Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

ĐẢNG TA, MÙA XUÂN LỊCH SỬ 1930 ĐẾN MÙA XUÂN CỦA KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH


Lịch sử 95 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình, Đảng đã khơi dậy và kết hợp được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh của trong nước và quốc tế, sức mạnh thần kỳ này đưa nhân dân ta từ kiếp nô lệ đã: "Rũ bùn, đứng dậy, sáng lòa".
Trước mùa xuân năm 30 của thế kỷ XX, dân ta còn rên xiết dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp. Ngay từ năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, đến trước năm 1930, nhân dân ta với truyền thống yêu nước nồng nàn và truyền thống quật cường của hàng ngàn năm lịch sử đã liên tiếp vùng dậy chống thực dân Pháp cứu nước: Với hơn 300 cuộc khởi nghĩa vũ trang mà điển hình là các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám… rồi hàng chục cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương dù vô cùng anh dũng nhưng đều thất bại.
Rồi đến các con đường cứu nước của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu cũng đều đi tới kết cục như chính nhà yêu nước vĩ đại Phan Bội Châu đã đánh giá: "Lịch sử của tôi hoàn toàn là lịch sử thất bại"! Và cuối cùng là cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học, lãnh tụ của quốc dân Đảng lãnh đạo cũng đi tới kết cục như chính lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa đã dự báo: "Không thành công, cũng thành nhân"! Có thể nói: Lịch sử dân tộc ta thời kỳ này đã lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước, đúng như cụ Phan Bội Châu đã khắc họa: "Khói đục mây mù, trời khuya, đất ngủ".
Mùa xuân 1930, sự ra đời của Đảng ta – Đảng cộng sản Việt Nam, với Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, chương trình tóm tắt của Đảng đã xác lập tư tưởng chiến lược của đường lối cách mạng Việt Nam đó là gắn chặt độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; thực hiện công cuộc giải phóng vĩ đại: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Sự ra đời của Đảng ta với đường lối cách mạng duy nhất đúng đắn đã chấm dứt cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước cứu dân. Trong tác phẩm xã hội chủ nghĩa, lãnh tụ của Duy tân Hội và phong trào Đông Du, cụ Phan Bội Châu đã viết: "May thay! Giữa lúc khói đục mây mù thì có trận gió xuân thổi tới giữa lúc trời khuya, đất ngủ, thình lình có tia thái dương mọc ra: Trận gió xuân ấy, tia thái dương ấy chính là chủ nghĩa xã hội".
Đảng ta ra đời từ mùa xuân, với đường lối cách mạng đúng đắn, hợp quy luật vận động của thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, hợp lòng người. "Đảng đã cho ta sáng mắt, sáng lòng" đáp ứng khát vọng ngàn đời của dân tộc nên được toàn dân tin tưởng, đồng tình, ủng hộ và gọi Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng ta, Đảng mình!
Lịch sử 95 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt tài tình, Đảng đã khơi dậy và kết hợp được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh của trong nước và quốc tế, sức mạnh thần kỳ này giúp nhân dân ta từ kiếp nô lệ đã: "Rũ bùn, đứng dậy, sáng lòa" (thơ Nguyễn Đình Thi) vượt qua muôn trùng hiểm nguy, xây dựng lực lượng, nắm bắt thời cơ tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám vĩ đại, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên độc lập tự do cho toàn dân tộc. Tiến hành hai cuộc kháng chiến vĩ đại đánh thắng hai Đế quốc hung bạo nhất của thế kỷ XX, mở ra thời kỳ sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất non sông về một dải, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Từ 1986 đến nay, Đảng ta đã khởi sướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật, bắt đầu bằng đổi mới tư duy, đổi mới tư duy từ trong Đảng thành đổi mới tư duy trong toàn xã hội, đổi mới hành động từ đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội đến đổi mới quốc phòng an ninh đối ngoại. Đảng ta là Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn xã hội, Đảng ta vẫn kiên quyết kiên trì tự đổi mới và chỉnh đốn mình và đã xác định: Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm. Xây dựng phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội. Quốc phòng, an ninh đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên. Tất cả vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới và gần 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tư duy lý luận của Đảng ta về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa, chúng ta đã đạt được những thành tựu vĩ đại: Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt là tấm gương của các nước đang phát triển, thực hiện thành công mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo.
Quy mô nền kinh tế tăng hơn 96 lần so với trước đổi mới. Việt Nam đã chủ động hội nhập sâu rộng và toàn diện, Việt Nam có quan hệ ngoại giao, là bạn với tất cả các quốc gia, là đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc, là thành viên tin cậy và có trách nhiệm và đóng góp tích cực các tổ chức quốc tế và khu vực.
Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ, quốc phòng an ninh không ngừng được nâng cao, tham gia tích cực duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Giữ vững môi trường hòa bình ổn định, bảo vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc.
Những bước trưởng thành vượt bậc, những thành tựu vĩ đại sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập sâu rộng, toàn diện vào đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa... của thế giới, tạo được đủ thế và lực, những điều kiện tiền đề cần thiết để dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình tăng tốc bứt phá nhằm hiện thực hóa khát vọng xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực đang diễn biến nhanh chóng, phức tạp khó lường: Toàn cầu hóa dù là xu thế không thể đảo ngược nhưng đang chịu tác động của sự bùng phát mạnh của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ, chiến tranh thương mại có những biểu hiện gay gắt, nghiêm trọng, làm xu thế phục hồi kinh tế toàn cầu sau đại dịch COVID-19 gặp nhiều khó khăn trắc trở, cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc tại vị và các cường quốc mới nổi đang hình thành và xác lập trong tương lai gần, một thế giới đa cực thay thế cho thế giới đơn cực ra đời sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang phát triển như vũ bão với những thành tựu đỉnh cao về công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ số, dữ liệu lớn, công nghệ mới nổi, tr.í t.uệ nh.ân tạ.o...
Tất cả những điều trên đang đồng thời làm xuất hiện thời cơ chiến lược cho các nước đang phát triển nắm bắt để tăng tốc, bứt phá phát triển và ngược lại sẽ rơi vào bẫy phát triển trung bình. Biến đổi khí hậu toàn cầu đang là vấn đề toàn cầu nóng bỏng, đòi hỏi toàn thế giới chung tay, quyết liệt, kiên trì giải quyết. Những vấn đề nổi bật trên đây đã và đang hình thành cơ hội, thời cơ và những nguy cơ thách thức, trong đó khó khăn, nguy cơ, thách thức nhiều hơn, khó lường hơn.
Tư tưởng lớn của Tổng Bí thư Tô Lâm, quyết tâm chính trị của Đảng ta là: Mùa xuân năm 2026 dân tộc ta chính thức tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình, kỷ nguyên tăng tốc, bứt phá để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc khu vực và thế giới.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không chỉ xuất phát từ khát vọng mà chính là một yêu cầu tất yếu của lịch sử khi chúng ta đã chuẩn bị được đủ thế và lực và khi tình hình đã xuất hiện thời cơ chiến lược!
Đại hội XIV của Đảng (quý I năm 2026) được xác định là thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới để vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của toàn dân tộc. Trong kết luận Hội nghị Trung ương 10 (1/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu bật: Ngay trong năm 2025 các công việc phải được triển khai trên tinh thần để đất nước vươn mình, cất cánh. Từ nay đến Đại hội XIV, chúng ta có rất nhiều việc phải làm, tập trung vào ba nhóm nhiệm vụ chính.
Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là mục tiêu cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong năm 2025! Nhiệm vụ này phải được thực hiện với quyết tâm cao nhất, nỗ lực lớn nhất, hành động quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm với các giải pháp thực hiện hiệu quả nhất, tập trung mọi nguồn lực, biện pháp phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu đề ra: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trong đó đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, chuyển đổi tư duy xây dựng pháp luật theo hướng đảm bảo yêu cầu quản lý Nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển.
Tư duy quản lý không cứng nhắc, dứt khoát từ bỏ tư duy không quản được thì cấm, xóa bỏ cơ chế xin – cho. Việc hoàn thiện thể chế phát triển còn để chống lãng phí thời gian, lãng phí cơ hội phát triển. Cần chủ động, khẩn trương tích cực xây dựng hành lang pháp lý cho những vấn đề mới, xu hướng mới trong đó tạo khuôn khổ pháp lý để thực hiện xây dựng thành công cuộc cách mạng về ch.uyển đ.ổi s.ố, tạo đột phá cho đất nước phát triển những năm tiếp theo.
Thường xuyên đánh giá hiệu quả, chất lượng chính sách sau khi ban hành để kịp thời điều chỉnh bất cập, mâu thuẫn, giảm thất thoát, lãng phí nguồn lực. Chủ động phát hiện, tháo gỡ nhanh nhất những điểm nghẽn có nguyên nhân từ những quy định của pháp luật.
Cần khẩn trương tập trung rà soát, giải quyết dứt điểm tồn tại kéo dài đối với những dự án quan trọng của quốc gia, dự án hiệu quả thấp, gây thất thoát lãng phí lớn, các ngân hàng thương mại yếu kém. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đảm bảo sự điều hành thông suốt của Trung ương gắn với tăng cường tính chủ động sáng tạo của địa phương trong quản lý và phát triển với phương châm: "Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".
Đồng thời đổi mới quy trình quyết định về ngân sách Nhà nước đảm bảo thực chất đi đôi với việc giám sát việc thực hiện ngân sách. Cải cách triệt để thủ tục hành chính, giảm chi phí hành chính, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, trong đó tập trung vào đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt bỏ thủ tục không cần thiết gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, cản trở cạnh tranh lành mạnh. Tăng cường rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa quy trình, quy định, thủ tục, điều kiện kinh doanh bảo đảm thực chất hiệu quả trên cơ sở lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.
Tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ, đẩy mạnh số hóa, mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến. Gắn công tác phòng chống tham nhũng lãng phí, tiêu cực với xây dựng thể chế phát triển. Phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy tăng tốc bứt phá hoàn thành các mục tiêu Đại hội XIII đề ra. Tăng cường các hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán các lĩnh vực có nguy cơ và dư luận về tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, giải quyết kịp thời các vụ việc dư luận quan tâm, nhân dân bức xúc, nhưng hạn chế tối đa ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, doanh nghiệp, người dân.
Về chính trị: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước với chế độ XHCN. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại. Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định.
Về kinh tế: Tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5 – 7%/năm. Năm 2025 đạt 8%/năm. Năm 2025, GDP bình quân đầu người đạt 4.700-5.000 USD. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 45%. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân trên 6,5%/năm; tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 45%, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 25% GDP. Kinh tế số đạt khoảng 20% GDP.
Về xã hội: Năm 2025 tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 25%, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%, tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1-1,5%/năm; có 10 bác sỹ và 30 giường bênh trên 1 vạn dân, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số, tuổi thọ trung bình khoảng 74,5 tuổi. Tỷ lệ đạt chuẩn nông thôn mới tối thiểu 80%, trong đó ít nhất 10% đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.
Về môi trường: Năm 2025 tỷ lệ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh của cư dân thành thị là 95-100%, nông thôn là 93-95%, tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 90%, tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là 92%, tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%, giữ tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42%. Phải quyết tâm phấn đấu đạt các mục tiêu và chỉ tiêu ở mức cao nhất, đồng thời chủ động chuẩn bị các phương án để kịp thời thích ứng với các biến động của tình hình. Dựa vào những kết quả đạt được từ năm 2021 đến nay và dự kiến phát triển kinh tế xã hội năm 2025, với quyết tâm đạt và vượt mức toàn bộ các mục tiêu, chỉ tiêu Đại hội XIII đề ra. Tuy nhiên đến nay, trên thực tế chúng ta còn không ít khó khăn thách thức đối với việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu liên quan đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng GDP, tăng năng suất lao động. Do đó các giải pháp phải tập trung cao nhất cho phát triển nhanh và bền vững.
Năm 2025 không chỉ là năm quyết định thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII, mà còn là năm Đảng ta đã thông qua một số chủ trương chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng, với việc triển khai quyết liệt, khẩn trương, bài bản, hiệu quả sẽ là những dấu ấn đặc biệt tạo nền tảng cho sự tăng tốc, bứt phá của đất nước ta khi bước vào kỷ nguyên mới.
Đó là chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao toàn tuyến Bắc – Nam, các tuyến đường sắt kết nối khu vực, khởi động lại dự án hạt nhân Ninh Thuận và tiếp tục nghiên cứu chương trình phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam, triển khai các bước thành lập trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm tài chính khu vực tại Đà Nẵng. Đẩy mạnh thực hiện cuộc cách mạng về ch.uyển đ.ổi s.ố quốc gia, phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Nhóm nhiệm vụ thứ hai là các hoạt động chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng bao gồm hai nội dung chính là chuẩn bị văn kiện cho Đại hội và chuẩn bị nhân sự cho Đại hội. Đây là Nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình chuẩn bị tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV của Đảng theo đúng tinh thần chỉ thị 35 ngày 16/6/2024 của Bộ Chính trị.
Về công tác chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội, cần phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp xây dựng theo hướng khoa học (nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng bản chất của sự thật, dự báo đúng các xu hướng phát triển của tình hình, xác định rõ các định hướng, các chủ trương chiến lược, các giải pháp mang tính chiến lược, các giải pháp mang tính đồng bộ, khả thi).
Trình bày nội dung các văn kiện phải ngắn gọn, dễ hiểu để tổ chức thực hiện được ngay trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ngay sau Đại hội. Về công tác nhân sự, đây là công việc vô cùng hệ trọng, là nhiệm vụ "then chốt" của "then chốt" vì sau khi Đại hội quyết định đường lối và các chủ trương chiến lược trong kỷ nguyên mới thì lựa chọn được đội ngũ cán bộ có tâm, có tầm, có bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám sáng tạo. Đây chính là một trong những nhân tố quyết định hiện thực hóa kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Nhóm nhiệm vụ thứ ba là: Thực hiện chủ trương lớn của Ban chấp hành Trung ương và tổng kết thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW và sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là đòi hỏi bức thiết, phải làm ngay, không thể chậm trễ. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Đúng như V.Lênin đã nói về vai trò quyết định của tổ chức và cán bộ: "Nếu cho tôi một tổ chức những người cộng sản, tôi sẽ đảo lộn nước Nga Sa hoàng". Cuộc cách mạng, cuộc đổi mới sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là điều kiện tiên quyết cho việc hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ của năm 2025 – Tạo nền tảng vững chắc cho sự chuyển mình, tăng tốc bứt phá cho kỷ nguyên mới.
Để chuẩn bị hoàn tất hành trang cho dân tộc bước vào kỷ nguyên mới, trong năm 2025, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu trước Quốc hội: "Trong ba điểm nghẽn lớn nhất hiện nay (thể chế phát triển, hạ tầng, nguồn nhân lực) thì thể chế phát triển là điểm nghẽn lớn nhất. Đây là những hạn chế kéo dài nhiều năm nên không thể khẩn trương khắc phục sẽ tiếp tục cản trở sự phát triển, gây lãng phí, bỏ lỡ thời cơ phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Việc tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt rào cản là trách nhiệm của hệ thống chính trị và cần được tiến hành đồng bộ, cần coi khâu đột phá về thể chế phát triển là "đột phá" của "đột phá". Người đứng đầu của Đảng đã chỉ đạo tập trung tiến hành kiên quyết, tập trung, đồng bộ có hiệu quả 5 nhiệm vụ để tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất này.
Đảng ta bước vào mùa xuân 95 năm lịch sử vẻ vang của mình, với năng lực trí tuệ và tầm nhìn thời đại đã quyết định đúng đắn và sáng suốt những chủ trương, nhiệm vụ chiến lược cho năm 2025 nhằm hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu và các chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội XIII, chuẩn bị đầy đủ nhất và cao nhất cả thế và lực cho đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình, tăng tốc bứt phá, kỷ nguyên hiện thực hóa chặng cuối của thời kỳ quá độ lên CNXH của nước ta. Xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc khu vực và thế giới./.

NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN LÀ SỨC MẠNH VÀ TÀI SẢN VÔ GIÁ CỦA ĐẢNG TA


Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời khi đất nước chìm đắm trong đêm dài nô lệ. Từ đó, qua 95 năm trưởng thành và phát triển, Đảng là ngọn cờ hiệu triệu và lãnh đạo toàn dân tộc đứng lên giành độc lập, đánh đuổi “hai đế quốc to”, kiên định và sáng tạo tiến hành sự nghiệp đổi mới để đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Yếu tố cốt lõi nhất đó là Đảng đã khơi dậy được sức mạnh của khối đại đoàn kết, sức mạnh dân tộc Việt Nam kết hợp với xu thế thời đại. Làm được điều vĩ đại này là nhờ Đảng đã được dân tin, dân xem Đảng là của mình, là “Đảng ta” và một lòng đi theo Đảng.
Từ niềm tin vào lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mà vào ngày 03/02/1930 ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã tự nguyện cùng nhau thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước đó đã có những bậc tiền bối tìm đường cứu nước nhưng không thành. Chỉ có Nguyễn Ái Quốc tìm ra được con đường đó, con đường giải phóng dân tộc khỏi áp bức nô lệ, mà chìa khóa là chủ nghĩa Mác-Lênin. Người đã nói với các đồng chí của mình khi đọc được “Luận Cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin "tôi reo lên khi tìm thấy ở đó thực sự là con đường để giải phóng dân tộc". Rồi cùng với thực tiễn của Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã vạch ra con đường cho cách mạng Việt Nam: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng đi lên xã hội cộng sản”.
Chính Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá và mang đến niềm tin cho các chiến sĩ cách mạng, tiêu biểu như các đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ… và các đồng chí thuộc thế hệ thành lập Đảng. Họ thực sự là những tấm gương sáng ngời bởi lòng yêu nước và ý chí cách mạng, là ngọn cờ tập hợp quần chúng. Trước bao hy sinh gian khổ họ vẫn “giữ vững chí khí chiến đấu” và tin tưởng vào sự tất thắng của cách mạng.
Phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh bị địch đàn áp dã man, nhưng quần chúng vẫn một lòng theo Đảng. Khi phát xít Đức, Ý, Nhật đánh vào Liên Xô, thì vào tháng 2/1941 Nguyễn Ái Quốc về nước. Người triệu tập và trực tiếp chủ trì Hội nghị TW8 (khóa I) vào tháng 5/1941. Hội nghị nhận định bọn phát xít sẽ thất bại, cần phải thay đổi mục tiêu đấu tranh, tất cả tập trung cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm gác chủ trương về ruộng đất. Mục tiêu đó phản ánh nhãn quan chính trị và tầm nhìn chiến lược nhạy bén phù hợp với thực tiễn nên đã nhanh chóng đi vào cuộc sống. Nhờ vậy mà dù chỉ có gần 5.000 đảng viên mà Đảng đã vận động và tạo được niềm tin cho toàn dân tộc để nhanh chóng thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh, tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân chớp thời cơ đứng lên làm Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.
Sau khi giành được chính quyền thực dân Pháp trở lại xâm lược, trước tình cảnh nạn đói và thù trong, giặc ngoài, nguy cơ sống còn của cách mạng như “treo đầu sợi tóc”, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn quốc đứng lên kháng chiến. Lời kêu gọi đã được toàn dân hưởng ứng nhiệt liệt, trong đó có các nhà trí thức, nhà khoa học nổi tiếng như Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng…, hay những quan lại Triều đình Huế như Phan Kế Toại, Phạm Khắc Hòe… cùng đứng vào hàng ngũ Việt Minh.
Thực hiện phương châm: “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến”, với niềm tin vào Đảng và Bác Hồ mà cả dân tộc đứng lên quyết tâm kháng chiến và đã giành được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu, buộc thực dân Pháp phải rút quân về nước.
Đánh thắng Pháp nhưng đất nước vẫn còn phải chia làm hai miền. Ở miền Nam chính quyền Ngô Đình Diệm dồn dân vào ấp chiến lược, chúng đề ra luật 10/59 lê máy chém đi khắp nơi, nhưng đồng bào miền Nam hướng ra miền Bắc với niềm tin tuyệt đối vào Đảng và Bác Hồ quyết tâm đồng khởi. Khi giặc Mỹ kéo vào miền Nam và đánh phá miền Bắc, hầu như cả thế giới lo ngại, bạn bè khuyên can nhưng với quyết tâm và niềm tin vào thắng lợi, cả nước xung trận theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, quyết tâm “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Niềm tin đó đã thúc giục toàn dân tộc đồng lòng, tạo nên sức mạnh vô biên lập nên chiến công giòn giã ở hai miền, dẫn tới đại thắng mùa Xuân năm 1975 đuổi hết quân xâm lược Mỹ về nước, lật đổ chế độ ngụy quyền, giang sơn thu về một mối, nước Việt Nam thống nhất và tiến lên xây dựng CNXH.
Đất nước lại bước vào giai đoạn mới, vừa khôi phục hậu quả chiến tranh, phải đương đầu với cuộc chiến ở hai đầu biên giới, lại bị bao vây cấm vận, rồi Liên Xô và phe XHCN tan rã… Trước tình thế đó xuất hiện nhiều trào lưu chống phá, họ lên án Đảng, lên án chế độ; đòi “đa nguyên, đa đảng” gây hoang mang, dao động từ trong nội bộ ra ngoài quần chúng Nhân dân. Nhưng với niềm tin vào đường lối, chủ trương của Đảng; tin vào sự vững vàng, từng trải và phẩm chất liêm chính của những cốt cán trung kiên như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyễn Giáp, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt…; toàn Đảng huy động được sức mạnh toàn dân đã xốc lại hành trang, tiến hành công cuộc đổi mới chưa có tiền lệ để thích ứng và phát triển.
Từ đói nghèo, trước bao nhiêu khó khăn và trở lực; sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn. Đó là từ một nền kinh tế đứng ở tốp cuối, với GDP tăng hơn gấp 40 lần đã vươn lên tốp 5 các nước Đông Nam Á; có quy mô kinh tế tốp 35 và tốp 6 công nghệ trên thị trường 1.000 tỷ USD của thế giới; có quan hệ với 194 quốc gia; tốp 10 về quốc gia thân thiện; đời sống Nhân dân ổn định và ngày được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo từ 58% xuống 1,9%; văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ phát triển; an ninh quốc phòng được giữ vững, chính trị ổn định; hội nhập quốc tế với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa mang lại hiệu quả thiết thực; đất nước đang vươn mình “sánh vai cùng với các cường quốc năm châu”.
Đón xuân, bước vào năm mới 2025 và kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng quang vinh nhìn lại quá trình ra đời, trưởng thành và phát triển, dân tộc Việt Nam rất đỗi tự hào với Đảng ta và Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Từ một dân tộc bị áp bức nô lệ, không tên tuổi Việt Nam đã đứng lên, vượt qua bao nhiêu gian nan thử thách và vấp váp để chiến thắng và phát triển, có tầm vóc và cơ ngơi mang tầm thời đại. Đạt được thành tựu vĩ đại này có nhiều nguyên nhân, nhưng quyết định nhất đó là niềm tin của toàn dân tộc vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Niềm tin đó có được từ đường lối cách mạng đúng đắn, từ kết quả mà cách mạng mang lại, từ tấm gương cống hiến và hy sinh của các chiến sĩ cách mạng, các thế hệ cán bộ, đảng viên, các anh hùng liệt sĩ; họ đã vô tư, trong sáng một lòng vì Đảng vì Dân vì Tổ quốc không màng danh lợi… Chính nhờ đó mà Đảng đã trở thành ngọn cờ để dân tự giác, tự nguyện đi theo; cũng nhờ đó đã huy động được sức mạnh to lớn và toàn diện của cả dân tộc. Kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng và tiến hành Đại hội Đảng các cấp cần nghiêm túc đánh giá đúng mức thực trạng và cần có những giải pháp thiết thực để phát huy, bổ cứu. Cần giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân kiên định con đường đã chọn, phát huy những thành tựu đã đạt được, nắm bắt thời cơ bước vào kỷ nguyên mới, phấn đấu với mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cán bộ, đảng viên ghi nhớ lời căn dặn của Bác Hồ: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quyét sạch chủ nghĩa cá nhân”, phải thực sự “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, nhằm: “Củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN” như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra. Niềm tin vào Đảng đã đi vào lòng dân trong suốt quá trình cách mạng cần được tiếp tục củng cố, bồi đắp và nâng cao, vì đó chính là sức mạnh và tài sản vô giá của Đảng ta./.

95 NĂM THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM: NGỌN ĐUỐC SOI SÁNG ĐƯỜNG DÂN TỘC

 

Ngày 3/2/1930, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, cũng là điểm mở đầu quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sự phát triển của dân tộc trong các giai đoạn sau này.
Đảng lãnh đạo nhân dân giành độc lập dân tộc
Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào yêu nước của dân tộc ta dù dâng cao mạnh mẽ, nhưng liên tiếp thất bại. Nguyên nhân chính là thiếu một đường lối đúng đắn và một tổ chức lãnh đạo thống nhất.
Những cuộc khởi nghĩa do các anh hùng dân tộc, như Trương Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám lãnh đạo đều mang đậm tinh thần quật cường, bất khuất trước kẻ thù, nhưng do thiếu hụt về tổ chức, chiến lược và sự liên kết giữa các phong trào đã khiến những nỗ lực này không thể đạt được mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách thống trị thực dân. Cách mạng Việt Nam vì thế lâm vào khủng hoảng sâu sắc cả về đường lối và tổ chức
Trong bối cảnh đó, ngày 6/5/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này là Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc) đã ra đi tìm đường cứu nước. Trải qua nhiều năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin - ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam.
Người nhận thức rõ rằng con đường cách mạng vô sản là con đường đúng đắn nhất để giải phóng dân tộc. Với tư duy chiến lược sắc bén, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đưa chủ nghĩa Marx-Lenin về Việt Nam, làm cơ sở lý luận và thực tiễn để tổ chức lực lượng cách mạng.
Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, cũng là điểm mở đầu quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sự phát triển của dân tộc trong các giai đoạn sau này.
Ngày 3/2/1930, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ra đời như một ngọn cờ quy tụ các tầng lớp Nhân dân, thắp lên khát vọng giải phóng dân tộc và khơi dậy sức mạnh đoàn kết toàn dân. Từ đây, cách mạng Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới với đường lối rõ ràng, tổ chức thống nhất và phương pháp đấu tranh hiệu quả.
15 năm sau ngày thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Việt Nam đã làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là sự kiện lịch sử đánh dấu sự sụp đổ của ách thống trị thực dân, phong kiến trên đất nước ta, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, với lời tuyên bố bất hủ: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập." Lời tuyên bố không chỉ khẳng định sự tự do của dân tộc ta mà còn khơi dậy niềm cảm hứng cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Chỉ hơn 4 tháng sau, cuộc Tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên ngày 6/1/1946 đã bầu ra Quốc hội và Chính phủ hợp hiến, hợp lòng dân. Ngay tại Kỳ họp thứ hai (tháng 11/1946), Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trịnh trọng khẳng định quyền độc lập của dân tộc, quyền tự do dân chủ của Nhân dân.
Như vậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã mở ra thời kỳ mới: thời kỳ Nhân dân làm chủ vận mệnh, đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Đây là minh chứng hùng hồn cho vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng, khẳng định rằng dưới sự dẫn dắt của một chính Đảng tiên phong, một dân tộc nhỏ bé vẫn có thể làm nên những kỳ tích lớn lao.
Đảng lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và thống nhất đất nước
Ngay sau ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, dân tộc ta lại đối mặt với âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh "ngàn cân treo sợi tóc", Đảng ta một lần nữa tỏ rõ bản lĩnh của một Đảng Marxist chân chính, chủ động đối phó với thù trong giặc ngoài với phương châm: “Tổ quốc trên hết, Dân tộc trên hết.”
Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) là minh chứng cho sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng. Với tư tưởng chỉ đạo "toàn dân, toàn diện và dựa vào sức mình là chính," Đảng đã huy động được sức mạnh của toàn dân tộc vào cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Trong suốt cuộc kháng chiến, quân và dân ta liên tục giành thắng lợi trên các mặt trận mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954.
Đây là trận quyết chiến chiến lược, trực tiếp góp phần chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta. Đồng thời, chiến thắng cũng tạo cú hích mạnh mẽ làm rung chuyển hệ thống thuộc địa toàn cầu, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Điện Biên Phủ đi vào lịch sử như một chiến công "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu," khẳng định sức mạnh đoàn kết và ý chí quật cường của Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Vừa ra khỏi cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp, dân tộc ta lại tiếp tục đối mặt với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đây là một cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhân dân ta đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kết hợp giữa chiến tranh nhân dân và các chiến lược quân sự táo bạo. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã đồng lòng chiến đấu anh dũng, giành được những thắng lợi vẻ vang, làm rạng rỡ thêm trang sử hào hùng của dân tộc.
Và đỉnh cao của cuộc kháng chiến chính là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử diễn ra vào mùa Xuân năm 1975. Với phương châm "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" quân và dân ta đã tiến hành tổng tiến công, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975.
Văn kiện Đại hội IV của Đảng năm 1976 khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.”
Chiến thắng năm 1975 không chỉ mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất mà còn là bước ngoặt lịch sử, đưa cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới, với niềm tin mãnh liệt vào vai trò lãnh đạo của Đảng trong một hành trình mới ở phía trước.
Đảng lãnh đạo thành công công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước
Sau ngày thống nhất, cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với vô vàn khó khăn, thách thức, cả trong nước, khu vực và trên trường quốc tế.
Trước tình hình đó, Đảng ta một lần nữa khẳng định trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử, khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (tại Đại hội VI của Đảng 1986).
Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình từ năm 2008. Đặc biệt, năm 2024, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, Việt Nam ghi dấu ấn mạnh mẽ với tăng trưởng GDP ấn tượng 7,09%, vượt xa các dự báo và trở thành điểm sáng về tăng trưởng trong khu vực.
Đảng ta quyết định thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; đồng thời đổi mới chính sách xã hội, hướng vào những giải pháp nhằm cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân.
Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, mang tính lịch sử.
Kinh tế phát triển vượt bậc. Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình từ năm 2008. Đặc biệt, năm 2024, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, Việt Nam ghi dấu ấn mạnh mẽ với tăng trưởng GDP ấn tượng 7,09%, vượt xa các dự báo và trở thành điểm sáng về tăng trưởng trong khu vực; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành ước đạt 114 triệu đồng/người, tương đương 4.700 USD, tăng 377 USD so với năm 2023; Kim ngạch xuất nhập khẩu lập kỷ lục mới, đạt gần 800 tỷ USD, Việt Nam duy trì xuất siêu trong 9 năm liên tiếp, với mức xuất siêu 25 tỷ USD.
Kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định thương mại song phương với hơn 100 nước, trong đó có nhiều hiệp định thế hệ mới.
Văn hóa, xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. An sinh xã hội luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách của Đảng và Nhà nước.
Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2024 giảm còn dưới 1,9%, thấp nhất từ trước đến nay. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng cao, với những tiến bộ đáng kể trong giáo dục, y tế và cơ sở hạ tầng.
Các chương trình hỗ trợ giáo dục, y tế, nhà ở và nước sạch đã tiếp cận hàng triệu người dân tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo.
Chính phủ tiếp tục triển khai mạnh mẽ các chương trình về nhà ở, như xây dựng 1 triệu căn nhà ở xã hội, xóa bỏ nhà tạm nhà dột nát và hỗ trợ người dân vùng khó khăn.
Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước, vùng lãnh thổ trên khắp năm châu; xây dựng các mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới; đặc biệt có quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với 9 quốc gia, gồm Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia, Pháp và Malaysia.
Trên bình diện đa phương, Việt Nam tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong các tổ chức, diễn đàn quốc tế, như: ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Việt Nam cũng tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế lớn và hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế quan trọng với tư cách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiên ASEAN, chủ nhà Hội nghị cấp cao ASEM, Hội nghị thượng đỉnh APEC, Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN…, qua đó góp phần nâng cao uy tín và vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Những thành tựu to lớn trên chính là minh chứng rõ nét cho sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, ý chí kiên cường và khát vọng vươn lên của một đất nước giàu truyền thống yêu nước và sáng tạo, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong bài trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp năm mới Ất Tỵ 2025, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định "Sau gần 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích trong lịch sử, trải qua kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930-1975); kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới (1975-2025). Và giờ đây, chúng ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu bằng sự kiện trọng đại - Đại hội XIV của Đảng. Kỷ nguyên trước tạo tiền đề cho kỷ nguyên sau, kỷ nguyên sau kế thừa, phát triển thành tựu của kỷ nguyên trước, làm cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng hòa quyện, phát triển không ngừng. Ý Đảng hòa quyện lòng dân, khát vọng đưa đất nước vươn mình tiến vào kỷ nguyên mới."
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là kỷ nguyên phát triển bứt phá, tăng tốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc; đuổi kịp, tiến cùng, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; mọi người dân đều được phát triển toàn diện, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, văn minh."
Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ, "từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ, cơ hội chiến lược, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước. Điều quan trọng là chúng ta phát huy được tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nỗ lực, quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc."
Để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu "cần đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để đưa dân tộc ta tiếp tục tiến lên mạnh mẽ," "phải tiến hành đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh - hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Trong số đó, tập trung tinh gọn bộ máy, tổ chức các cơ quan của Đảng thực sự là hạt nhân trí tuệ, “bộ tổng tham mưu,” đội tiên phong lãnh đạo các cơ quan nhà nước.
Các cơ quan tham mưu của Đảng phải thực sự tinh gọn; cán bộ tham mưu có phẩm chất chính trị tốt, năng lực, trình độ chuyên môn giỏi, tinh thần trách nhiệm cao. Tác phong, lề lối làm việc cần đổi mới mạnh mẽ theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả"./.
VietNam(+)

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG

 

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhiều sự kiện trọng đại gắn với mùa Xuân, trong đó có Xuân Canh Ngọ năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị hợp nhất, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối, tổ chức và phương pháp để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Xuân Ất Tỵ 2025 vừa tròn 95 năm Đảng ta ra đời, chúng ta càng nhận thức rõ hơn giá trị, ý nghĩa và tầm vóc mùa Xuân thành lập Đảng, với vai trò to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ ngày 5/6/1911, mong muốn tìm một con đường cứu nước, cứu dân thoát khỏi vòng nô lệ, áp bức, chàng thanh niên trẻ Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã dấn thân trên các nẻo đường thế giới, với hành trang mang theo là ý chí độc lập và khát vọng tự do. Trong hành trình này, Nguyễn Tất Thành dừng chân lâu ở 3 nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh, Pháp để tìm hiểu, nghiên cứu cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước chống chủ nghĩa thực dân.
Chúng ta có thể hiểu được cảm nhận của Người qua những dòng lưu bút ghi vào cuối tháng 12/1912, khi đến thăm tượng Nữ thần Tự do tại Mỹ: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự do thì người da đen đang bị chà đạp; số phận người phụ nữ bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Nguyễn Tất Thành đã đặt mình vào chỗ đứng của giai cấp cần lao chiếm số đông trên khắp thế giới; đồng thời, cũng thấy rõ bộ mặt thật của số ít bọn người bóc lột tập trung ở các nước đế quốc. Ngay từ năm 1924, Người chỉ rõ: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản”.
Từ nhận thức đó, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu, tiếp biến và phát triển tinh hoa văn hóa tư tưởng phương Đông và tư tưởng các cuộc cách mạng Âu, Mỹ thế kỷ XVII, XVIII, đặc biệt lấy học thuyết cách mạng của Mác và Lênin làm cơ sở thế giới quan và phương pháp luận, xây dựng được một hệ thống quan điểm toàn diện và sáng tạo về tư tưởng giải phóng và phát triển làm “kim chỉ nam” cho cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.
Ánh sáng tư tưởng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chiếu rọi và lan tỏa nhanh chóng trong phong trào cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh ấy, từ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã phân hóa thành Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng. Tân Việt cách mạng Đảng cũng chuyển biến và lập ra Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Ba tổ chức cộng sản hoạt động riêng rẽ nhau. Biết được tình hình, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Xiêm (Thái Lan) đã quay trở lại Trung Quốc để thống nhất các tổ chức cộng sản.
Dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930. Buổi đầu tổ chức tại một căn phòng của một công nhân nghèo, sau đó chuyển qua một số địa điểm khác ở Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc). Đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, chi bộ của những người cộng sản Việt Nam ở nước ngoài, đã tham dự hội nghị. Hội nghị đã nhất trí với đề xuất của Nguyễn Ái Quốc về việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua những văn kiện chính thức của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt.
Nội dung của các văn kiện trên xác định cách mạng Việt Nam là “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”; “thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng...) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý”; “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông…, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến...) thì phải đánh đổ”, “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp”, “phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”. Các văn kiện này là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng.
Nhân dịp Tết Nguyên đán, Nguyễn Ái Quốc “đãi” các đại biểu một bữa cơm mừng sự kiện thành lập Đảng. Ngày 8/2/1930, các đại biểu ra về. Sau Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng, các đại biểu Đông Dương Cộng sản liên đoàn mới có mặt tại Hồng Kông và yêu cầu xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến ngày 24/2/1930, việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một chính đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam được hoàn tất trên thực tế.
Với ý nghĩa đó, mùa Xuân năm 1930 đã ghi một mốc son trong tiến trình lịch sử dân tộc, đánh dấu điểm khởi đầu cách mạng Việt Nam có một đảng cách mạng chân chính dẫn đường cho toàn dân đứng lên đánh đổ ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến; mở ra một kỷ nguyên lịch sử mới: Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, trong đó có vai trò rất to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ thực hiện sứ mệnh lịch sử sáng lập chính đảng vô sản ở Việt Nam, mà còn đặt nền móng cho sự phát triển vững chắc của Đảng trong những chặng đường lịch sử sau này./.

ĐẢNG MÃI LÀ MÙA XUÂN TƯƠI ĐẸP NHẤT

 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 là mốc son lịch sử đánh dấu bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Trong 95 năm đồng hành cùng dân tộc, Đảng khẳng định được vai trò sứ mệnh lịch sử của mình đối với cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn, ngày càng phát triển, góp phần khẳng định và nâng tầm vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Ý Đảng, lòng dân hòa quyện, Đảng luôn được nhân dân tin yêu, ủng hộ, xứng đáng là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, đây chính là cơ sở để Đảng nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Khởi đầu là thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân Pháp và triều đình phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Tiếp đến là thắng lợi của các cuộc kháng chiến “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ở Điện Biên Phủ và đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng đất nước, đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và mới, bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, non sông thu về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một trong những trang sử chói lọi nhất của lịch sử dân tộc. Với những thắng lợi đó, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực tiễn đó đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Cuối năm 1985, đầu năm 1986, do ảnh hưởng từ những biến động chính trị của thế giới, đặc biệt sự khủng hoảng trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đòi hỏi Đảng ta phải đánh giá, nhìn nhận và phải đổi mới. Trước bối cảnh đó, Đảng tỏ rõ bản lĩnh của mình, chủ động khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, bao gồm đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác. Đại hội đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tạo ra bước đột phá lớn, toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên. Những thành công to lớn trong công cuộc đổi mới kinh tế đất nước sau gần 40 năm đã chứng minh định hướng, chủ trương và phương thức đổi mới của Đảng là đúng đắn; cho thấy khả năng lãnh đạo đất nước xoay chuyển tình thế, kịp thời thích nghi với bối cảnh chính trị - kinh tế mới của quốc tế nhưng vẫn giữ được những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nhìn lại lịch sử 95 năm từ khi có Đảng dẫn đường và những thành tựu của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta càng thêm tự hào về những cống hiến vinh quang, vĩ đại của Đảng. Những chủ trương, đường lối, định hướng đúng đắn của Đảng là nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Khẳng định lòng tin của Đảng vào nhân dân, của nhân dân vào Đảng. Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam, Đảng chính là mùa xuân tràn đầy sức sống mãnh liệt, mang lại ấm no, hạnh phúc.
Năm 2024, năm bản lề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cả nhiệm kỳ theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khép lại, đây cũng là dấu mốc 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2024). Trong bản Di chúc, điều đầu tiên mà Người căn dặn: “Trước hết nói về Đảng - nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Thực hiện di huấn của Người, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị cùng với sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, tình hình chính trị - xã hội của đất nước tiếp tục đạt được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực, kinh tế tiếp tục là điểm sáng, tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và dự kiến sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD). Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Tăng trưởng kinh tế phục hồi tích cực, cả năm ước đạt khoảng 6,8 - 7%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra, được các tổ chức quốc tế đánh giá tích cực về triển vọng tăng trưởng. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát trong điều kiện tăng lương tối thiểu ở mức cao. Kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng điện có bước đột phá mới, hoàn thành đưa vào khai thác thêm 109 km đường cao tốc, nâng tổng chiều dài đường bộ cao tốc cả nước lên hơn 2.021 km. Hạ tầng viễn thông, hạ tầng số được thúc đẩy phát triển, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số và chính phủ số... Làm tốt công tác bảo đảm an sinh xã hội, lao động, việc làm, cải thiện đời sống người dân; xây dựng và tổ chức hiệu quả kế hoạch triển khai phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong 2025”. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, bảo đảm gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao…
Một thành tựu không thể không kể đến đó là xây dựng tinh thần quốc tế vô sản chân chính, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nâng cao vị thế đất nước trong hội nhập quốc tế. Thực thi đường lối đối ngoại đúng đắn theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng; hiện đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hoặc đối tác chiến lược với tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã và đang thể hiện tốt vai trò là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế; có nhiều sáng kiến, đề xuất và chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả các hoạt động của ASEAN, tổ chức Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế khác.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Một năm bắt đầu từ mùa xuân”. Xuân mới 2025 Ất Tỵ đã về với tâm thế mới, khí thế mới và niềm tin hy vọng về những thành tựu mới. Nhớ về ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với sự tự hào, niềm tin tưởng tuyệt đối, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, thấm nhuần và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, góp phần làm cho Đảng gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, làm cho đạo đức, văn minh của Đảng ngày càng tỏa sáng, để một Việt Nam luôn hùng cường, thịnh vượng, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là mùa xuân tươi đẹp nhất!./.

KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC


Đất nước ta đang trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo dòng chảy của lịch sử cách mạng, dân tộc ta đã trải qua những giai đoạn phát triển mang tính bứt phá, bước ngoặt, mà mỗi giai đoạn đều gắn kết chặt chẽ với nhau, làm tiền đề cho nhau trong dòng chảy kết nối giữa quá khứ với hiện tại và hướng tới tương lai tươi sáng cho Nhân dân, cho đất nước.
Kỷ nguyên giải phóng dẫn tộc, "rũ bùm đứng dậy sáng lòa" thế kỷ của dân tộc Việt Nam
Cách nay hơn một thế kỷ, dưới ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc và chế độ quân chủ phong kiến lỗi thời, trước sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước, để tìm lời giải cho bài toán “hóc búa” lớn của lịch sử dân tộc đặt ra rất bức thiết: Phải giành quyền độc lập, tự do như thế nào mới có thể đi đến thắng lợi? Hồ Chí Minh với lòng yêu nước thiết tha, ý chí và nghị lực cách mạng phi thường, trí tuệ và tầm nhìn thời đại, đã đổi mới đường đi cứu nước, giải phóng dân tộc một cách rất đặc sắc. Người không theo những khuynh hướng và con đường xưa cũ, mà lựa chọn hướng đi mới - ra thế giới, sang Phương Tây và đã tìm ra con đường cứu nước mới - con đường cách mạng vô sản, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới trong kỷ nguyên giải phóng dân tộc.
Mùa Xuân 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước lên vũ đài chính trị và xác lập quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Cách mạng tháng Tám 1945 “long trời lở đất” với khí thế xung thiên bằng toàn bộ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đã giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người Việt Nam theo con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vạch ra. Một mốc son chói lọi, mà từ đó thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân ta từ bóng đêm nô lệ, “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” thế kỷ. Lịch sử đã sang trang, dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do; độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.
Bước vào kỷ nguyên mới, trong xu thế phát triển của thời đại, hợp quy luật, thuận lòng dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đầy bản lĩnh, trí tuệ, sáng tạo và đổi mới, dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã tạo ra những tiền đề mới, sức bật mới cho dân tộc ta băng qua những chặng đường cách mạng với bao chiến công, kỳ tích vang dội, “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Từ đó, dân tộc bước sang tiến trình phát triển mới: Cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ đó, mở đường đổi mới đất nước thành công.
Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia dân tộc, tiềm lực chính trị, kinh tế - xã hội, con người, khoa học - công nghệ, quốc phòng - an ninh, đối ngoại không ngừng được nâng cao. Năm 2024, tăng trưởng kinh tế của nước ta ước đạt trên 7%; quy mô nền kinh tế đứng thứ 34, giá trị thương hiệu quốc gia đạt 507 tỷ, xếp thứ 32/193 quốc gia; xuất nhập khẩu đạt trên 800 tỷ USD; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên 31 tỷ USD (tính đến tháng 11/2024). Đời sống của hơn 100 triệu dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; Việt Nam trở thành điểm sáng toàn cầu trong các quốc gia đang phát triển đã hoàn thành về đích sớm các mục tiêu thiên niên kỷ.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới gần 40 năm qua kết tinh bản lĩnh, trí tuệ, sức mạnh và sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, hợp quy luật, thuận lòng dân; minh chứng sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Với thành tựu vĩ đại trong kỷ nguyên độc lập, tự do gắn liền chủ nghĩa xã hội, đổi mới và phát triển, mỗi chúng ta có quyền tự hào chính đáng để khẳng định rằng: Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Tiền đề đã được tạo ra vô cùng vững chắc, vận hội mới của dân tộc ta đã được mở ra, cả dân tộc đang vững vàng tâm thế bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình, với khát vọng cháy bỏng về đất nước hùng cường, sánh vai các cường quốc năm châu trong nhịp bước khẩn trương của thời đại.
Kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình, bút tốc và cất cánh đi tới tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam
Sự nghiệp đổi mới đất nước mang tầm vóc của một cuộc cách mạng đã bước vào giai đoạn phát triển theo chiều sâu, đặt ra những nhiệm vụ mới, hết sức nặng nề nhưng rất vẻ vang đối với Đảng và Nhân dân ta.
Nhận thức đầy đủ, sâu sắc những yêu cầu mới của cách mạng nước ta trong bối cảnh mới của thời đại, Đại hội XIII của Đảng đã xác định tầm nhìn chiến lược và lộ trình, bước đi rất cụ thể để phát triển đất nước đến năm 2030 (Kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn đến năm 2045 (Kỷ niệm 100 năm thành lập nước).
Phát biểu bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khóa XIII, ngày 23/9/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Với thế và lực đã tích lũy được sau 40 năm đổi mới, với sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, với những thời cơ, thuận lợi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã hội tụ đủ những điều kiện cần thiết và văn kiện Đại hội XIV phải đề ra được định hướng chiến lược, nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để giải phóng toàn bộ sức sản xuất, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, lấy nguồn lực nội sinh, nguồn lực con người là nền tảng, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”.
Tiếp đó, đồng chí Tổng Bí thư đã phân tích sâu sắc, cụ thể hóa nhiều vấn đề cơ bản, cấp bách có liên quan đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chỉ rõ: “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là kỷ nguyên phát triển bứt phá, tăng tốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc; đuổi kịp, tiến cùng, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; mọi người dân đều được phát triển toàn diện, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, văn minh”.
Một mùa xuân mới lại về - Xuân Ất Tỵ 2025! Đất nước vào xuân trong không khí rạo rực, tin tưởng, tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh tròn 95 tuổi. Yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước trong thời kỳ mới đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục kế thừa và phát triển những thành tựu đã đạt được, những bài học kinh nghiệm đã tích lũy, phát huy những truyền thống vẻ vang của pho lịch sử bằng vàng của Đảng, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, đổi mới tư duy phát triển trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy tối đa tiềm năng, vị thế của đất nước, tranh thủ được vận hội, thời cơ, đẩy lùi và vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nguy cơ, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh, hiện thực hóa thành công mục tiêu, đích đến trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng./.
Thanh Hoá