Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

“Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên hiến pháp và pháp luật” - luận điệu vô căn cứ cần đấu tranh bác bỏ

Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những thủ đoạn mà các thế lực phản động, thù địch thường xuyên tiến hành. Trong đó, luận điệu cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” là hoàn toàn vô căn cứ và hết sức nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh bác bỏ.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đăng tải, phát tán nhiều tin, bài, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Đáng chú ý trong đó có luận điệu cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”. Đây là luận điệu xuyên tạc, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, trực tiếp phá hoại, vô hiệu hóa cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta: “Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý, điều hành - Nhân dân làm chủ”. Từ đó, gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm tổn hại đến mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Ðảng với  Nhà nước và Nhân dân; giảm sút niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Có thể khẳng định rằng, luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch là vô căn cứ, phản khoa học, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, họ đã cố tình đánh tráo khái niệm một cách thô thiển giữa “nhà nước pháp quyền” nói chung với “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” và “nhà nước pháp quyền tư sản”. Chúng ta đều biết, trong lịch sử xã hội, nhà nước nào cũng mang bản chất của giai cấp nhất định, do giai cấp cầm quyền lãnh đạo, chi phối. Đơn cử như, nhà nước ở các nước tư bản hiện nay đều do một đảng, hay liên minh đảng cầm quyền, lãnh đạo, nhưng dù có liên minh nhiều đảng lãnh đạo thì bản chất của nhà nước vẫn do giai cấp cầm quyền chi phối là chủ yếu. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tất yếu mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực nhà nước và xã hội thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước khác hẳn về chất so với nhà nước tư sản và các hình thức nhà nước của giai cấp thống trị, bóc lột đã có trong lịch sử - nhà nước mà quyền lực thuộc về thiểu số giai cấp thống trị, bóc lột (chủ nô, phong kiến, tư sản). Như vậy, họ đã cố tình cắt xén vấn đề cốt lõi nhất của nhà nước là quyền lực thuộc về nhân dân trong bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước xã hội chủ nghĩa là đặc trưng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chỉ có đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trên lập trường giai cấp công nhân, với đường lối đúng đắn thì nhà nước xã hội chủ nghĩa mới thực sự là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đây không chỉ là vấn đề có tính nguyên tắc, mà còn bảo đảm cho nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trong đó có cả nhiệm vụ xây dựng hiến pháp và pháp luật.

Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền sau khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Theo đó, nội dung cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội như một tất yếu lịch sử; là sự lựa chọn của lịch sử. Phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển của đất nước và toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ nhất định. Đồng thời, đề ra phương hướng, nhiệm vụ và những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua hệ thống tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan Nhà nước và các tổ chức của hệ thống chính trị. Điều đó đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước; phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, ủng hộ và tích cực thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”, về thực chất, các thế lực thù địch đã cố ý xuyên tạc mối quan hệ giữa Đảng và hệ thống chính trị, phủ nhận cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng cho rằng “Đảng lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội là chuyên quyền, độc đoán, vi phạm dân chủ”. Đó là sự bịa đặt vô căn cứ, bởi trong mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là hạt nhân và là một bộ phận của hệ thống ấy. Về cơ chế vận hành, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân lao động làm chủ”. Cơ chế này xác định rõ vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, thành tố của hệ thống chính trị và giải quyết các mối quan hệ giữa các thành tố với nhau đảm bảo cho sự vận hành thông suốt của hệ thống chính trị, thực hiện quyền lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và quyền làm chủ thực sự thuộc về Nhân dân. Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; các tổ chức đảng, đảng viên không đứng ngoài, đứng trên pháp luật. Đảng kiểm tra các tổ chức của Đảng và đảng viên trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước về việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng trên thực tế. Hoạt động lãnh đạo của Đảng đều được thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật, chứ không có cái gọi là “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”.

Ở một góc nhìn khác, luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch đã công khai phủ nhận sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, họ tạo cớ gây mâu thuẫn, chia rẽ quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, giữa Nhà nước với Nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, nhất là khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Điều đó đã được chứng minh bằng thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng đã đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột nặng nề của chế độ phong kiến, chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và chủ nghĩa thực dân kiểu mới lên địa vị làm chủ nhà nước và làm chủ xã hội. Vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, nhất là đối với nhân dân đã được hiến định một cách rõ ràng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Điều đó thể hiện bản chất tiên phong, trách nhiệm chính trị - pháp lý của Đảng đối với Nhân dân về vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước.

Thực tiễn gần 95 năm lãnh đạo cách mạng và 80 năm cầm quyền đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là nhân tố quyết định bản chất Nhà nước, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường, nhất là với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ban hành nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân.

Có thể khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội không hề “đứng trên Hiến pháp và pháp luật” như luận điệu của các thế lực thù địch đã bịa đặt, rêu rao. Ngược lại, Đảng lãnh đạo Nhà nước được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định rõ trong điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam luôn chứng minh tính đúng đắn về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội. Không ai có thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên đó. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ ý đồ dã tâm của các thế lực thù địch, thường xuyên tu dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Phản bác luận điệu chống phá về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo là thủ đoạn không mới, nhưng rất nguy hiểm, bởi đây là vấn đề được dư luận trong và ngoài nước hết sức quan tâm. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đó một cách kịp thời; đồng thời, khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết hiện nay.

Biển Đông có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trên nhiều lĩnh vực, cũng như tồn tại nhiều phức tạp, tạo sự quan tâm đối với các quốc gia trong khu vực và thế giới, trong đó có hệ thống hàng hải quốc tế cùng những “vấn đề” về chủ quyền, lãnh thổ, nên nơi đây đã, đang là tâm điểm cạnh tranh và gây ảnh hưởng của các quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Cũng chính vì lẽ đó, nhiều thập niên gần đây, vùng biển này luôn là “vấn đề nóng” trên bàn cờ chính trị của khu vực. Đối với nước ta, lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động đã tung ra không ít thông tin sai sự thật, hòng xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; trong đó, họ nêu những “đề xuất”, “kiến nghị” đòi thay đổi chính sách ngoại giao của Việt Nam về chủ quyền biển, đảo. Đặc biệt, khi tình hình trên Biển Đông có “điểm nóng”, thì ngay lập tức, trên các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài, như: BBC, Đài châu Á tự do (RFA), các trang mạng xã hội, như: Facebook, YouTube, Twitter, Zalo,… tăng cường phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc về vấn đề này.

Luận điệu mà họ thường rêu rao là Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược”, “làm ngơ” trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; rằng, “chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc quân sự thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”; sức mạnh của Hải quân Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”, v.v. Do đó, Việt Nam cần liên minh quân sự với các nước lớn có tiềm lực quân sự, quốc phòng mạnh, mới bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo quốc gia (!).

Cần khẳng định rằng, những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, bịa đặt; mục đích của họ nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, chính trị trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước. Bởi, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định: Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng đường lối, quan điểm nhất quán, đúng đắn, hợp quy luật, hiệu quả.

Về bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Ngay sau khi đất nước thống nhất, nắm bắt việc Liên hợp quốc đang trong quá trình thảo luận, xây dựng Công ước về Luật Biển và nội dung liên quan, ngày 12/5/1977, Việt Nam đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Tiếp đó, ngày 12/11/1982, Chính phủ ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Đây là những cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấn với các quốc gia có liên quan trong giai đoạn sau này. Cụ thể: Việt Nam đã ký Hiệp định về phân định ranh giới biển với Thái Lan vào ngày 09/8/1997 và hiệp định này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 26/02/1998. Đây là hiệp định phân định biển đầu tiên mà Việt Nam ký kết với các quốc gia láng giềng và cũng là hiệp định phân định biển đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á sau khi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 chính thức có hiệu lực vào ngày 16/11/1994. Cùng với hiệp định này, Việt Nam và Thái Lan cũng đã có thỏa thuận về việc tuần tra chung giữa hải quân hai nước vào năm 1998, góp phần quan trọng vào việc duy trì an ninh, trật tự, ổn định vùng biển giáp ranh giữa hai nước. Đối với Vịnh Bắc Bộ, ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ; theo đó, về diện tích tổng thể: Việt Nam đạt 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77% diện tích Vịnh. Ngày 26/6/2003, sau 25 năm đàm phán, Việt Nam và Inđônêxia đã ký Hiệp định phân định thềm lục địa chồng lấn giữa hai nước và hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày 29/5/2007. Những hiệp định trên mang ý nghĩa quan trọng, góp phần khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; đồng thời, tạo thuận lợi cho việc quản lý, khai thác các vùng biển và thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng. Đây là một minh chứng cho thấy, Đảng, Chính phủ, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, chủ động, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Trong thực tế, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta ngay lập tức thể hiện quan điểm kiên quyết phản đối những hành động xâm phạm của nước ngoài, quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Đồng thời, thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao để lên án những hành vi vi phạm chủ quyền trên biển, đảo Việt Nam. Cùng với đó, Việt Nam luôn chủ động, tích cực và kiên trì giải quyết từng bước những bất đồng tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan, nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hòa bình, an ninh khu vực; tăng cường vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Bằng trải nghiệm xương máu trong lịch sử về hậu quả của chiến tranh, chúng ta cực lực phản đối chiến tranh, xung đột dưới bất cứ hình thức nào. Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng nói chung, liên quan đến biển, đảo nói riêng bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, sẵn sàng về lực lượng, phương án, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đây là biện pháp thể hiện sự khôn khéo, mềm dẻo về sách lược, nhưng rất kiên quyết về nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta để đạt được mục tiêu đề ra, chứ không phải là “nhu nhược, hèn nhát”, “làm ngơ về Biển Đông” như những rêu rao xuyên tạc của các thế lực phản động, cơ hội chính trị.

Về vấn đề liên minh quân sự, trước hết, cần khẳng định quan điểm “bốn không” trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là về vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc không hề mâu thuẫn với chủ trương: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”. Thực tế minh chứng, nhờ nhất quán và thực hiện đúng đường lối đối ngoại này, Việt Nam đã tạo được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đem lại lòng tin chiến lược - một nền tảng hết sức quan trọng cho các đối tác, các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mặc dù Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, bạn bè, nhân dân tiến bộ trên thế giới, nhưng chúng ta vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, chính nghĩa, nên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và thời đại - một nhân tố quan trọng giúp chúng ta giành thắng lợi. Đây là một trong những bài học được rút ra trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Vì vậy, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và lợi ích quốc gia - dân tộc, phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh nào. Mặt khác, theo logic của vấn đề, lợi ích của việc liên minh quân sự chắc chắn phải đạt được từ hai phía: nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng cái giá phải trả đó là sự “thế chấp” nào đó để nhận được những “cam kết” bảo vệ từ đồng minh. Đó là “luật chơi” thường thấy trong quan hệ quốc tế hiện nay. Như vậy, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều khẳng định, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Việt Nam là phải tự lực, tự cường, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, dựa vào sức mình là chính, song luôn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế, nhân dân tiến bộ trên thế giới để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây cũng là sự khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta để đập lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Theo đó, chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; trong đó, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại làm nòng cốt. Và từ năm 2010, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Vì thế, lực lượng Hải quân được ưu tiên đầu tư cả về vũ khí, trang thiết bị và con người. Với việc tiếp nhận, huấn luyện làm chủ và đưa vào khai thác sử dụng nhiều loại tàu, vũ khí trang thiết bị hiện đại, đến nay Hải quân nhân dân Việt Nam đã có đủ năm thành phần lực lượng: tàu mặt nước; tàu ngầm; không quân Hải quân; pháo binh - tên lửa bờ; hải quân đánh bộ, đặc công Hải quân và lực lượng phòng thủ đảo. Cùng với đó, với truyền thống xây dựng, chiến đấu, trưởng thành gần 70 năm qua và những chiến công oanh liệt trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, Bộ đội Hải quân luôn vững vàng về lập trường, kiên định về lý tưởng, có tư duy sáng tạo, quyết đánh và quyết thắng, chắc chắn sẽ là những quả đấm thép, đủ sức cùng các lực lượng bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Điều này, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc về sức mạnh, ý chí chiến đấu của lực lượng Hải quân Việt Nam.

Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ thiêng liêng; trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cả hệ thống chính trị và phải tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp. Trong đó, cần nhận rõ, kiên trì, kiên quyết đấu tranh với những chiêu trò xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ, đúng; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc./.

ST.

Vạch trần sự sai trái của luận điểm “Chủ nghĩa Mác đã cáo chung”

Trước sự thoái trào tạm thời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở cuối thế kỷ XX, các thế lực thù địch, phản động ra sức cổ vũ cho luận điểm “Chủ nghĩa Mác đã cáo chung”(!). Tuy nhiên, thực tiễn sinh động của thế giới và Việt Nam ngày nay lại chứng tỏ chủ nghĩa Mác vẫn tràn đầy sức sống. 

Xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác là một thủ đoạn thường trực của các thế lực thù địch, phản động. Ngay từ khi chủ nghĩa Mác xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới với bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848), các thế lực trong thế giới tư bản đã tỏ rõ nỗi sợ hãi và sự căm thù đối với phong trào cộng sản đang hình thành và ngày một phát triển sâu rộng trước ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, coi đó như “Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu”. “Bóng ma” ấy đã khiến cho các thế lực trong thế giới tư bản phải “liên hợp lại thành một liên minh thần thánh để trừ khử”, như C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ ra khi nói về bối cảnh ra đời Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.

Sở dĩ chủ nghĩa Mác chịu nhiều sự công kích của các thế lực thù địch, phản động, bởi lý luận của C. Mác đụng chạm đến “cái tín điều” bất khả xâm phạm của chủ nghĩa tư bản là chế độ tư hữu. Đúng như giáo sư Terry Eagleton (Trường Đại học Tổng hợp Lancaste của nước Anh) đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác, từ bao lâu nay vẫn là sự phê phán phong phú nhất về mặt lý luận, không khoan nhượng nhất về mặt chính trị đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa”. Trước sự kiện chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ vào cuối thế kỷ XX; cùng với đó là những biểu hiện thích nghi mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại, sự công kích của các thế lực thù địch, phản động càng trở nên quyết liệt. Họ hoan hỷ tuyên bố về “sự cáo chung của chủ nghĩa Mác” và cho rằng: “chủ nghĩa Mác giờ đây đã chết, không cần phải nhắc đến nữa”(!).

Ở Việt Nam, hùa theo các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài, các thế lực thù địch, phản động và “trở cờ” ở trong nước cũng lợi dụng mạng xã hội để tung ra các bài viết với mọi lý lẽ xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác. Họ “khuyên” Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác, không nên lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, vì theo họ “chủ nghĩa Mác đã cáo chung, không còn giá trị chỉ đạo thực tiễn”(!), v.v. Mục tiêu nhất quán của các lý lẽ sai trái nói trên đều nhằm mục đích tạo ra khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như trong toàn xã hội, để từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và trong xã hội, tiến tới làm tan rã Đảng ta, đưa nước ta phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Trước tác động từ những luận điệu xuyên tạc, sai trái này, ở những mức độ khác nhau, đã có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, thậm chí có biểu hiện mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lênin. Do vậy, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác, vạch trần sự sai trái của các luận điểm xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác là hết sức cần thiết, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng, cho đến ngày nay, chủ nghĩa Mác vẫn là lý luận khoa học và cách mạng nhất, có giá trị nhất trong việc luận giải các vấn đề cơ bản của thời đại. Ngay cả Brêdinxki, tác giả cuốn sách “Thất bại lớn - sự hưng vong của chủ nghĩa cộng sản thế kỷ XX”, người rất căm ghét chủ nghĩa Mác, cũng phải thừa nhận giá trị của chủ nghĩa Mác, khi viết rằng: “Khái niệm về phép biện chứng lịch sử xem chừng là phương pháp giá trị nhất để xử lý các mâu thuẫn hiện thực”. Đúng như vậy, với hai phát kiến vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư, C. Mác đã thực hiện những cuộc cách mạng triệt để trong lĩnh vực triết học và kinh tế chính trị học. Bằng việc sử dụng phép duy vật biện chứng, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, chủ nghĩa Mác đã vạch ra những quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Đó là: quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; cơ sở kinh tế - xã hội quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, C. Mác đã tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra - quy luật giá trị thặng dư. Đồng thời, trên cơ sở phân tích khách quan, khoa học những điều kiện kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, cũng như những điều kiện chính trị - xã hội trong xã hội tư bản, C. Mác đã lần đầu tiên phát hiện ra và làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân - giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, có đủ năng lực, phẩm chất để thực hiện sứ mệnh giải phóng chính bản thân mình, tiến tới giải phóng toàn thể nhân loại.

Mặc dù thế giới ngày nay đã có nhiều thay đổi, song những quy luật mà chủ nghĩa Mác đã phát hiện và khái quát vẫn còn nguyên giá trị chỉ đạo thực tiễn. Phản bác lại luận điểm cho rằng: “Hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được nữa so với thời của Mác, và do đó những tư tưởng của Mác không còn phù hợp nữa”, Terry Eagleton đã nhận định: “bản thân Mác luôn ý thức được bản chất không ngừng vận động của cái hệ thống mà ông phản bác” và rằng: “Chính những cái tưởng như giúp đả phá chủ nghĩa Mác lại cũng làm tăng thêm niềm tin vào những khẳng định của chủ nghĩa Mác. Nó được đẩy đến cực điểm bởi vì trật tự xã hội mà chủ nghĩa Mác đương đầu, thay vì trở nên nhân từ và ôn hòa hơn, thì lại trở thành tàn nhẫn và cực đoan hơn bao giờ hết. Và chính điều này làm cho sự phê phán của Mác đối với toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa thành đúng đắn hơn”. Các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong những năm 2007 và 2008 xuất phát từ các nước tư bản; phong trào “Chiếm phố Uôn” với biểu ngữ “99% người nghèo chống lại 01% người giàu” lan rộng ở nhiều nước tư bản phát triển trong những năm 2009 và 2011 đã chứng minh cho phát hiện của C. Mác về những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản vẫn còn nguyên giá trị và nhận định nói trên của Terry Eagleton là hoàn toàn đúng đắn. Trong thời gian này, nhiều người trong thế giới tư bản đã quay lại tìm đọc Mác; nhiều trung tâm nghiên cứu về C. Mác và nhiều cuộc hội thảo về C. Mác đã được tổ chức ở các nước tư bản. “Tư bản luận” đã trở thành sách bán chạy ở Pháp, Đức, Anh, Italia, Nhật Bản, v.v. Giải thích cho hiện tượng đó, nhà sử học người Anh Erích Hoxbon đã nói rằng: “Chính là những người tư bản, chứ không phải ai khác, đã tái phát hiện Mác” và “Việc quay trở lại đọc Mác có nghĩa là thế giới cần phải nghiên cứu học thuyết của ông về chủ nghĩa tư bản, và về vị trí của học thuyết đó trong sự phát triển của xã hội loài người”. Một số học giả tư sản cũng đã tiên đoán về thế kỷ XXI vẫn là thế kỷ của chủ nghĩa Mác và kêu gọi nhân loại hãy “Trở về với Mác”, rằng nhân loại “không có tương lai nếu không có Mác, nếu không có các di sản của Mác”. Những thực tiễn đó là minh chứng sống động bác bỏ luận điểm cho rằng “chủ nghĩa Mác đã cáo chung” và chứng tỏ chủ nghĩa Mác vẫn là lời giải cho thế giới hiện thực.

Thứ hai, thực tiễn sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm cuối thế kỷ XX không đồng nghĩa với “sự cáo chung” của chủ nghĩa Mác. Đây chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể, mà nguyên nhân căn bản lại xuất phát từ chủ nghĩa giáo điều, xét lại và những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của đảng cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở Liên Xô thời kỳ đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Sau gần 20 năm Liên Xô sụp đổ, công trình “Bí ẩn diệt vong của Liên Xô - lịch sử những âm mưu và phản bội 1945 - 1991” của A.P. Sheviakin đã công bố lời thú nhận của M.S. Gorbachev tại Trường Đại học Mỹ ở Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1999 rằng: “Mục tiêu của toàn bộ cuộc đời tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản… Khi trực tiếp làm quen với phương Tây, tôi đã hiểu rằng tôi không thể từ bỏ mục tiêu chống cộng sản đặt ra”. Điều đó cho thấy, sự thoái trào tạm thời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không có nguyên nhân từ bản thân chủ nghĩa Mác; không đánh dấu “sự cáo chung” của chủ nghĩa Mác. Mặt khác, chính sự kiện này lại chứng tỏ: đảng nào xa rời những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, thì đảng đó không còn là đảng mácxít lêninnít chân chính và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nơi đó nhất định thất bại.

Thứ ba, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rõ: chủ nghĩa Mác  Lênin là ngọn đèn soi sáng con đường đấu tranh giành độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta. Nhìn lại lịch sử cách mạng nước ta từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có thể thấy, chỉ đến khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiếp cận được chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền bá vào Việt Nam, kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, thì mới kết thúc được thời kỳ khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước của dân tộc ta, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc; và ngày nay, đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội với tư duy đổi mới. Đại hội VII của Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”; đồng thời, nhấn mạnh đến bài học kinh nghiệm rút ra qua thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay là: “Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tại Đại hội XIII, một trong năm bài học kinh nghiệm được Đảng ta rút ra qua nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và cũng là quan điểm chỉ đạo hàng đầu trong thực hiện đường lối đổi mới trong giai đoạn tới là “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Nhờ có sự kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến, không có tên trên bản đồ thế giới, ngày nay nước ta đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia thành viên Liên hợp quốc; đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với gần 30 nước, bao gồm cả 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; có quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên của nhiều định chế kinh tế quốc tế lớn; 02 lần đảm nhận vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; 02 lần được bầu làm Ủy viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và còn đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng trong các tổ chức quốc tế khác. Nước ta đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình với quy mô và tiềm lực kinh tế không ngừng tăng lên. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta không chỉ luôn kiên định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, mà còn góp phần làm phong phú thêm lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin; nhất là những vấn đề về con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước có nền kinh tế chậm phát triển, v.v.

Những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở những nước đang đi theo con đường xã hội chủ nghĩa nói chung, ở Việt Nam nói riêng; cùng với những nỗ lực đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin của các đảng cộng sản và công nhân thế giới hiện nay là minh chứng sinh động bác bỏ sự sai trái của luận điểm “chủ nghĩa Mác đã cáo chung”; đồng thời, khẳng định sức sống bất diệt của chủ nghĩa Mác trong thời đại ngày nay./.

ST.

Không thể tách rời kinh tế với quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kết hợp kinh tế với quốc phòng là nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, vấn đề này đang chịu những tác động tiêu cực từ âm mưu, hoạt động chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch và từ chính nhận thức, hành động chưa đúng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; đòi hỏi phải có nhiều hình thức, biện pháp đấu tranh bác bỏ.

Kết hợp kinh tế với quốc phòng là vấn đề có tính quy luật nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Nó nảy sinh từ mối quan hệ giữa kinh tế với chiến tranh, kinh tế với quốc phòng, giữa xây dựng và bảo vệ đất nước; là phương thức hiệu quả để vừa nâng cao tiềm lực kinh tế, vừa tăng cường tiềm lực quốc phòng của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, kết hợp kinh tế với quốc phòng còn là sự tiếp nối truyền thống, quy luật đặc thù của lịch sử dân tộc: dựng nước đi đôi với giữ nước; là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Và thực tiễn cũng cho thấy, những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng được các cấp, ngành, lực lượng, địa phương thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, góp phần đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách để phát triển nhanh, bền vững.

Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại những vấn đề tác động tiêu cực, cản trở quá trình kết hợp kinh tế với quốc phòng của đất nước. Trước hết là âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Nổi bật là sự xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kết hợp kinh tế với quốc phòng; kích động, cổ súy tư tưởng phát triển kinh tế bằng mọi giá; lợi dụng quá trình mở cửa, kêu gọi đầu tư nước ngoài của nước ta để tiếp cận những ngành, lĩnh vực, vị trí có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng; thông qua giúp đỡ, viện trợ kinh tế, đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để đặt ra các điều kiện và gây sức ép về chính trị, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa, v.v. Cùng với đó, vẫn còn hiện tượng một số cán bộ nhận thức mơ hồ cả về lý luận và thực tiễn đối với quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng; một số địa phương buông lỏng quản lý, mất cảnh giác, kém hiệu quả trong việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, nhất là việc thẩm định, cấp phép cho các dự án tại các vùng chiến lược trọng điểm. Nguy hiểm hơn, có những cán bộ cố tình làm sai sự hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan chức năng, thậm chí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng để thực hiện các dự án kinh tế nhằm phục vụ lợi ích nhóm, trục lợi cá nhân, v.v. Những nhận thức, hành động đó, dù cố tình hay vô ý đều đi ngược với quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc; là lực cản đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cơ sở lý luận và thực tiễn

Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, kinh tế, quốc phòng, an ninh tồn tại khách quan trong đời sống xã hội và có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau; trong đó, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội tác động trở lại kinh tế. Vì thế, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trở thành vấn đề có tính quy luật chung của các quốc gia trên thế giới.

Nhìn vào tiến trình phát triển của các quốc gia trên thế giới chúng ta thấy, dù là nước lớn hay nước nhỏ, trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị có thể khác nhau, nhưng tất cả các quốc gia đều chăm lo thực hiện gắn phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, kể cả những nước mà hằng trăm năm nay chưa có chiến tranh. Tất nhiên, sự kết hợp đó ở mỗi quốc gia sẽ có những khác biệt về mục đích, nội dung, phương thức, kết quả và ngay trong một nước, ở mỗi giai đoạn phát triển thì sự kết hợp cũng khác nhau. Điều này được thể hiện rõ nét khi hầu hết các nước phát triển đều quy định: chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại đều phải được thông qua hội đồng quốc phòng, an ninh quốc gia và phải đáp ứng các yêu cầu của chiến lược an ninh quốc gia. Các nước đều rất chú trọng xây dựng khung khổ pháp lý cho việc gắn phát triển kinh tế - xã hội, quan hệ đối ngoại với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Nhiều quốc gia đặc biệt coi trọng những yêu cầu về quốc phòng, an ninh trong xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình đô thị, trụ sở, nơi làm việc của các cơ quan đầu não, các cơ sở sản xuất trọng yếu, then chốt; lồng ghép các hoạt động nghiên cứu phát triển cho cả mục đích dân sự, quân sự trong các cơ sở nghiên cứu phát triển của cả dân sự và quân sự; gắn đào tạo nhân lực cho nhu cầu quân sự, quốc phòng trong các nhà trường dân sự. Đặc biệt, các nước luôn coi trọng phát triển công nghiệp cả dân sự và quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, điển hình là Mỹ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc. Hiện nay, ở Nhật có hơn 1.500 xí nghiệp tham gia sản xuất trang bị quân sự, với khoảng 70.000 công nhân, chiếm khoảng 0,1% tổng số công nhân trên toàn quốc1. Tổ hợp công nghiệp quốc phòng ở Mỹ có khả năng chế tạo các sản phẩm đa dạng, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, từ trang bị vũ khí đến hàng tiêu dùng hoặc các dịch vụ có công dụng quân sự, như: vận tải, xăng dầu, thiết bị điện tử. Ở Nga, tổ hợp công nghiệp quốc phòng có khả năng vừa chế tạo vũ khí trang bị và các phương tiện quân sự, vừa tạo ra các sản phẩm công nghiệp dân dụng cao, chiếm tới 70% toàn bộ sản phẩm ngành công nghiệp. Điều đó khẳng định, kết hợp kinh tế với quốc phòng là yêu cầu, xu thế chung trên toàn thế giới.

Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, kể từ khi các Vua Hùng dựng nước đến nay, đất nước ta luôn luôn bị các thế lực ngoại bang nhòm ngó, xâm lăng. Nếu chỉ tính từ năm 214 trước Công nguyên đến năm 1945, trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công, dân tộc ta đã trải qua hơn 2.000 năm luôn phải tiến hành các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Trong điều kiện lịch sử như vậy, một trong những bài học quý báu mà tổ tiên ta đúc rút ra là dựng nước luôn gắn liền với giữ nước, với những tư tưởng: “thực túc, binh cường”, “quốc phú binh cường”,… chú trọng kết hợp xây dựng, phát triển kinh tế, chăm lo đời sống của nhân dân với xây dựng, củng cố quốc phòng, chuẩn bị nguồn lực động viên cho quốc phòng vững mạnh; thực hiện huy động vật lực của toàn dân, của cả nước để đánh giặc. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã ban hành và thực hiện một số chính sách lớn (có thế nói là quốc sách), như: “Ngụ binh ư nông”, “tĩnh vi nông, động vi binh”, v.v. Khi hòa bình là nông dân, khi có chiến tranh được huy động để bổ sung cho quân đội. Chính sách “Ngụ binh ư nông” là một cơ chế hoàn thiện về mặt động viên và sử dụng nhân lực trong việc xây dựng lực lượng vũ trang phòng giữ đất nước, xây dựng tiềm lực quốc phòng mạnh trên cơ sở phát triển kinh tế với củng cố lực lượng quân sự. Với việc thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, nhất là chính sách “Ngụ binh ư nông”, các triều đại phong kiến Việt Nam đã xây dựng được nguồn nhân lực động viên từ thời bình phù hợp với khả năng của đất nước, để khi có chiến tranh, huy động kịp thời nhằm bảo vệ Tổ quốc. Điều đó khẳng định rằng, tuy còn sơ khai, song việc kết hợp kinh tế với quốc phòng đã được cha ông ta quan tâm thực hiện từ rất sớm; là phương thức cốt yếu để vừa bảo đảm đời sống ấm no cho nhân dân, vừa giữ cho đất nước hòa bình, ổn định và phát triển.

Quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh là quan điểm xuyên suốt, chủ trương nhất quán của Đảng, được bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện thực tế qua các kỳ đại hội. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”2. Thực hiện chủ trương mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước tăng cường quốc phòng, an ninh, những năm qua, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trên phạm vi cả nước đã được thực hiện ngày càng toàn diện, chặt chẽ, đồng bộ, trách nhiệm và hiệu quả hơn. Điều đó được thể hiện ngay từ khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch vùng, lãnh thổ, các ngành, lĩnh vực; các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn; trong từng công trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,... đều gắn với quy hoạch tổng thể xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ. Các địa phương, nhất là ở địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã coi trọng quy hoạch phân bố dân cư, phát triển lực lượng dân phòng cùng các tổ, đội liên kết của ngư dân,... bảo đảm mục tiêu vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc địa bàn biên giới, biển, đảo. Các đơn vị Quân đội vừa bảo đảm huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn đóng quân, v.v. Các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng, bên cạnh việc sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu quốc phòng còn tận dụng tiềm năng, thế mạnh tham gia sản xuất các mặt hàng phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội. Điển hình như những doanh nghiệp trong lĩnh vực đóng và sửa chữa tàu, cơ khí, hóa chất, điện - điện tử, quang học với nhiều sản phẩm uy tín, có thương hiệu và hội nhập sâu rộng vào thị trường trong nước, khu vực và thế giới. Tổng Công ty Sông Thu, Công ty đóng tàu Hồng Hà, Nhà máy Z189 đã đóng được nhiều loại tàu, xuồng hiện đại phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang thị trường châu Âu, châu Mỹ. Nhiều nhà máy đã bứt phá mạnh mẽ với các sản phẩm quốc phòng mũi nhọn và sản phẩm phục vụ nhu cầu thị trường. Trong đó, Nhà máy Z176 đã và đang là “lá cờ đầu” trong việc sản xuất sản phẩm kinh tế xuất khẩu (hiện xuất khẩu chiếm hơn 80% tổng doanh thu), v.v. Những kết quả từ sự kết hợp đó đã góp phần trực tiếp tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước; đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước nhanh, bền vững.

Đó là những cơ sở để khẳng định tính tất yếu, khách quan phải kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng trong mọi giai đoạn phát triển, nhằm mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đó cũng là những minh chứng sống động bác bỏ những nhận thức và hành động đòi tách rời kinh tế với quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

ST.

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - giá trị hiện thực không thể phủ nhận

Thực hiện mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch tiến hành mọi thủ đoạn nhằm xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa cấp bách trước mắt, vừa thường xuyên, cơ bản, lâu dài.

Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của Cuộc cách mạng công nghiệp được thực hiện trước tiên ở nước Anh (vào cuối thế kỷ XVIII), đánh dấu bước chuyển biến từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản – một lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội. Cuộc đấu tranh đó đã đặt ra yêu cầu khách quan: phải có lý luận dẫn đường. Và, chủ nghĩa Mác ra đời để đáp ứng yêu cầu khách quan đó; đồng thời, chính thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản đã trở thành tiền đề thực tiễn cho sự khái quát và không ngừng bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chủ nghĩa Mác.

Gần hai thế kỷ kể từ khi C. Mác và Ph. Ăngghen đặt nền móng đầu tiên tại nước Đức, được V.I. Lênin kế tục và phát triển tại nước Nga, điều đó càng khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Bởi, nó không những chỉ ra bản chất bóc lột, phơi bày bản chất sâu xa, những mâu thuẫn cố hữu nhất tồn tại trong lòng chế độ tư bản - nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, mà còn dự báo chính xác xu hướng vận động của các hình thái kinh tế - xã hội để đi đến khẳng định tương lai của nhân loại là chế độ cộng sản chủ nghĩa. Đồng thời, vạch ra cho giai cấp vô sản phương pháp cách mạng để giải phóng giai cấp, đưa xã hội loài người tiến lên.

Ở Việt Nam, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều bị thất bại vì không có đường lối phù hợp. Điều đó đặt ra yêu cầu khách quan, cấp thiết là phải khắc phục sự khủng hoảng về đường lối cứu nước. Từ thực tiễn đó, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam; trong đó, tập trung trước hết vào việc thành lập một chính đảng để lãnh đạo cách mạng. Và ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời, đánh dấu một sự kiện đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam. Xuất phát từ điều kiện đặc thù của xã hội Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã giải quyết sáng tạo và thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ phong kiến, thực dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc. Thành tựu phát triển toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong thời kỳ đổi mới đã được Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó khẳng định tầm vóc, ý nghĩa, giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, nhằm thực hiện mưu đồ thay đổi đường hướng chính trị ở Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện, bằng mọi biện pháp, hòng phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin trong giai đoạn hiện nay; làm phai nhạt niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với mục đích cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi đời sống chính trị - tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng bằng các luận điệu xuyên tạc, công kích, chống phá rất đa dạng:

Về tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau để phủ nhận, xuyên tạc. Trước hết, họ phủ nhận tài năng kiệt xuất của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin; đồng thời, cho rằng: C. Mác và V.I. Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng; học thuyết Mác chỉ là sự sao chép sống sượng chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh và triết học cổ điển Đức; là sản phẩm lai tạo hỗn hợp mang tính chủ quan, áp đặt được tua lại nhiều lần. Đây là sự xuyên tạc vô căn cứ và có chủ đích của các thế lực thù địch. Cần thấy rằng, tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin được đúc rút, khái quát nhờ tài năng kiệt xuất của cả C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin trong thực tiễn hoạt động chính trị sôi động của các ông. Nhờ đó mà các ông đã  tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lý luận, xác lập một thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong xem xét và cải tạo hiện thực, từ đó xây dựng nên Học thuyết của mình. Nhìn vào thực tiễn lịch sử, nếu không có những bộ óc vĩ đại, với một thế giới quan khoa học, cách mạng thì không thể đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử.

Đối với những quan điểm, nguyên lý có tính chất nền tảng, là những phát kiến vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, họ tập trung xuyên tạc hòng hạ thấp, phủ nhận các nội dung: học thuyết hình thái kinh tế - xã hội; học thuyết giá trị thặng dư; học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Họ còn phê phán quan điểm của C.Mác về luận điểm đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội; cho rằng: những luận điểm này làm nghèo đi những hình thức tiến hóa của xã hội, khuyến khích hận thù, cổ vũ cho chiến tranh, độc quyền, độc đoán, mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp liên miên không phù hợp với xu thế của thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển, v.v. Các thế lực thù địch, phản động không chỉ tìm cách phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin về mặt lý luận mà dựa vào sự sụp đổ của mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (trong thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX), họ rêu rao: đó là do sự sai lầm của chủ nghĩa Mác – Lênin, cho nên đó là sự sụp đổ đã báo trước. Đây là thể hiện của nhận thức phiến diện, thiếu khách quan và khoa học trước sự vận động và phát triển của các mô hình xã hội. Nói về sự sụp đổ, tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, chúng ta coi đó là một tổn thất to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhưng không phải là tất yếu và càng không phải là sai lầm của học thuyết Mác. Nguyên nhân chính, trực tiếp, có tính quyết định dẫn đến sự tan rã đó là do những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ của Đảng Cộng sản cầm quyền, cùng sự phản bội của một số lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đúng như V.I. Lênin đã khẳng định: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”. Do đó, đây chỉ là sự sụp đổ một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể, không đồng nghĩa với “sự cáo chung của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội” như xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao.

Về vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam, họ dựa vào bối cảnh thời gian, không gian ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin để phủ nhậnxuyên tạc với luận điệu: chủ nghĩa Mác – Lênin không nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn đầy đủ, nó chỉ phù hợp với các nước châu Âu; trong khi đó, ở châu Á có sự phát triển kinh tế khác, có trình độ văn hóa, cùng phong tục, tập quán khác các nước châu Âu. Do vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin đối với Việt Nam chỉ là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống, văn hóa dân tộc, việc vận dụng vào Việt Nam là khiên cưỡng. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra những quy luật vận động chung của lịch sử loài người và các ông cũng đều nhấn mạnh việc vận dụng những quy luật chung ấy vào điều kiện cụ thể của mỗi nước cũng phải có những cải biến trong những vấn đề chi tiết cho phù hợp với đặc điểm của quốc gia, dân tộc. Bản thân các ông cũng không hề coi lý luận của mình là tối cao, tuyệt đỉnh, mà cần phải có sự bổ sung, phát triển, cụ thể hóa vào từng điều kiện lịch sử cụ thể: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Còn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: trong quá trình vận dụng những quy luật chung, những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác – Lênin, của chủ nghĩa cộng sản, phải chú ý đến đặc thù của dân tộc mình. Người khẳng định: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Do đó, việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là hoàn toàn phù hợp và đúng đắn.

Về vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, các thế lực thù địch cho rằng: chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời vào thế kỷ XIX trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước), nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí nên chỉ hợp với thời điểm đó, cùng lắm là thế kỷ XX, còn hiện nay loài người đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, thời đại “hậu công nghiệp”, kinh tế - xã hội có rất nhiều đổi thay, vì vậy hiện nay chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống tri thức thuộc ngành khoa học xã hội, khoa học nhân văn. Vì thế, nó mang đặc trưng tích lũy, kế thừa, chứ không mang đặc trưng thay thế như những tri thức thuộc ngành khoa học - kỹ thuật và công nghệ. Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ hiện đại ngày nay vốn không thể xóa bỏ được những mâu thuẫn cố hữu của chủ nghĩa tư bản là “bóc lột”; ngược lại, nó làm cho những mâu thuẫn đó càng thêm sâu sắc. Điều này được biểu hiện cụ thể trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại, như: mâu thuẫn giữa tư bản và người lao động vẫn tồn tại và gia tăng, khoảng cách giàu - nghèo mở rộng, phân phối của cải không công bằng, nạn thất nghiệp tăng lên, dẫn đến nhiều vấn đề xã hội trở nên trầm trọng, v.v. Điều đó càng chứng tỏ thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là đúng đắn và có ý nghĩa thời đại như thực tiễn đã và đang minh chứng: Cải cách chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc (từ năm 1978), đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) và các quá trình tương tự ở các nước xã hội chủ nghĩa khác được triển khai với các nguyên tắc đúng đắn; vừa toàn diện, đồng bộ; vừa có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, giải pháp phù hợp; vừa kiên định và sáng tạo, kế thừa và phát triển, gắn lý luận với thực tiễn, gắn quốc gia với thế giới. Nhờ vậy, Trung Quốc đã trở thành cường quốc có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới. Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; Cuba hiên ngang trước bao vây cấm vận, kiên định xây dựng quốc gia xã hội chủ nghĩa độc lập, có chủ quyền, dân chủ, thịnh vượng và bền vững; các nước xã hội chủ nghĩa khác đều có nhiều thành công trong xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội. Đây thật sự là một quá trình cải cách, đổi mới thành công cả về tư duy lý luận, nhận thức, tầm nhìn và thực tiễn, chủ trương, chính sách, khẳng định xung lực của chủ nghĩa xã hội trước mọi sóng cồn, gió cả của thời cuộc.

Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động sử dụng thủ đoạn tấn công trên nhiều phương diện. Họ xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh không có tư tưởng riêng, mà chỉ là ảo tưởng do Đảng Cộng sản nghĩ ra. Hơn thế, họ còn đưa ra luận điệu: tư tưởng Hồ Chí Minh không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay và cho rằng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến đấu tranh dân tộc, theo chủ nghĩa dân tộc nên chỉ có giá trị trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc chứ không có giá trị đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đây là sự xuyên tạc vô căn cứ, bởi tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử của Việt Nam, đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác – Lênin với giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Chủ nghĩa Mác – Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được chuyển hóa thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, sinh động, giàu tính thực tiễn, có giá trị dẫn đường cho thành công của cách mạng Việt Nam.

Thực hiện mưu đồ phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động tiến hành thủ đoạn vô cùng nham hiểm, đó là tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là một thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc, nhằm làm đứt gãy từng bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ biện luận rằng: chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ phù hợp với phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Điển hình là việc Hồ Chí Minh không bao giờ “bê nguyên xi” chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, mà đều có sự thay đổi. Do đó, các thế lực thù địch ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua chủ nghĩa Mác – Lênin” hay “chỉ cần chủ nghĩa Mác – Lênin là đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam”. Họ còn cho rằng: “chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Việc tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở để các thế lực thù địch, phản động tiến thêm một bước nữa đòi lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thay thế cho chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam. Từ đó, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam và cũng gián tiếp phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lênin ở bản chất khoa học và cách mạng, ở lý tưởng và mục tiêu nhân văn vì con người, vì giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lênin chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như những luận điệu của thế lực thù địch rêu rao. Có được điều đó là do chính Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu, kế thừa, phát triển lên tầm cao mới, vận dụng phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Giá trị và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với nhân loại nói chung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng là không thể phủ nhận. Do vậy, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu, nhiệm vụ tất yếu khách quan, đòi hỏi phải kết hợp giữa kiên định và phát triển; trung thành và vận dụng sáng tạo; giữa lý luận và thực tiễn; giữa tổng kết với bổ sung, phát triển; giữa bảo vệ và đấu tranh, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin luôn và mãi là nền tảng tư tưởng vững chắc của các đảng cộng sản cầm quyền, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam./.

ST.

Vạch trần thủ đoạn cắt rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin

Cắt rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác  Lênin là thủ đoạn chống phá tinh vi, rất thâm hiểm của các thế lực thù địch, nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, chúng ta phải luôn nêu cao cảnh giác, tích cực đấu tranh vạch trần sự sai trái của thủ đoạn này.

Xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt mà các thế lực thù địch ra sức thực hiện đối với cách mạng nước ta, nhằm làm biến chất Đảng ta, tiến tới xóa bỏ sự hiện diện và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

Để đạt được mục tiêu đó, một trong những thủ đoạn thâm độc mà họ thực hiện là cắt rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác  Lênin, bằng nhiều lý lẽ ngụy biện rất tinh vi, xảo quyệt. Một mặt, họ viện dẫn thực tiễn sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới vào cuối thế kỷ trước để tuyên bố: “Chủ nghĩa Mác  Lênin đã hết thời, cho nên không cần nhắc đến chủ nghĩa Mác  Lênin khi nói đến nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Mặt khác, họ đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác  Lênin, khi cho rằng: “Hồ Chí Minh theo chủ nghĩa dân tộc, nên tư tưởng Hồ Chí Minh không có mối liên hệ gì với chủ nghĩa Mác  Lênin”(!). Tinh vi, khôn khéo hơn, họ không ra mặt bác bỏ chủ nghĩa Mác  Lênin, nhưng ngụy biện rằng: “Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có tinh thần chủ nghĩa Mác  Lênin, nên trong nội hàm nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ cần nêu tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ”(!).

Cần khẳng định ngay rằng, các quan điểm nói trên rất nguy hiểm, dễ làm cho những người ít nghiên cứu lý luận chính trị ngộ nhận, cả tin, không hiểu thực chất đằng sau sự “tán dương tư tưởng Hồ Chí Minh” lại là âm mưu phủ nhận cả chủ nghĩa Mác  Lênin và cả tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh có thể thấy rõ những quan điểm nói trên là hoàn toàn sai trái, cần vạch trần, bác bỏ.

Trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc lý luận chủ yếu từ chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính chủ nghĩa Mác  Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để hình thành hệ thống quan điểm phong phú, toàn diện của Người về cách mạng Việt Nam. Nhìn lại quá trình đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh có thể thấy, khởi đầu với hành trang là lòng yêu nước và khát vọng giành độc lập cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vừa lao động, học tập và nghiên cứu lý luận, vừa trực tiếp tham gia các phong trào đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân và lao động ở nhiều nước để trau dồi kiến thức và xác lập tư tưởng chính trị. Trong quá trình đó, Người đã gặp chủ nghĩa Mác  Lênin và tìm thấy ở đây cái “cẩm nang thần kỳ” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Từ đó, Người đứng hẳn về Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp vào cuối năm 1920, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong hình thành tư tưởng chính trị của mình. Để chuẩn bị cho quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1927, Người viết tác phẩm “Đường kách mệnh”, trong đó khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Trong bài: “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến nguồn gốc lý luận tư tưởng của mình là chủ nghĩa Mác  Lênin. Người khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác  Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Những dữ liệu đó cho thấy, không thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không thể đặt tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngoài hệ tư tưởng Mác  Lênin. Nói cách khác, không thể tách tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc, nền tảng lý luận của nó là chủ nghĩa Mác  Lênin.

Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tại Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác  Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta”. Có thể thấy rất rõ, toàn bộ hệ thống quan điểm phong phú, toàn diện của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đều là kết quả sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác  Lênin vào điều kiện thực tiễn nước ta. Chính trên cơ sở nắm vững và quán triệt sâu sắc bản chất cốt lõi những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác  Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để tự tìm ra những chủ trương, giải pháp, đối sách phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, từng thời kỳ cụ thể của cách mạng Việt Nam; để hình thành nên hệ thống quan điểm phong phú, toàn diện về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Người không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở kinh điển của chủ nghĩa Mác  Lênin, mà tiếp thu lý luận Mác  Lênin theo phương pháp nhận thức mác xít; đồng thời, theo lối “đắc ý, vong ngôn”, tức là cốt nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất của chủ nghĩa Mác  Lênin, chứ không tự trói buộc trong cái vỏ ngôn từ; trên cơ sở đó vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, hình thành nên những quan điểm cơ bản về mục tiêu, lực lượng, động lực, phương pháp cách mạng,… của cách mạng Việt Nam. Điều đó hoàn toàn đúng với bản chất của chủ nghĩa Mác  Lênin và lời căn dặn hậu thế của các nhà sáng lập học thuyết này rằng: học thuyết của họ không phải là một cái gì đã “xong xuôi hẳn” và “nhất thành bất biến”, mà là một “hệ thống mở”. Hiểu rõ tinh thần đó, Hồ Chí Minh luôn tự mình quán triệt, thực hiện và yêu cầu: “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác  Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”; là “học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác  Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”. Chính trên tinh thần đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam dần được hoàn bị, phản ánh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác  Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Do vậy, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác  Lênin.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần bổ sung, làm phong phú và tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác – Lênin; do vậy, là dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác – Lênin. Nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam có thể thấy rất rõ Hồ Chí Minh không giáo điều khi tiếp thu lý luận Mác  Lênin, bởi theo Người: “Chủ nghĩa Mác  Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh”. Đứng vững trên lập trường, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác  Lênin, phân tích đặc điểm của thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ở xã hội Việt Nam và các nước phương Đông có những đặc điểm khác với các nước phương Tây mà thời C. Mác chưa có điều kiện nghiên cứu. Từ đó, Người đã nêu nhiều luận điểm sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam, như: luận điểm về mục tiêu của cách mạng Việt Nam phải là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; luận điểm về quy luật ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là sự kết hợp chủ nghĩa Mác  Lênin với phong trào công nhân, mà còn kết hợp với phong trào yêu nước. Theo đó, cơ sở xã hội của Đảng không chỉ là giai cấp công nhân, mà còn là toàn thể nhân dân lao động; Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân, mà đồng thời còn là của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đó còn là luận điểm về giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, mà theo đó, trong hoàn cảnh mất nước thì quyền lợi dân tộc được đặt lên trên quyền lợi giai cấp; giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng giai cấp. Vấn đề dân tộc và thuộc địa cũng là phần đóng góp rất quan trọng của Hồ Chí Minh vào chủ nghĩa Mác  Lênin. Người đã nêu luận điểm về vai trò chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, theo đó cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể thành công trước cách mạng vô sản ở “chính quốc”, góp phần thúc đẩy cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Những đóng góp quan trọng nói trên của Hồ Chí Minh, một mặt, thể hiện sự trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác  Lênin; mặt khác, góp phần làm phong phú, giàu thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác  Lênin; qua đó, tăng thêm sức sống cho học thuyết này. Chính vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh là dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác  Lênin trong dòng chảy văn hóa của nhân loại; không tách rời và không đối lập với chủ nghĩa Mác  Lênin như một số người xuyên tạc.

Từ những phân tích trên, khẳng định rằng: cả tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác  Lênin đều nằm trong nội hàm nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đòi hỏi vừa phải: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác  Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, vừa phải kiên quyết đấu tranh chống lại mọi mưu toan cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác  Lênin. Đó là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp thiết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

ST.

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số

Thời gian qua, bất chấp những thành quả vượt bậc trong thực hiện chính sách dân tộc nói chung, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, chống phá bằng nhiều thủ đoạn công khai, trực diện, hòng hạ thấp uy tín của Đảng. Đây là thủ đoạn không mới, nhưng rất nguy hiểm, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, nhất là của đồng bào các dân tộc thiểu số vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những thủ đoạn cơ bản, xuyên suốt mà các thế lực thù địch ra sức chống phá đối với cách mạng nước ta. Đây là vấn đề không mới, nhưng hết sức nguy hiểm, bởi nó đánh vào nền tảng sức mạnh tổng hợp của toàn dân và đất nước, làm suy yếu nước ta từ bên trong, tạo sự ly khai, cát cứ trên từng khu vực, địa bàn, nhất là trên các địa bàn chiến lược, gây sự bất ổn định về chính trị,... để dễ bề kêu gọi can thiệp từ bên ngoài.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng ra sức lợi dụng những khó khăn, bức xúc của đồng bào các dân tộc trong cuộc sống; lợi dụng những yếu kém trong quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở; đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng các phần tử cực đoan, bất mãn, cơ hội chính trị,... để xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận thành tựu công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước nói chung, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, bằng nhiều thủ đoạn ngày càng công khai và trực diện hơn. Gần đây, lợi dụng những khó khăn của đồng bào, nhất là ở những nơi bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, dịch bệnh,... chúng đẩy mạnh các luận điệu vu khống xuyên tạc, rằng: “Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”(!). Đây là sự vu khống, bịa đặt một cách trắng trợn, lố bịch, không thể chấp nhận được, cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, cần khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”. Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, trên cơ sở tiếp thu quan điểm về vai trò quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc; coi đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công của cách mạng. Người cho rằng, các dân tộc đều bình đẳng, tôn trọng, cùng nhau phát triển: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Kế thừa tư tưởng đó, trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng, nhất là thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác định, “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”. Quan điểm về sự bình đẳng giữa các dân tộc còn được thể hiện nhất quán trong Hiến pháp của Nhà nước ta. Điều 5, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định rõ: “1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Nhằm làm cơ sở cho thực hiện tốt chính sách dân tộc, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành nghị quyết riêng (Nghị quyết số 24 ngày 12/3/2003) về Công tác dân tộc. Cùng với đó, Quốc hội đã ban hành các luật khung và luật chuyên ngành nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền cũng như chính sách hỗ trợ phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số. Riêng từ năm 2010 đến nay, Chính phủ đã xây dựng, ban hành 118 văn bản chính sách; 54 đề án, chính sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó có các nhóm chính sách: về giảm nghèo bền vững; giáo dục, đào tạo; y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số, miền núi và nhóm chính sách, cơ chế đặc thù về truyền thông và tuyên truyền vận động, phổ biến giáo dục pháp luật, v.v. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1719/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Điều đó thể hiện sự nhất quán, quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với đồng bào dân tộc thiểu số, không có sự phân biệt đối xử như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Thành tựu về thực hiện chính sách dân tộc của Việt Nam là không thể phủ nhận. Theo đó, công tác phát triển giáo dục, đào tạo vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có những tiến bộ; chất lượng và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Với chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, những năm qua, quy mô, mạng lưới trường, lớp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được học tập, ăn ở tại trường. Triển khai Đề án củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, đã có nhiều lớp học, phòng phục vụ học tập được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới. Hiện nay, đã có 316 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố, với 109.245 học sinh, trong đó, có khoảng 40% số trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục của các trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được nâng lên qua từng năm học. Trường phổ thông dân tộc bán trú đã được thành lập ở 28 tỉnh, với quy mô 1.097 trường và 185.671 học sinh. Tỷ lệ học sinh bán trú hoàn thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp trung học cơ sở đạt 92%. Có 15,2% số trường phổ thông dân tộc bán trú được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, tình hình kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng trong giai đoạn 2011 - 2015, Nhà nước đã đầu tư khoảng 135.000 tỉ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước3) giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng dân tộc thiểu số và miền núi khá cao, giai đoạn 2016 - 2018 đạt bình quân 07% và tăng dần hằng năm. Đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hằng năm, bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 04%/năm; riêng các xã đặc biệt khó khăn, giảm trên 04%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm 05% - 06%/năm trở lên. Giai đoạn 2015 - 2019, đã có 08/64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của chính phủ thoát nghèo; 14/30 huyện nghèo hưởng cơ chế theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của chính phủ thoát khỏi tình trạng khó khăn; 124/2.139 xã, 1.322/20.176 thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đầu tư của Chương trình 135. Từ năm 2013 - 2020, bộ mặt nông thôn cả nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng được đổi thay rõ rệt; thu nhập và điều kiện sống của người dân được cải thiện và nâng cao. Đồng thời, Chính phủ tập trung xây dựng hàng vạn công trình hạ tầng cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chủ yếu là đường giao thông, nhất là đường giao thông đến trung tâm các xã hầu hết được đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng; hệ thống điện, thủy lợi, cầu dân sinh, cầu treo, các công trình nước sạch, trường, lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa, mạng lưới chợ, tạo thuận lợi có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều trường, lớp học, trạm y tế xã được xây dựng mới, kiên cố hóa; trang thiết bị thiết yếu phục vụ dạy và học, khám chữa bệnh được đầu tư mới. Đến nay, 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; 100% xã có trường tiểu học và trung học cơ sở, 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,3 % xã có trạm y tế; 65,8% số xã và 76,7% số thôn có nhà văn hóa hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng.

Trái với luận điệu của các thế lực thù địch là “các dân tộc thiểu số đang bị đồng hóa, phân biệt đối xử vì khác biệt văn hóa,...”, trên thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng đến công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc. Để thực hiện chủ trương này, ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1270/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” với nội dung tập trung ưu tiên bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số rất ít người. Nhờ đó, văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn vinh, từng bước được bảo tồn, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện, mức hưởng thụ văn hóa được nâng cao. Các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, như: không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Thánh địa Mỹ Sơn, Cao nguyên đá Đồng Văn,... được bảo tồn, tôn vinh, được công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Hiện nay, hầu hết các xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình; Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các đài phát thanh, truyền hình địa phương đều có các chương trình bằng tiếng dân tộc, phù hợp với từng vùng, miền. Cùng với đó, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được tôn trọng. Nhà nước có nhiều chính sách bảo tồn, sử dụng và phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, như: quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn giáo trình dạy 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số; cả nước có hơn 30 tỉnh, hơn 600 trường tổ chức dạy, với hàng trăm nghìn học sinh theo học tiếng dân tộc. Đặc biệt, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhìn chung ổn định, đúng pháp luật; quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo; đa số người dân theo các tôn giáo sống tốt đời đẹp đạo, tuân thủ pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Có thể khẳng định rằng, với hệ thống chính sách dân tộc được hoàn thiện, trên thực tế các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được bình đẳng về chính trị, văn hóa truyền thống được bảo tồn; chữ viết, tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào được tôn trọng, các quyền của công dân được bảo đảm, đã làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện. Đồng bào tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, là những minh chứng hùng hồn phản bác lại luận điệu xuyên tạc, vu khống về cái gọi là “đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”(!) của các thế lực thù địch./.

ST.

Phải chăng “không liên kết với nước này để chống nước kia” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?

“Không liên kết với nước này để chống nước kia” là chủ trương nhất quán trong chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam. Đây cũng là vấn đề mà thời gian qua, các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc, chống phá. Vì thế, cùng với luận giải một cách khoa học, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu phi lý đó, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Hòa bình và tự vệ là những thành tố cốt lõi trong bản chất chính sách quốc phòng của nước ta. Để thực hiện chính sách quốc phòng đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường, ngày càng hiện đại để bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống; trong đó, “không liên kết với nước này để chống nước kia” là quan điểm nhất quán, xuyên suốt. Song, các thế lực thù địch và một số người cố tình lại không thấy điều đó. Họ cho rằng, với chủ trương như vậy “là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”; “một khi đã tuyên bố rõ ràng như vậy, chúng ta sẽ khó kiếm được đồng minh” và “làm mất đi con bài mặc cả quan trọng của Việt Nam với cả Mỹ và Trung Quốc”. Theo họ, không liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia “là không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi”. Họ còn khuyến nghị Đảng, Nhà nước ta nên liên minh quân sự, phải liên kết với nước này thì mới kiềm chế, đối phó được với nước kia để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Vậy, thực chất của những luận điệu này là như thế nào? Những phân tích dưới đây sẽ góp phần làm rõ vấn đề trên.

Có phải xu thế thời đại hiện nay là liên kết với nước này để chống nước khác?

Thời đại hiện nay được hiểu là giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917; là “thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”. Xét về bản chất, toàn cầu hóa là: quá trình tăng lên mạnh mẽ các mối liên hệ, sự ảnh hưởng lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các quốc gia, các khu vực trên thế giới. Toàn cầu hóa từ một xu thế, trong vài năm gần đây đã trở thành một quá trình hiện thực trong sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Song hành và đối ngược với xu thế toàn cầu hóa là phong trào chống toàn cầu hóa (nội dung cốt lõi là chống lại mặt trái của toàn cầu hóa). Hai nhóm người ủng hộ và không ủng hộ toàn cầu hóa này đấu tranh với nhau, mà căn nguyên chính là những bất đồng về lợi ích của quá trình toàn cầu hóa đem lại cho mỗi nhóm. Cuộc đấu tranh này chính là nhằm phân chia lại lợi ích của các lực lượng trong quá trình toàn cầu hóa. Trong cuộc đấu tranh đó, tất yếu có sự liên kết tự nhiên của những lực lượng, những nhóm người có cùng lợi ích, chủ yếu ở góc độ kinh tế. Nó không phải là liên minh, liên kết quân sự giữa các quốc gia với nhau hay giữa quân đội của các quốc gia với nhau, càng không phải là liên minh với nước này để chống lại nước kia và ngược lại. Sự liên kết (tập hợp) lực lượng ở đây rất đa dạng, thậm chí ngay trong nội bộ mỗi nước, dù là nước nhỏ hay siêu cường, cũng đều vấp phải cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng này khi phải quyết định lựa chọn xu hướng phát triển cho đất nước mình. Cuộc đấu tranh này chi phối từ dân thường đến các cấp lãnh đạo của mỗi quốc gia. Cho nên, nói rằng không liên kết với nước này để chống nước kia “là đi ngược lại xu thế của thời đại” là cách hiểu phiến diện, không đầy đủ, không đúng về bản chất của toàn cầu hóa và chống toàn cầu hóa, không nắm được bản chất, xu thế và quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người trong giai đoạn hiện nay là hợp tác cùng phát triển trên phạm vi khu vực và toàn cầu.

Ở một góc nhìn khác có thể thấy, hiện nay, thế giới bước vào một giai đoạn phát triển mới mà ở đó: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế”. Chính trong bối cảnh ấy, nếu như Việt Nam liên minh quân sự, liên kết với nước nào, nhất là liên kết với nước lớn, để chống nước khác mới là không thực tế và rất nguy hiểm (!).

Có phải không liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia “là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?”

Trước hết, cần phải thống nhất rằng: liên minh quân sự không đồng nhất với quan hệ hợp tác quốc tế về quân sự, quốc phòng. Khi tham gia liên minh, các nước sẽ nằm trong một khối quân sự chung, với những mục tiêu cụ thể, dùng các biện pháp quân sự để tranh giành lợi ích, chống đối thủ chung. Các nước trong liên minh sẽ phải đặt dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của một quốc gia, thường là nước lớn và tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, cho dù không hoàn toàn phù hợp với mình. Chính điều này đã tạo ra sự ràng buộc giữa các nước, làm cho mỗi nước không còn độc lập, tự chủ về những vấn đề của đất nước mình.

Thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ, Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự, nhưng chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh. Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng, an ninh với tất cả các nước trong khu vực, trao đổi thông tin tình hình, hợp tác tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển (Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Thái Lan, Việt Nam - Trung Quốc,…); hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, mua bán người và ma túy, v.v. Việt Nam đang tham gia vào các sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác quốc phòng, an ninh trong Cộng đồng ASEAN, như: hợp tác công nghiệp quốc phòng; sử dụng nguồn lực và khả năng quân đội các nước khu vực trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa; xác định các biện pháp khả thi cũng như cơ chế tăng cường hợp tác giữa các tổ chức quốc phòng ASEAN. Trong khuôn khổ hợp tác, hằng năm, Việt Nam tham gia đầy đủ các hội nghị, như: Người đứng đầu Quân đội ASEAN (ACDFIM), Tư lệnh Lục quân ASEAN (ACAMM), Tư lệnh Hải quân ASEAN (ANCM), Tư lệnh Không quân ASEAN (AACC) và Hội nghị không chính thức những người đứng đầu tình báo quốc phòng các nước ASEAN (AMIIM). Hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương của Việt Nam đã góp phần tích cực vào giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; củng cố và duy trì hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho thực hiện nhiệm vụ trung tâm phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; góp phần nâng cao vị thế và uy tín của đất nước, Quân đội.

Mặt khác, trên bình diện quan hệ quốc tế, Việt Nam hiện là thành viên của Phong trào Không liên kết, cho nên chủ trương không liên kết với nước này để chống nước kia là phù hợp với mục tiêu và nguyên tắc của tổ chức quốc tế này. Phong trào Không liên kết được thành lập năm 1961, đến nay có 120 nước thành viên, 17 nước quan sát viên, là tổ chức có số lượng thành viên lớn thứ hai thế giới sau Liên hợp quốc. Không liên kết là một tập hợp lực lượng của các nước đang phát triển, với mục tiêu chính là thúc đẩy lợi ích của các nước đang phát triển; đóng góp vào duy trì hòa bình, độc lập dân tộc; chung sống hòa bình giữa các quốc gia và chung tay xây dựng một thế giới tốt đẹp, công bằng cho mọi người dân. Việt Nam chính thức tham gia Phong trào Không liên kết năm 1976, từ đó đến nay luôn hoạt động tích cực, có nhiều đóng góp đối với Phong trào vì các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và phát triển. Những năm qua, Việt Nam luôn coi việc tham gia Phong trào là chủ trương nhất quán, một bộ phận của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, bổ sung cho quan hệ song phương, khu vực và quốc tế của mình; sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việt Nam luôn đóng góp vào việc giữ vững các nguyên tắc của Phong trào, tăng cường đoàn kết để cùng nhau phấn đấu vì những mục tiêu cao cả của Phong trào, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng bình đẳng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các quốc gia và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.

Như vậy, trong điều kiện hòa bình hiện nay, không liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước khác không phải là “tự trói buộc mình”. Trái lại, nó có tác dụng “cởi trói” cho chúng ta cả trong tư duy và hành động để chúng ta có thể suy nghĩ và hành động một cách độc lập, sáng tạo và không bị chi phối, áp đặt bởi yếu tố bên ngoài, tức không bị “người khác trói mình”. Đồng thời, nó cũng không gây ra những nguy cơ tiềm ẩn, nhất là trong chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc như một số người lầm tưởng, mà ngược lại, còn giúp cho Việt Nam bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc của mình một cách vững chắc hơn. Và dĩ nhiên, một chủ trương đúng đắn và đang phát huy hiệu quả như thế thì hà cớ gì chúng ta phải thay đổi.

Có phải chủ trương không liên kết với nước này để chống nước kia khiến “chúng ta sẽ khó kiếm được đồng minh” và “làm mất đi con bài mặc cả quan trọng của Việt Nam với nước lớn”?

Nếu chúng ta chủ trương liên kết với nước này để chống nước kia sẽ đưa đến một tình huống nguy hiểm là “phải chọn bên”. Chúng ta sẽ buộc phải chọn đồng minh, để liên minh, liên kết nhằm chống lại nước khác và việc dẫn đến những tình huống cực kỳ nguy hiểm là khó tránh khỏi. Ở đây không có sự ảo tưởng dành cho nước nhỏ có quyền “mặc cả” với các nước lớn trong vấn đề này. Thực tế tình hình thế giới những năm vừa qua cũng như gần đây, đặc biệt là diễn biến các cuộc xung đột quân sự hiện nay đã cho thấy rõ điều này. Cái giá phải trả là vô cùng đắt như chúng ta đã thấy. Vận mệnh của đất nước, tương lai của dân tộc, cuộc sống của nhân dân không thể và không bao giờ có thể là “con bài” trong canh bạc chính trị của kẻ khác! Lối tư duy “đỏ đen” đầy may rủi không thể là tư duy chính trị mà Việt Nam theo đuổi. Việc thực hiện nguyên tắc “không liên kết với nước này để chống nước khác” trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khu vực hiện nay. Nếu Việt Nam liên minh với bên ngoài, ưu tiên dùng biện pháp quân sự để giải quyết các tranh chấp, bất đồng thì sẽ khó được các nước khác ủng hộ.

Mới đây (ngày 11/5/2022), phát biểu tại Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Hoa Kỳ (CSIS), Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định: “Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, cùng thắng”.

Với trường phái “Ngoại giao cây tre”, kết hợp hài hòa giữa gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nói đến, và với sự: biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”, chúng ta sẽ có đủ trí tuệ và bản lĩnh để xử lý đúng đắn và hiệu quả mọi thử thách, khó khăn, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, mà không nhất thiết phải liên kết với nước này để chống nước kia. Chúng ta có thể chọn bạn, nhưng dứt khoát “không chọn bên” một cách cực đoan. Trong quan hệ với các nước, quan điểm của chúng ta là rất rõ ràng: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác”, vì lợi ích của người dân, vì hòa bình và phát triển của khu vực cũng như trên toàn thế giới.

Như vậy có thể thấy, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Những luận điệu công kích của các thế lực thù địch, thực chất nhằm chống phá đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Với việc không liên kết với nước này để chống nước kia, Việt Nam luôn thể hiện là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Và đây cũng là thành tựu đóng góp để “đối ngoại tiếp tục là một điểm sáng trong những thành tựu chung của cả nước”, góp phần tạo dựng môi trường thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế./.

ST.