Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

ĐẢNG TA LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH

 

Tại thời khắc kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2025), Đảng bộ thành phố Hà Nội, giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn Thủ đô, mỗi cán bộ, đảng viên mãi khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” để “rèn giũa” tổ chức, bản thân vững bước cùng cả nước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như khi trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước - Người đã đúc kết: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”.
Là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động có sứ mệnh vẻ vang lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo đất nước giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ, xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa để hiện thực hóa khát vọng hùng cường, suốt chiều dài 95 năm qua, Đảng luôn trung thành với lợi ích của dân tộc, của giai cấp công nhân và của Nhân dân.
Phát huy những giá trị trường tồn của dân tộc, của những bậc tiên liệt, Đảng luôn lấy “đức trị” làm kim chỉ nam trong lãnh đạo, chỉ đạo. Ngoài sứ mệnh giải phóng dân tộc, thống nhất, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc, đất nước phồn vinh, Đảng không có bất kỳ lợi ích nào khác. Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện luôn tuân thủ, đề cao nguyên tắc đạo đức trong hoạt động của tổ chức và mỗi cán bộ đảng viên. Vì chỉ có đạo đức mới giữ phẩm chất của đảng cầm quyền trong sạch, chỉ có đạo đức mới làm gương cho Nhân dân noi theo.
Bên cạnh đạo đức, Đảng ta còn là văn minh. Văn minh là biết nhìn nhận vào những khuyết điểm, hạn chế, không quan liêu để sẵn sàng sửa chữa các khiếm khuyết; văn minh là sẵn sàng tiếp thu, đón nhận những tiến bộ về khoa học quản lý, thời đại để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; văn minh là ứng xử với Nhân dân trên nền tảng “cán bộ, đảng viên là đầy tớ của Nhân dân”.
Nhờ xác định chủ thể “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 95 năm qua Đảng đã lãnh đạo đất nước gặt hái từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, đưa đất nước mở cửa, hội nhập toàn diện với thế giới, trở thành “điểm sáng” về kinh tế và chính trị trong bức tranh quốc tế đầy sắc màu.
Với Thủ đô Hà Nội và Đảng bộ Thành phố, thấm nhuần tư tưởng và những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ Thành phố luôn gương mẫu đi đầu trong công tác xây dựng Đảng, đổi mới tư duy lãnh đạo, phương thức hoạt động và cách tiếp cận mới thực sự trong sạch, vững mạnh đủ tầm, đủ sức lãnh đạo đưa thành phố Hà Nội phát triển toàn diện như hiện tại.
Trong bài viết, "Phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng lòng xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại" nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô của Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội - Bùi Thị Minh Hoài nhấn mạnh: “Thành tựu đạt được qua gần 40 năm đổi mới khẳng định mạnh mẽ sức vươn lên của Thủ đô Anh hùng, nhất là dấu ấn trong thực hiện quyết định lịch sử của Đảng và Nhà nước về mở rộng địa giới hành chính Hà Nội từ ngày 1/8/2008.
Trên chặng đường ấy, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhưng Thủ đô luôn gương mẫu đi đầu từ công tác xây dựng Đảng, đến các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Trong đó, Đảng bộ Thành phố luôn thể hiện được vai trò tiên phong, gương mẫu, không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo để đưa Thủ đô vững bước đi lên, đúng như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng bộ Hà Nội phải làm gương mẫu cho các Đảng bộ khác”.
Bí thư Thành ủy đúc kết: “Nhìn lại những giá trị thời đại, tự hào về chặng đường đã qua của Hà Nội - một biểu tượng rạng rỡ của dân tộc Việt Nam, mỗi cán bộ, đảng viên cùng toàn thể Nhân dân lại càng thêm nỗ lực, trách nhiệm, chung sức đồng lòng để cống hiến nhiều hơn, viết tiếp những trang sử hào hùng để xây dựng và kiến tạo Thủ đô thêm giàu đẹp, văn minh, hiện đại, xứng đáng với những công lao và sự hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước đã không ngừng bồi đắp để có một “Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội nghìn năm văn hiến”, một “Thủ đô Anh hùng”, một “Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người”, một “Thành phố vì hòa bình”, Thành phố sáng tạo - xứng đáng là Thủ đô, trái tim của cả nước, vai trò đầu tàu, vị trí trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, và hội nhập quốc tế”.
… Một mùa xuân mới lại về, chào mừng 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng một Đảng được thành lập và rèn luyện bởi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh, được tôi luyện trong suốt chiều dài lịch sử hơn 90 năm qua, Đảng sẽ lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỤC TIÊU CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Cứ đến mỗi dịp kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch lại đẩy mạnh các hoạt động chống phá với những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận bản chất, mục tiêu, lý tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Mới đây, Hiếu Chân với bài viết “Chiếc bánh vẽ “kỷ nguyên mới” trên trang Viettan đã trắng trợn quy chụp rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đẩy người dân ra rìa, thủ tiêu vai trò chủ thể quốc gia của dân, bóp nghẹt tiếng nói của dân, coi dân như “thế lực thù địch”. Đây là những luận điệu rất phi lý, hoàn toàn là sai trái, cố tình phớt lờ không nghe, không thấy mục tiêu phấn đấu cao đẹp của Đảng luôn vì độc lập, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Mục đích thâm hiểm của những luận điệu này nhằm làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.
Cần khẳng định, mục tiêu, động lực phấn đấu xuyên suốt quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì hạnh phúc của Nhân dân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Trong Cương lĩnh đầu tiên khi mới được thành lập, Đảng đã xác định, cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân; sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến Cương lĩnh 2011, Đảng ta tiếp tục kiên định khẳng định, tất cả vì lợi ích chân chính của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân. Đặc biệt, mục tiêu, khát vọng vì hạnh phúc của Nhân dân đã được thể hiện ngay dưới quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”.
Xuyên suốt các kỳ đại hội trong thời kỳ đổi mới, Đảng đều kiên định với quyết tâm chiến lược giữ vững nền độc lập cho dân tộc và phấn đấu để đất nước phát triển vì tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Tiếp nối tinh thần của các kỳ đại hội, Đại hội XIII của Đảng đã đề cao khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đặc biệt coi trọng bảo đảm hạnh phúc của Nhân dân. Theo đó, Đảng xác định đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 - 5.000 USD; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1-1,5% hằng năm; có 10 bác sĩ và 30 giường bệnh/vạn dân; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,5 tuổi… Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao (GDP bình quân đầu người ước đạt khoảng 7.500 USD/năm). Đến năm 2045, Kỷ niệm 100 năm thành lập nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Các chỉ tiêu cụ thể này được Đảng xác định không có mục đích nào khác là nhằm đem lại hạnh phúc cho Nhân dân.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhân dân đã được hưởng tự do, hạnh phúc thực sự trên thực tế. Trong thời kỳ phong kiến và thực dân, đế quốc, Nhân dân ta không có hạnh phúc, bởi không có quyền làm chủ, phải chịu sự áp bức, bóc lột và kiếp sống nô lệ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành được thắng lợi, Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhân dân thực sự được làm chủ, trực tiếp xây dựng nên chính quyền các cấp, bầu ra đại biểu đại diện cho quyền và lợi ích của chính mình, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Đăc biệt, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mang lại cuộc sống hạnh phúc cho Nhân dân. Hiện nay, Nhân dân Việt Nam không chỉ có cơm ăn, áo mặc, mà còn ăn ngon, mặc đẹp; từ đô thị đến làng quê, đâu đâu cũng khang trang với cuộc sống hạnh phúc. Thu nhập bình quân đầu người không ngừng được cải thiện và Việt Nam đã được vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới. Việt Nam đã được xếp vào nhóm các quốc gia có chỉ số phát triển con người cao trong suốt ba năm gần đây, đứng thứ 107 trên 193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam cũng là quốc gia có chỉ số hạnh phúc được xếp hạng cao trên thế giới. Theo Báo cáo hạnh phúc thế giới 2023 (The World Happiness Report), Việt Nam đứng thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 65 trên thế giới với điểm số hạnh phúc đạt 5,8. Theo đó, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022, lên vị trí 65 năm 2023. Và trong bảng xếp hạng các quốc gia hạnh phúc của Báo cáo hạnh phúc thế giới 2024, Việt Nam đứng thứ 54, tăng 11 bậc so với năm 2023.
Hạnh phúc của Nhân dân luôn là mục tiêu phấn đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi thành lập cho đến ngày hôm nay. Vì vậy, dù Hiếu Chân và các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc như thế nào đi chăng nữa, thì mục tiêu vì hạnh phúc Nhân dân của Đảng tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong tương lai. Theo đó, mỗi người dân cần tỉnh táo, nêu cao cảnh giác và vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TNGT GIẢM GẦN 40% SỐ VỚI 9 NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN GIÁP THÌN!

     Từ 25/1 đến 2/2 tức từ ngày 26 tháng Chạp năm Giáp Thìn đến ngày mùng 5 tháng Giêng năm Ất Tỵ, toàn quốc xảy ra 445 vụ TNGT, làm chết 209 người, bị thương 373 người. So với 9 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, giảm 258 vụ (giảm 36,69%), giảm 126 người chết (giảm 37,61%), giảm 232 người bị thương (giảm 38,34%).

Theo Cục CSGT, 9 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025 (từ 25/1 đến 2/2 tức từ ngày 26 tháng Chạp năm Giáp Thìn đến ngày mùng 5 tháng Giêng năm Ất Tỵ, toàn quốc xảy ra 445 vụ TNGT, làm chết 209 người, bị thương 373 người.

So với 9 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, giảm 258 vụ (giảm 36,69%), giảm 126 người chết (giảm 37,61%), giảm 232 người bị thương (giảm 38,34%). Trong đó, TNGT đường bộ xảy ra 442 vụ, làm chết 207 người, bị thương 372 người. Cả nước xảy ra 1 vụ TNGT đường bộ tại Nam Định, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, làm 7 người chết, 2 người bị thương.  

Tình hình TTATGT trên cả nước cơ bản được đảm bảo; lưu lượng phương tiện giao thông tăng cao, nhất là các ngày trước và sau kỳ nghỉ Tết dẫn đến ùn ứ tại một số tuyến ra vào cửa ngõ Thủ đô Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các tuyến cao tốc, cầu Rạch Miễu (nối 2 tỉnh Tiền Giang và Bến Tre).

Lực lượng CSGT Công an các đơn vị, địa phương đã chủ động tổ chức lực lượng, phương tiện nắm tình hình, bố trí phương tiện cẩu kéo cứu hộ; phối hợp phân luồng từ xa, điều tiết giao thông theo đúng nội dung các phương án của Cục CSGT nên tình hình ùn ứ giao thông trên các tuyến được khắc phục nhanh hơn, sớm đưa tình trạng giao thông trở lại ổn định, bình thường./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 95 NĂM THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - NGỌN ĐUỐC SOI SÁNG ĐƯỜNG DÂN TỘC!

         Ngày 3/2/1930, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam!

Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, cũng là điểm mở đầu quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sự phát triển của dân tộc trong các giai đoạn sau này.

Đảng lãnh đạo nhân dân giành độc lập dân tộc

Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào yêu nước của dân tộc ta dù dâng cao mạnh mẽ, nhưng liên tiếp thất bại. Nguyên nhân chính là thiếu một đường lối đúng đắn và một tổ chức lãnh đạo thống nhất.

Những cuộc khởi nghĩa do các anh hùng dân tộc, như Trương Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám lãnh đạo đều mang đậm tinh thần quật cường, bất khuất trước kẻ thù, nhưng do thiếu hụt về tổ chức, chiến lược và sự liên kết giữa các phong trào đã khiến những nỗ lực này không thể đạt được mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách thống trị thực dân. Cách mạng Việt Nam vì thế lâm vào khủng hoảng sâu sắc cả về đường lối và tổ chức

Trong bối cảnh đó, ngày 6/5/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này là Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc) đã ra đi tìm đường cứu nước. Trải qua nhiều năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin - ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam.

Người nhận thức rõ rằng con đường cách mạng vô sản là con đường đúng đắn nhất để giải phóng dân tộc. Với tư duy chiến lược sắc bén, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đưa chủ nghĩa Marx-Lenin về Việt Nam, làm cơ sở lý luận và thực tiễn để tổ chức lực lượng cách mạng.

Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, cũng là điểm mở đầu quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sự phát triển của dân tộc trong các giai đoạn sau này.

Ngày 3/2/1930, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ra đời như một ngọn cờ quy tụ các tầng lớp Nhân dân, thắp lên khát vọng giải phóng dân tộc và khơi dậy sức mạnh đoàn kết toàn dân. Từ đây, cách mạng Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới với đường lối rõ ràng, tổ chức thống nhất và phương pháp đấu tranh hiệu quả.

15 năm sau ngày thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Việt Nam đã làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là sự kiện lịch sử đánh dấu sự sụp đổ của ách thống trị thực dân, phong kiến trên đất nước ta, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, với lời tuyên bố bất hủ: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập." Lời tuyên bố không chỉ khẳng định sự tự do của dân tộc ta mà còn khơi dậy niềm cảm hứng cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Chỉ hơn 4 tháng sau, cuộc Tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên ngày 6/1/1946 đã bầu ra Quốc hội và Chính phủ hợp hiến, hợp lòng dân. Ngay tại Kỳ họp thứ hai (tháng 11/1946), Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trịnh trọng khẳng định quyền độc lập của dân tộc, quyền tự do dân chủ của Nhân dân.

Như vậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã mở ra thời kỳ mới: thời kỳ Nhân dân làm chủ vận mệnh, đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Đây là minh chứng hùng hồn cho vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng, khẳng định rằng dưới sự dẫn dắt của một chính Đảng tiên phong, một dân tộc nhỏ bé vẫn có thể làm nên những kỳ tích lớn lao.

Đảng lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và thống nhất đất nước

Ngay sau ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, dân tộc ta lại đối mặt với âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh "ngàn cân treo sợi tóc", Đảng ta một lần nữa tỏ rõ bản lĩnh của một Đảng Marxist chân chính, chủ động đối phó với thù trong giặc ngoài với phương châm: “Tổ quốc trên hết, Dân tộc trên hết.”

Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) là minh chứng cho sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng. Với tư tưởng chỉ đạo "toàn dân, toàn diện và dựa vào sức mình là chính," Đảng đã huy động được sức mạnh của toàn dân tộc vào cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Trong suốt cuộc kháng chiến, quân và dân ta liên tục giành thắng lợi trên các mặt trận mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954.

Đây là trận quyết chiến chiến lược, trực tiếp góp phần chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta. Đồng thời, chiến thắng cũng tạo cú hích mạnh mẽ làm rung chuyển hệ thống thuộc địa toàn cầu, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Điện Biên Phủ đi vào lịch sử như một chiến công "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu," khẳng định sức mạnh đoàn kết và ý chí quật cường của Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Vừa ra khỏi cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp, dân tộc ta lại tiếp tục đối mặt với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đây là một cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhân dân ta đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kết hợp giữa chiến tranh nhân dân và các chiến lược quân sự táo bạo. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã đồng lòng chiến đấu anh dũng, giành được những thắng lợi vẻ vang, làm rạng rỡ thêm trang sử hào hùng của dân tộc.

Và đỉnh cao của cuộc kháng chiến chính là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử diễn ra vào mùa Xuân năm 1975. Với phương châm "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" quân và dân ta đã tiến hành tổng tiến công, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975.

Văn kiện Đại hội IV của Đảng năm 1976 khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.”

Chiến thắng năm 1975 không chỉ mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất mà còn là bước ngoặt lịch sử, đưa cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới, với niềm tin mãnh liệt vào vai trò lãnh đạo của Đảng trong một hành trình mới ở phía trước.

Đảng lãnh đạo thành công công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước

Sau ngày thống nhất, cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với vô vàn khó khăn, thách thức, cả trong nước, khu vực và trên trường quốc tế.

Trước tình hình đó, Đảng ta một lần nữa khẳng định trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử, khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (tại Đại hội VI của Đảng 1986).

Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình từ năm 2008. Đặc biệt, năm 2024, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, Việt Nam ghi dấu ấn mạnh mẽ với tăng trưởng GDP ấn tượng 7,09%, vượt xa các dự báo và trở thành điểm sáng về tăng trưởng trong khu vực.

Đảng ta quyết định thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; đồng thời đổi mới chính sách xã hội, hướng vào những giải pháp nhằm cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân.

Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, mang tính lịch sử.

Kinh tế phát triển vượt bậc. Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình từ năm 2008. Đặc biệt, năm 2024, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, Việt Nam ghi dấu ấn mạnh mẽ với tăng trưởng GDP ấn tượng 7,09%, vượt xa các dự báo và trở thành điểm sáng về tăng trưởng trong khu vực; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành ước đạt 114 triệu đồng/người, tương đương 4.700 USD, tăng 377 USD so với năm 2023; Kim ngạch xuất nhập khẩu lập kỷ lục mới, đạt gần 800 tỷ USD, Việt Nam duy trì xuất siêu trong 9 năm liên tiếp, với mức xuất siêu 25 tỷ USD.

Kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định thương mại song phương với hơn 100 nước, trong đó có nhiều hiệp định thế hệ mới.

Văn hóa, xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. An sinh xã hội luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách của Đảng và Nhà nước.

Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2024 giảm còn dưới 1,9%, thấp nhất từ trước đến nay. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng cao, với những tiến bộ đáng kể trong giáo dục, y tế và cơ sở hạ tầng.

Các chương trình hỗ trợ giáo dục, y tế, nhà ở và nước sạch đã tiếp cận hàng triệu người dân tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo.

Chính phủ tiếp tục triển khai mạnh mẽ các chương trình về nhà ở, như xây dựng 1 triệu căn nhà ở xã hội, xóa bỏ nhà tạm nhà dột nát và hỗ trợ người dân vùng khó khăn.

Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước, vùng lãnh thổ trên khắp năm châu; xây dựng các mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới; đặc biệt có quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với 9 quốc gia, gồm Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia, Pháp và Malaysia.

Trên bình diện đa phương, Việt Nam tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong các tổ chức, diễn đàn quốc tế, như: ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Việt Nam cũng tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế lớn và hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế quan trọng với tư cách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiên ASEAN, chủ nhà Hội nghị cấp cao ASEM, Hội nghị thượng đỉnh APEC, Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN…, qua đó góp phần nâng cao uy tín và vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Những thành tựu to lớn trên chính là minh chứng rõ nét cho sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, ý chí kiên cường và khát vọng vươn lên của một đất nước giàu truyền thống yêu nước và sáng tạo, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong bài trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp năm mới Ất Tỵ 2025, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định "Sau gần 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích trong lịch sử, trải qua kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930-1975); kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới (1975-2025). Và giờ đây, chúng ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu bằng sự kiện trọng đại - Đại hội XIV của Đảng. Kỷ nguyên trước tạo tiền đề cho kỷ nguyên sau, kỷ nguyên sau kế thừa, phát triển thành tựu của kỷ nguyên trước, làm cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng hòa quyện, phát triển không ngừng. Ý Đảng hòa quyện lòng dân, khát vọng đưa đất nước vươn mình tiến vào kỷ nguyên mới."

Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là kỷ nguyên phát triển bứt phá, tăng tốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc; đuổi kịp, tiến cùng, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; mọi người dân đều được phát triển toàn diện, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, văn minh."

Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ, "từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ, cơ hội chiến lược, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước. Điều quan trọng là chúng ta phát huy được tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nỗ lực, quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc."

Để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu "cần đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để đưa dân tộc ta tiếp tục tiến lên mạnh mẽ," "phải tiến hành đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh - hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Trong số đó, tập trung tinh gọn bộ máy, tổ chức các cơ quan của Đảng thực sự là hạt nhân trí tuệ, “bộ tổng tham mưu,” đội tiên phong lãnh đạo các cơ quan nhà nước.

Các cơ quan tham mưu của Đảng phải thực sự tinh gọn; cán bộ tham mưu có phẩm chất chính trị tốt, năng lực, trình độ chuyên môn giỏi, tinh thần trách nhiệm cao. Tác phong, lề lối làm việc cần đổi mới mạnh mẽ theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả"./.

Yêu nước ST.

Hệ thống chính trị một đảng cầm quyền ở Việt Nam - sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử

Lịch sử chính trị thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân. Thực tiễn cũng cho thấy, chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hoàn toàn không phù hợp với bối cảnh lịch sử-xã hội ở Việt Nam.

Những nghịch lý và hệ lụy của chế độ đa đảng

Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là một khuynh hướng tổ chức đời sống chính trị-xã hội xuất hiện từ đầu thế kỷ 18 với xu hướng tuyệt đối hóa sự đa dạng, đối kháng của các đảng chính trị. Chế độ đa đảng là hệ thống mà ở đó có nhiều đảng chính trị có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau.

Lịch sử chính trị thế giới cho chúng ta một số bài học để thấy rằng hệ thống đa đảng đối lập nhiều khi không dẫn các quốc gia theo con đường này đến hòa bình, ổn định và phồn vinh, mà ngược lại nó dẫn đến sự bất hòa, phân lập, thậm chí là tê liệt của bộ máy công quyền. Trở lại bối cảnh lịch sử của nước Đức cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Nước Đức thời kỳ này tồn tại nhiều đảng phái chính trị, mỗi đảng đại diện cho những lợi ích xã hội được xác định rõ ràng, tranh giành quyền lực và lợi lộc từ quyền lực, thỏa hiệp và ký kết thỏa hiệp với nhau khi nào có thể. Sự chia rẽ trong đời sống chính trị không chỉ dẫn đến hậu quả đau đớn cho Đức vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 mà hiện vẫn còn dẫn tới sự bất ổn chính trị, làm gia tăng nghèo đói và bạo loạn ở nhiều nước trên thế giới.

Nhìn lại cuộc cách mạng “mùa xuân Ả Rập” diễn ra năm 2011 cho thấy điều đó. Phân hóa giàu nghèo, tham nhũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự nổi dậy lật đổ chính quyền tại một loạt quốc gia ở khu vực Bắc Phi và Trung Đông. Nhưng sau khi lật đổ chính quyền, điều mà người dân trông chờ là một nền chính trị ổn định, ít tham nhũng, quan tâm đến đời sống của đại đa số người dân, những gì mà các thế lực bên ngoài rao giảng đã không được thực thi trên thực tế. Thay vào đó là sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái và thế lực chính trị. Cho đến hiện tại, ở các quốc gia này, không có một đảng chính trị hay một lực lượng chính trị nào đủ mạnh để có thể thống nhất, lãnh đạo đất nước khiến xã hội vẫn chưa đi vào ổn định và phát triển.

Thể chế đa đảng với cách thức tổ chức cho phép các đảng đối lập phản đối chính sách của đảng cầm quyền nhằm thực hiện dân chủ, nhưng nghịch lý của nó là khiến chính phủ trở nên phân rã và chia rẽ. Sự phân cực chính trị làm phân tán nguồn lực và các chính sách đem lại lợi ích cho đa số người dân thường sẽ khó được thực thi. Bởi khi không nắm chính quyền, các đảng chính trị sẽ có nhiệm vụ là tìm mọi cách phê phán chính sách của đảng đối lập; mục đích chính của việc làm này không phải là để có tiếng nói phản biện nhằm làm cho chính sách được thực thi một cách tốt hơn mà là để giành giữ lá phiếu cho đảng mình trong các lần bầu cử tiếp theo.

Nhìn vào đời sống chính trị của các quốc gia tổ chức theo chế độ đa đảng đối lập, chúng ta sẽ thấy các đảng chính trị để tranh giành quyền lực, họ không dựa trên lợi ích của đông đảo người dân nhằm giải quyết các vấn đề mà xuất phát từ lợi ích của đảng phái, thậm chí là lợi ích cá nhân hẹp hòi. 

Sự lựa chọn cho ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam

Lịch sử chính trị thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân.

Tại Việt Nam, vào cuối thập niên 20 của thế kỷ trước, cùng với sự phát triển của các phong trào yêu nước, các tổ chức cộng sản đảng đã ra đời mà tiêu biểu là An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng và Tân Việt Cách mạng Đảng. Sau khi ra đời 3 tổ chức cộng sản đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế cộng sản và đều tự nhận mình là đảng cách mạng chân chính. Tuy nhiên sự xuất hiện và tồn tại 3 tổ chức cộng sản đảng cùng hoạt động cách mạng đã dẫn đến sự chia rẽ nguồn lực, các đảng công kích lẫn nhau để tranh giành ảnh hưởng. Sự chia rẽ, công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thời kỳ này đã gây tổn hại lớn cho sự phát triển của phong trào cách mạng và gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoang mang trong quần chúng.

Để chấm dứt sự chia rẽ và công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản, đầu tháng giêng năm 1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng để triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 là minh chứng lịch sử cho chúng ta thấy cách thức tổ chức một đảng duy nhất cầm quyền, đây là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với đặc trưng văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta.

So với thể chế đa đảng đối lập, nhiều quan điểm cho rằng các quốc gia có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước đó là “chế độ độc đảng toàn trị”. Hằng năm, các báo cáo về chỉ số tự do dân chủ (Democracy Index) vẫn dựa vào tiêu chí đa đảng đối lập để đánh giá mức độ tự do, dân chủ của một quốc gia. Dựa vào các báo cáo này, họ rao giảng rằng các quốc gia như Việt Nam có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước thì xu hướng chung “đảng đó sẽ độc chiếm quyền lực, tiếm đoạt các chức năng của nhà nước, kiểm soát toàn bộ đời sống của xã hội nói chung, của cá nhân nói riêng”. Họ "khuyến cáo" rằng, "Việt Nam cần phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để thực hiện dân chủ"(!).

Tuy nhiên phải hiểu rằng, dù đề cập đến dân chủ như một giá trị tốt đẹp, dân chủ như một hình thức cai trị, một cách thức ra các quyết định chung hay dân chủ như một chế độ chính trị thì tất cả các ngữ nghĩa này đều không bắt nguồn từ cách thức tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Dù là chế độ một đảng nhưng chúng ta đã, đang thực hiện dân chủ theo những cách riêng, phù hợp với đặc trưng văn hóa, tập quán, lối sống và năng lực thực hành dân chủ của người dân Việt Nam.

Lịch sử đấu tranh cách mạng ở Việt Nam đã cho chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo đất nước, đó là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với phong tục, tập quán, năng lực thực hành dân chủ của người Việt. Nếu ai đó nói với chúng ta rằng Việt Nam cần phải học hỏi các quốc gia trên thế giới, phải xóa bỏ chế độ độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam để tổ chức đời sống chính trị theo chế độ đa đảng, nhất là đa đảng đối lập giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới thì chúng ta đừng hoang mang, dao động, mà hãy nhìn vào đời sống chính trị của các quốc gia theo chế độ đa đảng, đặc biệt là hệ thống đa đảng đối lập đã được phân tích cụ thể ở phần trên. Hãy nhìn vào cuộc sống hiện tại của người dân ở các quốc gia đã trải qua "mùa xuân Ả Rập" hay trải qua "cách mạng sắc màu", những người đã tin theo những lời xúi giục đó, họ đang khát khao như thế nào về một cuộc sống yên bình, ổn định, không có xung đột, đói nghèo và tội phạm gia tăng để cân nhắc quan điểm và lựa chọn hành động cho đúng.

Cho đến hiện nay, chế độ đa đảng, đặc biệt là đa đảng đối lập với đại diện theo tỷ lệ vẫn được các quốc gia phương Tây sử dụng như một “tiêu chuẩn của các nền dân chủ tiên tiến”. Lịch sử tổ chức đời sống chính trị trên thế giới lại cho chúng ta thấy rằng, dân chủ không bắt nguồn từ cách thức chúng ta tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Nếu bạn đọc ở đâu đó hay nghe ai đó thuyết giảng rằng Việt Nam cần phải xây dựng chế độ đa đảng giống như mô hình của nhiều quốc gia phương Tây, thì bạn hãy nhớ rằng: Hiện nay, trên thế giới đang có hàng chục quốc gia lựa chọn thể chế "đa nguyên, đa đảng" nhưng đang chìm trong đói nghèo, khủng hoảng chính trị triền miên. Chúng ta có lợi thế hơn họ bởi chúng ta có những tấm gương trước mắt để học hỏi và lựa chọn. Sự lựa chọn đúng đắn nhất của chúng ta là: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đây là sự lựa chọn cho sự ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta và sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam./.

ST.

 

Bác bỏ luận điệu phủ nhận công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những ý kiến của thế lực thù địch, cơ hội chính trị cho rằng, chỉ có kinh tế thị trường (KTTT) tư bản chủ nghĩa (TBCN) mới bảo đảm công bằng xã hội, còn với chủ nghĩa xã hội (CNXH) chỉ có sự “bình quân, cào bằng” và “bất công xã hội”. Từ đó, họ ra sức phủ nhận nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Đây là luận điệu xuyên tạc sai trái cần đấu tranh bác bỏ.

Nhận rõ bản chất “công bằng xã hội” trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, công bằng xã hội xét đến cùng lệ thuộc vào quan hệ sở hữu. Hay nói cách khác, công bằng trong quan hệ sở hữu là nền tảng của công bằng xã hội. Các nhà kinh điển mác-xít đã bóc trần bản chất của cái gọi là công bằng xã hội trong phương thức sản xuất TBCN. Thực chất, đó là thứ công bằng chỉ dành cho số ít người nắm trong tay quyền chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản.

Xã hội TBCN dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nghĩa là nó chứa đựng và xác lập địa vị thống trị của quan hệ bất bình đẳng về sở hữu tư liệu sản xuất, đương nhiên dẫn đến bất bình đẳng trong phân phối các nguồn lực “đầu vào” và thành quả “đầu ra” của quá trình phát triển. Nó không thể tiến tới sự bảo đảm cho công bằng xã hội đúng nghĩa.

Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) cũng như tiến trình giải quyết các cuộc khủng hoảng dưới chế độ TBCN cho thấy, phát triển KTTT TBCN luôn gắn liền với quản lý, điều hành, thậm chí sự can thiệp thô bạo của nhà nước tư sản vào các quá trình kinh tế, để bảo đảm cho thực hiện các mục tiêu tối thượng là thỏa mãn lợi ích của nhà tư bản và lợi ích của giai cấp tư sản.

Bác bỏ luận điệu phủ nhận công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Ảnh minh họa: TTXVN 

Trong những thập niên đầu thế kỷ 21, CNTB đã có những điều chỉnh, thích nghi thông qua thực hiện một số thay đổi trong chế độ sở hữu, tổ chức quản lý sản xuất và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội. Từ đó đã xuất hiện quá trình hữu sản hóa giai cấp lao động làm thuê, xuất hiện một số hình thức tổ chức quản lý và phân phối mới. Sự điều chỉnh, thích nghi đó đã làm xuất hiện những vấn đề mới về phương diện lý luận cũng như thực tiễn mà Chủ nghĩa Mác-Lênin do những điều kiện lịch sử nên chưa thể đề cập tới một cách đầy đủ và toàn diện. Từ đó đã làm cho một số người lầm tưởng rằng CNTB không còn bóc lột, đã thay đổi bản chất; rằng CNTB sẽ tự động phát triển lên CNXH.

Tuy nhiên, giới hạn của sự biến đổi thích nghi của CNTB không thể vượt qua chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trước sức ép từ đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã buộc nhà tư bản phải chuyển hóa tư bản tư nhân thành tư bản tập thể, hình thành những công ty cổ phần. Đây là cách thức nhằm huy động vốn, tạo nên sự tích tụ, tập trung tư bản, giúp nhà tư bản giành lợi thế trong cạnh tranh. Nó cho phép một số người lao động có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư vào sản xuất thông qua cổ phần, cổ phiếu và thu lợi tức, cổ tức. Nhưng điều đó không thể thủ tiêu lợi nhuận mà nhà tư bản thu được qua bóc lột giá trị thặng dư. Bởi trên thực tế, giai cấp công nhân, những người lao động chỉ chiếm giữ một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ lượng cổ phần, cổ phiếu. Do vậy, những điều chỉnh và thích nghi không làm thay đổi bản chất bóc lột, bất công của CNTB.

Bản chất của các nền chính trị TBCN theo công thức “dân chủ tự do” phương Tây, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, là nền dân chủ bảo vệ địa vị, lợi ích cho thiểu số giai cấp tư sản. Ở đó, “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội... Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”. Xét đến cùng, những bất công trong xã hội tư bản ngày càng gia tăng chính là hệ quả xấu từ sự phát triển của phương thức sản xuất và chế độ chính trị TBCN.

Công bằng xã hội ở Việt Nam là “không để ai bị bỏ lại phía sau”

Trung thành và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng ta đã có sự phát triển lý luận về mô hình phát triển KTTT định hướng XHCN để hướng tới mục tiêu của CNXH, trong đó có bảo đảm công bằng xã hội. Đảng ta khẳng định, thực hiện công bằng xã hội không chỉ dừng lại ở mục tiêu hướng đến mà còn trở thành động lực, tức là thành tố nội tại của phát triển kinh tế, để mỗi bước phát triển kinh tế là một bước thực hiện công bằng xã hội. Đó là nét đặc sắc, ưu việt của chế độ kinh tế mà nước ta đang xây dựng.

Sở dĩ phải định hướng XHCN trong nền KTTT, bởi KTTT chỉ góp phần thực hiện công bằng xã hội trong giới hạn của các quy luật thị trường, thực hiện phân chia lợi nhuận dựa trên lao động, hiệu quả kinh tế và mức góp vốn. Theo đó, người đóng góp nhiều thì hưởng nhiều, đóng góp ít thì hưởng ít. Tự thân KTTT không thể giải quyết triệt để những vấn đề bất công bằng xã hội. Để khắc phục những “thất bại” của thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội, “bàn tay vô hình” của KTTT tất yếu phải gắn với “bàn tay hữu hình” của nhà nước. Hay nói cách khác, ở Việt Nam, KTTT định hướng XHCN là tất yếu để có thể phát huy mặt ưu điểm, khắc phục được mặt hạn chế của KTTT trong thực hiện mục tiêu công bằng xã hội.

Để thực hiện tốt công bằng xã hội, Đảng ta chỉ rõ điều kiện căn bản là phải bảo đảm công bằng trong phân phối. Theo đó, thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Như vậy là vừa thực hiện phân phối theo quy luật KTTT, vừa thực hiện phân phối theo phúc lợi xã hội và an sinh xã hội nhằm bảo đảm công bằng xã hội. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn (KTTT) chính là nhằm mục đích tôn trọng quy luật kinh tế khách quan, giải phóng sức sản xuất, khơi mở, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo và năng lực chủ quan của mỗi con người. Đồng thời và cùng với đó, thực hiện phân phối thông qua các nguồn lực khác và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội (định hướng XHCN) nhằm bảo đảm mức bình đẳng có thể cho những nhóm người dễ bị tổn thương và yếu thế trong xã hội.

Cách thức phân phối theo các nguồn lực khác thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội khắc phục được những điểm yếu cốt tử của KTTT, nắn KTTT phục vụ các mục tiêu của CNXH. Đó cũng là phương thức để vừa phát triển kinh tế mạnh mẽ, vừa “giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân”(2) bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, phòng ngừa xu hướng tự phát chệch quỹ đạo phát triển kinh tế. Có như vậy mới bảo đảm được tính thực tiễn và bền vững của chính sách phát triển kinh tế-xã hội, phát triển kinh tế và công bằng xã hội mới được thực hiện đúng nghĩa.

Hiện nay, Việt Nam được thế giới đánh giá là một trong những quốc gia điển hình về giảm nghèo đa chiều bền vững, đầu tư hiệu quả cho phát triển y tế, giáo dục, văn hóa, việc làm, xây dựng môi trường sinh thái, cải thiện an sinh xã hội, bảo đảm phúc lợi xã hội, không những làm cho kinh tế phát triển mà còn bảo đảm thực hiện tốt công bằng xã hội. Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI) về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, các chỉ tiêu đều đạt và vượt mục tiêu nghị quyết đề ra. Trong tổng số 26 chỉ tiêu có 5 chỉ tiêu vượt và hoàn thành trước thời hạn; 16 chỉ tiêu đạt mục tiêu vào năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo từ gần 60% vào năm 1986 giảm xuống còn dưới 3% vào năm 2022; tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng từ 86USD năm 1986 lên 4.110USD năm 2022. Người dân tiếp cận ngày càng tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản, như về nhà ở, đến năm 2020, Nhà nước đã hỗ trợ chỗ ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 323.000 căn nhà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Trong 3 năm phòng, chống dịch Covid-19 (2020-2022), Chính phủ và các cấp, các ngành, các địa phương đã hỗ trợ với số tiền hơn 120.000 tỷ đồng và trên 200.000 tấn gạo hỗ trợ cho hơn 68 triệu lượt người dân, người lao động gặp khó khăn. Hiện có trên 1,2 triệu người có công và thân nhân đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng; 98,6% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình trên địa bàn. 

Liên hợp quốc cũng đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các mục tiêu thiên niên kỷ. Những thành tựu đạt được đã khẳng định bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ xã hội XHCN mà chúng ta đang xây dựng. Đảng, Nhà nước ta nhiều lần khẳng định quan điểm nhất quán: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời là người trực tiếp được thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế-xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Để bảo đảm công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, Nghị quyết Đại hội XIII tiếp tục chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Tập trung hoàn thiện quan hệ phân phối, khuyến khích làm giàu chính đáng, thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội đúng đắn, tạo động lực mạnh mẽ phát huy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của con người. Bảo đảm tính thực tiễn và tính ổn định, tính bền vững, phù hợp của chính sách xã hội, tạo địa bàn và nguồn lực thuận lợi cho kinh tế phát triển. 

Tựu trung lại, nhận thức về công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay cần có quan điểm khách quan, cái nhìn lịch sử, cụ thể trong đánh giá, không mắc vào cái nhìn phiến diện, méo mó, lệch lạc và các mưu đồ chính trị của các nhà “dân chủ”, “nhân quyền”, những người "mượn" cớ đấu tranh cho công bằng, tiến bộ xã hội nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Chỉ có trên quan điểm như vậy mới có thể so sánh, đánh giá thành tựu, khẳng định tính ưu việt trong phát triển, tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta hiện nay./.

ST.

Phê phán luận điệu xuyên tạc quan điểm của V.I.Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”

Một trong những luận điểm khoa học cơ bản trong học thuyết của V.I.Lênin về bảo vệ Tổ quốc là: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Tuy nhiên, sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động đã bóp méo, xuyên tạc quan điểm đúng đắn của Lenin.

Tỉnh táo trước âm mưu xuyên tạc không cần bảo vệ Tổ quốc XHCN

Ngay từ năm 1916, đêm trước của cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga, Lênin chỉ rõ: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa XHCN, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”; và: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Bởi tự vệ là để bảo vệ chính quyền và bảo vệ các thành quả cách mạng đã giành được là một tất yếu khách quan, mang tính chính nghĩa, đó là một trong những vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản. Lenin còn cho rằng, “không phải cách mạng có thể biết ngay được cách tự vệ”, vì “cách tự vệ là một khoa học và nghệ thuật của cách mạng, cách mạng chỉ có thể đi tới thành công đến nơi đến chốn khi biết cách tự vệ đúng".

Sau khi tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” của Lênin ra đời đã bị các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt. Chúng phủ nhận việc bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản khi tiến hành cách mạng thành công. Theo chúng, cách mạng vô sản giành thắng lợi xong không cần lập nên chính quyền nhà nước vì đã thành công rồi. Để đập tan luận điệu này, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lenin chỉ rõ: “Kể từ ngày 25-10-1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành "bảo vệ tổ quốc", nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc". 

Thời gian qua, lợi dụng hệ thống XHCN thoái trào và sự biến động mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, các thế lực thù địch, phản động càng ra sức chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng cho rằng hiện nay không cần phải bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN vì không còn kẻ thù xâm lược và nếu có bảo vệ thì chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ chế độ XHCN. Đây là luận điệu hết sức thâm độc, dễ gây sự ngộ nhận trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của công dân Việt Nam hiện nay.

Cả về phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, mọi cuộc cách mạng nổ ra đều gắn với một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại và bao giờ vấn đề giành chính quyền cũng đều là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng gắn với một quốc gia, dân tộc cụ thể. Như vậy, không bao giờ có Tổ quốc tách rời với một chế độ xã hội, mà bao giờ cũng gắn chặt với một chế độ xã hội nhất định như chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội phong kiến, chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ XHCN.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở mỗi thời kỳ lịch sử đều gắn liền với chế độ ở giai đoạn lịch sử, quốc gia, dân tộc đó. Đáng tiếc là, ngoài sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch, một số người trong nước vẫn ngộ nhận, chủ quan, không thấy hết các nguy cơ của đất nước và chế độ, không nhận thức được sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta nên có biểu hiện coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN; không nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Thậm chí một số người Việt Nam tuy mang trong mình dòng máu Lạc Hồng và đang được hưởng thành quả cách mạng nhưng quay lưng lại với dân tộc, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, rắp tâm phá hoại thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, cuộc sống thanh bình của nhân dân. 

Phê phán luận điệu xuyên tạc quan điểm của V.I.Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”
Ảnh minh họa: Internet 

Tăng cường sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Việc trung thành, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” có ý nghĩa rất quan trọng trong thời đại ngày nay. Vì vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XIII.

Thấm nhuần tư tưởng nêu trên của Lênin và kế thừa truyền thống, quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước thế giới dứt khoát rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kể từ đó, xuyên suốt cuộc trường chinh 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, cả nước cùng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thực tiễn cho thấy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng việc giành chính quyền đã khó nhưng giữ gìn, sử dụng chính quyền để xây dựng và bảo vệ chế độ XHCN còn khó hơn nhiều. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự sụp đổ đó là do sai lầm của các đảng cộng sản trong quá trình cải tổ, cải cách, sự mất cảnh giác và tự làm suy yếu, mất sức đề kháng từ bên trong của các đảng cộng sản và lực lượng cách mạng trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch.

Đúng như Lênin đã từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nếu chúng ta không mắc sai lầm, tự đánh đổ mình”. Như vậy, bài học thành công và thất bại về công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN từ sau Cách mạng Tháng Mười ở các nước XHCN không chỉ khẳng định tư tưởng của Lenin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” mà còn là cơ sở để xác định ý chí, quyết tâm trong nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta trong đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Giải pháp quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về sự cần thiết phải bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cơ sở để củng cố lập trường chính trị giai cấp, niềm tin và sự kiên định vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. 

Bên cạnh đó, cần chú trọng giáo dục thống nhất nhận thức về đối tượng, đối tác và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sự phân định đối tác, đối tượng là rất cần thiết, tuy nhiên cần phải mềm dẻo, uyển chuyển trong nhận thức. Trong thực tế, ranh giới giữa đối tác và đối tượng đôi khi rất mong manh, có tính tương đối, nhận thức không phải dễ dàng, đơn giản. Do đó, cần xác định rõ những tiêu chí và quan điểm trong nhận thức và xử lý vấn đề này. Một trong những tiêu chí rất quan trọng để xác định đối tác đó là lợi ích. Bởi lợi ích (hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó) phải được bảo đảm cho cả hai phía: Phía chúng ta và phía đối tác, làm sao để đôi bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tiêu chí “cùng có lợi” trở thành cơ sở của quan hệ giữa các đối tác. Trên cơ sở lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong xác định đối tượng và đối tác là: Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh.

Về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là toàn diện, bảo vệ cả phương diện tự nhiên-lịch sử và phương diện chính trị-xã hội trong chỉnh thể thống nhất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII đã chỉ ra: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, nền văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”.

Trong bối cảnh hiện nay, cần làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức đúng phương châm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, với nhiều kế sách linh hoạt, mềm dẻo, kiên quyết tạo thành sức mạnh tổng hợp vững chắc trong công cuộc giữ nước. 

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt, trụ cột. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hóa, đối ngoại, biểu hiện trong sức mạnh vật chất, tinh thần của khoảng 100 triệu dân Việt Nam trong nước và hơn 5 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập, lao động, công tác ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Đó là sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay./.

ST.