiệm vụ chống đế quốc giành độc lập dân tộc và đánh đổ phong kiến đem lại ruộng đất cho nông dân. Luận cương khẳng định hai động lực chính của cách mạng là giai cấp vô sản và giai cấp nông dân, nhưng giai cấp vô sản là động lực rất mạnh, là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là phải có một Đảng Cộng sản lãnh đạo với một đường lối chính trị đúng đắn, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng. Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng. Cách mạng Đông Dương là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới.

Đáng chú ý là trong Luận cương có một số điểm được cụ thể hóa một cách đúng đắn, như: phương pháp cách mạng, thời cơ khởi nghĩa, cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, v.v. Luận cương còn bàn tới mối quan hệ khăng khít, mật thiết giữa mục đích trước mắt và mục đích lâu dài của cách mạng. Không chú ý mục đích trước mắt là rất sai lầm, nhưng nếu chỉ chú ý mục đích trước mắt mà không chú ý mục đích lớn, lâu dài của cách mạng lại càng sai lầm hơn. Luận cương cũng đề cập, khi có tình thế trực tiếp cách mạng, thì Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng để khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay công nông.

Cũng như nhiều tác phẩm lý luận hay cương lĩnh khác, Luận cương ra đời trong một hoàn cảnh nhất định và là sản phẩm nhận thức của một thời kỳ lịch sử cụ thể, chủ yếu để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Từ nội dung của Luận cương cho thấy, đồng chí Trần Phú là một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi đầy nhiệt huyết, thể hiện sự nỗ lực cố gắng cao độ của một trí tuệ lớn, bản lĩnh, năng động, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thu, vận dụng đường lối cách mạng thuộc địa và nửa thuộc địa của Quốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh Việt Nam, luôn luôn suy nghĩ đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và cách mạng lên trên hết. Đánh giá thành công của Đảng thời kỳ 1930 - 1931, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn. Trong bản Cương lĩnh cách mạng tư sản dân quyền năm 1930, Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập, người cày có ruộng. Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình”.

Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta và cách mạng Việt Nam

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 10/1930), đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Thời gian này, do tình hình trong nước và quốc tế phức tạp, Đảng ta phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức, Tổng Bí thư Trần Phú đã chỉ rõ hai nhiệm vụ trọng tâm liên hệ mật thiết với nhau, cần kíp phải giải quyết, đó là: củng cố tổ chức đảng và duy trì phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng chống khủng bố trắng của kẻ thù. Đồng chí khẳng định: “Tổ chức ra để có sức tranh đấu, tranh đấu để mở rộng, kiên cố tổ chức, kiên cố tổ chức để mở rộng tổ chức nữa, tổ chức và tranh đấu hết sức mật thiết liên kết cùng nhau, đồng phát triển với nhau, cái này rời cái kia thì không được gì hết”.

Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm xây dựng tổ chức đảng, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Thông cáo cho các xứ ủy về việc phải “tổ chức một cách nghiêm chỉnh Xứ ủy”. Đến cuối năm 1930, hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương cơ bản được xây dựng xong. Các kỳ ủy lâm thời ở ba kỳ tổ chức hội nghị để bầu xứ ủy, thiết lập các ban chuyên môn. Dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Trần Phú, từ tháng 12/1930 đến tháng 01/1931, các xử ủy Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ đã chính thức được thành lập và từng bước được củng cố.

Để duy trì phong trào đấu tranh chống các chiến dịch tàn sát, cưỡng bức bắt nhân dân nhận thẻ “quy thuận”, “rước cờ vàng” của thực dân Pháp, Trung ương Đảng ra Thông báo về việc đối phó chính sách tàn sát quần chúng, nêu rõ: “Nếu bây giờ phong trào đấu tranh giảm đi, nếu quần chúng tỏ ý non nớt, nếu các nơi khác không hưởng ứng, thì đ.q (đế quốc - BT) sẽ thẳng tay trị. Cho nên việc khẩn cấp của Đảng bây giờ phải tổ chức ngay các cuộc tranh đấu khác để ngừng tay tàn ác của đ.q. Tranh đấu mà chết là chết cho Đảng; cho quần chúng tranh đấu bây giờ dẫu phải hy sinh một ít người còn hơn là để đ.q tàn sát quần chúng”.

Nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, cuối tháng 12/1930, Tổng Bí thư Trần Phú chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng bàn về công tác tuyên truyền, quyết định xuất bản báo Cờ vô sản và báo Cộng sản. Đây là những vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống lại sự khủng bố của kẻ thù.

Để đoàn kết rộng rãi các giai tầng xã hội trong Mặt trận dân tộc thống nhất, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về vấn đề thành lập Hội “Phản đế đồng minh”, khẳng định: liên minh công nông là hai động lực chính cùng với lực lượng toàn dân tổ chức thành một lực lượng thật đông, thật kín trong “bức thành dân tộc phản đế bao la” dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống đế quốc và bọn phong kiến tay sai phản động để cuộc cách mạng thành công. Nghị quyết về vấn đề phản đế của Hội nghị toàn thể Trung ương nêu rõ: “Việc tổ chức phản đế là một trách nhiệm cần kíp của Đảng… Cái quy tắc cốt nhứt trong việc tổ chức hội phản đế là lấy các đoàn thể c.m (cách mạng - BT) phản đế mà tổ chức lại, chớ không phải tổ chức từng người một và phải làm cho hội ấy có tánh chất quần chúng. Phải chiêu tập các hội công nông, học sanh, binh lính, thanh niên, phụ nữ và các đảng phái c.m khác (như Quốc dân Đảng, v.v.) lại mà tổ chức ra cho thành một hội phản đế ở Đông Dương”.

Để Hội “Phản đế đồng minh” phát triển phù hợp với tình hình của phong trào cách mạng, Tổng Bí thư Trần Phú chỉ đạo thành lập các tổ chức của Hội, ra các nghị quyết và chỉ thị về việc tổ chức Cộng sản Thanh niên đoàn, củng cố tổ chức Công hội, đẩy mạnh phong trào công nhân, thành lập Ban Công vận Trung ương do Tổng Bí thư Trần Phú trực tiếp làm Trưởng ban, v.v. Từ Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 10/1930) đến trước Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 3/1931), khi Đảng vừa ra đời, trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn, kẻ thù tiến hành hoạt động “khủng bố trắng”, cùng các thủ đoạn cưỡng bức, mua chuộc; tư tưởng “tả” - hữu khuynh, hoang mang, do dự trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến phong trào cách mạng, thì sự lãnh đạo kiên định, vững vàng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng do Tổng Bí thư Trần Phú đứng đầu, đã nhanh chóng xây dựng hệ thống lãnh đạo thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, đấu tranh chống khủng bố, bảo vệ lực lượng, duy trì phong trào cách mạng, xây dựng Đảng và các đoàn thể cách mạng là những đóng góp hết sức to lớn cho phong trào cách mạng lúc bấy giờ. Phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể, xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan lực lượng địch - ta, trong nước và thế giới mới thấy hết được sức dự bị và năng lực của Đảng mà người đứng đầu là Tổng Bí thư Trần Phú trong tổ chức, lãnh đạo “quần chúng giác ngộ, tự lấy lực lượng mà tranh đấu, lấy sức tổ chức của mình mà chống khủng bố”. Lãnh tụ Hồ Chí Minh coi đó là biểu hiện sự vĩ đại của Đảng ta, vì “Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi”.

Dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trần Phú, Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 3/1931) đạt được nhiều kết quả quan trọng. Với thái độ và tinh thần bôn-sê-vích, không giấu giếm khuyết điểm, Hội nghị kiểm điểm và đi sâu phân tích, phê phán những sai lầm, thiếu sót của Đảng thời gian qua trong nhận thức về bản chất giai cấp và vai trò của Đảng Cộng sản trong lãnh đạo đấu tranh quyết liệt với kẻ thù. Lãnh đạo còn khuynh hướng sai lầm của tính tiểu tư sản, chưa thật tin tưởng vào lực lượng quần chúng; không gắn chặt vấn đề tổ chức với đấu tranh, vừa “tả” vừa hữu khuynh, có chỗ cưỡng bách, có chỗ theo đuôi quần chúng. Coi nhẹ công tác tuyên truyền, vận động thanh niên. Hội nghị đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách về công tác xây dựng Đảng, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng để duy trì phong trào đấu tranh của quần chúng trước sự khủng bố khốc liệt của kẻ thù. Hội nghị chỉ rõ Đảng phải nhanh chóng xây dựng và lãnh đạo các tổ chức, đoàn thể cách mạng của quần chúng. Hội nghị thông qua Nghị quyết về vấn đề tổ chức và cổ động tuyên truyền với nhiệm vụ quan trọng, như: “đào tạo ra một nền tư tưởng bôn sê vích cho Đảng”, “huấn luyện đảng viên và quần chúng vô sản theo tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Ngay sau khi Hội nghị Trung ương lần thứ hai kết thúc, nhiều cán bộ lãnh đạo các cấp từ Trung ương đến xứ ủy, tỉnh ủy bị bắt, trong đó có Tổng Bí thư Trần Phú. Trong bốt giam và khám lớn Sài Gòn, mọi cực hình tra tấn, thủ đoạn mua chuộc dụ dỗ của kẻ thù không thể làm lay chuyển được tinh thần cách mạng và ý chí chiến đấu của Tổng Bí thư Trần Phú. Công khai nhận mình là Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Trần Phú khẳng khái tuyên bố với kẻ thù rằng “ta không thể đem công việc của Đảng ta nói cho các người nghe”. Bị suy kiệt về sức khỏe nhưng những ngày trong tù, Tổng Bí thư Trần Phú vẫn xiết chặt đội ngũ cùng các đồng chí bị giam đấu tranh phản đối chế độ hà khắc của nhà lao, phản đối án tử hình với chính trị phạm; trao đổi về tình hình và nhiệm vụ cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống các phần tử cơ hội, đầu hàng. Lời nhắn nhủ với các bạn chiến đấu trước khi trút hơi thở cuối cùng: “Trước sau tôi chỉ mong anh chị em hãy giữ vững chí khí chiến đấu! còn vang vọng mãi đến hôm nay và mai sau.

Toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Tổng Bí thư Trần Phú là một trang sử tuy không dài, nhưng chói lọi, tràn đầy năng lực trí tuệ và bản lĩnh, kiên định và vững vàng, trung thành và lạc quan, bất khuất và hiên ngang. Tạp chí Quốc tế Cộng sản (tháng 5/1932) nhấn mạnh: “Đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú của chúng ta đã hy sinh, nhưng tên tuổi của đồng chí sẽ vĩnh viễn sống mãi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đông Dương, cũng như sống mãi trong trái tim của những người lao động Đông Dương các thế hệ hôm nay và mai sau”. Lãnh tụ Hồ Chí Minh ca ngợi: “Đồng chí Trần Phú là một người con ưu tú của Đảng và của nhân dân”. “đồng chí Trần Phú... và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”.

Những bài học quý cho Đảng ta và cách mạng Việt Nam hiện nay

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trần Phú là dịp để tôn vinh và tri ân những cống hiến to lớn của Đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Khẳng định sự kiên định, vận dụng sáng tạo những bài học quý báu mà đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng để lại cho cách mạng Việt Nam và Đảng ta.

Trước hết, cần khẳng định: Đảng ta là Đảng cầm quyền nên nhất định phải có một đường lối đúng đắn, sáng suốt, sáng tạo, đó là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Luận cương chính trị và cách chỉ đạo thi hành Luận cương kịp thời, linh hoạt, thể hiện sự trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin vì lợi ích tối cao của Đảng, của cách mạng và dân tộc, thấm sâu vào quan điểm chỉ đạo của Đảng hiện nay về sự kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, cần xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phải kiên quyết chống lại mọi biểu hiện làm lệch lạc đường lối của Đảng, cơ hội, bè phái; biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như giữ gìn “con ngươi” của mắt mình trên cơ sở cương lĩnh, Điều lệ Đảng; tăng cường mối quan hệ, gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân lên trên hết, trước hết.

Ba là, “giữ vững chí khí chiến đấu” theo tấm gương Tổng Bí thư Trần Phú, nêu cao đạo đức cách mạng chí công vô tư, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thói vô trách nhiệm, sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm. Mỗi cán bộ, đảng viên phải có tinh thần vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đấu tranh chống lại mọi tiêu cực, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà Tổng Bí thư Trần Phú đã chuyển lại, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.

ST.

GIỖ TỔ - NGÀY NHỚ VỀ NGUỒN CỘI

 

Có một quốc gia nào trên thế giới mà toàn dân dù trong nước hay ở nước ngoài đều tưởng nhớ về một nguồn gốc chung, đó là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương như Việt Nam. Lịch sử của dân tộc Việt Nam được mở đầu bằng thời đại Hùng Vương với công lao to lớn của các Vua Hùng đã khai sơn, phá thạch, mở mang, bồi đắp xây dựng nên Nhà nước Văn Lang. Cả dân tộc có chung ngày Giỗ Tổ; đồng bào cả nước không phân biệt tôn giáo, dân tộc, đều có chung tình dân tộc, nghĩa đồng bào cùng chung nguồn cội “con Rồng cháu Tiên”. Đây chính là nguồn mạch sâu thẳm tạo nên sức mạnh đoàn kết, cố kết cộng đồng trải dài từ quá khứ, nâng bước cho hiện tại, chắp cánh cho tương lai; là điểm tựa tinh thần, sức mạnh mềm để người Việt vượt qua mọi âm mưu thôn tính, xâm lăng của các thế lực ngoại bang. Cũng nhờ đó mà giữ được ngôn ngữ, tâm hồn, phẩm cách của mình, bồi đắp một nền văn hóa đậm đà, đặc sắc, đa dạng trong thống nhất.

Hiện nay, cả nước có hơn 1.410 di tích thờ Hùng Vương và liên quan đến thời đại Hùng Vương, trải khắp các vùng miền, từ Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Lâm Đồng, Bình Phước, Khánh Hòa, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ… Vì vậy, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành ngày hội của đồng bào cả nước với nhiều chương trình, hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống, hoạt động văn hóa dân gian. Mỗi người Việt Nam, dù ở vùng núi cao hay miền duyên hải, dù là dân tộc Kinh hay các dân tộc khác cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, đều cùng chung dòng máu Lạc Hồng, đều là con dân đất Việt. Truyền thống đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, chia sẻ, gắn kết ấy đã củng cố sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trước những thách thức trong lịch sử như chống giặc ngoại xâm, vượt qua những thử thách trước thiên tai và những hoàn cảnh ngặt nghèo, để đất nước trường tồn. Người Việt Nam dù đi đến đâu cũng mang theo tâm thức về Quốc Tổ.

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa phổ biến trong đời sống, gắn với thờ cúng tổ tiên là một biểu hiện nhất quán của văn hóa truyền thống dân tộc, được xem như biểu tượng phản ánh tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc và sự kết nối cộng đồng của người Việt Nam ở nước ngoài. “Ngày Quốc Tổ Việt Nam toàn cầu” là dự án được hình thành từ năm 2015, do một số nhà khoa học, trí thức, hội đoàn kiều bào của 7 quốc gia sáng lập, nhân dịp về tham dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX tại Hà Nội.

Ngày 11/12/2018, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý tiếp tục triển khai tổ chức “Ngày Quốc Tổ Việt Nam toàn cầu” ở các nước có đông kiều bào sinh sống; đồng thời xây dựng dự án thành đề tài khoa học cấp quốc gia với mục đích tôn vinh giá trị tinh thần của dân tộc Việt trên các phương diện: Văn hóa, xã hội, truyền thống, phong tục, ẩm thực, đặc biệt là văn hóa tâm linh, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; định vị giá trị thương hiệu, giá trị văn hóa của người Việt, qua đó bạn bè quốc tế hiểu hơn về con người và những giá trị, thế mạnh của Việt Nam.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của người Việt Nam là sợi dây kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai. Bởi vậy mà ngày 6/12/2012, tại Paris (Pháp), UNESCO đã chính thức công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một hiện tượng văn hoá độc đáo, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là di sản đầu tiên của Việt Nam được vinh danh ở loại hình tín ngưỡng và cũng là lần đầu tiên UNESCO công nhận tín ngưỡng thờ Tổ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo đánh giá của các chuyên gia UNESCO, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đã đáp ứng được tiêu chí quan trọng nhất trong 5 tiêu chí, đó là di sản có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị đó. Thực tế này phản bác các quan điểm xuyên tạc, cho rằng Việt Nam “tự vẽ ngày Quốc Giỗ” để tụ họp, lãng phí, “người dân không quan tâm đến Giỗ Tổ”, “không phải là nét văn hoá của người Việt Nam”… 

Dịp hành hương, hướng về đất Tổ lại về, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ngày càng khẳng định vị trí vững chắc trong đời sống xã hội, khẳng định sức sống của biểu tượng cội nguồn dân tộc. Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù có những luận điệu xuyên tạc đi ngược đạo lý thì những giá trị tốt đẹp của ngày Giỗ Tổ mãi là giá trị văn hoá trường tồn. Những giá trị đó đã góp phần phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, như một chất keo gắn kết mọi người Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài càng thêm yêu quê hương, đất nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐỐI VỚI NGÀY GIỖ TỔ

Đã từ lâu, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch hằng năm) đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống, có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống người dân Việt Nam. Đây không chỉ là dịp để tưởng nhớ, tri ân, gặp gỡ, giao lưu mà còn là diễn đàn, đợt sinh hoạt chính trị, văn hoá, tập hợp và phát huy sức mạnh của các tổ chức, cá nhân, là chất keo kết dính khối đại đoàn kết toàn dân tộc cùng nhau xây dựng đất nước ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Tuy nhiên, khi đồng bào ta phấn khởi, chung vui hướng về ngày Giỗ Tổ thì cũng là lúc các tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị giở trò xuyên tạc, chống phá nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo, các thế lực xấu cố tình “bẻ lái” ý nghĩa ngày Quốc giỗ, cho rằng đây chỉ là câu chuyện có tính truyền thuyết, hư cấu, sao lại phải rầm rộ tổ chức “giỗ” cho lãng phí, tốn kém! Một số quan điểm thì cố tình kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân bằng luận điệu cho rằng, Giỗ Tổ chỉ ý nghĩa với người Việt phương Bắc, còn các vùng miền khác “dân không quan tâm”! Họ ngụy biện việc ngày nay con người sống với số hoá, cách mạng 4.0, với hội nhập toàn cầu, vậy mà “Việt Nam loay hoay với giỗ với nghỉ giỗ”, không lo tập trung làm ăn, lao động, sản xuất!

Cũng nhân sự kiện này, trên mạng Internet, xuất hiện các quan điểm sai trái, từ việc phê phán Giỗ Tổ là “không cần thiết” đến vấn đề hòa hợp dân tộc để chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ cố tình đánh tráo bản chất, lập luận vòng vo rằng hòa hợp dân tộc là hòa hợp giữa những người “bất đồng chính kiến”, những “nhà dân chủ” với chính quyền nước ta hiện nay; họ tự huyễn hoặc cho mình là đại diện cho lợi ích của đồng bào ta ở hải ngoại để đưa ra yêu sách phi lý.

Họ phê phán chính sách hòa hợp dân tộc chỉ là “đãi bôi”, “con đường nửa vời” nếu còn chế độ cộng sản; từ đó, họ kêu gọi phải coi việc xóa bỏ chế độ cộng sản là một “mệnh lệnh của lương tâm”, là “tương lai của dân tộc”. Bằng những đòi hỏi phi lý, như: phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên, đa đảng, từ bỏ con đường đi lên CNXH mà nhân dân ta đã lựa chọn.

Các đối tượng phát tán tài liệu bịa đặt, dựng cảnh người dân ăn mặc rách rưới, nhem nhuốc rồi chụp ảnh, quay video tung lên không gian mạng để rêu rao, tạo dư luận xấu về Đảng, Nhà nước Việt Nam. Địa bàn nhắm tới là các buôn, làng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, “tự do tôn giáo, dân tộc”, các thế lực thù địch thường triệt để lợi dụng các vụ việc nóng ở trong nước dư luận đang quan tâm để chống phá chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Bên cạnh đó, được sự hỗ trợ, tiếp sức bởi các thế lực thù địch và các tổ chức quốc tế thiếu thiện cảm với Việt Nam, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở trong nước đã tích cực kích động biểu tình, tạo điểm nóng chính trị để gây sự chú ý của dư luận thế giới.

Đáng chú ý, tất cả tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài đều tận dụng triệt để mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền, kích động chống phá. Không chỉ kích động tư tưởng ly khai, tự trị riêng cho dân tộc mình tại vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, các thế lực thù địch, chống phá Việt Nam còn triệt để lợi dụng các vụ việc chính trị, xã hội phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo, nhằm gây bất ổn từ bên trong, gây hiểu nhầm đối với dư luận thế giới để kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế vào công việc nội bộ của Việt Nam. Họ tìm cách vu cáo Đảng và Nhà nước, tạo ra những nhận thức sai lệch để các chính phủ, các tổ chức quốc tế can thiệp, gây sức ép, tạo điều kiện cho các đối tượng trong nước gia tăng hoạt động chống phá. Hành động đó không chỉ trái với truyền thống, đạo lý của dân tộc, gây hiềm khích, chia rẽ dân tộc mà còn làm xấu xí hình ảnh, bản chất của người Việt, của đất nước trước bạn bè quốc tế

QUYẾT TÂM BẢO VỆ BIỂN, ĐẢO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

 

Trên thực tế, nhiệm vụ bảo vệ biển đảo luôn Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo bằng đường lối, quan điểm nhất quán, đúng đắn, phù hợp với luật pháp quốc tế và tình hình thực tiễn…

Ngay sau khi đất nước thống nhất, ngày 12/5/1977, Việt Nam đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Tiếp đó, ngày 12/11/1982, Chính phủ đã ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấn với các quốc gia có liên quan trong giai đoạn sau này. Những hiệp định phân định ranh giới mà Việt Nam ký kết với các quốc gia trên thế giới mang ý nghĩa quan trọng, góp phần khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam; đồng thời, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, khai thác các vùng biển và thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng. Đây là một minh chứng cho thấy, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, chủ động, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Trên thực tế, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, nước ta luôn thể hiện quan điểm kiên quyết đấu tranh phản đối. Đồng thời, thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao với các nước trên thế giới có tiếng nói kịp thời đối với những hành vi vi phạm. Việt Nam cũng luôn chủ động, tích cực và kiên trì giải quyết những bất đồng tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hòa bình, an ninh khu vực; tăng cường vị thế trên trường quốc tế; Việt Nam luôn phản đối chiến tranh, xung đột dưới bất cứ hình thức nào, đồng thời nhất quán với quan điểm mọi tranh chấp, bất đồng phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và pháp luật quốc tế có liên quan, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển … 

Đồng thời, sẵn sàng về lực lượng, phương tiện, phương án, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đó là những biện pháp thể hiện sự khôn khéo, mềm dẻo về sách lược, kiên quyết về mặt nguyên tắc để đạt được mục tiêu đề ra…

Việt Nam cũng luôn quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng nói chung, lực lượng bảo vệ biển đảo nói riêng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Không ngừng quan tâm bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại…