Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

 CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG CÁC VỤ VIỆC ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Vừa qua, trên trang voatiengviet đã đăng tài bài viết với tiêu đề "Nhìn lại 10 sự kiện tin tức nổi bật ở Việt Nam trong năm 2024". Các thế lực thù địch, phản động vừa tung tin, vừa ra sức xuyên tạc và kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, hòng gây ra sự bất ổn trong xã hội Việt Nam. 

Các sự kiện gần đây như hành trình đi bộ của ông Thích Minh Tuệ hay các vụ bắt giữ, xử lý các đối tượng phản động đã bị các thế lực thù địch lợi dụng để tấn công chính quyền, xuyên tạc các chính sách của Nhà nước. Các tổ chức phản động, các đối tượng chống đối trong và ngoài nước đã không ngừng lợi dụng các vấn đề này để tuyên truyền thông tin sai lệch về tình hình tự do tôn giáo, quyền con người tại Việt Nam. Họ tuyên bố rằng chính quyền Việt Nam đang đàn áp tôn giáo, làm giảm quyền tự do của người dân. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Chính quyền đã khẳng định rõ ràng về việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân, nhưng những đối tượng phản động đã lợi dụng những sự kiện này để vu khống, khiến một số người hoang mang, mất niềm tin vào hệ thống chính trị. 

Một trong những phương thức chống phá mà các thế lực thù địch sử dụng là tạo ra sự hoài nghi và chia rẽ trong xã hội. Việc kêu gọi chống lại chính quyền, làm suy yếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thường xuyên được thể hiện qua các thông điệp trên mạng xã hội. Những thông tin sai lệch này có thể gây nên sự chia rẽ giữa các tầng lớp xã hội, tạo ra những làn sóng phản đối vô căn cứ. Do đó, chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vì Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, luôn kiên định với các mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ sự ổn định chính trị. Cùng với đó, chúng ta cần định hướng cho người dân luôn tin tưởng vào các phương tiện truyền thông chính thống của Nhà nước, các cơ quan báo chí, để có những thông tin chính xác và đầy đủ về các vấn đề đang diễn ra trong xã hội. Các phương tiện thông tin chính thống luôn phản ánh sự thật khách quan, không bị tác động bởi các thế lực bên ngoài, đảm bảo cung cấp những thông tin chính xác giúp người dân có cái nhìn đúng đắn về các sự kiện và vấn đề trong xã hội.

Cảnh giác với những âm mưu của các thế lực thù địch cũng là một điều hết sức quan trọng. Các thế lực phản động luôn tìm cách kích động sự chia rẽ giữa các thành phần trong xã hội, tạo ra một môi trường bất ổn để dễ dàng thực hiện âm mưu của họ. Các tổ chức phản động này không từ bỏ bất kỳ cơ hội nào để triển khai các chiến dịch "cách mạng màu", kích động bạo loạn, biểu tình, chống đối chính quyền. Những cuộc tẩy chay hay biểu tình bị xúi giục có thể được kích động từ những sự kiện, các vấn đề xã hội đang được dư luận quan tâm. Mục tiêu của họ là phá vỡ sự ổn định chính trị của Việt Nam, gây ra sự mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn tinh thần đoàn kết dân tộc. Chính vì vậy, người dân cần phải tỉnh táo, không để bị lôi kéo, lợi dụng bởi những luận điệu phản động, không tham gia vào các cuộc biểu tình bất hợp pháp, và đặc biệt phải giữ vững niềm tin vào Đảng, Nhà nước.

Chúng ta cũng cần nâng cao nhận thức về các mối nguy hại từ các thế lực thù địch thông qua các kênh tuyên truyền, giáo dục. Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích rõ ràng về các chủ trương, chính sách, giải thích về các sự kiện, và công khai thông tin chính thức từ các cơ quan có thẩm quyền để người dân có thể phân biệt được giữa sự thật và các thông tin sai lệch. Những thông tin này phải được cung cấp đầy đủ, kịp thời và dễ hiểu, để người dân có thể tự bảo vệ mình khỏi những luận điệu xuyên tạc, đồng thời nâng cao ý thức cảnh giác trong cộng đồng.

Ngoài ra, chính quyền cũng cần tăng cường quản lý các thông tin trên mạng xã hội, vì đây là kênh dễ bị lợi dụng nhất để phát tán thông tin sai lệch. Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp ngăn chặn, xử lý những đối tượng tung tin đồn, thông tin xuyên tạc, gây ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết, ổn định chính trị của xã hội. Người dân cũng cần phải cẩn trọng trong việc chia sẻ thông tin, đặc biệt là trên các nền tảng mạng xã hội, và chỉ tin tưởng vào những nguồn thông tin chính thống từ Nhà nước.

Trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn, việc bảo vệ sự ổn định chính trị và bảo vệ niềm tin vào Đảnh, Nhà nước là vô cùng quan trọng. Chúng ta cần phải kiên định, đoàn kết và giữ vững niềm tin vào Đảng và Nhà nước, vì chỉ có sự tin tưởng vào Đảng, vào các phương tiện thông tin chính thống và sự tỉnh táo trong việc nhận diện các âm mưu của các thế lực thù địch, chúng ta mới có thể vượt qua mọi thử thách, giữ vững sự ổn định và tiếp tục xây dựng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.



 Đảng đã cho ta những mùa  xuân đầy ước vọng! 

Trong suốt chiều dài lịch sử, hình ảnh mùa Xuân không chỉ là sự chuyển mình của đất trời mà còn là biểu tượng của sự đổi mới, của những khát vọng to lớn được khơi lên. Và nếu lịch sử Việt Nam là một bản trường ca, thì Đảng Cộng sản Việt Nam chính là người nhạc trưởng đã dẫn dắt cả dân tộc vươn tới những mùa Xuân rạng ngời, đong đầy ước vọng.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa Xuân năm 1930, đất nước ta đang chìm trong bóng tối của ách đô hộ thực dân. Những phong trào yêu nước tuy sục sôi nhưng thiếu sự dẫn dắt thống nhất, khiến cho các cuộc khởi nghĩa dù anh dũng nhưng đều thất bại. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự sáng lập và lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thắp lên ánh sáng soi đường, dẫn dắt nhân dân ta đến bến bờ độc lập.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là minh chứng cho tài năng lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Đảng. Từ một quốc gia thuộc địa, Việt Nam đã tự mình đứng lên, lật đổ chế độ thực dân phong kiến và tuyên bố độc lập. Thắng lợi này không chỉ là sự kiện trọng đại của dân tộc mà còn là nguồn cảm hứng cho các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Ngày 2-9-1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, không chỉ là một thời khắc lịch sử mà còn là mùa Xuân rực rỡ của cả dân tộc.

Không dừng lại ở đó, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những thử thách lớn lao của lịch sử. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một dấu son chói lọi, khẳng định sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường. Và đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc hơn 20 năm chiến tranh khốc liệt, thống nhất đất nước và đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.

Nếu những năm tháng đấu tranh giành độc lập là mùa Xuân của tinh thần yêu nước và khát vọng tự do, thì công cuộc Đổi mới (bắt đầu từ năm 1986) là mùa Xuân của sự sáng tạo, đổi mới và hội nhập. Sau chiến tranh, đất nước phải đối mặt với vô vàn khó khăn, từ nền kinh tế kiệt quệ đến những thách thức trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Chính trong bối cảnh đó, Đảng đã đưa ra quyết sách lịch sử - khởi xướng công cuộc Đổi mới, mở ra một trang mới cho đất nước.

Đổi mới không chỉ đơn thuần là cải cách kinh tế mà còn là cuộc cách mạng toàn diện về tư duy và phương pháp lãnh đạo. Dưới ánh sáng của Đổi mới, Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu đã từng bước vươn lên trở thành một nền kinh tế đang phát triển. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân và mở rộng quan hệ quốc tế là minh chứng rõ nét cho sự thành công của đường lối này.

Trong gần bốn thập kỷ qua, Đổi mới đã giúp Việt Nam đạt được những bước tiến dài trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt, sự hội nhập quốc tế sâu rộng đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đảng không chỉ dẫn dắt nhân dân vượt qua nghèo đói mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào một tương lai tốt đẹp hơn.

Niềm tin của nhân dân vào Đảng không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của cả một quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh và cống hiến. Đảng đã chứng minh vai trò lãnh đạo không chỉ trong những thời điểm lịch sử cam go mà còn trong việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong thời đại ngày nay, khi thế giới đối mặt với nhiều biến động khó lường, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng lại càng thể hiện rõ giá trị. Từ việc ứng phó với đại dịch Covid-19 đến những quyết sách kinh tế, xã hội quan trọng, Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Những thành tựu mà Việt Nam đạt được không chỉ là kết quả của sự nỗ lực chung mà còn là minh chứng cho sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng.

Đặc biệt, tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là ngọn lửa thắp sáng những mùa Xuân mới. Đó là mùa Xuân của niềm tin, của khát vọng đưa đất nước ngày càng phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Dưới ánh sáng của Đảng, dân tộc Việt Nam đã đi qua nhiều mùa Xuân lịch sử. Nhưng những mùa Xuân ấy không chỉ là đích đến mà còn là nền tảng để chúng ta vươn tới những tầm cao mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn nhưng cũng không ít thách thức.

Để hiện thực hóa khát vọng phát triển, Đảng đã đề ra những chiến lược dài hạn, từ việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển khoa học - công nghệ đến xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Những mục tiêu như “không để ai bị bỏ lại phía sau” hay “phát triển bền vững”... chính là lời cam kết mạnh mẽ của Đảng đối với nhân dân.

Hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển chung. Đảng đã trao cho chúng ta niềm tin và hy vọng, trách nhiệm của chúng ta là biến niềm tin ấy thành hành động cụ thể, để mùa Xuân hôm nay mãi mãi rạng ngời.

Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng - mùa Xuân của độc lập, tự do, của đổi mới và phát triển. Mỗi mùa Xuân đi qua đều để lại những dấu ấn sâu sắc, là minh chứng cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta không khỏi tự hào về những thành tựu vĩ đại mà Đảng và nhân dân đã đạt được. Hành trình phía trước còn dài, với nhiều cơ hội và thách thức đang chờ đón. Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng, nhưng mùa Xuân ấy sẽ chỉ mãi tươi đẹp nếu chúng ta tiếp tục đoàn kết, nỗ lực và sáng tạo. Hãy cùng nhau biến mùa Xuân hôm nay thành bệ phóng cho những mùa Xuân rực rỡ hơn trong tương lai, để Việt Nam mãi mãi là một quốc gia độc lập, tự cường và phát triển bền vững./.




Phải chăng muốn bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải liên minh quân sự với một cường quốc

“Không liên minh quân sự” là quan điểm và chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Song, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn dùng mọi thủ đoạn, chiêu trò để hướng lái dư luận, hòng chống phá quan điểm đó, nhất là trong tình hình hiện nay.

Họ cho rằng “Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”. Theo họ: Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là nguy cấp, vì sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”; vì vậy, Việt Nam cần liên minh quân sự với một nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh thì sẽ được hỗ trợ tối đa về mọi mặt để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Rồi họ kết luận, chính sách “không liên minh quân sự” chẳng những không giữ được đất nước trước xâm lược, mà cũng không giữ nổi chế độ, nó còn làm Đảng ta “mất cả chì lẫn chài” (ám chỉ Đảng ta sẽ mất cả quyền lãnh đạo). Thậm chí, họ không ngại chỉ ra rằng: “Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ sớm ngày nào thì nguy cơ tiếp tục mất đảo, mất quyền chủ quyền trên Biển Đông cũng như nguy cơ hứng chịu một cuộc chiến tranh trên biển lẫn đất liền bị đẩy lùi sớm ngày ấy” (!?).

Những lý lẽ trên là hoàn toàn không phù hợp với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chúng ta có thể phân tích vấn đề này trên những khía cạnh sau đây:

Một là, chủ quyền quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao không thể phó thác cho bên ngoài, dù đó là ai. Trong quan hệ quốc tế hiện nay, các quốc gia đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là những lợi ích cốt lõi như: độc lập, chủ quyền, chế độ xã hội,… trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi, thì việc các nước giúp nhau bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc không hề đơn giản. Cốt vật chất để gắn kết các liên minh chính là lợi ích chung và phần lợi ích của mỗi bên thành viên trong liên minh nhận được. Những liên minh “thần thánh” đều là giả tưởng trong đầu óc của những nhà huyễn tưởng, không có chỗ đứng trong thực tiễn chính trị - quân sự sống động, phức tạp và thực dụng hiện nay. Việc một nước nhỏ muốn liên minh quân sự với một cường quốc (nước lớn) nhằm mục đích bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, vậy lợi ích của cường quốc sẽ là gì trong sự liên minh này? Xưa nay không ai cho không ai bao giờ; cái gì cũng có giá của nó. Cái giá ở đây là nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng trước khi có thể tránh được những nguy cơ đó, thì cái giá phải trả hiện hữu và có thật, đó là: nước nhỏ phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc mình với cường quốc liên minh. Đó là vốn liếng, tài sản “thế chấp” để nhận được những “cam kết” bảo vệ an ninh từ đồng minh. Đó cũng là “luật chơi” không thể khác trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ở đây nước nhỏ đã đem lợi ích thực tế để đánh đổi lấy khả năng bảo vệ an ninh. Một khả năng mà khi muốn hiện thực hóa nó bao giờ cũng gắn với những điều kiện “đính kèm” cần và đủ từ phía các đồng minh nước lớn. Đối với mọi quốc gia, lãnh thổ đất nước luôn đóng vai trò là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của quốc gia, có giá trị thiêng liêng và bất biến. Đối với Việt Nam, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa,… là lợi ích cốt lõi, tối cao và thiêng liêng, đã biết bao thế hệ hy sinh xương máu để giành được. Vì vậy, vấn đề độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thể phó thác cho bất cứ ai, mà phải do người Việt Nam tự quyết định. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”.

Hai là, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh. Thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy, không phải cứ liên minh với một cường quốc quân sự là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước trong liên minh, nhất là đối với các nước nhỏ. Cũng như hầu hết các quốc gia, các cường quốc đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc của họ và vì lợi ích “đại cục” mà họ theo đuổi, họ sẽ xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và triết lý ưu tiên lợi ích “trước hết”, “trên hết”, “cốt lõi” của họ. Trong nhiều trường hợp như vậy, không ít đồng minh của các cường quốc đã phải “lãnh đủ” hậu quả: từ sự “lạnh nhạt”, “ngó lơ”, “làm ngơ” đến “bỏ rơi”, thậm chí “phản bội” đồng minh để bắt tay với kẻ thù của cường quốc đồng minh. Điều này cho thấy một thực tế lịch sử, trên thế giới chưa bao giờ một nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác.

Đối với Việt Nam, ngay trong điều kiện hai cuộc kháng chiến cực kỳ tàn khốc, ác liệt, gian khổ và kéo dài, tuy nhận được sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế, song Việt Nam vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự với cường quốc. Đó là bài học lớn được rút ra từ công cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Việc Việt Nam - Lào - Campuchia cùng thành lập liên minh nhân dân (13/3/1951) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai, giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước, làm cho nhân dân ba nước được tự do, hạnh phúc và tiến bộ, là đòi hỏi từ thực tiễn, yêu cầu khách quan tình hình cách mạng 03 nước Đông Dương. Đây là liên minh mang tính tự vệ, chính nghĩa với vai trò như một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm lúc đó. Mặc dù vậy, mỗi nước đều nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ về đường lối, tổ chức thực hiện của mình. Điều đó lần nữa khẳng định, để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia - dân tộc, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kể cả thời bình lẫn thời chiến, phải luôn nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài.

Ba là, không phải vì sức mạnh quốc phòng của ta “quá yếu” và “lạc hậu” nên phải liên minh quân sự với nước ngoài. Nếu cho rằng chỉ vì ta yếu và lạc hậu mới cần đến liên minh vậy khi ta mạnh và hiện đại có cần liên minh không? Vì thực tế cho thấy, không ít trường hợp nước lớn vẫn chủ động liên minh với nước nhỏ đấy thôi, và cũng có trường hợp nước nhỏ khước từ liên minh với nước lớn. Vậy phải lý giải thế nào cho thỏa đáng vấn đề này? Như chúng ta biết, mấu chốt của liên minh quân sự không hoàn toàn bắt nguồn từ sức mạnh quân sự yếu hay mạnh mà từ lợi ích và quan điểm của mỗi bên tham gia liên minh. Hơn nữa, cho rằng sức mạnh quân sự của ta yếu và lạc hậu là không hoàn toàn đúng với thực tế. Theo bảng xếp hạng Chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web Global Firepower (Hỏa lực toàn cầu - GFP), dựa vào 55 chỉ số (ngoại trừ vũ khí hạt nhân), chủ yếu là dân số, diện tích, số lượng vũ khí, ngân sách quốc phòng, nguồn nhân lực, giao thông, việc tiếp cận các tài sản chiến lược, nguồn nhiên liệu, và điều kiện kinh tế hiện tại, thì Việt Nam không phải là nước có sức mạnh quân sự yếu.

Mặt khác, sức mạnh quân sự của một quốc gia không chỉ đánh giá bằng sức mạnh quân sự thuần túy, mà bao giờ cũng được đặt trong mối quan hệ với sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó. Đối với Việt Nam, sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện; sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc bao gồm: sức mạnh vật chất và tinh thần, sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại bắt nguồn từ sức mạnh của con người Việt Nam không ngừng được nâng cao, thế và lực của đất nước được nâng lên một tầm cao mới. Chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững và tăng cường, ngày càng phát huy tính ưu việt, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được giữ vững và phát huy. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Nhờ đó, tạo ra vận hội mới, tạo bệ phóng vững chắc để đưa nước ta vươn lên những đỉnh cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, trên bình diện sức mạnh quân sự, cũng như trên bình diện sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sức mạnh của Việt Nam không phải là “quá yếu” và “lạc hậu” như những kẻ ác ý, hay yếu bóng vía rêu rao. Trái lại, chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định và tin tưởng vào sức mạnh của đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, mà không nhất thiết phải liên minh quân sự với nước ngoài.

Bốn là, thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường; và thực hiện thắng lợi đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ đối ngoại. Lịch sử chiến tranh của Việt Nam đã khẳng định, chính việc phát huy sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường mới là yếu tố quyết định tạo ra nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và tay sai trong thế kỷ XX đã khẳng định: nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn chính là nhờ thực hiện đường lối quân sự độc lập, tự chủ, gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang. Ngày nay, việc xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường kết hợp với mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh là bảo đảm vững chắc cho bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Từ thực tiễn đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”.

Cùng với đó, thực hiện đường lối dối ngoại “đa phương hóa, đa dạng hóa, đến nay, Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác; có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam3. Quan hệ hợp tác quốc phòng được nhiều nước đối tác coi là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hợp tác với Việt Nam. Qua đó, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế; củng cố và phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Như vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự là đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Thực hiện chủ trương này là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

ST.

Đấu tranh, bác bỏ luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng

Tự phê bình và phê bình là đặc trưng của Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, một nguyên tắc trong sinh hoạt, hoạt động của Đảng, là nhu cầu nội tại của tổ chức đảng và đảng viên; đồng thời, là quy luật phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy, đề cao cảnh giác, nhận diện rõ và chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

1. Viện dẫn vào những hạn chế trong tiến hành tự phê bình và phê bình ở một số cấp ủy, tổ chức đảng; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao rằng: tự phê bình và phê bình trong Đảng thực chất chỉ nhằm “thổi phồng ưu điểm”, “che giấu khuyết điểm”, cốt yếu để “tâng bốc”, “bợ đỡ” và “lấy lòng nhau” mà thôi (!) Thực chất đây là những luận điệu có ý đồ chính trị xấu, hoặc chí ít cũng là không đúng tầm, không đầy đủ, không chính xác, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, xem xét, đánh giá, nhận định phiến diện, cố tình xuyên tạc, phủ nhận mục đích, bản chất nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng ta.

Thời gian qua, trước yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) toàn Đảng tiến hành cuộc tự phê bình và phê bình được triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, bài bản, từ Trung ương đến cơ sở, từ trong cấp ủy đến mọi cán bộ, đảng viên, đạt được nhiều kết quả tích cực, “…đã góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, được nhân dân đồng tình, ủng hộ”. Tuy nhiên, ở một số cấp ủy, tổ chức đảng trong phê bình vẫn còn hiện tượng nể nang, né tránh, tâm lý ngại va chạm, nhất là phê bình cấp trên. Cá biệt, còn hiện tượng thiên về phê bình, coi nhẹ tự phê bình hoặc tự phê bình nhưng chỉ tập trung phân tích, luận giải những ưu điểm, kết quả, thành tích, chưa nói thẳng, nói thật, nói hết, còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận. Ở một số nơi còn hiện tượng lợi dụng phê bình để chỉ trích, phê phán với động cơ, cách làm không trong sáng, v.v. Những hiện tượng này chỉ là thiểu số, không phản ánh về bản chất, mục đích, ý nghĩa chính trị và nhân văn của tự phê bình và phê bình, càng không thể là cái cớ, là lý do để các thế lực phủ nhận những kết quả của hoạt động tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng các cấp trong thời gian qua.

Trên thực tế, với tinh thần cầu thị và thẳng thắn, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng luôn được chuẩn bị và tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ và thận trọng; những ưu điểm, thành tích được phân tích làm rõ; những hạn chế, khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, của đảng viên từ Trung ương đến cơ sở, ở các tổ chức đảng trong các ngành, các lĩnh vực đã được chỉ ra. Các trường hợp sai phạm bị kiểm điểm, kết luận rõ ràng, xử lý nghiêm minh, không bao che, không có “vùng cấm”,… được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến tháng 3/2021, thông qua hoạt động tự phê bình và phê bình, kiểm tra, giám sát, toàn Đảng “đã kiểm tra gần 265.000 tổ chức đảng và trên 1,1 triệu đảng viên. Trong đó, đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và gần 70.000 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng, 229 đảng viên”. Đó là minh chứng khẳng định: luận điệu xuyên tạc cho rằng tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện nay chỉ nhằm “thổi phồng ưu điểm”, “cốt lấy lòng nhau”, “tung hô”, “bợ đỡ nhau” là hoàn toàn sai trái.

2. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc rằng: hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng trên thực tế là những cuộc “hạ bệ”, “thanh trừng”, “đấu đá nội bộ” không thương tiếc giữa các cá nhân bất đồng chính kiến, giữa các nhóm lợi ích trong nội bộ Đảng dù đã được thỏa hiệp nhưng không thể dung hòa. Trước hết, cần khẳng định rõ đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động, phản khoa học. Bởi, hoạt động tự phê bình và phê bình luôn diễn ra trong một tổ chức đảng nhất định, được tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc, công khai, minh bạch trên cơ sở các nguyên tắc, nhất là nguyên tắc tính đảng, vì mục tiêu lý tưởng, vì sự nghiệp, lợi ích chung, hoàn toàn trong sáng, vô tư, không bè phái, cục bộ, không bản vị cá nhân.

Vấn đề cốt yếu để phân biệt giữa hoạt động tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng với hoạt động “hạ bệ”, “triệt tiêu”, “thanh trừng” lẫn nhau giữa các cá nhân, nhóm lợi ích, đảng phái, tổ chức khác trong xã hội chính là mục đích của hoạt động này. Ở đây, cần thấy rõ rằng, tự phê bình và phê bình trong Đảng nhằm chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế và hướng khắc phục nhằm hướng đến sự phát triển, tiến bộ, trưởng thành của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đảng và sự vững mạnh của toàn Đảng, vì mục tiêu chung, lợi ích chung trong sáng. Qua đó, làm cho đội ngũ đảng viên ngày càng tiến bộ trưởng thành, tổ chức đảng thêm đoàn kết, thống nhất, ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hơn nữa, hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng thường diễn ra dưới các hình thức và phương pháp công khai, minh bạch, dân chủ trên tình thương yêu đồng chí, đồng đội. Tự phê bình và phê bình luôn có tình thương yêu của con người với con người; và chính tình yêu thương của đồng chí, đồng đội đã tiếp thêm sức mạnh cho những cán bộ, đảng viên sau những vấp ngã, những sai lầm hay khuyết điểm để vươn lên trong cuộc sống, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và tổ chức giao phó. Bởi vậy, khi phê bình đồng chí mình không có thái độ công kích, đao to, búa lớn, thiếu tôn trọng nhân cách dẫn đến mặc cảm, xa lánh, tự ti. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “... phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”. Do vậy, không ai, không thể và không bao giờ có thể xuyên tạc, vu khống, phủ nhận nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản Việt Nam.

3. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ra sức rêu rao: tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi thường được tiến hành theo kế hoạch, theo định hướng, chỉ đạo bị động từ cấp trên, mang tính đối phó “dĩ hòa vi quý”; rằng, về cơ bản khi sinh hoạt, kiểm điểm, biểu quyết, xin ý kiến đều có tình trạng “nhất trí cao”, “đồng thuận xuôi chiều”, v.v.

Những biểu hiện “hình thức”, “dĩ hòa vi quý” trong tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng trong thời gian qua là có thật, nhưng chỉ mang tính chất cá biệt, không điển hình và không phải là đa số, phổ biến. Những hiện tượng đó không phản ánh bản chất hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng, mà bản chất tự phê bình và phê bình trong Đảng phải có tính nguyên tắc, tính giáo dục, thuyết phục, khách quan, trung thực, chân thành, công khai, cụ thể, thiết thực và kịp thời. Các quy trình, nhiệm vụ, nội dung của hoạt động tự phê bình và phê bình đều được chuẩn bị và tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ, có nền nếp, bảo đảm các nguyên tắc, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Với tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), chỉ rõ: “tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao”4. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “có nơi còn buông lỏng sinh hoạt đảng, chất lượng sinh hoạt chưa cao, sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi vẫn còn hình thức; tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu”5. Đây là những minh chứng cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thẳng thắn, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật những hạn chế, tồn tại trong hoạt động tự phê bình và phê bình, trên cơ sở đó đề ra giải pháp thực hiện tốt hơn nguyên tắc, hoạt động tự phê bình và phê bình. Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng, nó vừa mang tính cách mạng, khoa học, vừa mang tính nhân văn, thúc đẩy con người vươn tới sự hoàn thiện. Đồng thời, xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình để đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên; thực hiện đúng phương châm, phương pháp, nêu cao vai trò gương mẫu của người đứng đầu; thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình, làm cho hoạt động này ngày càng thực chất, góp phần ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng ta thật là đạo đức, văn minh, là cơ sở bác bỏ mọi xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng./.

ST.

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

Với chủ đích phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị phát tán nhiều tài liệu xuyên tạc, cho rằng Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là “lạc đường”, đi ngược lại sự phát triển của nhân loại, v.v. Đó là luận điểm phi lý, không có cơ sở khoa học và thực tiễn, cần đẩy mạnh đấu tranh, bác bỏ.

Có thể khẳng định rằng, Đảng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn khách quan, khoa học, trên cơ sở “ý Đảng” - “lòng dân”, phù hợp với thực tế đất nước và xu thế của thời đại. Song, với các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại coi đó là nguy cơ đe dọa sự tồn tại của ý tưởng tôn sùng chủ nghĩa tư bản. Họ tập trung công kích, bài xích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng đó chỉ là một lý thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được; rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường sai, không thể có chủ nghĩa xã hội! Chủ nghĩa xã hội là học thuyết “lạc đường”, đi ngược lại sự phát triển của nhân loại!, v.v. Tuy nhiên, thực tiễn đã minh chứng, dù chúng có dùng trăm phương ngàn kế chống phá, song con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là khát vọng và tương lai của xã hội loài người, của dân tộc ta, bởi đó là quy luật tiến hóa của lịch sử; việc lựa chọn con đường phát triển đất nước của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, khoa học.

Về mặt lý luận

Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự kế thừa có chọn lọc tư tưởng tiến bộ nhân loại về sự phát triển của tự nhiên và xã hội loài người; sự tổng kết thực tiễn phong trào công nhân; nó chỉ rõ quy luật phát triển của xã hội loài người; vạch ra con đường, biện pháp đập tan sự thống trị của giai cấp tư sản; chỉ đường cho giai cấp vô sản đấu tranh tự giải phóng mình, xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp - xã hội xã hội chủ nghĩa; trở thành kim chỉ nam chỉ đạo nhận thức và hành động của các đảng cộng sản, phong trào công nhân quốc tế.

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, sự phát triển của xã hội loài người là sự phát triển có quy luật, quá trình lịch sử - tự nhiên, sự thay thế, tiếp nối các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp tới cao, mà nguyên nhân sâu xa quy định tiến trình phát triển ấy là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mà đỉnh điểm của nó là mâu thuẫn nội tại không thể điều hòa giữa hai nhân tố này, dẫn đến cuộc cách mạng xã hội thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ bằng hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn. Theo đó, sự vận động, phát triển tất yếu từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đây là quy luật khách quan trong quá trình tiến hóa của xã hội loài người mà Mác và các cộng sự của ông đã phát kiến ra, chứ không phải là sự áp đặt chủ quan, phiến diện, một chiều. Cùng với quá trình đó, nhà nước phục vụ cho giai cấp thống trị trong chế độ tư bản chủ nghĩa được thay thế bằng nhà nước chuyên chính vô sản của giai cấp công nhân, quản lý xã hội và phục vụ cho quyền lợi của mọi công dân theo mục tiêu tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội; con người được giải phóng một cách toàn diện, thủ tiêu mọi áp bức bóc lột.

Cần nói thêm rằng, về cơ bản, sự phát triển xã hội loài người là tiến trình lịch sử tự nhiên, tuần tự từ thấp lên cao. Song, tùy theo điều kiện lịch sử, hoàn cảnh của mỗi nước mà có thể bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội nào đó nếu điều kiện cho phép. Ví như, từ chế độ phong kiến bỏ qua chế độ tư bản tiến thẳng lên chế độ xã hội chủ nghĩa thông qua thời kỳ quá độ lâu dài (như ở Việt Nam). Đó là cả một sự nghiệp vĩ đại, đòi hỏi có thời gian, với một quá trình lao động sáng tạo để làm ra cơ sở vật chất cho đời sống xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, phải có chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, có bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao, đường lối, chiến lược phát triển đúng đắn, dựa trên nền tảng tư tưởng vững chắc, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Về thực tiễn, chủ nghĩa xã hội là tương lai của nhân loại

Mặc dù đang trong giai đoạn hết sức khó khăn, song, chủ nghĩa xã hội vẫn là khát vọng, lý tưởng, mục tiêu tốt đẹp mà loài người đang hướng tới. Bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội đã được thực tiễn kiểm nghiệm là giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế với thực hiện công bằng, an sinh, bình đẳng xã hội, hạn chế đến mức thấp nhất, tiến tới không có người bóc lột người, tạo điều kiện tốt nhất cho người dân được thụ hưởng thành tựu của quá trình xây dựng, phát triển.

Hiện nay, do tự điều chỉnh chủ nghĩa tư bản có sự phát triển nhất định, được các thế lực thù địch khuyếch trương, ra sức ca ngợi chế độ này là văn minh, “đỉnh cao” của xã hội loài người; giai cấp tư sản là giai cấp trung tâm của thời đại, có vai trò lịch sử trong tiến trình phát triển của nhân loại! Một số người nhìn vào điều kiện vật chất, trình độ phát triển của các nước tư bản nhờ thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và hàng chục năm hòa bình xây dựng, không bị tàn phá bởi chiến tranh mà đã vội vàng công kích chủ nghĩa xã hội, tung hô chủ nghĩa tư bản! Bề nổi thì vậy, song, xét về bản chất, thuộc tính cố hữu của chủ nghĩa tư bản là: bóc lột giá trị thặng dư, lợi nhuận, bất bình đẳng, phân biệt giàu nghèo, chiến tranh,… là những thứ cần kiên quyết đấu tranh, xóa bỏ.

Bên cạnh đó, sự tồn tại, phát triển mạnh mẽ của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước có xu hướng, nguyện vọng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là thực tiễn sinh động minh chứng chủ nghĩa xã hội sẽ là tương lai của nhân loại. Với Trung Quốc, nhờ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của các nhà lãnh đạo tiền bối, kiên trì và phát triển chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, với mục tiêu xây dựng thành công cường quốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, tươi đẹp; lấy nhân dân làm trung tâm, coi mong muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”, Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc đạt những thành tựu to lớn, trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới. Đối với Cuba, luôn là tâm điểm chống phá, bao vây, cấm vận hết sức khốc liệt của các thế lực thù địch, đời sống kinh tế vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Song, với bản lĩnh của những người chiến sĩ cộng sản và một tinh thần, quyết tâm đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba, nhân dân Cuba đã đứng lên làm cuộc cách mạng, thực hiện công cuộc đổi mới, thực thi chính sách đối ngoại năng động để phát triển kinh tế, xây dựng đất nước nhằm “thỏa mãn nhu cầu, ngày càng nâng cao về vật chất và tinh thần của nhân dân lao động”, nhất là về giáo dục và y tế. Theo đó, Cuba luôn dành ưu tiên cho chính sách an sinh xã hội thông qua việc phát triển các ngành y tế, giáo dục, thể thao, trở thành điểm sáng trong khu vực và trên thế giới. Trên con đường phát triển theo định hướng đã lựa chọn còn nhiều khó khăn phía trước, nhất là sự công kích, chống phá của các thế lực thù địch, nhưng đặc trưng ưu việt của chủ nghĩa xã hội đã và đang hiện hữu trên hòn đảo tự do, tươi đẹp. Điều đó cho thấy, sức sống của chủ nghĩa xã hội mãi mãi trường tồn cùng thời gian, không có thế lực nào có thể ngăn cản được.

Chủ nghĩa xã hội hiện thực trên đất nước Việt Nam

Chúng ta biết, những năm đầu thế kỷ XX, Đảng ta và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối. Vì thế, ngay khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930), trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định đường lối chiến lược cơ bản của cách mạng Việt Nam là, làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đây là một định hướng chính trị hết sức quan trọng, phương châm hành động để Đảng ta lãnh đạo nhân dân trong tiến trình cách mạng. Để đường lối đó trở thành hiện thực, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã không quản gian khổ, hy sinh đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, thu giang sơn về một mối, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Như vậy, dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng và Nhân dân ta dứt khoát lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sự nghiên cứu, vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam.

Từ ngày ra đời đến nay, nhất là qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù các thế lực thù địch ra sức công kích chủ nghĩa xã hội, khuyếch trương cho cái gọi là “lối sống tốt đẹp của phương Tây”, đòi “đa nguyên, đa đảng”, song Đảng và Nhân dân ta vẫn kiên định con đường, mục tiêu đã lựa chọn với quyết tâm chính trị cao; lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Sự nghiệp đổi mới được tiến hành toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, với những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Quan điểm lấy “dân làm gốc” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” luôn được quán triệt sâu sắc; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng; công tác cán bộ thực sự là “then chốt của then chốt”. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, đạt kết quả nổi bật, ngày càng đi vào chiều sâu, “xây” đi liền “chống”. Thể chế phát triển được ưu tiên xây dựng đồng bộ, bảo đảm hài hòa giữa kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, con người, giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội; quốc phòng - an ninh luôn được củng cố, tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả, v.v. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện; chế độ an sinh, công bằng xã hội được thực hiện hài hòa với quá trình phát triển; thế và lực của đất nước, sức mạnh tổng hợp, uy tín của quốc gia không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội ngày càng được thể hiện sinh động, rõ nét trên đất nước Việt Nam. Cả về lý luận và thực tiễn đã minh chứng sự lựa chọn đó là hoàn toàn đúng đắn chứ đâu phải theo một học thuyết “lạc đường” như các thế lực thù địch đang công kích. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng trong chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Thủ đoạn bôi nhọ cán bộ - chiêu trò “rượu cũ” nhưng “bình mới” của các thế lực thù địch

Xưa nay, nói xấu, bôi nhọ người khác bị coi là hành động của “kẻ tiểu nhân”, nhưng lại là thủ đoạn được các thế lực chống phá Việt Nam rất ưa chuộng. Mục đích của họ nhằm hạ uy tín cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ nội bộ, tạo thị phi trong xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân. Đây là chiêu trò “rượu cũ” nhưng “bình mới” rất nguy hiểm, cần sớm nhận diện và đấu tranh loại bỏ.

“Rượu cũ”

Tung ra những thông tin bịa đặt, xuyên tạc nhằm nói xấu, bôi nhọ quan chức, “đối thủ” để chống phá, ly gián, làm cho nội bộ đối phương suy yếu, nghi kỵ lẫn nhau là một trong những thủ đoạn chống phá hết sức thâm độc, được sử dụng trên thế giới từ rất lâu. Hiện nay, những người thực hiện thủ đoạn này được đào tạo khá bài bản, cộng thêm sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật nên việc thực hiện nó ngày càng phổ biến và tinh vi hơn. Không thể khuất phục cách mạng Việt Nam bằng vũ lực, các thế lực thù địch chuyển sang chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá trên tất cả các mặt của đời sống xã hội nước ta. Ở lĩnh vực chính trị tư tưởng, việc nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của cán bộ, đảng viên đã và đang được các thế lực thù địch coi là trọng điểm chống phá, tiến hành chủ động, liên tục, vừa tinh vi, vừa trắng trợn, xảo quyệt; từ bôi đen lịch sử, phủ nhận sự đóng góp của các lão thành cách mạng, những người có công với cách mạng đến bôi nhọ, nói xấu cán bộ đương chức. Dạng thức phổ biến là: xuyên tạc, bịa đặt về thành phần xuất thân, những việc làm trong quá khứ; xúc phạm đời tư, cuộc sống gia đình, gán ghép các mối quan hệ của cán bộ trong xã hội, thậm chí lấy vấn đề sức khỏe của những cán bộ cấp cao để đơm đặt, suy diễn tình hình chính trị đất nước, v.v. Để tăng hiệu quả, các thế lực thù địch thườngtung thông tin bội nhọ cán bộ vào những thời điểm nhạy cảm về chính trị, như: những sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; trước, trong và sau dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn; đại hội Đảng, bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, v.v. Bản chất vẫn là những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm hạ uy tín của cá nhân, gây mất đoàn kết, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gây hoang mang dư luận, nghi ngờ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để chúng thực hiện các mưu đồ chống phá. Hiện tượng một cá nhân xấu, sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, công chức được chúng đánh đồng thành bản chất chế độ xã hội, bản chất của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

“Bình mới”

Thủ đoạn nói xấu, bôi nhọ cán bộ, đảng viên đã được các thế lực thù địch thực hiện để chống phá cách mạng nước ta từ lâu. Tuy nhiên, lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, internet, mạng xã hội, thủ đoạn này đã được bao phủ rộng hơn; cách thức tiến hành được che đậy bởi chiếc “bình mới” tinh vi hơn. Nếu như trước đây, nội dung nói xấu, bôi nhọ cán bộ thường chủ yếu được thêu dệt từ những câu chuyện, sự việc, hành động của cán bộ ở hiện tại, thì hiện nay, trong thế giới vạn vật kết nối này, việc tìm chủ đề để đặt điều, thêu dệt nên những câu chuyện nói xấu, bôi nhọ cán bộ dường như là công việc quá dễ dàng cho những kẻ có “chuyên môn” tọc mạch. Họ bới móc tất tần tật, từ quá khứ đến hiện tại chuyện đời tư, quan hệ xã hội, tác phong, năng lực công tác,… của cán bộ, đảng viên; thậm chí, chỉ một hành động, một câu nói nào đó của cán bộ cũng bị chúng phân tích, mổ xẻ, xuyên tạc ở nhiều góc độ để thêu dệt thành những câu chuyện thị phi rùm beng. Trước đây, đối tượng được họ hướng đến để tấn công thường là cán bộ cao cấp hoặc cán bộ thường xuyên trực tiếp tiếp xúc với nhân dân; nhưng hiện nay mọi cán bộ, đảng viên đều không loại trừ một ai.

Chúng tận dụng tối đa internet, không gian mạng để việc nói xấu càng tăng thêm hiệu ứng xã hội. Không những lan truyền nhanh, len lỏi vào từng ngõ ngách, xóa nhòa mọi khoảng cách, mà còn gây nên sự nghi kỵ không giới hạn. Cách thức bôi nhọ và tung ra những thông tin bịa đặt cũng được các thế lực chống phá tiến hành rất đa dạng, tinh vi. Họ thường đào bới, cắt ghép, xâu chuỗi, thêu dệt, tạo dựng những câu chuyện xuyên tạc các vấn đề thuộc về lý lịch, quá khứ xuất thân, trình độ học vấn,… của cán bộ. Để đạt mục đích, các thế lực chống phá không từ một thủ đoạn nào; trong đó, có sử dụng công nghệ “trí tuệ nhân tạo” để giả tạo hình ảnh, video, clip bôi nhọ cán bộ rồi tung lên các nền tảng mạng xã hội. Thậm chí, họ còn dàn dựng những “cạm bẫy” nhằm kích động, làm cho nhiều cán bộ mất kiềm chế trong những tình huống cụ thể để tổ chức quay phim, chụp hình rồi cắt ghép, chỉnh sửa, thêu dệt thành những câu chuyện gây bức xúc cho dư luận.

Trong xã hội, chuyện thị phi vốn luôn thu hút sự tò mò, hiếu kỳ. Nhưng khi được đưa vào không gian mạng, xã hội ảo, sự tò mò, hiếu kỳ tăng lên gấp bội bởi những thủ thuật thêm thắt, bóp méo, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch. Hơn thế nữa, họ còn rất thạo các cách thức để thổi phồng sự việc để thu hút người theo dõi, tạo điểm nóng trong dư luận. Từ một hành động nhỏ chưa phù hợp của một cán bộ, họ có thể vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về đạo đức, lối sống, về nghệ thuật xã giao, văn hóa công vụ,… của cả một cơ quan, đơn vị, của Đảng, thậm chí của xã hội rồi đem so sánh với các nước khác, bất chấp tính khập khiễng của phép so sánh ấy. Nguy hiểm hơn, để hướng dư luận theo mưu đồ của mình, họ chặn hoặc loại bỏ những bình luận trái chiều, gây tâm lý hoang mang cho cả những người có chính kiến.

Tỉnh táo để nhận biết phải - trái, đúng - sai

Phải khẳng định rằng, các thế lực dù có tinh vi đến đâu, thủ đoạn thế nào, thì bản chất vẫn không thay đổi, cũng chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Mục đích của họ là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, cán bộ, đảng viên cần tỉnh táo, nhận rõ phải – trái, đúng - sai. Cổ nhân có câu: “Nhân vô thập toàn”, nghĩa là chẳng ai mười phần toàn vẹn cả mười. Công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội không thể tránh khỏi những thiếu sót, vấp váp, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý. Trong đội ngũ đông đảo cán bộ, đảng viên cũng sẽ không tránh khỏi việc có những người mắc phải những khuyết điểm, thiết sót, sai lầm. Để hạn chế điều đó, Đảng, Nhà nước ta đã có những “hàng rào” quy định, luật pháp với những chế tài mạnh mẽ để quản lý, giáo dục, răn đe, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Mỗi cán bộ, đảng viên ai cũng đều phải trải qua quá trình phấn đấu rèn luyện để đạt được những tiêu chí, tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực nhất định. Mỗi cơ quan, đơn vị đều có những nội quy, quy định, tiêu chuẩn văn hóa cơ quan, công sở để cán bộ, đảng viên chấp hành. Những biểu hiện cụ thể của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta thẳng thắn chỉ ra ở Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); các quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm; cả hệ thống chính trị và nhân dân ta đang đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,… là những nỗ lực của Đảng, Nhà nước nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Trong thực tiễn đã có hàng nghìn cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, rơi vào vòng lao lý; trong đó, có cả cán bộ cao cấp. Nhưng đó chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”; không thể đánh đồng những hiện tượng đó với bản chất của Đảng, của chế độ. Sự trong sạch, tinh thần làm việc hết mình vì dân, vì nước của đại bộ phận cán bộ, đảng viên, của lãnh đạo Đảng, Nhà nước được nhân dân ghi nhận, là minh chứng bác bỏ mọi xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đảng, Nhà nước ta cần lắm những ý kiến phản biện chân thành, góp ý xây dựng, đúng pháp luật để phê bình, lên án, tố cáo những thói hư, tật xấu của cán bộ, đảng viên, làm cơ sở để làm trong sạch nội bộ Đảng, bộ máy Nhà nước. Nhưng cũng kiên quyết xử lý nghiêm những kẻ lợi dụng phản biện xã hội, nhân danh “người dân” để đặt điều, vu khống, xuyên tạc, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm người khác. Ở nước ta, Hiến pháp và pháp luật có nhiều điều khoản bảo vệ quyền con người, bảo vệ danh dự, uy tín, bí mật cá nhân, gia đình, nghiêm cấm các hành vi bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ, xâm phạm các quyền này của con người. Tại Điều 21, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình”. Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật Tố tụng hình sự (năm 2015) đã quy định việc áp dụng những chế tài xử phạt cụ thể đối với tội vu khống, bịa đặt hoặc loan truyền những điều sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Khi phạm vào tội này, tùy theo mức độ, tính chất của việc vu khống mà cá nhân hoặc tổ chức phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng hoặc bị phạt tù lên đến 07 năm, nhất là đối với việc phạm tội “vì động cơ đê hèn”. Điều 117 của Luật này còn quy định rõ hơn: “Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 đến 12 năm: làm, tàng trữ, phát tán, hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền; làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 10 đến 20 năm”. Không chỉ pháp luật của Việt Nam, mà quốc tế cũng có luật, điều luật bảo vệ quyền riêng tư, cá nhân của mỗi người. Điều 17, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) quy định về quyền được bảo vệ đời tư, khẳng định: không ai bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm đến đời tư.

Như vậy, luật pháp quốc tế và Việt Nam đã đưa ra những quy định, chế tài để xử lý đích đáng những tổ chức, cá nhân có hành vi xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ người khác vì những mục đích xấu xa, đê hèn. Tuy nhiên, đằng sau những hành vi “tiểu nhân” ấy luôn là những mưu đồ chính trị thâm độc của các thế lực chống phá cách mạng nước ta, khiến chúng bất chấp tất cả. Điều đó, đòi hỏi mỗi người phải tỉnh táo, nhận diện đúng bản chất, không tiếp tay và tích cực đấu tranh để loại bỏ chúng ra khỏi đời sống xã hội./.

ST.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân” - sự suy thoái rất nguy hại đối với cán bộ, đảng viên

Trong quá trình giáo dục, rèn luyện và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo: “chủ nghĩa cá nhân” là một trong những căn bệnh nguy hại, nhất là khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền. Theo Người, do cá nhân chủ nghĩa mà cán bộ, đảng viên phạm nhiều sai lầm, làm hại đến Đảng, Nhà nước, dân tộc, nhân dân và cách mạng. Do đó, “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng” vừa “chuyên”, suốt đời cống hiến, hy sinh vì lý tưởng cao đẹp, vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Thực tiễn cho thấy, thắng lợi của cách mạng Việt Nam có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng. Song, nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng bị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Đảng. Trong đó, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” - một trong các biểu hiện, căn nguyên làm “hư hỏng” đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm suy yếu bản chất cách mạng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Sa vào chủ nghĩa cá nhân là sa vào lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, khi suy nghĩ, hành động hoặc làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể; đối lập với chủ nghĩa tập thể và đạo đức cách mạng. “Sa vào chủ nghĩa cá nhân” là quá trình người cán bộ, đảng viên từng bước suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có những suy nghĩ, hành vi trái với đạo đức cách mạng, xa rời mục tiêu lý tưởng cách mạng, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên; thậm chí phản bội lại lợi ích quốc gia - dân tộc. Hay nói cách khác, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” là hiện tượng “tha hóa” về phẩm chất đạo đức và nhân cách của người cán bộ, đảng viên; nó không chỉ có hại đến từng cá nhân mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng hiện nay. Tính chất nguy hại của hiện tượng “sa vào chủ nghĩa cá nhân” có thể nhìn nhận ở một số giác độ, như:

Chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm” - kẻ thù trong lòng mỗi người cán bộ, đảng viên. Chúng ta biết, để trở thành người cán bộ, đảng viên và phát huy vai trò lãnh đạo của mình trước quần chúng, thì mỗi người phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện công phu về mọi mặt cả về phẩm chất, năng lực và để giữ vững bản chất người cách mạng, cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng, rèn luyện suốt cuộc đời “cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Tuy nhiên, nếu không giữ được đạo đức cách mạng, sẽ dễ “sa vào chủ nghĩa cá nhân” và nếu điều đó xảy ra, thì người cán bộ, đảng viên ấy đã nhiễm một loại “vi rút rất độc”; từ đó đẻ ra hàng trăm thứ bệnh từ tham lam, lười biếng đến bè phái, cục bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, phai nhạt lý tưởng, v.v. Như thế, người cán bộ, đảng viên ấy không còn đủ tư cách “người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Trên thực tế, đã có “Một bộ phận cán bộ, đảng viên,… chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân” làm cho Đảng suy yếu từ bên trong cả về tư tưởng chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Điều này diễn ra như một tất yếu, bởi lẽ, Đảng ta được ví như cơ thể sống, trong đó mỗi đảng viên là một tế bào của cơ thể ấy, mỗi tế bào khỏe mạnh thì Đảng sẽ khỏe mạnh, ngược lại, mỗi tế bào mà mang mầm bệnh - “chủ nghĩa cá nhân”, thì cơ thể Đảng sẽ yếu, kém. Nếu trong cơ thể của Đảng mà có nhiều “tế bào hư hỏng”, thì sớm hay muộn Đảng sẽ mục ruỗng từ bên trong, thoái hóa, biến chất, mất vai trò lãnh đạo.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân”, tạo lực cản lớn của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Đảng lãnh đạo cách mạng bằng đường lối, chủ trương và thông qua vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng; niềm tin của nhân dân đối với Đảng đều xuất phát từ niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó, khi “sa vào chủ nghĩa cá nhân”, người cán bộ, đảng viên sẽ không còn được nhân dân tin tưởng, ủng hộ; uy tín và hiệu quả lãnh đạo giảm sút; đồng thời, trở thành “cái cớ” để các thế lực thù địch, phản động móc nối, lợi dụng chống phá.

Có thể khẳng định rằng, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” là một trong những biểu hiện suy thoái rất nguy hại đối với cán bộ, đảng viên và ảnh hưởng sâu sắc đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để đấu tranh, loại bỏ, quét sạch nó trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, thường xuyên giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sa vào chủ nghĩa cá nhân là quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, mà quá trình đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do nhận thức không đúng đắn, đầy đủ về đạo đức cách mạng, về tính chất nguy hại của chủ nghĩa cá nhân; bản lĩnh chính trị không kiên định, vững vàng. Trên thực tế, đã có những cán bộ, đảng viên quá trình phấn đấu rất tốt, được bổ nhiệm giữ những cương vị, trọng trách cao trong Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị; nhưng do “sa vào chủ nghĩa cá nhân” dẫn đến suy thoái, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, phải xử lý kỷ luật. Do vậy, thường xuyên giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị là giải pháp hàng đầu, giúp cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc hơn về vai trò là gốc của đạo đức cách mạng đối với quá trình tu dưỡng, rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ của mình. Theo đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tăng cường tự học tập, nghiên cứu nâng cao nhận thức về lý luận chính trị, đạo đức cách mạng; thấy rõ những biểu hiện và tính chất nguy hại của chủ nghĩa cá nhân đối với quá trình tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên và công tác xây dựng Đảng. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện của tổ chức với tự giáo dục, rèn luyện của từng cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hằng ngày, từ đó giữ vững bản lĩnh chính trị, mục tiêu lý tưởng cách mạng, không “sa vào chủ nghĩa nghĩa cá nhân”.

Hai lànêu cao tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là “kẻ thù bên trong”, “thứ vi trùng rất độc” nằm trong tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên, nên phải có thái độ kiên quyết đấu tranh, loại bỏ mới có thể quét sạch nó trong mỗi con người. Trong khi đó, tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén nhằm gột rửa chủ nghĩa cá nhân và là vấn đề có tính quy luật trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, lấy tự phê bình làm chính để rửa sạch những “vết bẩn, căn bệnh” nằm ở chính trong bản thân mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tự phê bình và phê bình; phải tự phê bình thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày”, “tự soi”, “tự sửa” từ suy nghĩ, hành động, lời nói, việc làm; phải kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong chính bản thân mình, trong tổ chức và đồng chí, đồng đội. Muốn vậy, phải nêu cao tính chiến đấu trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”, “mũ ni che tai”; kiên quyết phê bình, đấu tranh loại bỏ những biểu hiện “sa vào chủ nghĩa cá nhân”, nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng; kiên quyết đấu tranh làm vô hiệu hóa thủ đoạn lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm chống phá Đảng của các thế lực thù địch.

Ba làđề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp rất quan trọng, có ý nghĩa trực tiếp khắc phục những biểu hiện “sa vào chủ nghĩa cá nhân” của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, nêu gương là một trong những phương pháp rất quan trọng trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”3. Muốn nêu gương về đạo đức, người cán bộ, đảng viên phải tạo được động lực bên trong, không “sa vào chủ nghĩa cá nhân”, phải gương mẫu về đạo đức, lối sống, chất lượng công việc. Để làm được việc đó, thì người cán bộ, đảng viên phải đề cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng mọi lúc, mọi nơi, bền bỉ suốt cuộc đời. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp phải gương mẫu, đi đầu trong thực hiện các quy định nêu gương của Đảng, nhất là Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm. Đối với cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cần quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Trong đó, cần quán triệt, thực hiện tốt phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo” và cán bộ giữ cương vị càng cao, càng phải tiên phong, gương mẫu.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân” là biểu hiện suy thoái đã và đang diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và gây nguy hại rất lớn đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Những biểu hiện của “chủ nghĩa cá nhân” rất dễ nhận biết, nhưng để đấu tranh, khắc phục triệt để là vấn đề rất khó khăn, phức tạp, bởi nó nằm sâu, bên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để đấu tranh chống biểu hiện này hiệu quả, cần tiến hành quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, cả tư tưởng, tổ chức, cán bộ; trong đó, nêu cao tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò nêu gương và tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của từng cán bộ, đảng viên là vấn đề căn cơ, cốt lõi, lâu dài, góp phần xây dựng Đảng ta thật trong sạch vững mạnh, thực hiện sứ mệnh lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới./.

ST.

Phản bác các quan điểm sai trái về nguyên tắc tập trung dân chủ

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản để phân biệt chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân với các đảng chính trị khác. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”. Tuy nhiên, lợi dụng những hạn chế trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị,... tìm cách đả phá, kêu gọi Đảng ta từ bỏ nguyên tắc này, cổ súy tư tưởng đa nguyên, đa đảng.

Từ khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản rơi vào thời kỳ khủng hoảng, suy thoái, đã xuất hiện nhiều ý kiến nghi ngờ, đòi xét lại về nguồn gốc, bản chất, nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ. Thậm chí họ còn quy kết rằng, nguyên tắc này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Đảng Cộng sản Liên Xô và các đảng cộng sản cầm quyền khác. Lợi dụng vấn đề đó, cùng những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị,... đã công khai đưa ra những quan điểm sai trái và kêu gọi Đảng ta từ bỏ nguyên tắc này. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái đó để bảo vệ nền tảng tư tưởng, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng vừa là yêu cầu khách quan, vừa là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên; trong đó, tập trung vào các nhóm vấn đề sau: 

Một lànhóm quan điểm sai trái về sự ra đời và giá trị thời đại của nguyên tắc tập trung dân chủ. Với lý do thời C.Mác (1818 - 1883) và Ph.Ăngghen (1820 - 1895) chưa có tên gọi nguyên tắc tập trung dân chủ, nên theo họ nguyên tắc tập trung dân chủ không phải của chủ nghĩa Mác, mà do V.I.Lênin đặt ra (năm 1905) chỉ phù hợp ở thời kỳ Đảng hoạt động bí mật, khi chưa giành được chính quyền hoặc khi lãnh đạo chiến tranh cần có kỷ luật chặt chẽ, tập trung, thống nhất cao độ. Còn trong điều kiện hòa bình, khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo xây dựng đất nước, đòi hỏi phải mở rộng dân chủ, phát huy tối đa sáng tạo của cá nhân thì nguyên tắc tập trung dân chủ đã lỗi thời, không còn phù hợp nữa.

Đây là sự suy luận hết sức lố bịch! Bởi, họ đã cố tình bỏ qua cơ sở lịch sử của nguyên tắc và thực chất chỉ là phụ họa cho luận điệu phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ, chia tách, đối lập chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin, gây nghi ngờ giá trị, hiệu quả của nguyên tắc tập trung dân chủ. Đúng là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa gọi nguyên tắc tổ chức của Đảng Cộng sản là tập trung dân chủ. Song, các tư liệu lịch sử cho thấy, mặc dù chưa gọi tên cụ thể nhưng tư tưởng xây dựng một đảng vô sản trên cơ sở những nội dung cốt lõi của nguyên tắc tập trung dân chủ đã được các ông thể hiện rõ trong Điều lệ Liên đoàn những người cộng sản từ năm 1847. Và được tiếp tục khẳng định trong tổ chức “Liên minh Công nhân quốc tế” (Quốc tế I) do chính C.Mác sáng lập vào năm 1864. Cụ thể, Điều lệ Liên đoàn quy định: tất cả hội viên của Liên đoàn đều bình đẳng; cơ quan lãnh đạo các cấp của Liên đoàn từ chi bộ đến Đại hội Liên đoàn do bầu cử lập ra. “Các ủy viên ban chấp hành khu bộ và Ban chấp hành trung ương được bầu hằng năm, có quyền được bầu lại và có thể bị những người bầu ra mình bãi miễn bất cứ lúc nào”. Điều lệ cũng quy định, Liên đoàn là một tổ chức theo chế độ tập trung rất chặt chẽ, như: Liên đoàn chỉ có một hệ thống tổ chức thống nhất; Đại hội Liên đoàn hằng năm là cơ cấu tổ chức có vị trí, quyền lực cao nhất của Liên đoàn. Điều 5 của Điều lệ Liên đoàn do chính C.Mác và Ph.Ăngghen trực tiếp tham gia soạn thảo quy định: “Về cơ cấu, Liên đoàn gồm chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban Chấp hành trung ương và Đại hội”. Đại hội có quyền lực lập pháp đối với toàn Liên đoàn; các khu bộ của một nước hoặc một tỉnh phải phục tùng một tổng khu bộ; các tổng khu bộ phải báo cáo công tác với cơ quan quyền lực tối cao là Đại hội, còn giữa các kỳ đại hội thì báo cáo với Ban Chấp hành trung ương. Hội viên của Liên đoàn phải phục tùng các nghị quyết của Liên đoàn; “không tham gia vào mọi tổ chức - tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc - chống cộng sản”. Đến năm 1885, khi nói về cách tổ chức của Liên đoàn, Ph.Ăngghen khẳng định: “Bản thân tổ chức cũng hoàn toàn dân chủ, với những người lãnh đạo được bầu ra và luôn luôn có thể bị bãi miễn”. Như vậy, với những quy định nêu trên cho thấy, cách tổ chức “hoàn toàn dân chủ” mà Ph.Ăngghen nói tới chính là nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực tế đó còn chứng tỏ: đối với C.Mác và Ph.Ăngghen, nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ là tư tưởng mà đã được vận dụng vào thực tiễn tổ chức, hoạt động của chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân.

V.I.Lênin không chỉ kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguyên tắc tập trung dân chủ, đặt tên cho nguyên tắc này mà còn vận dụng mẫu mực, sáng tạo về cách thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực tiễn cách mạng. Theo V.I.Lênin: “chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ và “không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quan liêu và với lối rập khuôn máy móc”. Từ thực tiễn phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và xây dựng Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga, tại Đại hội Đảng năm 1906, V.I.Lênin đề xuất và được Đại hội nhất trí đưa vào Điều lệ nguyên tắc “tập trung dân chủ”. Sự thực trên là cơ sở khoa học khẳng định: chính C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng cho nguyên tắc tập trung dân chủ từ năm 1847 và V.I.Lênin là người kế thừa, bổ sung và phát triển.

Là đội tiền phong của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản phải có tổ chức chặt chẽ, tập trung, thống nhất, không thể là một tổ chức lỏng lẻo, vô chính phủ; là liên minh tự nguyện của những người cùng chung chí hướng đấu tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội - một xã hội giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, dân chủ, công bằng và bảo vệ phẩm giá con người; Đảng Cộng sản phải có tổ chức dân chủ mới phù hợp với bản chất và mục đích đó. Bởi vậy, nguyên tắc tập trung dân chủ nằm ngay trong bản chất của Đảng Cộng sản, nên dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, lúc đấu tranh giành chính quyền hay khi xây dựng đất nước, Đảng Cộng sản cũng phải được tổ chức và hoạt động theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chỉ khác ở phương pháp thực hiện nội dung và phạm vi áp dụng do tình hình, nhiệm vụ cụ thể của Đảng trong mỗi thời kỳ, xa rời nguyên tắc này là xa rời bản chất của Đảng dẫn đến tan rã Đảng. Do đó, không thể nói nguyên tắc tập trung dân chủ đã “lỗi thời”, không còn giá trị. 

Hai là, nhóm quan điểm sai trái về bản chất, nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ. Họ cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập, giống như lửa với nước, là hai khái niệm “không thể dung hòa”, không thể kết hợp, do đó không thể có nguyên tắc tập trung dân chủ. Cũng theo họ, nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa và Đảng Cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị mất quyền lãnh đạo xã hội là do thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ quá lâu và họ “khuyên” Đảng ta từ bỏ nguyên tắc này “càng sớm, càng tốt”; đồng thời, họ kêu gọi bỏ “chế độ thiểu số phục tùng đa số” thì mới thực sự có “dân chủ”, “sáng tạo”, v.v.

Cần khẳng định rõ: đây là luận điệu nhằm tầm thường hóa nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng với mưu đồ phá hoại hòng làm cho Đảng ta từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc chia cắt nguyên tắc vốn thống nhất, hoặc đem dân chủ đối lập với tập trung là không hiểu đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Với cách lập luận sai trái này, họ đã không hiểu bản chất, hoặc cố tình lừa dối người khác để hạ bệ nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự thống nhất biện chứng giữa hai thành tố tập trung và dân chủ. Tập trung trên cơ sở dân chủ, dân chủ có sự lãnh đạo được sự bảo đảm của tập trung. Có giữ vững tập trung mới có thể phát huy, mở rộng được dân chủ và bảo đảm dân chủ thực chất. Phát triển dân chủ luôn gắn liền với giữ vững và tăng cường tập trung, trên cơ sở đó, dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc. Dân chủ chỉ đối lập với tình trạng độc đoán, chuyên quyền chứ không đối lập với tập trung; tập trung chỉ đối lập với tình trạng tản mạn, tự do, tùy tiện, vô tổ chức, vô kỷ luật chứ không đối lập với dân chủ. Tập trung trên cơ sở dân chủ hoàn toàn khác với tập trung quan liêu. Dân chủ có sự bảo đảm của tập trung cũng hoàn toàn khác về bản chất với dân chủ hình thức, dân chủ vô chính phủ.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc nền tảng để xây dựng Đảng thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa tạo nên sức mạnh tổng hợp của tổ chức. Đây là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của Đảng; quy định cơ cấu, hình thức tổ chức, phương thức, chế độ thiết lập các cơ quan lãnh đạo của Đảng; xác lập các quy tắc giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ Đảng và cũng là nguyên tắc giữ vai trò chi phối các nguyên tắc khác của Đảng. Nó làm cho Đảng được xây dựng thành một đội ngũ có kỷ luật chặt chẽ, có sức chiến đấu cao, phát huy được tính chủ động, năng động và sáng tạo của cán bộ, đảng viên; bảo đảm cho Đảng luôn là một tổ chức lãnh đạo, một tổ chức chiến đấu mà không phải là một câu lạc bộ.

Sức mạnh của Đảng là sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; sự thống nhất đó chỉ có thể giữ vững và biến thành sức mạnh vật chất khi được bảo đảm bằng sự thống nhất về mặt tổ chức thông qua thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tập trung dân chủ là cơ sở bảo đảm cho Đảng thực sự là một tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới cơ sở. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo, trách nhiệm cao của mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, vừa tập trung được trí tuệ và sức mạnh vật chất của toàn Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người.

Ba lànhóm quy kết tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là “lỗi từ gốc” do độc đảng; Việt Nam muốn dân chủ, tiến bộ thì “phải chấm dứt sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản”, từ đó cổ súy tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đây là âm mưu hết sức thâm độc nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa; kêu gọi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Thực tiễn cho thấy: dân chủ ở một quốc gia không phụ thuộc vào việc ở đó có một hay nhiều đảng mà phụ thuộc vào bản chất chính của đảng cầm quyền và mức độ dân chủ không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của số lượng các đảng chính trị. Chẳng hạn, Ácmênia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng,... nhưng không thể kết luận Ácmênia dân chủ hơn Hà Lan, Na Uy. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 30 quốc gia theo chế độ một đảng, như: Ăngtigoa, Ảrập Xêút, Baren, Bênanh, Bôxnia, Cuba, Cômô, Gana, Bờ Biển Ngà, Lào, Libi, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Mông Cổ, Namibia, Ruanđa, Xômali, Tôgô, Tôbagô,... và Việt Nam. Hơn nữa, ngay trong chủ nghĩa tư bản, có thời kỳ một số quốc gia và vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Ví dụ: cho đến cuối những năm 1980, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan,... vẫn theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền, nhưng vẫn vươn lên phát triển mạnh mẽ. Điều này cho thấy hai vấn đề: (1). Chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo; (2). Không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ.

Trong điều kiện ở Việt Nam, một đảng lãnh đạo, đó là đảng của giai cấp công nhân, lấy lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc làm mục tiêu xuyên suốt và luôn xây dựng, chỉnh đốn để đảng thực sự trong sạch, vững mạnh thì tính chất dân chủ, tiến bộ phụ thuộc vào bản chất, mục đích phục vụ chứ không phụ thuộc số lượng bao nhiêu đảng. Năm 2010, đồng chí Nguyễn Phú Trọng (khi đó là Chủ tịch Quốc hội) đã trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế rằng: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên hay không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất”.

Từ những luận giải trên, có thể khẳng định: nguyên tắc tập trung dân chủ đến nay vẫn còn nguyên giá trị, không “lỗi thời”, các đảng cộng sản và mỗi đảng viên cộng sản không được phép xa rời, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là vấn đề sống còn của Đảng. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa thực hiện nghiêm nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của Đảng, làm cơ sở để đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch./.

ST.

“Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên hiến pháp và pháp luật” - luận điệu vô căn cứ cần đấu tranh bác bỏ

Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những thủ đoạn mà các thế lực phản động, thù địch thường xuyên tiến hành. Trong đó, luận điệu cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” là hoàn toàn vô căn cứ và hết sức nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh bác bỏ.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đăng tải, phát tán nhiều tin, bài, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Đáng chú ý trong đó có luận điệu cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”. Đây là luận điệu xuyên tạc, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, trực tiếp phá hoại, vô hiệu hóa cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta: “Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý, điều hành - Nhân dân làm chủ”. Từ đó, gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm tổn hại đến mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Ðảng với  Nhà nước và Nhân dân; giảm sút niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Có thể khẳng định rằng, luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch là vô căn cứ, phản khoa học, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, họ đã cố tình đánh tráo khái niệm một cách thô thiển giữa “nhà nước pháp quyền” nói chung với “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” và “nhà nước pháp quyền tư sản”. Chúng ta đều biết, trong lịch sử xã hội, nhà nước nào cũng mang bản chất của giai cấp nhất định, do giai cấp cầm quyền lãnh đạo, chi phối. Đơn cử như, nhà nước ở các nước tư bản hiện nay đều do một đảng, hay liên minh đảng cầm quyền, lãnh đạo, nhưng dù có liên minh nhiều đảng lãnh đạo thì bản chất của nhà nước vẫn do giai cấp cầm quyền chi phối là chủ yếu. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tất yếu mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực nhà nước và xã hội thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước khác hẳn về chất so với nhà nước tư sản và các hình thức nhà nước của giai cấp thống trị, bóc lột đã có trong lịch sử - nhà nước mà quyền lực thuộc về thiểu số giai cấp thống trị, bóc lột (chủ nô, phong kiến, tư sản). Như vậy, họ đã cố tình cắt xén vấn đề cốt lõi nhất của nhà nước là quyền lực thuộc về nhân dân trong bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước xã hội chủ nghĩa là đặc trưng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chỉ có đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trên lập trường giai cấp công nhân, với đường lối đúng đắn thì nhà nước xã hội chủ nghĩa mới thực sự là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đây không chỉ là vấn đề có tính nguyên tắc, mà còn bảo đảm cho nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trong đó có cả nhiệm vụ xây dựng hiến pháp và pháp luật.

Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền sau khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Theo đó, nội dung cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội như một tất yếu lịch sử; là sự lựa chọn của lịch sử. Phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển của đất nước và toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ nhất định. Đồng thời, đề ra phương hướng, nhiệm vụ và những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua hệ thống tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan Nhà nước và các tổ chức của hệ thống chính trị. Điều đó đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước; phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, ủng hộ và tích cực thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”, về thực chất, các thế lực thù địch đã cố ý xuyên tạc mối quan hệ giữa Đảng và hệ thống chính trị, phủ nhận cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng cho rằng “Đảng lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội là chuyên quyền, độc đoán, vi phạm dân chủ”. Đó là sự bịa đặt vô căn cứ, bởi trong mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là hạt nhân và là một bộ phận của hệ thống ấy. Về cơ chế vận hành, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân lao động làm chủ”. Cơ chế này xác định rõ vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, thành tố của hệ thống chính trị và giải quyết các mối quan hệ giữa các thành tố với nhau đảm bảo cho sự vận hành thông suốt của hệ thống chính trị, thực hiện quyền lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và quyền làm chủ thực sự thuộc về Nhân dân. Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; các tổ chức đảng, đảng viên không đứng ngoài, đứng trên pháp luật. Đảng kiểm tra các tổ chức của Đảng và đảng viên trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước về việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng trên thực tế. Hoạt động lãnh đạo của Đảng đều được thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật, chứ không có cái gọi là “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”.

Ở một góc nhìn khác, luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch đã công khai phủ nhận sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, họ tạo cớ gây mâu thuẫn, chia rẽ quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, giữa Nhà nước với Nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, nhất là khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Điều đó đã được chứng minh bằng thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng đã đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột nặng nề của chế độ phong kiến, chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và chủ nghĩa thực dân kiểu mới lên địa vị làm chủ nhà nước và làm chủ xã hội. Vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, nhất là đối với nhân dân đã được hiến định một cách rõ ràng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Điều đó thể hiện bản chất tiên phong, trách nhiệm chính trị - pháp lý của Đảng đối với Nhân dân về vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước.

Thực tiễn gần 95 năm lãnh đạo cách mạng và 80 năm cầm quyền đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là nhân tố quyết định bản chất Nhà nước, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường, nhất là với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ban hành nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân.

Có thể khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội không hề “đứng trên Hiến pháp và pháp luật” như luận điệu của các thế lực thù địch đã bịa đặt, rêu rao. Ngược lại, Đảng lãnh đạo Nhà nước được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định rõ trong điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam luôn chứng minh tính đúng đắn về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội. Không ai có thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên đó. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ ý đồ dã tâm của các thế lực thù địch, thường xuyên tu dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST.