Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

Không một thế lực nào có thể hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam*

Thời gian qua, lợi dụng tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, khó lường cùng một số mặt khó khăn của đất nước, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá cách mạng nước ta trên nhiều hướng, đặc biệt trên môi trường mạng xã hội hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ coi đây là đột phá khẩu, con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để xóa bỏ mọi thành quả của cách mạng Việt Nam mà Đảng và Nhân dân ta đã dày công vun đắp, tạo dựng. Nhưng thực tiễn đã khẳng định, không một thế lực nào có thể hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Họ cho rằng: (1). Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và dân tộc là phi logic, phi lịch sử, lẽ ra phải là đội ngũ tinh túy của giới tinh hoa mới phù hợp; (2). Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lịch sử và thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; (3). Đảng Cộng sản Việt Nam tuy đã thành công trong việc lãnh đạo giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước, nhưng hiện nay, một bộ phận lớn cán bộ cao cấp của Đảng thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực cho nên Đảng không còn là đội ngũ tiên phong để lãnh đạo đất nước nữa, v.v. Những luận điệu trên thể hiện mưu đồ đen tối, thâm hiểm, xuyên tạc, bịa đặt, hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Song, chúng ta có đầy đủ cơ sở khoa học và những luận cứ xác đáng để bác bỏ luận điệu sai lầm, phản động, phản khoa học đó.



Quang cảnh Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII. Ảnh: dangcongsan.vn

1. Việc xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và dân tộc.

Trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, ông cha ta đã mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; vừa từng bước xây dựng đất nước, vừa kiên quyết đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chiến thắng nhiều đế quốc hung hãn, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã không giữ được độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, với truyền thống yêu nước nồng nàn, các tầng lớp nhân dân ta đã liên tiếp vùng lên chống giặc. Song, các phong trào: Cần Vương, Duy Tân, Đông Du và các cuộc khởi nghĩa: Yên Thế, Yên Bái,... cùng hàng chục cuộc đấu tranh khác đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, dìm trong biển máu. Sự đô hộ của thực dân Pháp gần một thế kỷ đã chứng tỏ cả giai cấp phong kiến và đại diện cho các thế lực tư sản đã hết vai trò lịch sử, vận mệnh của dân tộc và đất nước lâm vào tình thế bế tắc, không có đường ra. Vấn đề bức thiết đặt ra lúc đó là bằng con đường nào, cách thức nào, tổ chức lực lượng thế nào để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập dân tộc.

Vấn đề vô cùng bức thiết này đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) đưa ra lời giải đáp. Trong suốt 30 năm đi tìm đường cứu nước, Người đã nhận rõ con đường giành độc lập dân tộc phải là con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã gieo hạt, gây mầm và tạo dựng sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với kỳ công của Người, đã kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam chuyển hóa thành một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện đã được dân tộc giao phó, giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Lịch sử 94 năm của Đảng là hành trình thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp nhưng rất đỗi vinh quang.

2. Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Thứ nhất, Đảng xác định và lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu lý tưởng của sự nghiệp cách mạng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vừa ra đời, Đảng ta đã chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Chủ trương đó đã được nhân dân đồng tình cao và trở thành lẽ đương nhiên; chủ nghĩa xã hội lúc này không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà còn là xung lực thúc đẩy lịch sử Việt Nam chuyển mình, là con đường để dân tộc Việt Nam tạo dựng cơ đồ đất nước ngày càng bền vững. Mục tiêu lý tưởng và sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về logic là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu và xu thế của thời đại. Đó là hệ giá trị cơ bản nhất cho đất nước Việt Nam vừa qua, hôm nay và mai sau; là con đường duy nhất để kiến tạo và phát triển đất nước.

Thứ hai, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành lại giang sơn cho đất nước, độc lập, tự do cho dân tộc. Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ngọn cờ của Đảng, toàn thể nhân dân ta chung sức, chung lòng tiến hành cuộc cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và đã giành được những thắng lợi vĩ đại, như: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954; đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; chiến thắng chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Thứ ba, Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội với các nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ được hình thành trên cơ sở tổng kết hoạt động thực tiễn và nâng tầm lý luận. “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ tổng thể của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân ta nhằm đưa nước ta thành nước tiên tiến với mục tiêu cao cả: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

Bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là việc Đảng ta phát động và lãnh đạo tổ chức thực hiện sự nghiệp đổi mới, tạo ra bước đột phá lớn và toàn diện, làm xoay chuyển tình hình đưa đất nước tiến lên. Chính đổi mới đã đưa đất nước ta từ chỗ thiếu thốn, hàng năm phải nhập lương thực để đảm bảo mức sống tối thiểu, nay trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều mặt hàng nông sản đứng nhất nhì thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi người lại có những nét mới mẻ, tươi vui và sinh động như hôm nay. Đổi mới đã đem đến một sức sống mới cho đất nước, tiếp sức và nâng bước cho đôi chân chúng ta trên con đường hạnh phúc. Sau gần 40 năm đổi mới, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

3. Đảng và Nhà nước ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và đã đạt được những kết quả tích cực.

Nhận thức rõ tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên sẽ làm suy yếu Đảng, giảm quyền lực của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chung của đất nước, Đảng và Nhà nước có quyết tâm chính trị rất cao trong đấu tranh phòng, chống các biểu hiện tiêu cực này. Nó trở thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị.

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994, Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng. Các nhiệm kỳ tiếp theo, Đảng ta thường xuyên ban hành các nghị quyết liên quan đến phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Đại hội XII của Đảng xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó điều đầu tiên là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Cụ thể hóa các quan điểm, chủ trưởng của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống các tệ nạn này; các cơ quan chuyên trách được kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động và phát huy hiệu quả. Cùng với những giải pháp quyết liệt trong nước, Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, hưởng ứng của nhân dân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thoái hóa, biến chất đã đạt được những kết quả tích cực. Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp đầu năm 2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Năm 2022, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, có nhiều điểm mới, đạt nhiều kết quả cụ thể, được cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ, đánh giá cao”. Đồng thời, chỉ rõ: “Trước một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, sẽ làm “chậm sự phát triển đất nước”; có thể khẳng định và thực tế đã chứng minh hoàn toàn ngược lại, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chúng ta giữ vững ổn định chính trị xã hội, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế”.

Sự thật không thể phủ nhận rằng chặng đường từ khi có Đảng là chặng đường rất đỗi vinh quang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó đã chứng tỏ con đường cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã lựa chọn là đúng đắn, sáng tạo. Hiện nay, đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế do Đảng ta khởi dựng, lãnh đạo, tổ chức thực hiện rất phù hợp với nhịp bước của thời đại. Đổi mới và hội nhập quốc tế là hai nhiệm vụ chiến lược thực hiện mục tiêu chung phát triển đất nước. Thành công của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đã làm thay đổi rõ rệt diện mạo của đất nước, tăng cường xung lực cho đời sống xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đất nước ta ngày càng lớn mạnh, vững chắc, tạo phong độ mới, thế mới, lực mới để vươn tầm, có đủ sức lực và trí tuệ để sánh vai cùng bạn bè thế giới. Chúng ta tin tưởng rằng, đất nước ngày càng phát triển vững chắc, tươi sáng hơn với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính điều đó đã khẳng định, không một thế lực nào có thể hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.

ST.

Không thể xuyên tạc, phủ nhận chức năng, thành quả lao động sản xuất của Quân đội

Tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng là một chức năng cơ bản, nhiệm vụ vẻ vang, thể hiện sâu sắc bản chất, truyền thống của của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều đó đã được lý luận khẳng định, thực tiễn chứng minh, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận. Nhưng với mưu đồ chống phá thâm độc, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc, phủ nhận. Đây là vấn đề không mới nhưng rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ. 

Từ lâu, các thế lực thù địch, phần tử bất đồng chính kiến, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách chống phá, hòng làm suy yếu Quân đội - công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Thời gian gần đây, lợi dụng chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, các đối tượng này mở màn “ca tụng”, “khen ngợi”, bày tỏ sự “đồng thuận”, “nhất trí cao” rồi “hiến kế”, “đề xuất”: “Đất nước đã phát triển có đủ tiềm lực kinh tế đầu tư cho quốc phòng, cho xây dựng Quân đội hiện đại, vì thế đã đến lúc Quân đội không cần phải tham gia lao động sản xuất, không cần kết hợp quốc phòng với kinh tế nữa mà tập trung bảo vệ Tổ quốc”, “Để tinh, gọn, mạnh, hiện đại như mục tiêu đã xác định thì Quân đội tập trung vào xây dựng lực lượng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, không tham gia làm kinh tế”… Họ còn tỏ ra “lo lắng” khi Quân đội “Tham gia làm kinh tế không xứng với vị thế của một đội quân chính quy, hiện đại”. Thâm hiểm hơn chúng bới móc hạn chế, sai phạm của một số tập thể, cá nhân đã bị xử lý kỷ luật, rồi quy chụp, phủ nhận thành quả tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội và “phán” rằng: “Vì tham gia làm kinh tế nên Quân đội mất cán bộ, giảm sút lòng tin của Nhân dân”!

Những luận điệu xảo biện đó không công kích trực diện mà núp bóng tinh vi dưới vỏ bọc “ý kiến đề xuất”, “đóng góp tâm huyết” nên đã làm một số quần chúng do hiểu biết hạn chế, nhận thức giản đơn về chính trị ngộ nhận, từ đó bình luận, chia sẻ trên các trang cá nhân mạng xã hội, vô tình tiếp tay cho chúng.

Nhìn nhận một cách hệ thống, chúng ta thấy, thực chất của các luận điệu trên vẫn chỉ là chiêu trò “bình mới, rượu cũ”. Bản chất phía sau vẫn là dã tâm mà chúng không hề từ bỏ là chống phá Quân đội, chống phá đường lối của Đảng. Mục đích chúng hướng đến là xuyên tạc, phủ nhận chức năng “đội quân lao động sản xuất”, sâu xa hơn xuyên tạc bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; xuyên tạc chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng. Đặc biệt, chúng hướng lái, cổ súy cho việc xây dựng Quân đội theo kiểu quân đội nhà nghề của các nước phương Tây. Đây là ý đồ hết sức thâm độc, được ngụy trang rất tinh vi, nhằm thẩm thấu vào tư tưởng của cán bộ, quần chúng nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, gây tâm lý hoài nghi, nhận thức không đầy đủ, sai lệch về chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta.

Để thấy rõ tính chất phản động, sự xuyên tạc trắng trợn, lố bịch của các thế lực thù địch về chức năng, nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội và chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng, cần nghiên cứu, nhận thức vấn đề này một cách thấu đáo, khách quan, khoa học cả về lý luận và thực tiễn.



Công ty 74, thuộc Binh đoàn 15 thực hiện nhiều dự án phát triển kinh tế và làm công tác dân vận, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng nghìn lao động là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Ảnh: TTXVN

Phải khẳng định rằng, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là quy luật tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia. Đối với nước ta, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế và Quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng đất nước là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng trong mọi giai đoạn cách mạngQuan điểm đó được hình thành trên cơ sở lịch sử truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước” của dân tộc, từ những bài học quý về chính sách “ngụ binh ư nông”, “tĩnh vi nông, động vi binh” của ông cha ta và xuất phát từ lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; về quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản.

Quân đội ta là quân đội cách mạng, “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”. Lao động sản xuất là một trong ba chức năng cơ bản của Quân đội được xác lập từ ngày đầu thành lập, thể hiện rõ đặc trưng, bản chất, truyền thống của đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ và là điểm khác biệt căn bản với quân đội tư sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Tham gia sản xuất là một nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ giao cho Quân đội”. Và trên thực tế, “nhiệm vụ vẻ vang” đó luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất; Quân đội quán triệt, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả.

Nhìn lại chặng đường gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nắm vững và hoàn thành xuất sắc chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân tin tưởng giao phó. Đối với chức năng “đội quân lao động sản xuất” được toàn quân thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp trong từng giai đoạn cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quán triệt quan điểm “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” của Đảng, các đơn vị Quân đội vừa chiến đấu, vừa tích cực tăng gia, sản xuất cải thiện đời sống, đảm bảo cho bộ đội “ăn no, đánh thắng”. Các “công binh xưởng” được thành lập và đã sản xuất hàng triệu tấn vũ khí, trang bị, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng, phát triển chiến tranh nhân dân.  Sau thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện chủ trương của Đảng, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Quân đội chuyển sang làm nhiệm vụ lao động, sản xuất, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa đem lại nhiều thành quả quan trọng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội tích cực tham gia xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, đồng thời, đẩy mạnh sản xuất xây dựng căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần trên chiến trường miền Nam, tạo nguồn vật chất tại chỗ to lớn đảm bảo cho tác chiến, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Đất nước thống nhất, Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã ban hành Nghị quyết về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới; trong đó xác định: “Các lực lượng vũ trang, kể cả các đơn vị thường trực, phải tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự đối với tất cả trai tráng và chế độ Quân đội tham gia xây dựng kinh tế”. Đến Đại hội IV (tháng12/1976), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Trong hoàn cảnh một nước nghèo lại vừa ra khỏi một cuộc chiến tranh ác liệt, kéo dài, thì các lực lượng vũ trang, ngoài nghĩa vụ luôn luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, còn phải tích cực làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”. Thực hiện chủ trương của Đảng, Quân đội đã xung kích trên mặt trận hàn gắn vết thương chiến tranh, tham gia củng cố, phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, sát cánh cùng toàn dân đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Trong giai đoạn mới, tư duy của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế và Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng đất nước tiếp tục được nhất quán khẳng định qua các kỳ Đại hội. Tại Đại hội VI (12/1986), Đảng ta chỉ rõ: “Từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước. Trên cơ sở bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và sản xuất quốc phòng, huy động một phần lực lượng Quân đội, sử dụng một phần năng lực công nghiệp quốc phòng vào việc xây dựng kinh tế”; “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, v.v.

Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế để lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân thống nhất tổ chức thực hiện. Đáng chú ý là: Nghị quyết số 71/ĐUQSTW, ngày 25/4/2002 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quan ủy Trung ương) “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới - tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội”; Nghị quyết số 520-NQ/QUTW, ngày 25/9/2012 của Quân ủy Trung ương “Về lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; Nghị quyết số 820-NQ/QUTW, ngày 17/12/2021 về “Lãnh đạo nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2030”, v.v.

Theo đó, việc thực hiện chức năng “đội quân lao động sản xuất”, tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội ngày càng đi vào chiều sâu, phù hợp với chủ trương của Đảng về đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới. Nổi bật là, Quân đội đã phát huy vai trò xung kích trong tham gia xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” vững chắc, đặc biệt trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Các đơn vị Quân đội đã chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và trực tiếp tổ chức xây dựng hàng chục khu kinh tế - quốc phòng, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn hộ dân, hình thành các điểm, cụm dân cư trên vành đai biên giới, khu vực xung yếu, tạo thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn, hướng chiến lược của đất nước. Các doanh nghiệp Quân đội không ngừng phát triển, hội nhập, xung kích thực hiện các dự án kinh tế - xã hội kết hợp quốc phòng, an ninh, nhất là ở địa bàn khó khăn. Nhiều doanh nghiệp Quân đội khẳng định được thương hiệu, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và là lực lượng dự bị mạnh về quốc phòng. Ngành công nghiệp quốc phòng làm chủ nhiều công nghệ lưỡng dụng tiên tiến, hiện đại, đóng góp tích cực vào xây dựng Quân đội từng bước hiện đại và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các đơn vị thường trực, sự nghiệp công lập tích cực tăng gia, sản xuất và làm một số dịch vụ theo quy định, tạo nguồn thu trực tiếp cải thiện đời sống bộ đội, tham gia có hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng tiềm lực hậu cần trên địa bàn đóng quân, v.v.

Như vậy, cả phương diện lý luận và thực tiễn cho thấy: Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật và điều kiện Việt Nam. Đặc biệt, kết quả đạt được trên “mặt trận lao động sản xuất” là thực tiễn sinh động khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong việc huy động Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế. Đồng thời, khẳng định ý thức, trách nhiệm chính trị, quyết tâm cao của Quân đội ta trong việc quán triệt, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Mặc dù còn một số khuyết điểm, hạn chế do những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, nhưng đó chỉ là cá biệt, “con sâu làm rầu nồi canh”. Thực tiễn hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội và những kết quả đạt được là minh chứng sắc bén nhất vạch trần thủ đoạn lập lờ đánh đồng hiện tượng với bản chất, bác bỏ luận điệu xuyên tạc vô lối, phản khoa học của các thế lực thù địch.

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đứng trước nhiều vận hội, thời cơ thuận lợi và cả khó khăn, thách thức đan xen. Kinh tế đất nước không ngừng phát triển và đạt những thành tựu to lớn. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước tăng cường đầu tư cho quốc phòng, xây dựng Quân đội. Tuy nhiên, nước ta vẫn ở nhóm các nước đang phát triển, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế mà Đảng ta chỉ ra ngày càng bộc lộ rõ; sức chống chịu của nền kinh tế trước những tác động bất lợi còn hạn chế. Nhu cầu đầu tư cho phát triển nói chung, cho xây dựng Quân đội nói riêng đòi hỏi rất lớn trong khi nguồn lực kinh tế đất nước còn có hạn. Trước bối cảnh đó, hơn bao giờ hết, Quân đội vừa làm tròn vai trò nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; đồng thời, tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chức năng “đội quân lao động sản xuất”, tham gia có hiệu quả vào phát triển kinh tế, tạo nguồn lực xây dựng đất nước. Mặt khác, cần thấy rằng, Quân đội tham gia lao động sản xuất không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, tạo ra nguồn của cải vật chất, góp phần tăng cường tiềm lực đất nước, mà “mặt trận lao động sản xuất” còn là môi trường để cán bộ, chiến sĩ, nhất là thế hệ trẻ được thử thách, rèn luyện ý chí, bản lĩnh của người quân nhân cách mạng, bồi đắp tình yêu lao động, tinh thần tự lực tự cường, ý thức cần, kiệm, liêm, chính; tăng cường gắn kết tình đồng chí đồng đội, v.v. Qua đó, giúp họ trưởng thành, phát triển toàn diện, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Một thực tế nữa không thể phủ nhận là, thông qua thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thêm ngời sáng, mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân càng thêm bền chặt, niềm tin yêu của Nhân dân dành cho Quân đội càng được nâng cao. Bởi vậy, dù ngụy biện thế nào thì luận điệu “đến lúc Quân đội không cần phải tham gia lao động sản xuất” hay “tham gia xây dựng kinh tế làm giảm sút lòng tin của nhân dân” là hoàn toàn lố bịch, không thể chấp nhận được.

Tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là chức năng cơ bản, nhiệm vụ vẻ vang, đặc trưng bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam là điều không thể phủ nhận. Tiếp tục nắm vững và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đó không chỉ là mệnh lệnh, trách nhiệm, nghĩa vụ, mà còn là niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là hành động thiết thực nhất để phản bác, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “sớm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, từng bước hiện đại, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và tô thắm thêm bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” trong thời kỳ mới./.

ST.

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc vai trò của đội ngũ trí thức*

Hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn tuyên truyền nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trong đó có luận điệu cho rằng “chỉ có trí thức mới là đội ngũ lãnh đạo xã hội”. Có thể thấy quan điểm trên là hoàn toàn sai lầm, không có cơ sở khoa học, thiếu căn cứ thực tiễn.



Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp gỡ trí thức trẻ Việt Nam tại Pháp (tháng 3/2018). Ảnh: qdnd.vn

Sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 24/11/2023 về “Tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới”, trên mạng xã hội xuất hiện luận điệu cho rằng, trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, nhất là Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, “chỉ có trí thức mới là đội ngũ lãnh đạo xã hội”. Đây là luận điệu có tính chất trá hình, khiến mọi người mới nghe dễ lầm lẫn, ngộ nhận, bởi rõ ràng đội ngũ trí thức đều là người có kiến thức, trình độ trong khi chế độ nào cũng cần có người tài giúp sức, v.v. Tuy nhiên, mục đích của luận điệu này không hướng vào điều đó, mà chủ yếu nhằm hạ thấp vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội. Để phản bác luận điệu trên cần có cách nhìn biện chứng, khách quan, khoa học, không thể cảm tính, phiến diện, một chiều. Thực tiễn lịch sử cho thấy, để xứng đáng với vai trò là lực lượng lãnh đạo xã hội, cần phải có đủ các điều kiện cơ bản sau: là lực lượng đại biểu cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ trong xã hội; có hệ tư tưởng riêng phản ánh được quy luật chính trị - xã hội; có lợi ích đại diện cho nhiều giai tầng xã hội; có tinh thần cách mạng triệt để; có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, có tình đoàn kết giai cấp. Chúng ta hãy dựa vào các tiêu chí trên để xem xét trí thức có đủ điều kiện lãnh đạo xã hội hay không?

Trước hết, cần thấy rằng, trí thức không phải là giai cấp và cũng không đại biểu cho một phương thức sản xuất mới, tiến bộ nào. Chúng ta biết, sản xuất vật chất bao giờ cũng là nền tảng của đời sống xã hội; không có sản xuất vật chất, xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Khi có sự phân công lao động thành “lao động vật chất và lao động tinh thần”, thì xuất hiện trí thức. Từ khi ra đời cho đến nay, trí thức luôn có vai trò to lớn trong tiến trình lịch sử nhân loại, nhưng chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất tinh thần.

Khi xã hội có phân chia giai cấp, vai trò lãnh đạo xã hội luôn thuộc về giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất vật chất tiên tiến, gắn liền với lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với tiến trình vận động, phát triển của lịch sử. Đó là những giai cấp “đầu tàu” có sứ mệnh lịch sử dẫn dắt nhân loại tiến lên phía trước; tương ứng với từng thời kỳ phát triển của xã hội loài người là các giai cấp: chủ nô, phong kiến, tư sản và hiện nay là giai cấp công nhân. Những giai cấp khác, tuy cũng gắn với phương thức sản xuất mới ở những mức độ khác nhau, nhưng không đại biểu cho phương thức sản xuất ấy nên không thể là giai cấp lãnh đạo xã hội. Đó lần lượt là các giai cấp: nông nô, nô lệ, nông dân, v.v. Còn các tầng lớp xã hội khác, tuy có những vai trò nhất định trong từng xã hội cụ thể, nhưng không bao giờ có được địa vị là lực lượng lãnh đạo xã hội.

Trên thực tế, trí thức xuất hiện từ rất sớm và đã tồn tại qua nhiều thời kỳ lịch sử, trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi phương thức sản xuất nhất định, trí thức luôn được coi là lực lượng có vai trò nhất định trong xã hội nhưng dễ bị lệ thuộc vào giai cấp thống trị. Từ địa vị của mình trong phân công lao động xã hội, trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp với sở hữu tư liệu sản xuất, không giữ vị trí độc lập trong hệ thống sản xuất, cho nên họ không phải là một giai cấp và cũng không đại biểu cho phương thức sản xuất nào. Họ chỉ là một “tầng lớp đặc biệt”, “bao hàm tất cả mọi người có học thức,... các đại biểu của lao động trí óc” - tầng lớp sản xuất ra những giá trị tinh thần là chủ yếu và chỉ có thể phát huy được vai trò, sức mạnh thực sự của mình khi gắn với các giai cấp khác.

Và như vậy, trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hay là các cuộc cách mạng công nghiệp những lần tiếp theo dù có phát triển đến đâu thì cũng không thể làm thay đổi địa vị kinh tế - xã hội của trí thức, để họ có thể trở thành chủ thể của quá trình sản xuất vật chất. Có chăng, trí thức chỉ có thể thúc đẩy quá trình sản xuất hiện đại phát triển theo hướng gia tăng ngày càng nhiều hàm lượng trí tuệ (tinh thần) cho các sản phẩm phục vụ nhu cầu vật chất, tinh thần của con người. Chính vì không đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ nên trí thức không có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất cũ.

Thứ hai, trí thức không có hệ tư tưởng riêng mà phụ thuộc vào hệ tư tưởng của các giai cấp thống trị xã hội. Trong xã hội có giai cấp, một giai cấp chỉ khẳng định được vai trò lãnh đạo của mình khi có hệ tư tưởng riêng, độc lập với tư tưởng của các giai cấp khác. Và cũng trong xã hội ấy “những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị”. Do không có hệ tư tưởng riêng, độc lập nên trí thức không có lập trường tư tưởng vững vàng. Tuy nhiên, họ lại có một năng lực đặc biệt là sức khái quát xây dựng hệ tư tưởng cho các giai cấp thống trị xã hội. Chính vì vậy, các giai cấp thống trị luôn quan tâm đào tạo trí thức nhằm phục vụ cho sự thống trị của mình. Trong lịch sử, giai cấp địa chủ, giai cấp tư sản cũng như giai cấp công nhân đều vận động trí thức làm được điều đó và họ trở thành giai cấp lãnh đạo xã hội, đảm nhận sứ mệnh lịch sử của thời đại. Còn trí thức, chỉ là một tầng lớp xã hội nhưng có vai trò nhất định và thường gắn liền, phục vụ cho giai cấp thống trị.

Thứ ba, do không đại diện cho phương thức sản xuất nào nên trí thức không đại diện cho lợi ích nhiều giai tầng xã hội. Lợi ích của trí thức về cơ bản không thống nhất với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Chính điều này không cho phép họ có khả năng vận động, thu hút và tập hợp lực lượng từ các giai tầng xã hội quanh mình để đấu tranh vì lợi ích chung. Hệ quả đó đã không cho phép trí thức có thể tổ chức, thống nhất lực lượng một cách trực tiếp, rộng rãi và cũng không có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp thống trị. Cho nên, trong quá trình đấu tranh giai cấp và do tác động nhiều mặt về lợi ích đã làm cho trí thức phân hóa thành những bộ phận khác nhau và sẽ phục vụ cho giai cấp này hoặc giai cấp khác. Do không đại diện cho một lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, nên trí thức chưa bao giờ làm cách mạng để đánh đổ kiểu quan hệ sản xuất cũ đã lạc hậu, xây dựng một xã hội mới. Do đặc tính này mà trí thức không được lịch sử lựa chọn làm lực lượng lãnh đạo xã hội xây dựng phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất cũ.

Thứ tư, trong thời đại ngày nay, trí thức không có tinh thần cách mạng triệt để như giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản. Từ khi xuất hiện tới nay, chưa khi nào trí thức có lợi ích đối lập với giai cấp thống trị đương thời. Do vậy, họ luôn có thái độ thờ ơ đối với chính trị. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, trí thức là một tầng lớp xã hội trung gian, gắn bó với các giai tầng khác và thường phụng sự giai cấp thống trị, có lợi ích gắn liền với lợi ích chung của giai cấp thống trị, nên họ dễ dàng thỏa hiệp với giai cấp thống trị. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, trí thức cũng là người làm thuê và bị bóc lột, nhưng lại là tầng lớp làm thuê đặc biệt, được giai cấp tư sản đào tạo, sử dụng và có một bộ phận được chế độ tư bản ưu đãi. Từ những đặc điểm ấy nên trí thức không có tinh thần cách mạng triệt để như giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản. Thực tế lịch sử cũng cho thấy, chưa bao giờ có một giới trí thức nào có thể thay thế một giai cấp để lãnh đạo một cuộc cách mạng xã hội nhằm thay thế chế độ xã hội này bằng một chế độ xã hội khác.

Nhìn lại lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trong giai đoạn đầu của cách mạng vô sản, phần lớn trí thức đứng về phía giai cấp tư sản, bảo vệ quan điểm, lập trường tư sản, phản ánh những lợi ích của giai cấp tư sản. Về sau này, cùng với thực tiễn đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, đội ngũ trí thức ngày càng nhận rõ vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tìm thấy lợi ích của mình trong cuộc đấu tranh chung đó. Vì thế, ngày càng nhiều trí thức đi theo giai cấp công nhân, ủng hộ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Ngày nay, trí thức tham gia hoạt động trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực lãnh đạo, quản lý, tổ chức xã hội, song không phải là lực lượng lãnh đạo xã hội.

Thứ nămtrí thức không phải là lực lượng có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, không có tình đoàn kết giai cấp sâu rộng. Về phương diện này, V.I. Lênin đã chỉ rõ sự khác nhau giữa người vô sản và người trí thức. Theo đó, “Tất cả lực lượng, tất cả khả năng tiến bộ, tất cả các hy vọng và nguyện vọng của người vô sản đều sinh ra từ tổ chức, từ sự hoạt động chung và có kế hoạch với các đồng chí của mình”. Còn người trí thức, “Vũ khí của họ chính là sự hiểu biết của cá nhân họ, những năng lực của cá nhân họ, lòng tin của cá nhân họ. Họ chỉ nhờ vào những phẩm chất cá nhân của họ nên mới có thể đóng được một vai trò nào đó”5. Về tính kỷ luật, với tư cách là một bộ phận trong toàn thể, trí thức chỉ phục tùng toàn thể đó một cách miễn cưỡng, phục tùng vì bắt buộc, chứ không phải tự nguyện; chỉ thừa nhận kỷ luật là cần thiết đối với quần chúng, chứ không phải đối với họ.

Như thế, rõ ràng là trí thức đã thiếu đi những phẩm chất hết sức cần thiết và quan trọng để trở thành lực lượng lãnh đạo xã hội. Một trong những căn nguyên của nó là do trí thức ra đời trước đại công nghiệp và không phải là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên họ không có những phẩm chất như các giai cấp khác, nhất là giai cấp công nhân - sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại. Do thiếu được rèn luyện đầy đủ trong môi trường của nền công nghiệp hiện đại nên trí thức thiếu tính kỷ luật, khả năng đoàn kết, tổ chức đội ngũ mình và quần chúng nhân dân thành một lực lượng xã hội mạnh mẽ để tiến hành cuộc cách mạng xóa bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn.

Xét các điều kiện để trở thành lực lượng lãnh đạo xã hội nêu trên, thì trí thức không đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí đó. Cho nên, mặc dù họ có vai trò to lớn trong sự phát triển xã hội, nhưng cho rằng “trí thức là đội ngũ lãnh đạo xã hội” là không có cơ sở khoa học, thiếu căn cứ thực tiễn. Những lập luận về vai trò lãnh đạo xã hội của trí thức, bất luận thế nào đều không có sức thuyết phục. Về thực chất, luận điệu đó chỉ là chủ ý thổi phồng “vai trò của trí thức”, kích động, khơi dậy tham vọng quyền lực ở họ, cuối cùng là nhằm phủ nhận vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân./.

ST.


Không thể phủ nhận sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa xã hội

cách đây hơn 30 năm, đứng trước sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, chủ nghĩa tư bản và các thế lực phản động vội vàng tuyên bố “có thể kết liễu chủ nghĩa xã hội bằng “chiến thắng không cần chiến tranh” và ca ngợi chủ nghĩa tư bản trở thành “điểm đến cuối cùng của lịch sử”, v.v. Sự thật, từ đó đến nay thì hoàn toàn khác hẳn; mặc dù trải qua những thăng trầm, nhưng phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới vẫn có sức sống mãnh liệt, với những bước đi sáng tạo, trường tồn.

Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị hí hửng cho rằng, không lâu nữa, toàn bộ các quốc gia xã hội chủ nghĩa sẽ lần lượt sụp đổ. Trong bối cảnh ấy, dư luận đã đặt câu hỏi: phải chăng điều “tiên tri” ấy sẽ trở thành hiện thực? Tuy nhiên, sự thật không như những gì mà các thế lực thù địch chủ nghĩa xã hội mường tượng. Thực tiễn cho thấy, thông qua những bước tiến chưa từng có tiền lệ, chủ nghĩa xã hội vượt qua khủng hoảng và phát triển rất đặc sắc trong bối cảnh mới của thời đại. Cải cách xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc (từ năm 1978), đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) và ở các nước xã hội chủ nghĩa khác được triển khai với các nguyên tắc đúng đắn; vừa toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, giải pháp phù hợp; vừa kiên định và sáng tạo, kế thừa và phát triển, gắn lý luận với thực tiễn, gắn quốc gia với thế giới. Nhờ vậy, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới; Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; Cuba hiên ngang trước bao vây cấm vận, kiên định xây dựng quốc gia xã hội chủ nghĩa độc lập, có chủ quyền, dân chủ, thịnh vượng và bền vững; các nước xã hội chủ nghĩa khác đều có nhiều thành công trong xây dựng và phát triển đất nước mình. Đây là một quá trình cải cách, đổi mới thành công cả về lý luận và thực tiễn, khẳng định xung lực mạnh mẽ của chủ nghĩa xã hội trước mọi sóng gió của thời cuộc.

Song với mưu đồ hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để chống phá, phủ nhận chủ nghĩa xã hội hiện thực. Mới đây, ngày 02/02/2023, Hạ viện Mỹ thông qua Nghị quyết “Lên án sự khủng khiếp của chủ nghĩa xã hội”- (ký hiệu: H.Con.Res 9), họ đã hồ đồ quy kết cái gọi là những “tội ác” của chủ nghĩa xã hội, rằng: “Chế độ chủ nghĩa xã hội với chủ trương thâu tóm quyền lực trong tay đã luôn luôn trở thành những chế độ Cộng sản độc tài chuyên chế”; “Chế độ chủ nghĩa xã hội luôn luôn đưa đến nạn đói, gây ra những cuộc thảm sát tập thể đã giết hại hơn 100 triệu người trên toàn thế giới”; “Những tội ác ghê tởm nhất trong lịch sử đều do những kẻ theo chế độ chủ nghĩa xã hội sắt máu”, v.v. Đây là thái độ thù nghịch cố hữu, thiếu văn minh và đi ngược lại những mục tiêu hòa bình, hợp tác, phát triển cũng như giá trị chung mà nhân loại đang phấn đấu, chung tay thực hiện.

“Cơ hội vàng” này đang được các thế lực cực đoan, thù địch triệt để tận dụng nhằm xuyên tạc, công kích, phủ nhận chủ nghĩa xã hội. Họ cho rằng, “Sự tiến triển tự nhiên của các chính sách xã hội chủ nghĩa và cộng sản đều dẫn đến một nhà nước độc tài tước đoạt các quyền tự do căn bản và nhân quyền của công dân...”; “Lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm lịch sử, đưa dân tộc vào chỗ chết”; “Ý thức hệ Mác - Lênin không chấp nhận đối lập chính trị, luôn tìm mọi cách bưng bít thông tin, gây nên những đại nạn cho toàn thể nhân loại”, v.v. Qua đó, chúng đẩy mạnh: “cách mạng sắc màu”, “cách mạng nhung”, “cách mạng đường phố”,… hòng mưu đồ nhanh chóng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Trước sự chống phá đó, một số người trong hàng ngũ cộng sản và một bộ phận nhân dân đã nhuốm màu tư bản, nảy sinh t­ư tưởng bi quan, dao động, bàng quan, thậm chí đánh mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội, cổ súy, hùa theo,…tạo sự cản trở phát triển, tiến bộ xã hội của nhân loại.

Vậy, tại sao các thế lực chống cộng, thù địch lại hoảng sợ, luôn tìm mọi cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội? Nguyên do là chủ nghĩa xã hội không chỉ tốt đẹp hơn hẳn, mà còn đủ khả năng thay thế chủ nghĩa tư bản; là ước mơ vươn tới của loài người

Chế độ xã hội chủ nghĩa là sản phẩm khách quan theo quy luật vận động tất yếu của lịch sử xã hội loài người; là một xu hướng, một trào lưu mới của xã hội, mang lại những giá trị tốt đẹp hơn cho con người và sự phát triển của lịch sử xã hội loài người. Không thể nói chủ nghĩa xã hội đồng nhất với mô hình cụ thể của Liên Xô, Trung Quốc hay Cuba,… mà chính xác là, các nước trên đang phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa. Đây là sản phẩm của Mác, Ăngghen, Lênin và các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin hát hiện ra từ việc nghiên cứu sự vận động, phát triển của xã hội và chỉ ra tính quy luật tất yếu. Các ông đã tạo ra nền móng cho hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội để ngày càng phát triển và không ngừng hoàn thiện. Đó chính là vũ khí tư tưởng sắc bén cho giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đấu tranh vì mục tiêu cao cả của nhân loại là xóa bỏ chế độ thống trị tàn bạo của giai cấp tư sản, tiến lên xây dựng một xã hội mới không còn áp bức, bóc lột, bất công. Lịch sử đã minh chứng chủ nghĩa xã hội đã từng bước phát triển từ tư tưởng đến hiện thực: đó là xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa; nó trở thành “bóng ma ám ảnh” các nhà chính trị tư sản. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi các thế lực thù địch, phản động luôn tìm trăm phương, nghìn kế hòng xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Hiện nay, tuy chủ nghĩa tư bản đã có điều chỉnh để thích nghi; song, chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế dưới tác động của đại dịch Covid-19 và Cuộc cách mạnh công nghiệp lần thứ tư, kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội của chế độ tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các “sắc tộc”. Khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Và về chính trị: “Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”.

Như vậy, tương lai của xã hội loài người không phải là chủ nghĩa tư bản hay xã hội nào khác mà chính là chủ nghĩa xã hội với bản chất tốt đẹp: tất cả vì con người, vì sự phát triển hài hòa giữa con người và môi trường sống. Chúng ta có những minh chứng rất thuyết phục, thực tế chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại và phát triển trong cộng đồng quốc tế mà cả thế giới đang nhìn thấy hằng ngày. Trong khi vẫn kỳ thị, chống phá về hệ tư tưởng thì chính phủ các nước tư bản phát triển hàng đầu thế giới đã phải thừa nhận và tôn trọng thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa; tạo dựng và mong muốn quan hệ ngày càng mật thiết và tạo môi trường kinh tế bình đẳng với quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các nhà tư bản vẫn quan tâm đầu tư, hợp tác và phát triển sản xuất, kinh doanh ở các nước xã hội chủ nghĩa. Điều đó cho thấy, các nước xã hội chủ nghĩa, như: Trung Quốc, Việt Nam, Cuba,... luôn vững vàng, hiên ngang trước mọi sự chống phá của các thế lực cực đoan, thù địch để tồn tại và phát triển không ngừng. Đây là nguồn cổ vũ lớn lao cho những người cộng sản chân chính và nhân dân các dân tộc trên thế giới trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp của loài người.

Đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam

Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, ước mơ, khát vọng ngàn đời của nhân dân ta là: Tổ quốc độc lập, hòa bình, thống nhất, phát triển, nhân dân có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Con đường này hoàn toàn mới mẻ và không ít khó khăn, nhưng giảm bớt được khổ đau cho nhân dân lao động. Chính điều đó, nhân dân ta tin Đảng, theo Đảng, hy sinh tính mạng và tài sản, hợp sức, đồng lòng để giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã làm nên huyền thoại Việt Nam, làm nên sức sống mãnh liệt và trường tồn của dân tộc Việt Nam.

Nói đến Việt Nam không chỉ là biểu tượng của lòng yêu nước, bề dày truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm để giành độc lập và tự do, mà phải kể đến những thành công của Việt Nam trên con đường xây dựng và phát triển đất nước. Thành tựu gần 40 năm đổi mới, đất nước ta phát triển mạnh mẽ, toàn diện, chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao trong phát triển kinh tế, chính trị, an sinh xã hội; nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi hẳn bộ mặt và vị thế của đất nước so với những năm trước đó đã khẳng định giá trị to lớn, làm sáng rõ hơn Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Bên cạnh đó, thế giới ủng hộ Việt Nam ngày càng đa dạng hơn, không chỉ ủng hộ về vật chất, công nghệ, mà còn ủng hộ về tinh thần, sự đồng thuận phong cách ứng xử của Việt Nam trước các vấn đề quốc tế có liên quan,... góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Đó là thực tiễn sống động, tạo cơ sở, niềm tin để khơi dậy khát vọng của nhân dân ta về xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, vì hạnh phúc của nhân dân.

Việt Nam đang vững bước vào thời đại mới với tư duy mới, với ý chí, khát vọng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; bảo vệ vững chắc nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc, xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các nước trên thế giới, có trách nhiệm cao trong giải quyết các vấn đề toàn cầu trên tinh thần tôn trọng, hòa bình, hợp tác và phát triển. Với tầm nhìn, bước đi đúng đắn, sáng tạo, Đảng ta đã hoạch định đường lối chiến lược, xác định phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Trong đó, nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ xã hội chủ nghĩa là xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chúng ta có đội ngũ cán bộ, đảng viên lãnh đạo, điều hành đất nước có trình độ cao, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Thế nhưng, những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, như: tình trạng tham nhũng, quan liêu, thoái hóa,… là nguy cơ hiện hữu, đặt ra yêu cầu Đảng ta phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng nội bộ Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, trở thành trung tâm đoàn kết, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Trong những thập niên tới của thế kỷ XXI, bên cạnh thời cơ, vận hội, chủ nghĩa xã hội ở nước ta sẽ còn gặp khó khăn trên con đường phát triển, song dưới sự lãnh đạo của Đảng, với năng lực sáng tạo dồi dào, Việt Nam sẽ vượt qua để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp vĩ đại gồm nhiều bước đi sáng tạo, đầy thử thách, khó khăn nhưng rất đỗi vinh quang, với một quyết tâm chính trị, tinh thần giác ngộ cao, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Đó là cơ sở nền tảng, niềm tin vững chắc Việt Nam tiếp tục lập nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, thực hiện khát vọng một Việt Nam hùng cường, vững bước đi trên con đường xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, hơn 1,5 tỉ người trên hành tinh vẫn đang đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với những thành tựu đáng trân trọng và tự hào. Dù còn nhiều khó khăn, thách thức, phức tạp, nhưng sự phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay đã chứng minh rằng chủ nghĩa xã hội vẫn là một chế độ xã hội hiện thực, tốt đẹp nhất trong lịch sử nhân loại. Điều đó tiếp tục khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng, có sức sống mãnh liệt với thời đại. Đồng thời, là minh chứng rõ nhất để đập tan những luận điệu xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa xã hội của thế lực cực đoan, thù địch./.

ST.

Cảnh giác với thủ đoạn “chuyển hóa” thế hệ trẻ của các thế lực thù địch

 Nhằm chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã không từ một thủ đoạn nào; trong đó, thế hệ trẻ là một trọng điểm của chúng. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm nhằm thúc đẩy “diễn biến” để “chuyển hóa” thế hệ rường cột của nước nhà. Do đó, cần đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh, bảo vệ thế hệ tương lai của đất nước.


Phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng. Ảnh: thanhnienviet.vn

Thế hệ trẻ Việt Nam là những công dân lứa tuổi thanh niên và là lực lượng đông đảo, xung kích trong công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước. Song, đây cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch, phản động tập trung thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” hết sức tinh vi, thâm độc nhằm chuyển hóa thế hệ này theo con đường phản cách mạng, xói mòn lòng tin đối với Đảng, từng bước hạ thấp, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, hướng nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu làm cho đoàn viên, thanh niên “khô đoàn, nhạt đảng”, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng đặc điểm của tuổi trẻ đang trong độ tuổi thích khám phá, năng động, ham học hỏi, nhưng nhận thức chính trị chưa nhiều, ít kinh nghiệm sống, bồng bột, thiếu bản lĩnh,... để tiến hành các thủ đoạn thâm nhập, tạo “khoảng trống” trong nhận thức chính trị, sự hoài nghi, dao động về bản lĩnh, mục tiêu lý tưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống và dần dẫn đến “tự chuyển hóa”.

1. Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Các thế lực thù địch tung ra nhiều chiêu bài, thủ đoạn tinh vi làm phai nhạt, triệt tiêu những yếu tố cách mạng, tích cực trong tư tưởng của giới trẻ, tiêm nhiễm vào họ những tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa. Chúng cho rằng, con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để đạt được mục đích đó là thực hiện “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực giáo dục nhằm tạo nên lớp người trẻ “chán lịch sử”, “lười học chính trị”, dẫn đến “mất gốc”, không có lý tưởng cách mạng, xa rời các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chúng đẩy mạnh tiếp cận giới trẻ thông qua các tổ chức phi chính phủ (NGO) để tổ chức những hoạt động “ngầm”, tuyên truyền, kích động chống phá. Đặc biệt, trong xu hướng hội nhập quốc tế, du học là con đường nhiều người trẻ lựa chọn để “mở mang tầm nhìn”, thỏa sức học hỏi, tiếp thu tri thức nhân loại. Song, đây lại là mảnh đất mầu mỡ, cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để thực hiện các hoạt động tuyên truyền, lôi kéo, kích động, cám dỗ thế hệ trẻ. Nội dung tuyên truyền, chống phá của chúng vẫn là những vấn đề về phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, nói xấu, bôi nhọ các lãnh tụ của Đảng, xuyên tạc công cuộc đổi mới ở nước ta, vu cáo Việt Nam không có dân chủ, vi phạm nhân quyền; ca ngợi, tán dương hình mẫu “dân chủ, tự do” tư bản, v.v. Những thủ đoạn này tuy không mới, nhưng bằng các chiêu thức tinh vi, các thế lực thù địch, phản động từng bước dẫn dụ lớp người trẻ vào con đường sai trái; khi “con mồi” đã cắn câu, chúng ra sức tung hô là người “cấp tiến”, có khả năng “phản biện xã hội”,… làm cho họ đắm chìm trong “cơn mê sảng” đa nguyên, đa đảng, dân chủ, nhân quyền; tỏ thái độ xem xét, chống đối quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, v.v. Hệ quả tất yếu là dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

2. Các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi làm suy đồi về đạo đức, lối sống của thế hệ trẻ, tạo tiền đề dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị. Như một cuộc “xâm lăng văn hóa”, với nhiều thủ đoạn, bằng nhiều con đường, các thế lực thù địch, phản động ra sức truyền bá, đưa các loại văn hóa phẩm đồi trụy vào Việt Nam; tiêm nhiễm lối sống ích kỷ, thực dụng, tôn sùng văn hóa ngoại lai lệch chuẩn, làm cho nhiều người trẻ tha hóa, dần hình thành lối sống dị biệt, đi ngược với văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; thích hưởng thụ, chạy theo vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần. Và, khi đạo đức, lối sống, nhân cách, nền tảng tinh thần của thế hệ trẻ bị xuống cấp là điều kiện lý tưởng để những luận điệu sai trái, những chiêu trò dụ dỗ, mua chuộc, kích động, thậm chí ép buộc của các thế lực thù địch dễ dàng thâm nhập, thúc đẩy quá trình “tự chuyển hóa” diễn ra nhanh hơn, nguy hiểm hơn.

3. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng không gian mạng, gây nhiễu loạn dư luận xã hội, tác động trực tiếp đến nhận thức, lập trường của thế hệ trẻ. Chúng đang hằng ngày, hằng giờ tung thông tin giả, xuyên tạc bản chất của sự vật, hiện tượng tràn ngập trên không gian mạng, cản trở thế hệ trẻ tiếp cận thông tin chính thống, sự thật chân chính. Tinh vi hơn, chúng cài cắm những chi tiết thông tin giả, tiêu cực, xuyên tạc, phản động trong các bài viết, sách, báo làm cho ngay cả những người có nhận thức, bản lĩnh chính trị tốt cũng khó nhận ra. Thực trạng hiện nay cho thấy, nhiều bạn trẻ dành nhiều giờ mỗi ngày để “lướt mạng”, đọc tin, xem video, chia sẻ, bình luận,… mà không cần quan tâm đâu là thông tin thật, đâu là tin giả, v.v. Trong mớ hỗn độn của các luồng thông tin đúng - sai, thật - giả, tốt - xấu ấy, nhiều thanh, thiếu niên hoang mang, mất định hướng, không thể kiểm soát nhận thức, cảm xúc và hành vi của mình, bị thao túng, dẫn dắt bởi “hội chứng đám đông”, dẫn đến lệch lạc trong nhận thức, sai trái trong một số hành động, việc làm.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần do các thanh niên”. Đảng ta cũng đã nêu rõ “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”2. Vì vậy, việc nâng cao cảnh giác, nhận rõ, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động hòng chuyển hóa thế hệ trẻ; đồng thời, bảo đảm cho thế hệ trẻ luôn đủ sức “đề kháng” trước các chiêu trò của các thế lực thù địch trong “ma trận” ấy, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các cấp, ngành hiện nay, cần có những giải pháp đồng bộ, quyết liệt, cả cấp bách trước mắt và cơ bản lâu dài.

Quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, các cấp, ngành, nhất là các cấp bộ Đoàn cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, kiên quyết đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đang tiến hành. Cung cấp kịp thời những thông tin chính thống, khoa học, để cho thanh niên nhận thức đúng bản chất của vấn đề, không ngừng nâng cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chỉ nhằm lợi dụng thanh niên để chống phá cách mạng Việt Nam, không vì sự phát triển của thanh niên; thấy được nhiệm vụ chống “diễn biến hòa bình” là một công việc thường xuyên, toàn diện trên mọi lĩnh vực.

Trên cơ sở nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các cấp, ngành tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác thanh niên; tập trung nguồn lực, cơ chế, chính sách, tạo điều kiện tốt nhất để thế hệ trẻ được học tập, phát triển toàn diện, lập thân, lập nghiệp, cống hiến cho đất nước. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác giáo dục, đào tạo, bảo đảm các hoạt động giáo dục, đào tạo, nhất là hoạt động hợp tác quốc tế đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các nhà trường tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra đối với các môn khoa học xã hội nhân văn nói chung, môn lịch sử nói riêng, làm cho môn học gần hơn, dễ tiếp thu hơn với tuổi trẻ, góp phần giúp học sinh, sinh viên hiểu biết về nguồn cội, bồi dưỡng, vun đắp lòng yêu nước, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, gia tăng sức mạnh chính trị và tinh thần, để thực sự trở thành động lực giúp thanh niên thực hiện thắng lợi trọng trách xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu và thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong đời sống xã hội. Bằng lý luận, thực tiễn, nhất là thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho thế hệ trẻ thấy được con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đã và đang đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân Việt Nam. Hiện nay, người dân Việt Nam có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, ngày càng được nâng cao. Năm 2023, GDP bình quân đầu người khoảng 4.300 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD). Đó là minh chứng sống động bác bỏ mọi xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, về dân chủ, nhân quyền,… ở Việt Nam. Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ 3 năm 2023 có 301.365 tác phẩm dự thi; trong đó, có sự tham gia động đảo và được trao giải của các nhóm tác giả trẻ tuổi là minh chứng sống động khẳng định sức sống mãnh liệt; sự tin tưởng của các tầng lớp nhân dân, trong đó có thế hệ trẻ vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, sự lãnh đạo của Đảng.

Trong quá trình tiến hành, cần chú trọng giáo dục, rèn luyện thanh thiếu niên thông qua hoạt động thực tiễn và các phong trào Thi đua yêu nước; thực hiện tốt việc kết hợp giữa giáo dục của nhà trường với gia đình và xã hội. Để đạt hiệu quả, ngoài sự vào cuộc của các cấp, mọi lực lượng, cần chăm lo xây dựng tổ chức đoàn các cấp vững mạnh, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên. Các cấp bộ Đoàn cần thường xuyên, chủ động nắm bắt, dự báo đúng tình hình tư tưởng đoàn viên, thanh niên; thực sự gần gũi, lắng nghe và thấu hiểu họ để thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động. Đồng thời, tăng cường các giải pháp đồng bộ, với quyết tâm cao, kiên quyết và kiên trì trong quản lý chặt chẽ, hiệu quả internet, mạng xã hội, xây dựng môi trường không gian mạng có tính đảng, văn hóa, lành mạnh.

Cùng với đó, mỗi người trẻ cần đề cao tự tinh thần học tập, rèn luyện, biết “gạn đục, khơi trong” trong tiếp nhận thông tin, tiếp thu cái mới, nâng cao khả năng “tự đề kháng”, luôn đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền thống tốt đẹp của dân tộc với bề dày mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước để trở thành người có ích cho đất nước, cho xã hội, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, hoàn thành trọng trách đưa đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc ta giao phó./.

ST.

“Tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa” - một luận điệu lố bịch

Để nuôi ảo tưởng làm chuyển hóa con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta, các thế lực thù địch không từ thủ đoạn nào. Trong số đó, “tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa” là luận điệu xuyên tạc lố bịch đến nực cười, với thái độ hằn học mà các thế lực thù địch ra sức rêu rao thời gian qua.

Thời gian gần đây, trong khi công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta ngày càng hiệu quả, tạo nhiều hiệu ứng tích cực, được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thì đã xuất hiện nhiều luận điệu chống phá của các thế lực thù địch. Không chỉ phủ nhận thành tựu chống tham nhũng của ta, chúng còn đơm đặt, xuyên tạc, cho rằng chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam chỉ là hình thức, là cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Trắng trợn hơn, chúng còn tung ra luận điệu rằng: tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là căn bệnh nan y của “chế độ độc đảng cầm quyền”. Với luận điệu này, chúng đã cố tình gán ghép và cho rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có tham nhũng và ở chế độ đó cũng không thể chống được tham nhũng. Mục đích sâu xa của những luận điệu này là nhằm chèo lái dư luận, “bôi đen” bức tranh xã hội, làm giảm hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, gây hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong vấn đề này, họ quá kém cỏi về nhận thức hay cố tình “bỏ qua” vấn đề lý luận đã trở nên quá rõ ràng rằng: tham nhũng là sản phẩm của xã hội có giai cấp và nhà nước, là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực. Nghĩa là khi còn giai cấp, có nhà nước, thì tham nhũng được sinh ra tại nơi có quyền lực tồn tại, trong bất kỳ thời điểm lịch sử nào, không phân biệt chế độ nhà nước đó là gì, thể chế chính trị là đa đảng hay một đảng. Và họ chủ ý phớt lờ một thực tế hiển nhiên là, tham nhũng đang hiện là vấn nạn ở mọi quốc gia, mọi chế độ, dù là nước đó có trình độ phát triển đến đâu đi chăng nữa.

Theo Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) hằng năm do Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) công bố đều cho thấy, trên thế giới không có quốc gia nào đạt chỉ số 100 điểm, hoàn toàn minh bạch, trong sạch, không có tham nhũng. Trong lịch sử và đặc biệt những năm gần đây, chúng ta chứng kiến những vụ án tham nhũng gây chấn động cả thế giới. Nổi lên trong số đó có vụ Watergate với bê bối, lợi dụng về quyền lực chính trị để trục lợi từ năm 1972 - 1974 của Tổng thống Mỹ Richard Nixơn, buộc ông này phải từ chức trước khi bị phế truất, v.v. Ở những nước kém phát triển hơn, chúng ta cũng biết đến những vụ án tham nhũng nổi tiếng thế giới, như: Arnoldo Aleman - tổng thống thứ 81 của Nicaragua bị bắt với cáo buộc tham nhũng liên quan đến 100 triệu USD trong các quỹ nhà nước ngay sau kết thúc nhiệm kỳ vào năm 2002. Cựu Tổng thống Philippines - Joseph Estrad phạm tội tham nhũng, cũng phải ngồi tù chung thân vào năm 2013. Cựu Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye bị Quốc hội Hàn Quốc phế truất chức tổng thống vào tháng 12/2016 do bị buộc tội tham nhũng, dính líu đến vụ bê bối chính trị dùng quan hệ cá nhân để tăng ảnh hưởng và trục lợi tài chính, v.v. Thực tế trên cho thấy, tham nhũng có ở mọi chế độ xã hội, ấy vậy mà các thế lực thù địch lại chỉ đem các nước xã hội chủ nghĩa để bôi xấu. Thật nực cười cho cái gọi là “nhìn nhận khách quan” của họ.

Càng mỉa mai thay, trong khi các thế lực thù địch đang cố gán cho chủ nghĩa xã hội những thói hư tật xấu bằng sự nhận thức lý luận non kém và chứng cứ thực tiễn yếu ớt thì những ai khách quan, nghiên cứu thấu đáo về chủ nghĩa xã hội đều không khó để nhận thấy rằng, chủ nghĩa xã hội luôn không đội trời chung với tham nhũng, tiêu cực. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ căn nguyên của nạn tham nhũng là xã hội còn tồn tại giai cấp, nhà nước và luôn kiên quyết đấu tranh loại bỏ đến tận gốc rễ vấn nạn này, tức là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản để xóa bỏ giai cấp, nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo là công cụ để đạt được mục tiêu đó. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, V.I. Lênin đã sớm nhận ra vấn đề tham nhũng, Người khẳng định: “Hiện giờ có ba kẻ thù chính đang đứng trước mỗi người, bất kể người đó làm việc gì, ở cương vị nào,… kẻ thù thứ nhất - tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa; kẻ thù thứ hai - nạn mù chữ; kẻ thù thứ ba - nạn hối lộ”, “Nếu có cái gì làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”. Đồng thời, V.I. Lênin cũng kêu gọi: “đuổi ra khỏi đảng từ 10 vạn đến 20 vạn người đã len lỏi vào Đảng và đã không những không biết đấu tranh chống bệnh giấy tờ cùng nạn hối lộ, mà còn cản trở cuộc đấu tranh này”.

Đối với nước ta, thực tế đất nước từ khi có Đảng lãnh đạo đã bác bỏ mọi luận điệu cố tình gán ghép tham nhũng, tiêu cực với bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi tệ tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” rất nguy hiểm, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ, phải kiên quyết loại bỏ. Người chỉ ra rằng: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính… Vì những lẽ đó, chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”.

Thấm nhuần tư tưởng của Bác Hồ, Đảng, Nhà nước ta luôn nhận diện đúng về tham nhũng, nhìn thẳng vào thực tế, không phủ nhận tham nhũng vốn đã và đang tồn tại như một vấn nạn. Từ đó, nhất quán quan điểm: đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng và xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính. Quyết tâm chính trị đó đã được biểu hiện bằng hiệu quả thực tế với sự đồng bộ cả về cơ chế, thể chế và hệ thống bộ máy vận hành cơ chế đó.

Về cơ chế, thể chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng, Nhà nước ta đã chú trọng ban hành nhiều văn bản nhằm tăng cường quản lý kinh tế - xã hội, từng bước hướng tới “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng. Theo Báo cáo số 06-BC/TW, ngày 23/7/2022 của Bộ Chính trị về tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022: Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cơ quan tham mưu của Đảng đã ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng; Quốc hội ban hành hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hơn 2.600 nghị định, quyết định, chỉ thị; cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương ban hành hơn 45.000 văn bản; các bộ, ngành, địa phương ban hành gần 100.000 văn bản để cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành, tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thay thế hơn 2.000 văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng, tiêu cực”.

Hệ thống bộ máy chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến cơ sở được xây dựng, hoàn thiện và vận hành đồng bộ, hiệu quả, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, sự giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân. Để chỉ đạo toàn diện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên phạm vi cả nước, ngày 01/02/2013, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị được thành lập do Tổng Bí thư làm Trưởng ban và từ tháng 8/2022 đến nay, 63 Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh cũng đã được thành lập và đi vào hoạt động hiệu quả. Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy cũng được tái lập. Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng, như: cơ quan kiểm tra, giám sát, nội chính của Đảng; cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra,… của Trung ương và địa phương trong công tác phòng, chống tham nhũng cũng được chú trọng, tăng cường; hợp tác quốc tế trong chống tham nhũng, tiêu cực cũng có bước phát triển mới. Vai trò của các cơ quan dân cử, cơ quan báo chí và nhân dân trong công tác phòng, chống tham nhũng được chú trọng, phát huy, tạo sức mạnh tổng hợp trong cuộc chiến đầy cam go này.

Thực tế cho thấy, với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào, công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực đã được tiến hành bài bản, đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả; mở rộng phạm vi, đối tượng đến cả cấp huyện và cơ sở; xử lý cả cán bộ đương chức và nghỉ hưu, cả cán bộ cấp cao và cán bộ trong lực lượng vũ trang; nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương được chỉ đạo, xử lý dứt điểm. Trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 7.390 đảng viên do tham nhũng, trong đó có 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, gồm 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã thi hành kỷ luật hơn 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 08 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sĩ quan cấp tướng.

Kết quả đó cho thấy công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực “đã trở thành phong trào, thành xu hướng không thể đảo ngược”, là công việc không của riêng ai; thể hiện quyết tâm, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước ta trong vấn đề này, “khiến cho mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực xấu, thù địch đều trở nên trơ trẽn, nực cười”./.

ST.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc” trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân

"Nước lấy dân làm gốc” là một nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có giá trị lý luận sâu sắc và định hướng thực tiễn đặc biệt quan trọng trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Hiện nay, trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tư tưởng này cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Kế thừa, phát huy truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng, đề cao vai trò, sức mạnh của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Người chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, nội hàm tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rất rõ, rất cụ thể trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân: “cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân,...”. Theo Người, mọi người dân đều có thể tham gia kháng chiến, không phân biệt giới tính, độ tuổi; tất cả các tầng lớp nhân dân đều tham gia đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí, từ thô sơ đến hiện đại, bằng nhiều cách đánh khác nhau: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”. Đây là lời hiệu triệu, khích lệ tinh thần của nhân dân, của toàn dân tộc đồng lòng đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Có thể khẳng định tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là cơ sở, nền tảng để Đảng ta vận dụng hình thành đường lối chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

Thấm nhuần tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đề ra đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn, lấy lợi ích của quốc gia - dân tộc, lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu cao nhất để tập hợp lực lượng, tiến hành công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định: “Trong điều kiện lịch sử mới, khi đã có chính quyền thống nhất quản lý cả nước tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bài học “lấy dân làm gốc” được nêu lên trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI chẳng những vẫn giữ nguyên giá trị mà còn có ý nghĩa đặc biệt”. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 và 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Đảng ta rút ra 05 bài học kinh nghiệm; trong đó, bài học thứ hai đã chỉ rõ: “...phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Như vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc”, nhờ đó thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.



Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tặng cờ Tổ quốc cho ngư dân và vận động ngư dân tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo

Hiện nay, cùng với xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có biến chuyển nhanh, diễn biến phức tạp,... tác động nhiều chiều đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta, với cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Ở trong nước, tình hình trên các vùng biển, đảo tiếp tục tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định; các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước với thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc hơn, đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, chế độ, cuộc sống bình yên của nhân dân, v.v. Vì vậy, hơn bao giờ hết đòi hỏi chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan tâm chăm lo, bồi dưỡng sức dân, khơi dậy, động viên và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong tăng cường sức mạnh quốc phòng, trọng tâm là xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tập trung vào thực hiện tốt một số nội dung giải pháp chủ yếu sau.

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong vận dụng tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Người vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp, ngành, địa phương, lực lượng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn dân trong nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về “nước lấy dân làm gốc” vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Vì vậy, trước hết, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục những vấn đề cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về “nước lấy dân làm gốc” trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Trong đó, tập trung vào những vấn đề về vai trò, sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; về đường lối, chủ trương, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước, nhất là đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân; những tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong Nghị quyết Đại hội XIII, Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, v.v. Trên cơ sở đó, tiếp tục khẳng định sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh của toàn dân; lực lượng bảo vệ Tổ quốc là lực lượng toàn dân; trong đó, lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Bên cạnh đó, chú trọng giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành, đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ toàn quân trong vận dụng tư tưởng trên của Người vào sự nghiệp cách mạng; củng cố, tăng cường niềm tin với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Để đạt hiệu quả cao, cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị chú trọng phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, phương tiện thông tin đại chúng; thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đề. Đồng thời, nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng và toàn dân, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành.

Hai là, chăm lo bồi dưỡng sức dân, tạo nền tảng, động lực mạnh mẽ xây dựng các tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Quán triệt tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chú trọng phát huy vai trò của nhân dân, của nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và luôn coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Thực hiện mục tiêu đó, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, Đảng, Nhà nước tiếp tục chăm lo bồi dưỡng sức dân, nâng cao dân trí, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài cho đất nước. Trước hết, trên cơ sở tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả mô hình tăng trưởng của nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước; giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Trong đó, hết sức chú trọng phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, mức sống của nhân dân. Đặc biệt, cần có chủ trương, cơ chế, chính sách phù hợp, ưu tiên vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,... thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước tăng cường quốc phòng, an ninh. Đồng thời, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Trong quá trình thực hiện, cần khéo vận dụng những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng,... để tích cực đổi mới cách tiếp cận xã hội, nhất là đối với những người yếu thế, người nghèo; tăng cường phối hợp, lồng ghép, ưu tiên các nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa trong trợ giúp xã hội, v.v. Đây là vấn đề rất quan trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; từ đó, tạo đồng thuận cao, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trong đó có xây dựng các tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Ba là, tiếp tục khơi dậy, động viên toàn dân xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, trọng tâm là xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đây vừa là một trong những nội dung trọng tâm, bao trùm, yêu cầu khách quan, vừa là mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong tình hình mới. Vì thế, việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là xây dựng “thế trận lòng dân” phải huy động sự vào cuộc của các cấp, ngành, lực lượng, địa phương, của cả hệ thống chính trị và toàn dân; trong đó, dựa vào dân, dân là gốc, phát huy sức mạnh của toàn dân là vấn đề rất quan trọng, mang tính nền tảng. Để làm được điều đó, trước hết cần phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, sự tham gia đóng góp của toàn dân trong xây dựng thế trận quan trong này. Trước mắt, cần tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về quốc phòng ở tất cả các cấp từ Trung ương đến địa phương. Tăng cường huy động các tiềm lực, sức mạnh của toàn dân xây dựng phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố ngày càng vững chắc, có chiều sâu, tạo thế phòng thủ chung thống nhất trên từng khu vực, địa bàn và cả nước. Chú trọng huy động, tận dụng các nguồn lực, các tiềm năng, lợi thế trên từng khu vực, địa bàn để quy hoạch, xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ, các công trình trong căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, các công trình phòng thủ; phòng thủ dân sự; phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn,… gắn với phương châm “4 tại chỗ”, v.v. Đồng thời, động viên, khuyến khích, phát huy vai trò của nhân dân tham gia thực hiện công tác quốc phòng, quân sự ở địa phương, cơ sở và các phong trào, cuộc vận động do Quân đội phát động cũng như phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc”; làm tốt công tác phối hợp giữa lực lượng Quân đội với Công an trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, đề xuất và triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, mang tính đột phá trong thực hiện công tác dân vận, tuyên truyền đặc biệt,... để huy động “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững mạnh như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Chúng ta phải ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, cho nên chúng ta phải củng cố quốc phòng,…”.

Bốn là, phát huy sức mạnh của toàn dân trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, làm nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng vũ trang nhân dân được ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng; là lực lượng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Vì thế, muốn xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, các cấp, ngành, địa phương và cả hệ thống chính trị; trong đó, sức mạnh của lòng dân, sức dân,... là vấn đề có tính nền tảng. Để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, chúng ta phải tuyên truyền, giáo dục cho các cấp, ngành, lực lượng và toàn dân nắm vững quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng cùng sự cần thiết và vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân đối với sự trường tồn, phát triển của đất nước, dân tộc, v.v. Trên cơ sở đó, động viên, huy động mọi nguồn lực trong dân; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong xây dựng lực lượng quan trọng này. Trước mắt, tập trung xây dựng lực lượng Quân đội, Công an thường trực, chính quy theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu; lực lượng dân quân, tự vệ vững mạnh, rộng khắp, có cơ cấu thành phần hợp lý, chất lượng cao. Cùng với đó, không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; phát huy dân chủ quân sự, tăng cường đoàn kết cán binh,... góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tích cực huy động mọi nguồn lực (cả về vật chất và trí tuệ) của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân để nghiên cứu, sửa chữa, sản xuất và mua sắm các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại cho lực lượng vũ trang. Đồng thời, sớm hoàn thiện, ban hành cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào phục vụ trong Quân đội, Công an, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc” vào xây dựng, củng cố quốc phòng, phát huy hơn nữa sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa”./.

ST.