Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024
HỌC TẬP “CÁCH VIẾT” CỦA BÁC HỒ!
Tư duy chiến lược và tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh
Ngày 05-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với ý chí mãnh liệt, lòng yêu thương con người sâu sắc đã ra đi tìm đường cứu nước để giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. Sau 30 năm bôn ba, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, giải phóng dân tộc Việt Nam (năm 1945), thống nhất đất nước (năm 1975), góp phần vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Qua đó thể hiện tư duy chiến lược và tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Nam Bộ ra thăm miền Bắc năm 1949 - Ảnh tư liệu TTXVN
Tầm nhìn của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở tư duy mẫn tiệp với trái tim yêu nước nồng cháy, được phát triển gắn với tư duy biện chứng duy vật, hòa với sự phát triển trong dòng chảy của tư duy, trí tuệ nhân loại. Tầm nhìn của Hồ Chí Minh được thể hiện trong những nhận định, tiên đoán về nhiều lĩnh vực, nhất là sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam và nhân dân lao động trên toàn thế giới.
Thứ nhất, quyết định ra đi tìm đường cứu nước, khác với các chí sĩ yêu nước, thể hiện tầm nhìn sâu, rộng của Hồ Chí Minh
Sự thất bại của phong trào yêu nước Việt Nam trong cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thể hiện cách mạng Việt Nam khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy các con đường do những người đi trước lựa chọn đã không giải phóng được dân tộc. Việc không lặp lại thất bại của những người đi trước là một điều khó khăn nhưng tìm ra một con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử để giành được độc lập, tự do là điều còn khó khăn hơn nhiều lần. Với sự nhạy cảm đặc biệt, Người sang nước Pháp để đến tận nơi nước đang cai trị dân tộc mình, đến châu Âu, nơi có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, văn hóa, chính trị để tìm hiểu xem người ta làm như thế nào rồi trở về cứu giúp đồng bào.
Thứ hai, Hồ Chí Minh thấy được tầm quan trọng chiến lược của đoàn kết quốc tế để giải phóng nhân loại
Trên hành trình tìm đường cứu nước, chứng kiến sự áp bức, nô dịch, đau khổ của nhân dân lao động, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kết luận: “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”(1). “Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc đã tiến tới một trình độ hoàn bị gần như là khoa học. Nó dùng những người vô sản da trắng để chinh phục những người vô sản các thuộc địa. Sau đó nó lại tung những người vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác. Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở các thuộc địa để thống trị những người vô sản da trắng”(2). “Những hành động đế quốc chủ nghĩa ấy không những chỉ nguy cho riêng vận mệnh của giai cấp vô sản Đông Dương và Thái Bình Dương, nó còn nguy cho cả vận mệnh của giai cấp vô sản quốc tế nữa”(3).
Mặt khác, Người cho rằng, “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”(4). Do vậy, phải gắn cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản, gắn giải phóng dân tộc với CNXH.
Vì vậy, Hồ Chí Minh đã nhận rõ một quốc gia, dân tộc muốn có sức mạnh phải thoát ra khỏi tình trạng biệt lập, phải mở cửa, tăng cường hợp tác với bên ngoài; tình trạng bế quan tỏa cảng chỉ làm đất nước suy yếu và đưa đến những hậu quả chính trị nghiêm trọng. Năm 1924, trong thư gửi đồng chí Pêtơrốp, Tổng Thư ký Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản, Người viết: “nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là SỰ BIỆT LẬP. Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ THIẾU SỰ TIN CẬY LẪN NHAU, SỰ PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG VÀ SỰ CỔ VŨ LẪN NHAU”(5). Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”(6).
Tư tưởng của Người thể hiện hai nội dung quan trọng: Một là, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, không chỉ thu hẹp ở phương Đông; Hai là, tinh thần đoàn kết không bị giới hạn bởi châu Á hay châu Âu, bởi da vàng hay da trắng như luận điệu tuyên truyền của thuyết Đại Đông Á thời đó. “Khi người An Nam hiểu ra rằng có mối quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chế độ thực dân và sự đoàn kết giữa người bản xứ ở các thuộc địa với người vô sản ở chính quốc mà thắng lợi nhất định sẽ sớm diễn ra, biểu hiện là sự thành lập các xôviết, khi họ cảm thấy triển vọng đó tăng cường niềm hy vọng của họ và sự đoàn kết đó củng cố những yêu sách của họ”(7).
Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Khả năng khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Để một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương có cơ thắng lợi: 1. Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc, theo phương pháp của những nhà cách mạng trước đây. 2. Cuộc khởi nghĩa phải được nước Nga ủng hộ… 3. Cuộc khởi nghĩa phải trùng hợp với cách mạng vô sản ở Pháp. 4. Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó, nhất là trong một quốc gia đế quốc chủ nghĩa (nước Đức chẳng hạn) thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam”(8).
| Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, điều đó chứng minh rằng trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”(9). | Tầm nhìn của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở tư duy mẫn tiệp với trái tim yêu nước nồng cháy, được phát triển gắn với tư duy biện chứng duy vật, hòa với sự phát triển trong dòng chảy của tư duy, trí tuệ nhân loại. Tầm nhìn của Hồ Chí Minh được thể hiện trong những nhận định, tiên đoán về nhiều lĩnh vực, nhất là sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam và nhân dân lao động trên toàn thế giới. |
Với tinh thần đoàn kết quốc tế sâu rộng, Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo quốc tế và trở thành một bộ phận của phong trào cách mạng quốc tế. Điều đó không chỉ bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam mà còn góp phần vào thực hiện những nhiệm vụ cách mạng quốc tế.
Thứ ba, Hồ Chí Minh nhận định sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam và các nước thuộc địa
Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng giải phóng có thể diễn ra và giành thắng lợi; CNXH cũng có thể thắng lợi ở các nước nghèo, thuộc địa. Trong bài Đông Dương, Người viết: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(10). Rằng, “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(11).
Tiếp thu tinh thần của V.I.Lênin trong Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa về việc sau khi hoàn thành nhiệm vụ dân tộc dân chủ có thể tiến thẳng lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, Hồ Chí Minh khẳng định, ở mỗi nước, sự nghiệp cách mạng có thể không giống nhau. Người chỉ rõ: “Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy. Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau. Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên Xô. Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam ta, v.v.. (12).
Người nêu khái quát những đặc điểm của dân chủ mới, đó là:
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng và giai cấp công nhân, nhân dân đánh đổ đế quốc và phong kiến. Trên nền tảng công nông liên minh, nhân dân lao động làm chủ nước nhà, xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính, nghĩa là dân chủ với nhân dân, chuyên chính (trừng trị) bọn phản động.
- Về kinh tế, có năm loại: kinh tế quốc doanh, các hợp tác xã, kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ, tư bản của tư nhân, tư bản của Nhà nước. Trong năm loại ấy, kinh tế quốc doanh là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản.
- Tư tưởng của giai cấp công nhân (tư tưởng Mác - Lênin) là tư tưởng lãnh đạo.
- Đảng kiên quyết lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện dân chủ mới và tiến dần đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản).
- Trong nước thì nhân dân hăng hái kháng chiến, thi đua sản xuất; quyết tâm phấn đấu, quyết tâm tiến lên…
Sau ngày miền Bắc được giải phóng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(13). “Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”(14).
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sự thật là cuộc cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa lúc đầu và trước hết là một cuộc cách mạng nông dân. Cuộc cách mạng ấy không tách rời cuộc cách mạng chống phong kiến. Sự liên minh giữa quần chúng đông đảo nông dân và giai cấp công nhân làm cái nền tảng trên đó có thể thành lập một mặt trận dân tộc rộng rãi và vững chắc. Cho nên cải cách ruộng đất là một nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ”(15).
Từ thực tiễn Việt Nam, Người đã nhấn mạnh sự vận dụng quan điểm cách mạng không ngừng của Lênin và sự đóng góp của cách mạng Việt Nam đối với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào cách mạng thế giới: “Những kinh nghiệm của chúng tôi chứng tỏ rằng muốn đưa cuộc cách mạng dân chủ đến thắng lợi và mở ra những giai đoạn nối tiếp nhau cho sự phát triển của một nhà nước dân tộc dân chủ, giai cấp công nhân và đảng của nó phải lãnh đạo cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng giải phóng các dân tộc bị áp bức và cuộc cách mạng của giai cấp vô sản các nước đi áp bức phải ủng hộ lẫn nhau. Như Lênin đã dự kiến, ngày nay đã đến lúc mà các dân tộc ngửng cao đầu bước lên vũ đài quốc tế. Nhân dân Việt Nam, về phần mình, đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới ngọn cờ quang vinh của chủ nghĩa Mác - Lênin”(16).
Đó là những nhận định mang tính sáng tạo của Hồ Chí Minh. Những nhận định đó đã trở thành một trong những hạt nhân cốt lõi trong tư tưởng của Người, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh.
Thứ tư, Hồ Chí Minh có nhiều dự báo chính xác về cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới
Tháng 8-1914, khi đang ở nước Anh, trong Thư gửi cụ Phan Châu Trinh, Người đã dự báo về tình hình thế giới do tác động của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918): “Tiếng súng đang rền vang. Thây người đang phủ đất. Năm nước lớn đang đánh nhau. Chín nước đã vào vòng chiến. Cháu bỗng nhớ cách đây vài tháng, cháu đã nói với Bác về cơn giông sấm động. Số mệnh sẽ còn dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ thắng. Các nước trung lập còn đang lưỡng lự và các nước tham chiến không thể đoán biết được ý đồ của họ. Tình hình diễn ra là ai thò mũi vào thì chỉ có thể đứng về phe của địch thủ bên này hoặc địch thủ bên kia. Người Nhật Bản hình như có ý định nhúng tay vào. Cháu nghĩ trong ba hoặc bốn tháng tình hình châu Á sẽ có chuyển biến và sẽ có nhiều chuyển biến”(17).
Năm 1924, trong bài Đông Dương và Thái Bình Dương, Người dự báo về nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới sẽ bùng nổ: “Hiện nay, tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính người bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó. Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản đó”(18). “Vì đã trở thành một trung tâm mà bọn đế quốc tham lam đều hướng cả vào nhòm ngó, nên Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương, tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh”(19).
Thứ năm, Hồ Chí Minh dự báo về thời cơ để tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Việt Nam, giành độc lập và thống nhất đất nước
Trong bài viết Năm mới, công việc mới, đăng trên báo Việt Nam độc lập, số 114, ngày 01-01-1942, trả lời câu hỏi: Năm nay tình hình thế giới và trong nước sẽ thế nào? Người đã đưa ra dự báo về thời cơ để tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền: “Ta có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh - Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho Tổ quốc ta được độc lập, tự do”(20).
Cuối năm 1941, trong bài Lịch sử nước ta, do Việt Minh Tuyên truyền Bộ, xuất bản tháng 02-1942, Người đã dự đoán chính xác năm 1945 Việt Nam độc lập(21). Dự báo này dựa trên cơ sở hiểu biết sâu sắc của Hồ Chí Minh về xu hướng vận động của cách mạng thế giới. Đây là tư duy chiến lược của nhà cách mạng thực tiễn lỗi lạc.
Trong Thư chúc mừng năm mới, đăng trên Báo Nhân dân, số 5376, ngày 01-01-1969, Hồ Chí Minh viết: “Chắc chắn giặc Mỹ sẽ hoàn toàn thất bại. Quân và dân ta trong cả nước, thừa thắng xông lên, nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn”(22). “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/Vì độc lập, vì tự do/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”(23). Đúng như niềm tin sắt đá của Người, Hiệp định Paris về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ký ngày 27-01-1973 buộc đế quốc Mỹ phải đơn phương rút quân khỏi nước ta. Nhưng với bản chất xâm lược, chúng tiếp tục tăng cường viện trợ cho ngụy quyền nhằm kéo dài chiến tranh theo kiểu “Việt Nam hóa”. Với ý đồ thâm độc, đế quốc Mỹ đã ráo riết thực hiện chủ trương “hiện đại và tinh nhuệ hóa” ngụy quân, tăng cường chi viện quân sự khối lượng lớn và xúi giục quân ngụy vi phạm Hiệp định Paris một cách trắng trợn, gây cho chúng ta rất nhiều khó khăn trong thực thi Hiệp định và bảo toàn vùng giải phóng. Phải đến năm 1975, bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta mới đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
Thứ sáu, Hồ Chí Minh tin vào tương lai tất thắng của cách mạng Việt Nam trên cơ sở tư duy chiến lược sâu sắc
Hồ Chí Minh đã 126 lần nhắc đến cụm từ “ta nhất định thắng” trong các bài nói, bài viết, thư gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước. Hồ Chí Minh có niềm tin mãnh liệt ở thắng lợi của cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định: “Với sức mạnh đại đoàn kết vô địch, chúng ta nhất định thắng lợi!”(24). Với niềm tin vào sức mạnh của nhân dân đối với sự thành công của cách mạng, Người cổ vũ, động viên ý chí quyết tâm của nhân dân, để biến ý chí quyết tâm, lòng yêu nước thành hành động cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc tranh đấu của chúng ta là chính đáng”(25). “Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi”(26).
Niềm tin của Hồ Chí Minh vào tương lai tất thắng của cách mạng Việt Nam dựa trên cơ sở của tư duy biện chứng duy vật. Tư duy biện chứng duy vật chỉ ra quy luật tất yếu của tự nhiên, xã hội, tư duy; khẳng định sự ra đời tất yếu của cái mới trên cơ sở phủ định biện chứng, kế thừa cái cũ; khẳng định vai trò của con người trong hoạt động thực tiễn cách mạng.
Thứ bảy, Hồ Chí Minh thể hiện tầm nhìn thời đại khi nói về xu thế chung của cách mạng thế giới
Nguyễn Ái Quốc viết: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(27). Trên tinh thần ấy, trong Đường kách mệnh (xuất bản năm 1927) cũng như các văn kiện do Người khởi thảo và thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930 đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(28). Những tư tưởng thể hiện tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện thực tiễn mới đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và khẳng định. Tư tưởng của Người trực tiếp đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam đến thắng lợi và góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề của cách mạng thế giới.
NHỚ VỀ BÁC ĐỂ LÒNG TA TRONG SÁNG HƠN
Tháng Năm về, tháng Năm của mùa hoa sen nở cũng là dịp đồng bào, chiến sĩ, toàn dân ta trên khắp mọi miền Tổ quốc, đồng bào ta ở hải ngoại, một lòng tưởng nhớ đến Bác Hồ bằng tất cả tấm lòng thành kính, niềm tự hào và lòng biết ơn vô hạn trước công lao trời biển của Người đối với dân tộc, non sông Việt Nam.
Trong giai đoạn giữ cương vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng không bao giờ Người hành xử như một người có quyền. Người không tham quyền cố vị, chỉ có một ham muốn tột bậc, đó là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Nhân dân ta gọi Người là Bác Hồ bởi Hồ Chí Minh là lãnh tụ được sinh ra từ nhân dân, sống trong lòng dân và cuối đời lại muốn về với dân “làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Còn nhớ câu chuyện của đồng chí Trần Viết Hoàn, người có gần 5 năm làm cận vệ bảo vệ trực tiếp Bác Hồ ở khu nhà sàn thuộc Phủ Chủ tịch, kể về Bác: “Vào dịp sinh nhật Bác 70 tuổi, để thiết thực đáp đền công lao của Bác, ngành văn hóa đến xin phép dựng nhà lưu niệm Bác ở hai nơi, Nghệ An và Pác Pó (Cao Bằng), nhưng Bác nói: “Các chú thương Bác thì nên lo cái ăn, cái ở, cái mặc của bà con ở đây. Dựng nhà lưu niệm làm gì nếu bà con ăn chưa no, mặc chưa ấm, ở chưa sạch. Phải tổ chức nhà giữ trẻ cho tốt, phải xây dựng bệnh xá, trường học cho tốt; phải chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bà con, đó là cách lưu niệm tốt nhất". Ngoài ra, đồng chí Hoàn chia sẻ thêm, trong 15 năm sống tại Phủ Chủ tịch, hầu như năm nào cũng vậy, vào dịp sinh nhật, Bác thường “lánh nhà” để tránh nghi lễ phiền phức, tốn kém, tốn thì giờ, tiền của”.

Bác Hồ là thế, luôn lo cho dân, cho nước, bỏ qua lợi ích của bản thân, luôn đặt mình trong lòng nhân dân để thấu cảm với nỗi khổ của người dân, trăn trở với vận mệnh nước nhà, đau đáu trong tim khát vọng giành tự do, độc lập, hạnh phúc cho đồng bào, Tổ quốc. Người nâng niu tất cả, chỉ quên mình.
Mặc dù Bác đã đi xa, nhưng di sản của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đó là tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp đấu tranh và kiến thiết nước nhà, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng, và dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Có lẽ, trong những ngày tháng năm này chúng ta nhớ Bác nhiều hơn, bởi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cùng chung tay, đồng lòng thực hiện thành công lệnh giãn cách xã hội, nhằm phòng, chống đại dịch Covid-19 lây lan. Cho đến nay, kết quả bước đầu ta đã cơ bản ngăn chặn dịch bệnh lây lan trong cộng đồng, thành quả này có thể được nhìn thấy từ trước, bởi như Người đã dạy, khi ý Đảng đi vào lòng dân sẽ tạo nên sức mạnh vô địch, vượt qua chông gai, thử thách, nhất định sẽ chiến thắng mọi kẻ thù.
Trong những năm qua, thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn hệ thống chính trị đã tích cực hăng hái thi đua lập thành tích, báo công lên Người; việc học tập và làm theo Bác đã trở thành việc làm thường xuyên, tự giác ở mỗi tổ chức, đơn vị, cá nhân. Trong thời gian qua, có nhiều gương điển hình xuất sắc về học tập và làm theo Bác, qua đó giới thiệu nhiều mô hình hay, cách làm mới thiết thực, góp phần cải thiện năng suất lao động, mang lại giá trị kinh tế cao, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, ổn định hoạt động xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân.

Mặc dù thế, ở một số nơi, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn còn mang nặng tính hình thức, thời vụ, chưa trở thành hoạt động thường xuyên, tự giác, tự nguyện. Nguyên nhân có thể là trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, bên cạnh những mặt tích cực cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề nhức nhối, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, tránh xa mọi cám dỗ, tiền tài, danh vọng, đề cao lợi ích cá nhân gây tổn hại đến lợi ích tập thể, làm giảm uy tín của Đảng, làm lung lay đến đoàn kết nội bộ, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Do đó, ở mỗi cán bộ đảng viên cần thường xuyên, không ngừng tu dưỡng, học tập và rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Như nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị
Màu quê hương bền bỉ đậm đà
Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút...”
Nhớ về Bác để lòng ta trong sáng hơn, và để… lớn hơn mình một chút.
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TÌNH BÁO QUỐC PHÒNG - SON SẮT, KIÊN CƯỜNG, MỘT TRÁI TIM: "QUÂN BÁO TRINH SÁT - LỰC LƯỢNG ĐI TRƯỚC, VỀ SAU"!
Tư tưởng Hồ Chí Minh - Ngọn đuốc sáng dẫn dắt cách mạng Việt Nam đến thắng lợi
Trong sự nghiệp đổi mới, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục vận dụng, phát triển tư tưởng của Người, thông qua việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới đất nước
Trước hết, con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là con đường đổi mới, tìm đến chân lý của thời đại, đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Trước cảnh giang sơn chìm đắm trong nỗi nhục mất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành vừa bước qua tuổi 21 đã ra đi tìm đường cứu nước với hành trang duy nhất là lòng yêu nước, thương dân vô hạn và hoài bão cứu nước, cứu dân. Người quyết định tìm một hướng đi mới, chưa ai làm, đó là sang phương Tây, vào tận “sào huyệt của kẻ thù” để tìm đường cứu nước. Sự sáng tạo đầu tiên trong hành trình đó đã chứng tỏ bản lĩnh, trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén, đổi mới trong con người Hồ Chí Minh và chuyến đi kéo dài hơn 30 năm của Nguyễn Tất Thành trở thành một trong những cuộc hành trình kỳ lạ, vĩ đại trong lịch sử dân tộc(1).
Người đã trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, hòa mình vào đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động để từ đó, mở mang nhận thức, tìm ra chân lý cách mạng. Người tìm hiểu, so sánh cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ với Cách mạng Tháng Mười Nga, học hỏi nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây, tiếp thu những giá trị của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, đọc những tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp... Đến khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự lựa chọn của Người cũng chính là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ ách thống trị của ngoại bang giành độc lập dân tộc, lật nhào chế độ phong kiến tồn tại cả nghìn năm để xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra bước phát triển vĩ đại của dân tộc. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đúc kết: “Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt-nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt-nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(2). Người đã để lại tấm gương sáng ngời về đổi mới ngay từ khi lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc để hình thành nên quy luật phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực của tư duy đổi mới, ham học hỏi, tiếp thu cái mới, cái tiến bộ; soi sáng, dẫn đường sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Người chỉ rõ: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(3). Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh đó là cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Triết lý đổi mới, chân lý đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).
Nói đến phát triển thì phải luôn luôn thể hiện và gắn liền với sự sáng tạo, đổi mới; bởi lẽ, đó vừa là đường dẫn, vừa là linh hồn của phát triển. Người luôn suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới trong công việc, không cứng nhắc, bảo thủ, đóng khung mà rất linh hoạt, mềm dẻo khi xử lý, giải quyết từng vấn đề, sự việc cụ thể. Phong cách làm việc của Người không chấp nhận tư duy lối mòn, kinh nghiệm chủ quan, mà hướng tới sự mới mẻ, hiệu quả để ngày càng đạt kết quả tốt hơn.
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được soi sáng bởi chính tư duy, trí tuệ Việt Nam trên cơ sở kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, với nền tảng, gốc rễ là tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh là trung tâm quy tụ ý chí, khát vọng, niềm tin và sức mạnh của sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam.
Trong cuộc khủng hoảng và đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thế kỷ XX, trong khi nhiều lãnh tụ cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa bị công kích thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được loài người tiến bộ tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Giữa lúc nhiều nước xã hội chủ nghĩa có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Việt Nam, tiến hành cải tổ không thành công thì công cuộc đổi mới ở Việt Nam lại đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Câu hỏi ở đây là: Vì sao có thực tế vĩ đại đó? Đó là bởi, tư tưởng, nhân cách văn hóa, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã soi sáng, dẫn đường cho cách mạng Việt Nam; dưới ánh sáng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, trở ngại, dũng cảm nhìn vào sự thật, để sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của chính mình, từ đó đề ra được đường lối đổi mới kịp thời, đúng đắn, sáng suốt nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là tấm gương sáng ngời trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, nêu gương đạo đức liêm khiết, mẫu mực, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là hàm chứa trí tuệ cao gắn liền với tình cảm cách mạng sâu sắc, được diễn đạt một cách giản dị, giữa “nói đi đôi với làm”, rất gần với lối cảm, lối nghĩ của quần chúng. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, thẩm thấu, đọng lại sâu sắc, lan tỏa trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam, trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như tâm nguyện của Người.
Thấm đẫm giá trị và tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Tại Đại hội VI (tháng 12-1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới - Đảng đã nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(5). Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta lần đầu tiên đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào văn kiện và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(6), và tổng kết thành bài học: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(7). Đại hội IX của Đảng khẳng định, những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII nêu lên, vẫn còn nguyên giá trị, mà bài học hàng đầu vẫn là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(8).
Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI (năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(9). Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta chỉ rõ: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng... để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(10).

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng, tháng 1-2021. Ảnh: Tư liệu
Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng đã cho thấy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy, nếu xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh thì cách mạng Việt Nam sẽ gặp khó khăn, thử thách. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố tất yếu, không thể thiếu trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của cách mạng Việt Nam.
Như vậy, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt, vận dụng sáng tạo và bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây chính là nhân tố quyết định, làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh - ngọn cờ dẫn dắt đất nước đến phồn vinh, hạnh phúc
Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Khác với sự ra đời của nhiều tư tưởng, lý luận trên thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ khát vọng làm cho dân tộc độc lập, đất nước hùng cường, phồn vinh, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đó là sự đúc rút, tổng kết từ cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vô cùng sôi nổi, phong phú, cao đẹp và trong sáng của Người.
Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đó chính là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu đạt tới. Để thực hiện mong muốn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề ra các biện pháp giải quyết các nhiệm vụ cấp bách, như nạn đói, nạn mù chữ, xây dựng Hiến pháp dân chủ, bảo đảm tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên... Người nêu rõ mong muốn, khát vọng mãnh liệt “...là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người yêu cầu phải thực hiện ngay “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành”.
Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng, vạch ra con đường, biện pháp để xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, phồn vinh, hạnh phúc.
Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người trăn trở, suy nghĩ về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc bị chiến tranh tàn phá; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân; trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp... Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Ba là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình, văn minh Việt Nam và tiến bộ của thế giới.
Khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình Hồ Chí Minh cũng chính là biểu hiện của tinh thần tiến bộ, văn minh Việt Nam và thế giới trong thời đại mới. Đó là lòng yêu thương sâu sắc đối với con người, ở cái nhìn rộng lượng đối với những sự khác biệt với mình, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác; xa lạ với mọi thái độ cuồng tín, giáo điều. Đối với các tôn giáo, Người tôn trọng đức tin của người có đạo, tìm điểm tương đồng về giá trị giữa lý tưởng của các bậc sáng lập tôn giáo với mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, của Đảng ta. Người được cả dân tộc và nhân loại tôn vinh là chiến sĩ vì hòa bình, đấu tranh chống lại những bất công, tàn bạo, nâng đỡ, giúp đỡ con người được sống một cuộc sống đúng nghĩa của con người.
Hiện thực hóa khát vọng đổi mới, sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhìn lại hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước. Ý chí và khát vọng về một dân tộc Việt Nam hùng cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, từng bước đưa dân tộc Việt Nam tiến cùng nhịp bước với trào lưu tiến bộ trên thế giới và ý nguyện hòa bình, phát triển của nhân loại.
Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta. Tại Đại hội XIII, lần đầu tiên trong chủ đề của Đại hội và trong các văn kiện chính trị đề cập đến “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là một điểm rất mới và là một dấu ấn rất quan trọng. Khát vọng thịnh vượng đã được khơi dậy, truyền cảm hứng và như một lời hiệu triệu với non sông, đất nước, với gần một trăm triệu người dân Việt Nam mà ở đó, mục tiêu rõ nhất là làm cho người dân được hạnh phúc dưới ánh sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách và khát vọng Hồ Chí Minh.
Hiện nay, bên cạnh xu thế tích cực là chủ đạo, tình hình thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy trong quan hệ quốc tế có xu hướng gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch COVID-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt, quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.
Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta đang phải đối diện với những khó khăn, thử thách và trở ngại không hề nhỏ. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, lại phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.
Để hiện thực hóa khát vọng đổi mới sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người trong bối cảnh mới của thời đại, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trên những nội dung sau:
Thứ nhất, kiên định, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Đổi mới là một quá trình cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đổi mới không phải là từ bỏ, thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả, để chủ nghĩa xã hội phát huy được bản chất ưu việt, không giáo điều, trì trệ và xơ cứng trong tư duy và tư tưởng, làm sống động những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đổi mới của Việt Nam.
Thứ hai, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Thứ ba, gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của đất nước và phục vụ cuộc sống, vì cuộc sống bình yên của người dân. Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ mục tiêu của đổi mới, Đảng ta đặt “dân giàu, nước mạnh” lên hàng đầu. Các chính sách kinh tế phải thống nhất với các chính sách xã hội, lấy sự phát triển toàn diện của con người làm mục tiêu, là thước đo của sự phát triển.
Thứ tư, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.
Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch./.
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUA 50 NĂM ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT!
Không thể xuyên tạc, phủ nhận giá trị trường tồn của chiến thắng Điện Biên Phủ
56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non” trong chiến dịch Điện Biên Phủ là những tháng ngày không thể nào quên…. 70 năm đã trôi qua chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, là chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước Việt Nam-kỷ nguyên độ lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; là chiến thắng ảnh hưởng sâu sắc đến các nước thuộc địa và làm thay đổi cục diện thế giới, là sự kiện không thể xuyên tạc hay phủ nhận.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã lùi xa 70 năm và trở thành mốc son chói lọi trong tiến trình lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, nhưng giá trị, ý nghĩa tầm vóc của nó vẫn còn nguyên với dân tộc Việt Nam và cả nhân loại yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Bức tranh "phút giây chiến thắng" tại Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
Tháng 2/1993, tổng thống Pháp Francois Mitterrand thăm chính thức Việt Nam và tới thăm chiến trường Điện Biên Phủ, phát biểu sau chuyến thăm, tổng thống Pháp cho rằng cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương "dường như là sai lầm"; "Chủ nghĩa thực dân Pháp phải hiểu sự cần thiết của việc bước sang trang mới. Kể từ thời điểm chiến tranh kết thúc, tôi nghĩ tất cả đều đáng suy ngẫm lại. Tôi cảm thấy hài lòng khi Pháp là quốc gia phương Tây đầu tiên đến đây để thể hiện mong muốn hòa giải".
Năm 2018, thủ tướng Pháp Edouard Philippe đã đến thăm Điện Biên Phủ, ông đã nói rằng: “Trận chiến cuối cùng ở Điện Biên Phủ... Nó đã đánh dấu việc Việt Nam giành được nền độc lập hoàn toàn”, đó là tâm sự chân thành để chúng ta khép lại quá khứ và hướng đến tương lai.

Tổng thống Cộng hòa Pháp Francois Mitterrand thăm hầm De Castries tại Điện Biên Phủ chiều 10/2/1993
Học giả J.C.Rome (Đại học Tổng hợp Strabua III-Pháp) nhấn mạnh với trận Điện Biên Phủ, năm 1954 trở thành “một năm thay đổi cục diện... Năm 1954 quả là một năm quan trọng đối với lịch sử nước Pháp và lịch sử Việt Nam. Nhưng vượt ra khỏi phạm vi của mảnh đất thuộc địa này, người ta còn coi đây là năm bản lề trong lịch sử xung đột Đông-Tây
Lịch sử đã lùi xa 70 năm, chúng ta thế con cháu, tương lai của đất nước sẽ không được phép lãng quên những bài học từ lịch sử. Chiến thắng Điện Biên Phủ là nhân tố to lớn xóa bỏ chế độ thực dân kiểu cũ trên phạm vi toàn thế giới, buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Genever ngày 20/07/1954, lập lại hòa bình tại Đông Dương. Nhìn lại quá khứ, tiếp thu những bài học có ý nghĩa lịch sử phải có cách tiếp cận toàn diện, khách quan, đầy đủ, thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước Việt-Pháp trong hiện tại và tương lai, đồng thời không bao giờ để chiến tranh lập lại. Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã trải qua hai phần ba thời gian phải chiến đấu bảo vệ sự độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Chúng ta hiểu rõ được sự mất mát, tàn khốc của chiến tranh và yêu chuộng hòa bình hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới.
70 năm qua, tình hình, cục diện thế giới, khu vực và trong nước đã đổi thay rất nhiều, những giá trị, ý nghĩa, tầm vóc của chiến thắng Điện Biên là rất to lớn, được cả thế giới khẳng định. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và một số kẻ thiếu thiện chí vẫn cố tình tìm mọi cách hạ thấp ý nghĩa, xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, chúng cố tình cho rằng “nếu không có sự giúp đỡ của nước ngoài thì Việt Nam không thể chiến thắng”; hay chúng lu loa rằng đó chỉ là cuộc chiến của 2 bên hiếu chiến chứ không phải cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do.. Mục đích của chúng nhằm xuyên tạc lịch sử, bịa đặt phi lý với tư tưởng của những kẻ vô ơn. Chúng quên rằng tại chiến trường Điện Biên Phủ, quân viễn chinh Pháp đã nhận được sự hỗ trợ khổng lồ về vũ khí và nhân lực bằng cầu hàng không trực tiếp từ quân đội Mỹ. Bản chất của những âm mưu, luận điệu đó nhằm gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm vai trò lãnh đạo của Đảng về mọi mặt với Quân đội và nghệ thuật quân sự Việt Nam; hạ thấp uy tín chính trị, vai trò, công lao to lớn của Quân ta đối với nền độc lập dân tộc... Đồng thời từng bước đề cao công lao của các thế lực chính trị khác (như Ukraina hiện nay là một trường hợp điển hình thành công của mưu đồ xét lại lịch xử và lật sử).
Để có được chiến thắng tại Điện Biên Phủ quân và dân ta bằng trí tuệ, sức người, sức của, không tiếc xương máu tiến hành chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 khai thông biên giới Việt - Trung và Chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 làm thất bại Kế hoạch Nava, giải phóng đất đai, tạo thế và lực chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho ta giành thắng lợi quyết định. Trước khi bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, được sự giúp đỡ của một số chuyên gia, cố vấn quân sự Đông Đức, Trung Quốc và vũ khí của Liên Xô chúng ta đã xây dựng được các Đại đoàn, tuy nhiên chiến thắng Điện Biên Phủ hoàn toàn là trí tuệ, sức người, sức của của nhân dân Việt Nam và là kết quả những thắng lợi trong giai đoạn 1950-1953, mà không thể có một lực lượng nào làm được và phủ nhận công sức đó. Khi bước vào chiến dịch, chúng ta xây dựng kế hoạch tác chiến theo phương pháp “đánh nhanh thắng nhanh” của các cố vấn Trung Quốc, tuy nhiên phương pháp đó chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế chiến trường Điện Biên Phủ, chúng ta phải thay đổi bằng kế hoạch “đánh chắc thắng chắc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn bạc hoạch định đường lối mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, 1954.
Trước hết cần khẳng định, những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là trước và trong chiến dịch Điện Biên Phủ chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ về trang bị, vũ khí và đào tạo của các chuyên gia, cố vấn của các nước anh em xã hội chủ nghĩa nhưng xét từ bất cứ phương diện nào mọi sự giúp đỡ dù lớn đến đâu cũng không thể giúp cho sự nghiệp cứu nước của một dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng.
Nếu chiến dịch Điện Biên Phủ không mang tính chính nghĩa, không mang tinh thần tự chủ, thiếu đường lối chính trị đúng đắn, đường lối nghệ thuật quân sự mang bản sắc Việt Nam, không phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc thì không thể giành thắng lợi. Đây là nguyên tắc có tính sống còn, bài học luôn đúng và mang tính giá trị của thời đại. Minh chứng là sau chiến thắng Điện Biên Phủ của ta, sau thất bại từ chiến lược “Chiến tranh cục bộ” buộc phải ký hiệp định Paris với những điều khoản có lợi cho ta và rút quân về nước năm 1973, Mỹ có chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” cùng các khoản viện trợ khổng lồ cho chế độ ngụy quyền Sài Gòn, với nhiều vũ khí, trang thiết bị vượt trội so với Quân đội nhân dân Việt Nam nhưng cuối cùng vẫn phải chấp nhận thất bại. Bài học cay đắng đó các thế lực thù địch, phản động đến nay chưa thể quên, vì thế chúng đưa ra một số luận điệu xuyên tạc như “thực chất quân đội Mỹ hỗ trợ quân đội Pháp có mặt tại Việt Nam là để ngăn Việt Nam xâm lược một nước khác và lúc đó quân đội viễn chinh của Pháp trên toàn thế giới đã suy yếu, kể cả nếu không có trận Điện Biên Phủ thì chưa đầy một năm nữa Pháp sẽ rút quân về nước” hay tráo trở hơn chúng cho rằng “Quân đội nhân dân Việt Nam là lính đánh thuê cho nước ngoài, không phải là những người chiến thắng ở Điện Biên Phủ”. Đây là những luận điệu, hành động không mới nhưng hết sức thâm độc, tạo nên sự hoài nghi, xét lại lịch sử làm phân tâm, mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân nhất là thế hệ trẻ hiện nay.

Xe thồ của lực lượng dân công chở gạo ra mặt trận chuẩn bị cho Chiến dịch, với quyết tâm để "bộ đội ta ăn no đánh thắng"
Ngoài ra chúng cho rằng anh hùng, liệt sĩ trong chiến thắng Điện Biên Phủ của chúng ta không có thực, là nhân vật hư cấu, bịa đặt. Với những lý lẽ hết sức vô lý, không có căn cứ, chúng không chịu thừa nhận. Thực tế không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới khi con người rơi vào hoàn cảnh bất thường sẽ có hành động xả thân trên bình thường, phi thường không phải chuyện hiếm gặp. Những anh hùng, liệt sĩ như: Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai; Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo… là những con người có tên, có tuổi, có quê quán, địa chỉ rõ ràng; là con của những người mẹ mà sự hi sinh của họ là nỗi đau của một gia đình; được đồng chí, đồng đội trong đơn vị công nhận, không khó để chúng ta tìm hiểu về họ, nên không thể phủ nhận và xuyên tạc được, vì vậy ta phải nêu cao tinh thần tự giác bảo vệ danh dự, mồ hôi, xương máu của đồng bào, chiến sĩ và nhân dân, đặc biệt là những tấm gương liệt sĩ tiêu biểu đi vào sử sách và là tấm gương cho bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam và là biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam.
Vượt qua bom đạn của kẻ thù, vượt qua điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng hàng tấn gạo, thịt, xăng dầu, vũ khí, đạn dược được quân và dân cả nước vận chuyển đến mặt trận Điện Biên Phủ cho bộ đội bằng những phương tiện thô sơ nhất để góp phần vào thắng lợi cuối cùng, kỳ tích đó nằm ngoài suy nghĩ của những người thường lấy lý luận làm cơ sở giải quyết chiến tranh, nằm ngoài suy nghĩ của những kẻ sống chỉ biết trông chờ vào sự giúp đỡ của nước ngoài mà không thể tự đứng trên đôi chân của mình và trên hết là chưa bao giờ nhận được sự đồng lòng, ủng hộ toàn tâm, toàn ý của cả dân tộc. Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân non trẻ nhưng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi đã được 70 năm, ngày nay chúng ta càng khẳng định những nhân tố làm nên thắng lợi đó chính là sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân và dân ta; là sức mạnh của đường lối nghệ thuật, tinh thần quốc tế trong sáng. Sức mạnh đó đã minh chứng cho sức mạnh của một dân tộc anh hùng, với một quân đội anh hùng tất yếu sẽ chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
Kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta thêm nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về tầm vóc, ý nghĩa, giá trị của chiến công đó, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”. Đó là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần chiến thắng Điện Biên Phủ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo những bài học, kinh nghiệm quý báu đã rút được. Từ đó phản bác những luận điệu của các thế lực thù địch, đập tan âm mưu phá hoại nền độc lập, tự chủ của dân tộc, những kẻ cơ hội chính trị đã xuyên tạc, phủ nhận chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ./.


