Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

Karl Marx đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và những vấn đề đặt ra hiện nay

Đã gần 180 năm kể từ khi còn là “bóng ma ám ảnh châu Âu” và trong suốt quá trình phát triển của mình, Chủ nghĩa Mác luôn vấp phải sự chống phá quyết liệt của những quan điểm phi mác-xít nói chung, của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói riêng.

Do vậy, Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại các chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc. Cuộc đấu tranh đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, đồng thời đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho Đảng ta trong cuộc đấu tranh chống lại những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa hiện nay.

Cuộc "đấu tranh sống mái"

Chủ nghĩa cơ hội ra đời đã gây ra những tác hại rất lớn đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Chính những tác động tiêu cực của chủ nghĩa cơ hội nên Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc “đấu tranh sống mái”(1) chống lại chủ nghĩa cơ hội dưới nhiều màu sắc khác nhau như: Chủ nghĩa Proudhon, Lassalle, Bakunin... để phong trào công nhân quốc tế mau chóng hồi phục và phát triển.

Thứ nhất, đấu tranh chống Chủ nghĩa Proudhon. Chủ nghĩa Proudhon là chủ nghĩa cải lương và trào lưu vô chính phủ lưu hành trong phong trào công nhân Pháp từ những năm 40 đến những năm 90 của thế kỷ 19, đại biểu là P.J.Proudhon. Đứng trên lập trường của tầng lớp tiểu tư sản, Proudhon kịch liệt phản đối các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại chế độ tư bản. Ông đã ảo tưởng cải tạo xã hội một cách hòa bình và đưa ra tư tưởng cải cách dần dần từ bên trên. Với những quan điểm của mình, Chủ nghĩa Proudhon đã gây trở ngại nghiêm trọng cho sự truyền bá chủ nghĩa xã hội khoa học trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lúc bấy giờ. Trước tình hình đó, Karl Marx đã viết nhiều tác phẩm: "Bản thảo kinh tế-triết học" (1844), "Hệ tư tưởng Đức" (1846), "Sự khốn cùng của triết học" (1847), "Bàn về Proudhon" (1865)... phê phán nghiêm khắc lý luận vô sách lược của Chủ nghĩa Proudhon. Karl Marx  trình bày những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, phê phán lý luận “cách mạng xã hội” của Chủ nghĩa Proudhon. Karl Marx  đã chỉ ra sự ảo tưởng trong việc cải tạo xã hội một cách hòa bình và chứa đầy mâu thuẫn về mặt lý luận của Proudhon. Trong khi phê phán Proudhon, Karl Marx đã lập luận học thuyết đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản, đó là sự thống nhất giữa đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị nhằm cải thiện đời sống sinh hoạt vật chất tiến tới giải phóng bản thân, lật đổ nền thống trị của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh của những người sáng lập Chủ nghĩa Mác chống chủ nghĩa vô chính phủ của Proudhon kéo dài suốt mấy chục năm, tới khi Công xã Paris thất bại mới triệt để xóa bỏ được nó. Và từ đây, chủ nghĩa cơ hội Proudhon đã không còn ảnh hưởng gì trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Karl Marx đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và những vấn đề đặt ra hiện nay

Khách tham quan ngôi nhà nơi Karl Marx sinh ra tại Trier, Đức. Nguồn: THX/TTXVN

Thứ hai, đấu tranh chống Chủ nghĩa Lassalle. Chủ nghĩa Lassalle hình thành ở nước Đức vào những năm 60 của thế kỷ 19, là trào lưu cơ hội chủ nghĩa mà đứng đầu là F.Lassalle (1825-1864). Đây là một trào lưu cơ hội chủ nghĩa có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phong trào công nhân Đức và phong trào công nhân quốc tế. Bên cạnh việc tuyên truyền cái gọi là “quy luật sắt về tiền công”, Lassalle cổ vũ cho quan điểm duy tâm chủ nghĩa về nhà nước, kêu gọi thực hiện chủ nghĩa xã hội thông qua quyền phổ thông đầu phiếu, biến nhà nước chuyên chế Phổ thành “nhà nước tự do”, sau đó, nhà nước ấy sẽ đem tiền của dùng vào chiến tranh để xây dựng các hợp tác xã, làm cho công nhân thoát khỏi nghèo khổ. Tư tưởng của F.Lassalle thực tế là thỏa hiệp và theo đuôi giai cấp tư sản. Karl Marx đã viết tác phẩm "Phê phán Cương lĩnh Gotha"(1875), phê phán những sai lầm thỏa hiệp, hữu khuynh vô nguyên tắc của những người lãnh đạo Đảng Dân chủ xã hội Đức, vạch trần bản chất cơ hội, cải lương của phái Lassalle. Karl Marx đã vạch trần tính chất sai lầm và phản động của F.Lassalle trên nhiều vấn đề; trong đó, ông phê phán luận điểm nhảm nhí về “nhà nước tự do” dựa theo quan điểm siêu giai cấp của Lassalle. Cũng thông qua cuộc đấu tranh này, Karl Marx đã phát triển lý luận về hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa, làm nổi bật tính tất yếu, vai trò lịch sử của chuyên chính vô sản và phát triển thêm một bước học thuyết về nhà nước.

Thứ ba, đấu tranh chống chủ nghĩa vô chính phủ Bakunin. Chủ nghĩa Bakunin là một trào lưu tư tưởng chính trị tiểu tư sản và chủ nghĩa vô chính phủ có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vào những năm 70 của thế kỷ 19. Bakunin đòi xóa bỏ mọi hình thức chính quyền, kể cả chuyên chính vô sản bằng các cuộc bạo động có tính chất âm mưu; khước từ mọi hoạt động chính trị của giai cấp công nhân... Cuộc đấu tranh của Karl Marx chống lại tư tưởng cơ hội tiểu tư sản và vô chính phủ của Bakunin được đưa lên hàng đầu trong Quốc tế I. Karl Marx đã chỉ ra tư tưởng của Bakunin là “sai lầm về mặt lý luận và phản động về mặt thực tiễn”, dẫn giai cấp công nhân đi theo chủ nghĩa cải lương. Ông chỉ ra rằng không thể thủ tiêu chủ nghĩa tư bản bằng việc xóa bỏ quyền thừa kế mà phải sử dụng chuyên chính vô sản. Thông qua sự đấu tranh quyết liệt của mình, Karl Marx đã đánh bại Chủ nghĩa Bakunin và năm 1872 khai trừ Bakunin ra khỏi Quốc tế I, đồng thời đưa Chủ nghĩa Mác phát triển lên một tầm cao mới trong lý luận về nhà nước chuyên chính vô sản.

Có thể nói, Karl Marx đã tiến hành cuộc đấu tranh triệt để chống lại chủ nghĩa cơ hội trong những năm 1844-1873 và đã bác bỏ gần như toàn bộ học thuyết cơ hội trong giai đoạn đầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đấu tranh này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần đưa phong trào công nhân quốc tế phát triển đúng hướng. Đồng thời còn tạo ra một bước phát triển vượt bậc của hệ tư tưởng vô sản, ngày càng khẳng định tính đúng đắn, khoa học của học thuyết này, tạo cơ sở vững chắc cho những thắng lợi của các cuộc cách mạng vô sản sau này.

Những vấn đề đặt ra đối với đấu tranh chống tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Trong Đảng ta hiện nay chưa có chủ nghĩa cơ hội như thời của Karl Marx, tức là chưa có những trào lưu tư tưởng, học thuyết hay một tổ chức công khai đối lập với Đảng, tuy nhiên, những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa xuất hiện dưới những mức độ, tính chất khác nhau. Biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở trong Đảng ta thể hiện dưới những dạng cơ hội chính trị và cơ hội thực dụng mà Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ ra đó là 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những t­ư t­ưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa đã và đang làm giảm sút năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đe dọa tới sự tồn vong của chế độ. Do vậy, kế thừa những bài học, kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh của Karl Marx chống chủ nghĩa cơ hội, để có thể ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cần phải tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Một là, cần giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Cho dù các phần tử cơ hội chủ nghĩa dưới nhiều màu sắc, song chúng đều có một trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, cần tuyên truyền, giáo dục để đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân phát hiện ra những phần tử cơ hội chủ nghĩa trong Đảng, thấy rõ tác hại của chúng, trên cơ sở đó, nâng cao trách nhiệm trong đấu tranh phòng, chống những phần tử cơ hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

Hai là, phải có thái độ đấu tranh dứt khoát, kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng với những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Các phần tử cơ hội chủ nghĩa như những “ung nhọt”, “vi trùng rất độc”, “khối u ác tính”; là một tai họa hiển nhiên, do vậy, toàn Đảng cần đấu tranh chống lại chúng ở mọi nơi, mọi lúc; trên tất cả lĩnh vực; không cho chúng cơ hội trở thành một chủ nghĩa, một trào lưu tư tưởng có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp cách mạng. Cần phải có thái độ rõ ràng, đấu tranh một cách kịp thời, triệt để, dứt khoát, không cho chúng có “mảnh đất” để tồn tại. Kiên quyết xử lý, loại bỏ chúng dù ở bất cứ vị trí nào, cần “tẩy rửa chất mủ ấy đi càng nhanh và càng kỹ chừng nào càng tốt chừng nấy, dù cho việc mổ xẻ ấy có làm cho ta phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa”(2).

Ba là, xác định nội dung, phư­ơng pháp, hình thức phù hợp để đấu tranh hiệu quả với các biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh chống các phần tử cơ hội chủ nghĩa phải đư­ợc tiến hành trên mọi mặt trận, ở mọi nơi, từ đấu tranh lý luận đến đấu tranh thực tiễn. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng lý luận, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (3). Kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao chất lượng giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên với thực hiện nghiêm túc các khâu, các bước trong công tác cán bộ, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình trong nội bộ với công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, sự giám sát của các phương tiện thông tin đại chúng, của quần chúng nhân dân và công tác thanh tra, điều tra, xét xử của các cơ quan chức năng. Qua đó kịp thời phát hiện, ngăn chặn, loại bỏ những phần tử cơ hội chủ nghĩa “luồn sâu, leo cao” vào trong bộ máy của Đảng.

Nói tóm lại, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của Karl Marx đã để lại những ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc, trong đó chỉ dẫn cho cuộc đấu tranh phòng, chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa trong Đảng ta hiện nay. Để đấu tranh chống các phần tử cơ hội chủ nghĩa đòi hỏi cần phải xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Có như vậy, Đảng mới tăng cường “sức đề kháng” và đủ sức loại bỏ được những phần tử cơ hội chủ nghĩa ra khỏi bộ máy./.

ST.

Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc tên tuổi Hồ Chí Minh

Những đối tượng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rất rõ về sự ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, văn hóa tinh thần của đất nước.

Họ cho rằng sở dĩ chế độ cộng sản ở Việt Nam còn tồn tại là nhờ núp vào cái bóng thần tượng Hồ Chí Minh, nên phải xóa bỏ bằng được thần tượng ấy. Vì vậy, bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những lý lẽ khoa học, căn cứ thực tiễn là việc làm rất cần thiết hiện nay.

1. Một trong những thủ đoạn nham hiểm ấy là thời gian gần đây, một số đối tượng xuyên tạc rất trắng trợn: “Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc”. Nghệ thuật viết tuồng truyền thống thường dựa vào tích cũ để soạn những bổn mới, mang chủ đề, ý nghĩa mới. Cách này đang được một số đối tượng sử dụng, nhưng là lấy tích cũ thật/giả để biến thành bổn mới giả, có cả “bổn cũ soạn lại”.

Theo lịch sử ghi lại, từ ngày 6-6-1931 đến ngày 22-1-1933, Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc) bị bắt giam ở Hồng Công và được luật sư Francis Henry Loseby bào chữa trắng án. Thực dân Pháp rất muốn được phía Anh trục xuất về Đông Dương để bắt Nguyễn Ái Quốc thực thi án tử hình. Có thể là cố ý đánh lạc hướng mật thám Pháp mà Quốc tế Cộng sản cho loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong nhà tù Hồng Công, đăng trên cả báo nước ngoài (The Daily Worker (Anh) ngày 11-8-1932, L’Humanité (Pháp) ngày 9-8-1932) và cả báo trong nước (Đông Pháp thời báo ngày 3-7-1932, Đuốc Nhà Nam ngày 23-7-1932). Sau khi Nguyễn Ái Quốc được thả (ngày 28-12-1932), để đảm bảo an toàn cho thân chủ, chính luật sư Loseby cũng loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh phổi.

Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc tên tuổi Hồ Chí Minh
Khối cờ Đảng, cờ Tổ quốc diễu hành trong Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ảnh minh họa.

Sau đó vẫn lấy những tin tức này, không cần quan tâm mục đích, lý do của nguồn tin, tác giả Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan) viết “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (in năm 2008 tại Đài Loan) “khẳng định” Hồ Chí Minh có tên thật là Hồ Tập Chương, không phải Nguyễn Ái Quốc, vì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ tháng 8-1932. Đầu năm 2013, sách được Thái Tuấn dịch ra tiếng Việt có tên “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” cho đăng trên trang điện tử “Đối thoại”. 

Lợi dụng vấn đề đó, thời gian qua, trên nhiều trang mạng phản động lại đăng nhiều bài "dựa hơi" vào những sự kiện trên (chủ yếu từ sách của Hồ Tuấn Hùng), bịa đặt trắng trợn thêm nhiều chi tiết để xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, mà do “một người khác thế vào”! 

Lập luận của các bài viết trên, một mặt dựa vào “lý lẽ” của Hồ Tuấn Hùng, mặt khác, vẫn theo kiểu mượn tích cũ để “soạn bổn giả mới”. Ví như lấy sự kiện có thật Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh Hồ Quang (từ ngày 1-1-1938) mang quân hàm thiếu tá, công tác tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, không hề chứng minh, phân tích nhưng nhiều tác giả đã “khẳng định” lấy được: “Hồ Quang chính là Hồ Tập Chương” từ đây (tức năm 1938) bắt đầu “sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam”.

Về điểm này, xin dẫn sự giải thích của chính Bác Hồ, nhân một đồng chí Trung Quốc hỏi: “Tại sao đồng chí lại lấy tên Hồ Quang?”. Bác trả lời hóm hỉnh: “Tôi có râu, lại trọc đầu nên gọi là Hồ Quang” (vì đọc theo tiếng Bắc Kinh, hồ có nghĩa là râu, quang có nghĩa là trọc). Đây là cách chơi chữ quen thuộc của Bác lý giải cách đặt tên theo đặc điểm bản thân gắn liền với ngôn ngữ, địa danh nơi sinh sống.

Để có thêm cơ sở lịch sử và khoa học khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Hồ Chí Minh, xin nhắc lại những sự kiện lịch sử liên quan. Ngày 1-6-1946, trên chuyến bay sang Pháp, tướng Raoul Salan tháp tùng Hồ Chủ tịch hỏi có ý tò mò về đời tư (vốn là điều tối kỵ trong ngoại giao): “Trong bản Hiệp định ngày 6-3, ngài ký tên Hồ Chí Minh. Nhưng tên chính của ngài có phải là Nguyễn Ái Quốc không?”. Bác Hồ đáp: “Cũng trong bản hiệp định đó, vị đại diện của Chính phủ ngài ký tên là Sainteny, nhưng tên thật của ông ta chẳng phải là Jean Roger đó sao?”. Một câu đáp thật tuyệt vời của một trí tuệ nhạy bén, gần như khẳng định nhưng lại nói vòng sang chuyện tương tự để “chặn họng”, hàm ý nhắc nhở, đẩy đối phương vào thế bối rối, bị động: Ngay đại diện chính phủ của ngài cũng vậy đó thôi!

2. Về tập thơ “Nhật ký trong tù”, nhiều đối tượng cho rằng chữ viết ấy, nội dung ấy, thi pháp ấy thì “không thể một người Việt Nam nào, dù tài năng đến mấy” thể hiện được; thế nên Nguyễn Ái Quốc nếu còn sống cũng không thể là tác giả. Vả lại những năm ở Pháp, ở Nga, ở Hồng Công trước đó, sao Nguyễn Ái Quốc không có bài thơ chữ Hán nào?

Điều đáng phê phán các "tác giả" đưa ra cái gọi là “lý lẽ” nêu trên lại không hiểu rằng, Nguyễn Sinh Cung từ nhỏ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, học giỏi chữ Hán, là trò của các bậc đại Nho (Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý). Trong khi đó, từ những năm 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rất quan tâm và viết nhiều bài về tình hình Trung Quốc in trên báo L’Humanité, La Vie Ouvrière. Cũng trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc kiếm sống bằng viết báo (tiếng Trung, Pháp, Anh) và có mối quan hệ mật thiết với một số yếu nhân, trong đó có bà Tống Khánh Linh.

Vì vậy, các nhà nghiên cứu chân chính khẳng định, với tâm hồn ấy, tài năng ấy, trong hoàn cảnh tù đày, thơ đến một cách tự nhiên với Nguyễn Ái Quốc. Các bài thơ trong tập thơ này là kết tinh các luồng tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ, là tiếng nói của tâm hồn vĩ đại, trí tuệ siêu việt, khí phách lớn. Đó cũng là lý do để nhiều nhà nghiên cứu văn học quốc tế đã khẳng định tập thơ “Nhật ký trong tù” là tài sản văn hóa nhân loại và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ trên thế giới.

3. Trong chuyên luận “Tiếng cười trào phúng Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật xuất bản năm 2010, tác giả cuốn sách chứng minh Hồ Chí Minh là người “Việt Nam nhất”. Chỉ xét ở mục đích trào phúng, trong các tác phẩm, có 232 lần Bác Hồ sử dụng các dẫn ngữ. Thành ngữ, tục ngữ là sự kết tinh lời ăn tiếng nói có mạch nguồn từ đời sống tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Không phải là người Việt Nam làm sao dùng được nhiều dẫn ngữ, chưa nói tới cách dùng của Bác rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, sắc thái và rất mực tinh tế.

Với tư cách là người nghiên cứu, chúng tôi xin khẳng định, từ thời thanh niên đến khi về với thế giới người hiền, ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh có sự nhất quán về mục đích: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, rộng hơn là vì hạnh phúc nhân loại nói chung. Mọi suy nghĩ, việc làm, hành động, dù nói hay viết của Người tất cả đều vì mục đích cao cả ấy.

Cũng xin được nhắc lại 3 cuộc hội thảo khoa học quốc tế gần đây nhất về Hồ Chí Minh. Ngày 18-4-2023, tại thủ đô Roma (Italy) diễn ra hội thảo với chủ đề “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italy”. Trước đó, ngày 14-5-2022, tại Ấn Độ là Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” tổ chức ở Kolkata. Tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” tổ chức tại thành phố New York (Mỹ).

Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp 3 luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người được cả nhân loại đón nhận.

Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tự hào có Bác Hồ, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là lý tưởng, lẽ sống, niềm tin và cũng là hạnh phúc. Hạnh phúc được đón nhận ánh sáng thời đại vì đó là con người nhân văn nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất của dân tộc Việt Nam và là một trong những nhà văn hóa lừng danh của nhân loại. Đó cũng là minh chứng sinh động để bác bỏ hoàn toàn những ý đồ, thủ đoạn xuyên tạc thân thế, tên tuổi, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

ST.

Cảnh giác với chiêu trò mạo danh “phản biện xã hội” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam

Những năm qua, trong khi đại đa số nhân dân đều tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy dân chủ, trí tuệ, tích cực tham gia phản biện xã hội với tinh thần xây dựng, giúp cho Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn, lãnh đạo và quản lý đất nước hiệu quả, thì vẫn có những đối tượng cố tình lợi dụng phản biện xã hội để tung ra những quan điểm, luận điệu phản động, sai trái, gây nhiễu loạn đời sống chính trị-xã hội của đất nước.

Những mưu đồ đội lốt “phản biện xã hội” 

Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức hậu thuẫn, kích động các đối tượng trong nước lợi dụng phản biện xã hội để tập hợp lực lượng chống đối chính trị, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội, tạo các lực lượng đối lập. Họ nhân danh phản biện để phản bác, chống đối các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ thường lợi dụng các thời điểm nhạy cảm chính trị của đất nước như trước và trong quá trình tổ chức đại hội Đảng, các kỳ bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp hoặc khi diễn ra những sự kiện quốc tế quan trọng; khi Quốc hội, Chính phủ lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo luật, chương trình, đề án... để lấy danh nghĩa phản biện xã hội tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước.

Những hoạt động này của các thế lực thù địch khá đa dạng, song tập trung ở một số thủ đoạn: (1) Lợi dụng internet, mạng xã hội, lấy danh nghĩa phản biện xã hội để đưa ra những bài nói, bài viết, các video clip nêu những ý kiến sai lệch về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quyết sách cụ thể ở các bộ, ngành, địa phương; (2) thông qua hình thức gửi “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức và lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước với dụng ý không lành mạnh; (3) lợi dụng các diễn đàn quốc tế, các cơ quan báo chí nước ngoài để nêu quan điểm bằng bài nói, bài viết, trả lời phỏng vấn với nội dung xuyên tạc, thổi phồng, bôi đen những hạn chế trong nước, nhất là tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy nhà nước, hòng làm cho thế giới hiểu sai về đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam; (4) khi Đảng, Nhà nước, các cơ quan bộ, ngành, địa phương không tiếp nhận những ý kiến “phản biện” (thực chất là các luận điệu, quan điểm, ý kiến phản động, phá hoại) thì vu khống Đảng, Nhà nước ta vi phạm, đàn áp dân chủ.

Cách đây hơn 10 năm, trong quá trình Đảng, Nhà nước ta lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các tầng lớp nhân dân vào dự thảo Hiến pháp năm 2013, một nhóm nhân sĩ, trí thức, cựu quan chức có tư tưởng bất mãn, cực đoan chính trị đã tập hợp nhau lại để đưa ra cái gọi là “kiến nghị” đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Điều 4 của Hiến pháp, với lý lẽ vừa hết sức ngụy biện, vừa suy diễn một cách tùy tiện, vừa công kích nói xấu Đảng ta.

Hay gần đây, lợi dụng chủ trương góp ý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), một số trang web, blogger đã tham gia “góp ý” theo kiểu cố ý bẻ cong sự thật, làm cho người dân hiểu sai từ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” thành “đất đai là độc quyền sở hữu của Nhà nước”, coi đó là cội nguồn của đầu cơ, tham nhũng đất đai. Thậm chí, họ còn xuyên tạc rằng việc sửa luật như “đẽo cày giữa đường”, “càng sửa càng mù mờ”... từ đó kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cảnh giác với chiêu trò mạo danh “phản biện xã hội” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam
Ảnh minh họa: TTXVN 

Điểm qua một vài ví dụ trên để thấy rằng, dưới chiêu bài “dân chủ”, lấy danh nghĩa phản biện xã hội, các thế lực thù địch, chống đối, phản động không từ một thủ đoạn nào để phá hoại đất nước và chế độ ta. Mục đích của chúng đương nhiên không phải để “góp ý”, giúp cho Đảng, Nhà nước thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, quản lý, mà là để phá hoại uy tín của Đảng, Nhà nước, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ, bất đồng trong nội bộ Đảng; chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, gây mất ổn định chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đi tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Nhận thức và ứng xử đúng mực về phản biện xã hội ở Việt Nam

Phản biện xã hội là việc phân tích, đánh giá, lập luận, tranh luận có tính chất độc lập, khoa học của các lực lượng xã hội (bao gồm cá nhân hoặc tổ chức) nhằm khẳng định hoặc bác bỏ, hay đề xuất sửa đổi chủ trương, chính sách, từ đó giúp cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh cho phù hợp hơn với lợi ích chung của cộng đồng. Xét về bản chất, phản biện xã hội là một hình thức thể hiện quyền tự do được xây dựng trên cơ sở quyền tự do ngôn luận. Theo đó, phản biện xã hội chính là quyền bày tỏ ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở khoa học nhằm thực hiện quyền dân chủ của cá nhân đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về quyền con người.

Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Hiến pháp và pháp luật, nước ta đã cụ thể hóa quyền tham gia phản biện xã hội của các tổ chức chính trị-xã hội, các tầng lớp nhân dân. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã hiến định một số quyền con người, quyền công dân có nội dung liên quan mật thiết đến phản biện xã hội như quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận, quyền trưng cầu ý dân, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Theo đó, Điều 28 quy định: “1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; 2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”.

Hiến pháp năm 2013 cũng chính thức ghi nhận phản biện xã hội với tính chất là một chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Quy định này lại tiếp tục được cụ thể hóa tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020; Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022...

Nhằm làm cho hoạt động phản biện xã hội thực sự đi vào hiện thực cuộc sống, tạo ra bầu không khí dân chủ và cởi mở trong xã hội, Đảng, Nhà nước ta còn chú trọng quan tâm hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thực hiện phản biện xã hội. Các điều kiện đó là:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống thể chế minh bạch, dân chủ, ghi nhận đầy đủ các quyền của chủ thể phản biện xã hội (bao gồm quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền thực hiện phản biện xã hội...); quy định rõ trách nhiệm công khai thông tin và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước.

Thứ hai, bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin của người dân, xác định rõ trách nhiệm cung cấp và công khai thông tin từ phía các cơ quan công quyền, đặc biệt là các cơ quan hành chính; quy định rõ quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin cũng như có chế tài rõ ràng, cụ thể và nghiêm minh đối với những hành vi che giấu hoặc từ chối cung cấp thông tin của các cơ quan và công chức nhà nước.

Thứ ba, nâng cao ý thức tôn trọng tự do ngôn luận, đối thoại, lắng nghe và phản hồi của chủ thể được phản biện, trực tiếp là các cơ quan, cán bộ, công chức Nhà nước, kết hợp giữa giáo dục với cơ chế ràng buộc để chủ thể được phản biện không chỉ lắng nghe ý kiến của xã hội mà còn phải biết tiếp thu, hiện thực hóa nó trong những chính sách cụ thể; xây dựng cơ chế thông tin hai chiều giữa Nhà nước và công dân.

Thứ tư, nâng cao trình độ dân trí của cộng đồng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để mọi người dân nhận thức rõ về quyền lợi và trách nhiệm công dân; giúp nhân dân có nhận thức đầy đủ về nguyên tắc, nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành phản biện xã hội...

Những dẫn chứng trên đây đã cho thấy, phản biện xã hội ở Việt Nam không chỉ kế thừa mà còn có sự bổ sung, phát triển các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế và khu vực về dân chủ, tự do ngôn luận nói chung, về phản biện xã hội nói riêng. Việc khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị-xã hội, các tầng lớp nhân dân tham gia phản biện xã hội, qua đó phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là một chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, trong hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. 

Phản biện xã hội ở Việt Nam là một phương thức hữu hiệu để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, là bước phát triển cao của hình thức dân chủ trực tiếp, thể hiện rõ vai trò chủ thể quyền lực của nhân dân trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Người dân có thể sử dụng quyền lực của mình một cách trực tiếp thông qua việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, hoặc kiến nghị, đóng góp ý kiến, phản biện, hoặc trực tiếp tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và biểu quyết khi được trưng cầu ý kiến.

Như vậy, phản biện xã hội ở Việt Nam không chỉ là con đường, phương thức để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình mà còn là để bảo vệ quyền làm chủ của mình; không chỉ là công cụ để nhân dân kiểm soát quyền lực Nhà nước mà còn để bảo vệ Đảng, Nhà nước. Bản chất tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa quy định phản biện xã hội ở Việt Nam phải thể hiện được tính xây dựng, không phải để tạo ra sự xa cách, chia rẽ, đối lập nhân dân với Đảng, Nhà nước, mà là để nhân dân tiến gần hơn với hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, làm cho “ý Đảng hợp với lòng dân”, để nhân dân thực thi một cách trực tiếp, thực chất hơn quyền lực của mình, đồng thời giúp cho Nhà nước hoàn thành tốt hơn vai trò phục vụ nhân dân. Do đó, mọi âm mưu, hành vi lợi dụng phản biện xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ phá hoại mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.

ST.

Phòng, chống xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng

Không gian mạng là mạng lưới kết nối toàn cầu của các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm internet, hệ thống máy tính, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, là môi trường đặc biệt mà con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

Nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng thế mạnh của không gian mạng để triển khai các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia (ANQG) nước ta.

Chúng triệt để lợi dụng các kênh truyền hình trên internet, trang web và mạng xã hội để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc, tôn giáo, tạo cớ để bên ngoài can thiệp nội bộ nước ta.

Chúng còn lợi dụng công nghệ để cắt dán, trích dẫn sai lệch các hình ảnh, tài liệu nhằm làm cho nhân dân và cộng đồng quốc tế hiểu không đúng về chính sách, pháp luật của Nhà nước ta và các thành tựu đã đạt được trong việc xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội, qua đó hòng xuyên tạc tình hình thực tế trong nước. Điển hình như năm 2022, tổ chức phản động Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) đã tổ chức Diễn đàn trực tuyến với chủ đề “Hội luận về Thiên Chúa giáo ở vùng Tây Nguyên-thách đố và triển vọng” nhằm xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, kích động hận thù, vận động người dân trong nước tham gia diễn đàn, kêu gọi quốc tế gây sức ép yêu cầu Nhà nước Việt Nam “cải thiện tự do tôn giáo, tín ngưỡng”.

Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 3.000 trang web, blog, tài khoản mạng xã hội và gần 100 hội, nhóm trên mạng xã hội Facebook thường xuyên đăng tải thông tin chống Đảng, Nhà nước Việt Nam, kích động gây rối an ninh, trật tự, kích động biểu tình, bạo loạn, thực hiện “cách mạng màu”,“cách mạng đường phố”...

Bên cạnh đó, các tổ chức và lực lượng phản động, thù địch lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động gián điệp, thu thập tin tức chống Việt Nam thông qua việc tung ra những phần mềm chứa các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn, các ứng dụng miễn phí trên điện thoại. Chúng sử dụng kỹ thuật hiện đại lợi dụng lỗ hổng bảo mật để xâm nhập chiếm đoạt bí mật nhà nước, lấy cắp phát minh, sáng chế nhằm gây thiệt hại cho kinh tế nước ta.

Phòng, chống xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng
Ảnh minh họa  / TTXVN 

Chúng còn lợi dụng internet, mạng xã hội để chia sẻ công cụ, cách thức, thủ đoạn phạm tội hoặc làm lây nhiễm virus, phần mềm gián điệp, mã tin học độc hại... nhằm phá hoại kinh tế, cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các tập đoàn kinh tế lớn của nước ta.

Nghiêm trọng hơn, chúng lợi dụng internet, mạng xã hội để kích động, lôi kéo người dân tham gia hoạt động chống phá an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta; đồng thời, móc nối, cấu kết với cán bộ, đảng viên có biểu hiện tha hóa, biến chất, số có tư tưởng "cấp tiến" là lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành để mua chuộc, lôi kéo hình thành tổ chức phản động. 

Dưới chiêu bài “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, “yêu nước”, chúng âm mưu hình thành, phát triển “xã hội dân sự” và các tổ chức chính trị-xã hội, hội nhóm bất hợp pháp như: “Hội phụ nữ nhân quyền”,“Nhóm công dân tự do”, “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”... Thông qua internet, mạng xã hội, các đối tượng bên ngoài và trong nước cấu kết, móc nối với nhau để lôi kéo, mua chuộc người tham gia tổ chức phản động. Trong đó, bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; số đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thành lập tổ chức, hội nhóm, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài xuyên tạc; điển hình như các tổ chức phản động: "Việt Tân", "Tuổi trẻ yêu nước"... 

Cùng với đó, cũng phải thấy một thực tế là, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động xâm phạm ANQG trên không gian mạng, thời gian qua, công tác này còn tồn tại những khó khăn, hạn chế nhất định. Đó là công tác quản lý công nghệ viễn thông, bảo mật thông tin nội bộ của không ít cơ quan nhà nước, cá nhân tại Việt Nam còn sơ hở, chưa được bảo mật tốt. Hệ thống pháp luật của nước ta trong lĩnh vực quản lý mạng xã hội, internet và đấu tranh, xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao đang trong quá trình đồng bộ để đáp ứng tình hình thực tế. Công tác tuyên truyền, định hướng thông tin và đấu tranh phản bác các thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch vẫn có lúc thụ động, thiếu sắc bén.

Lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm lợi dụng internet, mạng xã hội còn mỏng; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật còn khó khăn. Trong khi đó, tội phạm lợi dụng internet, mạng xã hội là những đối tượng có nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và liên tục thay đổi phương thức hoạt động trên phạm vi hoạt động rộng, đặc biệt là từ nước ngoài, gây khó khăn trong phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn.   

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm ANQG nước ta trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục chủ động tăng cường công tác nắm tình hình, nghiên cứu dự báo, phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn, đặc biệt là phương thức hoạt động mới của các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng để chống phá nước ta; chú trọng nắm tình hình từ xa, nắm tình hình ngay từ trung tâm phá hoại tư tưởng ở bên ngoài để triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Chủ động xây dựng hệ thống thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng có khả năng chỉ huy, kết nối, chia sẻ thông tin, tiếp nhận và xử lý sớm các thông tin gây hại tới không gian mạng quốc gia. 

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm ANQG nước ta, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị. Làm cho cán bộ, đảng viên và người dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên thấy rõ tính hai mặt của không gian mạng; có khả năng nhận diện và “miễn dịch” với các nội dung thông tin xấu, độc, nguy hại đối với xã hội; kịp thời tố giác hành vi lôi kéo người dân vào các hoạt động vi phạm pháp luật thông qua không gian mạng.

Xây dựng ý thức và phong cách văn hóa khi tham gia mạng xã hội, internet; không đăng tải hoặc để lộ, lọt thông tin, tài liệu liên quan đến bí mật nhà nước. Phát huy hơn nữa lợi thế của internet, mạng xã hội trong việc cập nhật thường xuyên các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những thành tựu đã đạt được trong xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.  

Ba là, phát huy vai trò của Ban chỉ đạo An toàn, an ninh mạng quốc gia, Hiệp hội An ninh mạng quốc gia trong việc tham mưu với Đảng, Nhà nước chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương hướng dẫn cán bộ, đảng viên và người dân cùng tham gia công tác bảo vệ an toàn, an ninh mạng, phát huy sức mạnh tổng hợp chung trong công tác phòng, chống hoạt động xâm phạm ANQG trên không gian mạng.   

Bốn là, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm ANQG có phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh nhuệ, hiện đại, có trình độ chuyên môn sắc bén trong điều tra, khám phá âm mưu, hoạt động lợi dụng không gian mạng để chống phá nước ta. Tiếp tục đầu tư, trang bị các trang thiết bị nghiệp vụ chuyên dụng và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống hoạt động này. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng. 

Năm là, tăng cường, mở rộng hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế có trình độ phát triển cao về công nghệ thông tin và an ninh mạng để trao đổi kinh nghiệm trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng và đấu tranh phòng, chống hoạt động vi phạm pháp luật trên lĩnh vực này; tranh thủ tiếp thu công nghệ mới và hợp tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng làm công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nước ta. 

Tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về viễn thông, truyền thông, internet, bảo vệ bí mật nhà nước và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực này. Nghiên cứu sử dụng các giải pháp công nghệ thông tin để ngăn chặn triệt để những tin tức xấu, độc trên các trang mạng, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung độc hại./.

ST.

Giữ gìn sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người, đó là nhờ có kỷ luật”. Chính nhờ có kỷ luật của Đảng nghiêm minh, các đảng viên nghiêm túc, tự giác chấp hành mà trong suốt 94 năm qua, Đảng ta đã vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng

Theo từ điển Tiếng Việt: “Kỷ luật là những quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức để bảo đảm tính chặt chẽ của tổ chức đó”. Từ khái niệm trên, có thể hiểu rằng, mọi tổ chức muốn tồn tại, hoạt động và phát triển đều phải đặt ra các quy chế, quy định bảo đảm phù hợp với tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức mình; đồng thời, mọi thành viên trong tổ chức phải phục tùng và chấp hành quy định đó.

Với ý nghĩa đó, kỷ luật của Đảng là toàn bộ những quy định tại các văn kiện của Đảng, như Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định... Những quy định này bắt buộc mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tuyệt đối chấp hành, đó là yêu cầu tiên quyết nhằm bảo đảm sự thống nhất trong toàn Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Bởi vậy, kỷ luật của Đảng không chỉ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, mà còn bảo đảm cho Đảng ta tồn tại, hoạt động và phát triển. Song song đó, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng là công việc thường xuyên, liên tục để bảo đảm mọi tổ chức đảng và đảng viên, không một ai, không một tổ chức đảng nào được phép vượt ra khỏi lằn ranh kỷ luật của Đảng. 

Tuyệt đối chấp hành kỷ luật của Đảng vô điều kiện là yêu cầu bắt buộc, là nguyên tắc “bất khả xâm phạm” mà không một đảng viên và không một tổ chức đảng nào được phép có đặc quyền, đặc lợi; không ai được phép đặt mình cao hơn kỷ luật của Đảng và không ai được phép coi là ngoại lệ trong việc chấp hành kỷ luật của Đảng.

Thực tế đã chứng minh, trong lịch sử của Đảng ta từ khi thành lập đến nay, khi có bất cứ tổ chức đảng và đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật đều phải bị xử lý. Dù đó là tổ chức đảng cấp trên hay cấp dưới, là đảng viên giữ quyền cao chức trọng hay không, tuổi đảng nhiều hay ít đều không có ngoại lệ, không có vùng cấm. Thậm chí, để tăng cường kỷ luật, kỷ cương, Đảng quy định đảng viên giữ cương vị càng cao càng phải nêu gương, làm gương và càng phải xử lý nghiêm khắc, không nhẹ trên, nặng dưới; không khắt khe hay buông lỏng trong thi hành kỷ luật. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ: “Kỷ luật của Đảng ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác...”. Quán triệt sâu sắc và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước, 94 năm qua, Đảng ta luôn thực hành kỷ luật đảng một cách nghiêm minh, tự giác; đồng thời không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định đối với công tác kỷ luật của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; có chế tài để phòng ngừa, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm kỷ luật đảng”.

Cụ thể hóa chủ trương trên, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6-7-2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Quy định này thay thế Quy định số 07-QÐi/TW, ngày 28-8-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm và Quy định số 102-QÐ/TW, ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Tại Khoản 1, Điều 2 của Quy định số 69-QĐ/TW một lần nữa khẳng định rất rõ: “Tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời”. 

Những năm gần đây, nhất là từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng được tiến hành tăng cường đẩy mạnh. Kỷ luật đảng được thực thi trước để “mở đường” cho kỷ luật chính quyền và xử lý theo quy định của pháp luật. Điều đáng nói, Quy định số 69-QĐ/TW và những quy định trước đây của Đảng về xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên xác định rõ, dù là “cán bộ, đảng viên đã chuyển công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu mới phát hiện có vi phạm ở cơ quan, đơn vị cũ đến mức phải kỷ luật thì vẫn xem xét kỷ luật theo đúng quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước”. Như vậy, “kim bài miễn tử”, hay câu khẩu quyết “hạ cánh an toàn”, lâu nay vốn dĩ không có hiệu lực với những cán bộ, đảng viên để xảy ra sai phạm, khuyết điểm khi còn đương chức. Có chăng, những sai phạm, khuyết điểm đó đã tới mức phải thi hành kỷ luật hay chưa mà thôi!

Minh chứng rõ nhất là thời gian qua, hàng loạt cán bộ cao cấp, từ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng đương nhiệm, giữ vị trí chủ chốt trong Đảng, Nhà nước cho đến bí thư, chủ tịch UBND tỉnh, rồi bộ trưởng, thứ trưởng, tướng lĩnh, dù đang đương nhiệm hay đã nghỉ hưu vẫn bị xử lý nghiêm minh khi phát hiện vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước. Trong nền dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và trong toàn Đảng ta “mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng”. Bởi vậy, kỷ luật đảng chỉ là bước đầu, “mở đường” cho các cơ quan chức năng tiến hành điều tra, truy tố, xét xử với những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật. 

Theo số liệu thống kê của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chỉ tính riêng trong năm 2023: “Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, 24.162 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến cuối năm 2023, Ban Chấp hành Trung ương đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý (2/3 đảng viên bị xử lý kỷ luật là do sai phạm từ những nhiệm kỳ trước đó), trong đó có 22 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng...”.

Và từ đầu năm 2024 đến nay, dư luận trong quần chúng nhân dân tiếp tục bày tỏ hoan nghênh, “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng” trước sự nghiêm minh của kỷ luật đảng khi Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật đối với một số cán bộ lãnh đạo cấp cao ở Trung ương và địa phương. 

Kỷ luật cán bộ - khâu tất yếu trong thực hành kỷ luật của Đảng

Những năm qua, với độ mở của nền kinh tế và sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, trước các tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sa vào chủ nghĩa cá nhân và vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Cùng với đó, một số cán bộ, đảng viên giữ vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau để xảy ra sai phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, buộc phải xử lý kỷ luật.

Những con số thống kê trong bài viết đã phản ánh rất rõ nét về tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng đã được triển khai thường xuyên, liên tục. Đặc biệt là, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, không giấu giếm khuyết điểm, sau mỗi phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các thông tin về vụ việc tham nhũng, tiêu cực, về tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm kỷ luật Đảng đều được cơ quan chức năng công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. 

Đảng công khai khuyết điểm, minh bạch về công tác kỷ luật cán bộ trước toàn Đảng và toàn dân là điều rất đáng hoan nghênh, nhưng đây cũng là “miếng mồi ngon” để các thế lực thù địch hướng vào. Thông qua những vụ việc kỷ luật cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, bằng những lập luận vô căn cứ, xuyên tạc, chúng quy chụp và hướng dư luận vào luận điệu rằng, “cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam không có năng lực lãnh đạo, quản lý”; hay “kỷ luật cán bộ thực chất là cuộc thanh trừng, đấu đá nội bộ, hạ bệ lẫn nhau”...

Dĩ nhiên, đó chỉ là những tiếng nói lạc lõng, vô căn cứ. Trước hết cần khẳng định rằng, tăng cường kỷ luật trong Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục, nhưng tuyệt nhiên không phải là thi hành kỷ luật thật nhiều, thật nặng mà mục đích quan trọng nhất là nâng cao tinh thần nghiêm túc và tự giác chấp hành kỷ luật của các tổ chức đảng và đảng viên. Nhưng nếu tổ chức đảng và đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời; qua đó giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh đối với các tổ chức đảng và đảng viên khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Sửa chữa sai lầm, cố nhiên dùng cách giải thích, thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ, nếu nhất loạt không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, việc hoàn toàn không xử phạt là không đúng, mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”.

Quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, thời gian qua, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng được tiến hành mạnh mẽ, đồng bộ và có nhiều đổi mới, nhất là việc khuyến khích cán bộ, đảng viên từ chức, kịp thời miễn nhiệm, thay thế cán bộ bị xử lý kỷ luật... Qua đó, đã từng bước cụ thể hóa chủ trương “có lên, có xuống”, “có vào, có ra” trong công tác cán bộ theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. 

Thời gian qua, theo dõi những vụ việc, vụ án lớn có “bàn tay nhúng chàm” của một số cán bộ, từ cấp cao đến cấp cơ sở, tuyệt đại đa số khi bị xét xử, tuyên án, họ đều tâm phục, khẩu phục trước bản án, bày tỏ sự hối hận và thành khẩn nhận lỗi, xin lỗi tổ chức đảng, xin lỗi cơ quan, đơn vị, đồng chí, đồng nghiệp, xin lỗi quần chúng nhân dân vì đã làm ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng... Ngoài ra, chỉ tính riêng trong năm 2023, ngoài những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đến mức phải xử lý nghiêm khắc, nghiêm minh, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp đã xem xét, quyết định: “cho thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác, bố trí công tác khác đối với 9 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm, bố trí công tác khác hơn 360 trường hợp sau khi bị kỷ luật, trong đó có 92 cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, thành ủy quản lý”. Những thông tin trên là minh chứng khẳng định sự nghiêm minh nhưng cũng hết sức nhân văn của kỷ luật đảng, khẳng định “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”... 

Thêm một lần nữa khẳng định rằng, kỷ luật cán bộ là bước vận hành, thực thi kỷ luật đảng để bảo đảm tính nghiêm minh, “bình đẳng” của mọi đảng viên trước kỷ luật đảng, chứ không phải là sự “thanh trừng”, “đấu đá” “hạ bệ” lẫn nhau trong nội bộ. Mục đích cao nhất của việc duy trì nghiêm kỷ luật đảng là để cảnh báo, kịp thời ngăn chặn cán bộ, đảng viên không ai được vượt ra khỏi lằn ranh kỷ luật của Đảng. Việc thi hành kỷ luật đảng giúp tập thể, cá nhân khắc phục, sửa chữa dứt điểm những hạn chế, khuyết điểm đã được chỉ ra; đồng thời cũng chính là đang cảnh báo, răn đe cả tập thể và từng cá nhân đảng viên trong tập thể ấy, để không ai đi vào vết xe đổ của đồng chí, đồng nghiệp của mình. Kỷ luật Đảng nghiêm minh góp phần giúp các tổ chức đảng “xốc” lại đội hình, chỉnh đốn đội ngũ; qua đó lập lại trật tự, kỷ cương trong Đảng. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Phải kỷ luật chính đồng chí mình là điều không ai muốn, nhưng kỷ luật một vài người là để vừa giữ nghiêm kỷ cương phép nước, vừa cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”./.

ST.