Thứ Năm, 12 tháng 6, 2025

Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo

 


Nguồn gốc nảy sinh, tồn tại tôn giáo vẫn còn như: Nguồn gốc nhận thức (nguồn gốc tự nhiên); nguồn gốc kinh tế - xã hội; nguồn gốc tâm lý; nguồn gốc chính trị - xã hội; nguồn gốc văn hoá.

Về nguồn gốc nhận thức (nguồn gốc tự nhiên), trong chủ nghĩa xã hội, trình độ khoa học, trình độ dân trí đã có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hiện tượng tự nhiên, xã hội mà khoa học chưa thể lý giải, hoặc khoa học đã lý giải được, nhưng người dân vẫn chưa nhận thức được hoặc nhận thức chưa đầy đủ, dẫn đến còn niềm tin tôn giáo.

Về nguồn gốc kinh tế - xã hội, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu; nhiều giai cấp với những lợi ích khác nhau, điều đó dẫn đến trong xã hội vẫn còn tồn tại những bất bình đẳng, bất công, phân hóa giàu nghèo, làm cho con người vẫn có tâm trạng bi quan, chán nản, cầu mong sự giúp đỡ, che chở của những lực lượng siêu nhiên, muốn tìm sự bình an nơi tôn giáo.

Về nguồn gốc tâm lý, sự sợ hãi, lo âu của con người trước sức mạnh của tự nhiên, các hiện tượng dịch bệnh; cùng với đó là những rủi ro trong cuộc sống, trong sản xuất kinh doanh, dẫn đến tình trạng thua lỗ, phá sản... mà đưa người ta đến với tôn giáo, tin vào may rủi của số phận. Rồi, lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ, kính trọng của nhân dân đối với những người có công với dân, với nước, những anh hùng dân tộc dẫn đến việc tôn thờ như những vị thánh, đó cũng chính là đưa người ta trở lại với tín ngưỡng, tôn giáo.

Về nguồn gốc chính trị - xã hội, tôn giáo có những điểm còn phù hợp với chủ nghĩa xã hội, với đường lối, chính sách của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Giá trị đạo đức, văn hoá của tôn giáo đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Chính vì vậy, trong một chừng mực nhất định, tôn giáo vẫn có sức thu hút mạnh mẽ đối với một bộ phận quần chúng.

Về nguồn gốc văn hoá, trong thực tế, sinh hoạt tôn giáo đã đáp ứng được phần nào nhu cầu văn hoá tinh thần của cộng đồng xã hội và trong một mức độ nhất định, có ý nghĩa giáo dục ý thức cộng đồng, phong cách, lối sống của cá nhân trong cộng đồng. Vì vậy, sinh hoạt tôn giáo đã lôi cuốn một bộ phận nhân dân xuất phát từ nhu cầu văn hoá tinh thần, tình cảm của họ.

Từ những sai lầm, khuyết điểm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong quản lý kinh tế, xã hội và giải quyết vấn đề tôn giáo: Một số chủ trương, chính sách, pháp luật trong quản lý kinh tế - xã hội và giải quyết vấn đề tôn giáo chưa xuất phát từ thực tiễn, xa rời lý luận. Quá trình quản lý nóng vội, chủ quan, duy ý chí. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến một bộ phận cán bộ đảng viên thoái hóa, biến chất, xa rời quần chúng nhân dân.

Tín ngưỡng tôn giáo còn đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân: Xoa dịu nỗi đau, sự mất mát, những rủi ro trong cuộc sống. Văn hóa, đạo đức tôn giáo còn những điều phù hợp với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; khuyên con người làm việc thiện, tránh điều ác, mơ ước giải phóng con người khỏi áp bức, khổ đau.

Tính bảo thủ, lạc hậu của ý thức tôn giáo: Tôn giáo là một trong những hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất, đã in sâu vào đời sống tinh thần, ảnh hưởng khá sâu đậm đến nếp nghĩ, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệ. Vì vậy, dù có thể có những biến đổi lớn lao về kinh tế, chính trị, xã hội thì tôn giáo cũng không thay đổi ngay.

Sự điều chỉnh, biến đổi của tôn giáo: Cải cách, đổi mới theo hướng “hiện đại hóa”; “quần chúng hóa”; thế tục hóa và tham gia ngày càng sâu rộng vào các hoạt động chính trị - xã hội.

Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng: Tôn giáo là vấn đề rất nhạy cảm, kẻ thù lợi dụng nhằm kích động, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc, là một thủ đoạn trong âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Xu thế toàn cầu hóa trong thời đại ngày nay

 


Do sự phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng mang tính chất quốc tế, toàn cầu hóa trở thành một xu thế vận động khách quan. Biểu hiện của nó là việc các quốc gia càng phụ thuộc lẫn nhau. Các nước phát triển phụ thuộc vào nguồn nguyên, nhiên liệu và thị trường của các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển phụ thuộc vào vốn, khoa học công nghệ, máy móc thiết bị và thị trường của các nước phát triển. Các nước đều điều chỉnh chiến lược, chính sách phát triển, tăng cường tự do hóa, mở cửa và hội nhập quốc tế, hoàn thiện hệ thống luật pháp tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư và phát triển kinh tế.

Xu thế toàn cầu hoá thúc đẩy sự phát triển sâu rộng của các quan hệ kinh tế quốc tế, mở ra khả năng cho các quốc gia tham gia nhanh chóng và hiệu quả vào hệ thống phân công lao động quốc tế, tận dụng mọi nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển. Các nước có điều kiện, cơ hội bày tỏ chính kiến, bảo vệ lợi ích. Nó cũng thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hoá và tri thức, tăng cường sự hiểu biết, tin cậy và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Các quốc gia dân tộc ngày càng phụ thuộc lẫn nhau là cơ hội để loại bỏ mọi biểu hiện của ý đồ thiết lập mối quan hệ một chiều, áp đặt, chi phối của các siêu cường đối với các quốc gia dân tộc khác, là cơ hội cho sự hình thành một trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm.

Tuy nhiên, toàn cầu hoá có thể gây ra những tác động tiêu cực, nhất là các nước đang phát triển. Đa số các nước trên thế giới phải chịu sự ràng buộc của các quy tắc kinh tế, thương mại do các nước phương Tây áp đặt; phải chịu sức ép cạnh tranh bất bình đẳng và sự điều tiết vĩ mô bất hợp lý của các nước tư bản phát triển. Toàn cầu hoá đe doạ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và vai trò của nhà nước. Đã xuất hiện mưu đồ lấy cái làng toàn cầu thay thế chủ quyền quốc gia. Trên lĩnh vực văn hoá, các quốc gia có nguy cơ bị các giá trị văn hóa ngoại lai xâm nhập ồ ạt, làm tổn hại bản sắc văn hoá dân tộc. Cơ cấu xã hội của mỗi quốc gia có thể biến động phức tạp, khó lường, làm cho phân tầng, phân hoá xã hội ngày càng sâu sắc.

Xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển trong thời đại ngày nay

 


Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Hòa bình là khát vọng, là mục tiêu đấu tranh của nhân loại tiến bộ. Hợp tác dựa trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và lợi ích của tất cả các bên, tin cậy lẫn nhau, cùng có lợi. Tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, tìm mọi cách tranh thủ cơ hội hòa bình, ngăn chặn, hạn chế và khắc phục những xung đột, bất đồng, thực hiện thống nhất trong đa dạng nhằm phục vụ mục tiêu phát triển đất nước. Không thể có sự phát triển nếu không có cơ sở và nền tảng là hòa bình, cũng không thể có phát triển nếu không thông qua phương thức hay động lực là hợp tác.

Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển biểu hiện qua việc các quốc gia chủ trương phối hợp giải quyết xung đột, chiến tranh bằng các giải pháp hòa bình, cam kết hiện thực hóa các thể chế trao đổi, hợp tác để ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hoà bình; đề cao vai trò của Liên hợp quốc trong duy trì, bảo vệ hoà bình và an ninh quốc tế. Giải quyết các mâu thuẫn, xung đột bằng phương pháp hoà bình, tăng cường đối thoại, tránh đối đầu. Bên cạnh đó còn có các hoạt động nhằm tháo gỡ ngòi nổ, không để chiến tranh mở rộng, leo thang, không quốc tế hoá các xung đột, không để các nước lớn can thiệp, thậm chí ở mức độ nào đó còn có sự thoả hiệp, nhượng bộ lẫn nhau giữa các nước nhằm duy trì hòa bình.

Hợp tác hiện nay là hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và môi trường, diễn ra bằng con đường song phương và đa phương, bằng mở cửa và hội nhập, bằng chia xẻ trách nhiệm và đảm bảo công bằng trong lợi ích, bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Hợp tác đòi hỏi phải tích cực, chủ động và cộng đồng trách nhiệm, không hẹp hòi, vụ lợi, không bá quyền, giải quyết hài hoà mối quan hệ dân tộc và quốc tế. Phát triển và những cơ hội phát triển trong công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo ra thực lực đảm bảo cho hoà bình và hướng tới một nền hoà bình vững chắc.

Nhân loại đang đứng trước những vấn đề toàn cầu hết sức bức súc đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết.

 

Những vấn đề toàn cầu là những vấn đề lớn, có quy mô toàn thế giới, đe doạ đến sự tồn vong của cả loài người và nếu không được ngăn chặn, khặc phục thì hậu quả khốc liệt sẽ xảy ra như nhau đối với tất cả mọi người, mọi lực lượng, mọi quốc gia dân tộc. Việc khắc phục những hậu quả đó vô cùng phức tạp, khó khăn, lâu dài, đòi hỏi phải có sự phối hợp của tất cả các quốc gia trên thế giới. Nguồn gốc của những vấn đề toàn cầu, xét cho cùng vừa sâu xa, vừa trực tiếp là từ hai mối quan hệ cơ bản của con người. Đó là quan hệ xã hội giữa con người với con người và quan hệ giữa con người với tự nhiên. Chính sự thái quá, thậm chí cực đoan của con người trong việc giải quyết hai mối quan hệ trên khiến loài người phải đối diện trước những nguy cơ hủy diệt sự sống của mình.

Do sự khác biệt về lợi ích trong hoạt động sống, con người đã tác động đến thiên nhiên theo những xu hướng cực đoan khác nhau, khai thác không đi đôi với bồi đăp và bảo vệ, tất yếu phải gánh chịu những hậu họa thiên tai tàn khốc do tàn phá môi trường. Những vấn đề nan giải khác của nhân loại hiện nay đều nảy sinh như là kết quả của một thậm chí cả hai mối quan hệ cơ bản trên. Trong bối cảnh đó, sự gắn kết về lợi ích gia tăng cùng với nhận thức về trách nhiệm chung trong giải quyết những vấn đề toàn cầu trở thành yếu tố thuận lợi cho không khí hợp tác và đối thoại. Giải quyết những vấn đề này phụ thuộc vào đường lối của mỗi quốc gia và do đó phong trào quần chúng đòi giải quyết các vấn đề toàn cầu là một bộ phận của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới

Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang có nhiều ưu thế và còn khả năng phát triển nhất định, nhưng không thể khắc phục được mâu thuẫn cơ bản vốn có, không phải là tương lai của nhân loại.

 


Sự điều chỉnh, thích nghi đã giúp cho chủ nghĩa tư bản mở rộng dự địa tồn tại, nhưng không thể xóa bỏ những mâu thuẫn nội tại. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn tồn tại, thậm chí còn trầm trọng hơn. Chủ nghĩa tư bản đang phải đối phó với những vấn đề, như sự khủng hoảng có tính chu kỳ, bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo. Đó không phải là những vấn đề nhất thời, mà là khuyết tật mang tính tất yếu của xã hội tư bản chủ nghĩa. Do đó, chủ nghĩa tư bản không thể là tương lai của nhân loại.

Để tiếp tục kéo dài sự tồn tại, các nước tư bản chủ nghĩa, vừa tìm cách xoa dịu những mâu thuẫn xã hội, vừa tiếp tục điên phá các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng cách mạng thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Chính điều đó càng bộc lộ rõ hơn những hạn chế cố hữu của chủ nghĩa tư bản - một chế độ xã hội tồn tại dựa trên nền tảng là sự bóc lột, xâm lược, nô dịch và đàn áp. Tuy có sự điều chỉnh và thích nghi nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi về bản chất, nó vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi.

Xét về tổng thể chủ nghĩa tư bản đương đại vẫn còn có những tiềm năng để tiếp tục phát triển. Sự phát triển của nó không giúp nó tự hóa giải được những mâu thuẫn trong lòng nó để làm cho nó có thể tồn tại lâu dài như một phạm trù vĩnh viễn mà là động lực thúc đẩy nó tới những giới hạn tự phủ định chính nó. Trên cơ sở sự tự phủ định của chủ nghĩa tư bản với tư cách là một phương thức sản xuất sẽ xuất hiện một phương thức sản xuất tiến bộ hơn, phù hợp hơn với trình độ phát triển của nền văn minh nhân loại.

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong thời đại hiện nay.

 


Đây là mâu thuẫn cơ bản nhất quyết định trực tiếp nội dung của thời đại. Nó tác động mạnh mẽ đến các mâu thuẫn còn lại. Việc giải quyết mâu thuẫn đó có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện nội dung cơ bản của thời đại. Nó không chỉ là mâu thuẫn trực tiếp giữa các nước xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản chủ nghĩa mà còn là mâu thuẫn giữa khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong mỗi nước, giữa hai con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa các lực lượng, các nhân tố xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới. Vì vậy, xét về thực chất đây là mâu thuẫn bao trùm và chi phối mọi đặc điểm, tính chất và xu hướng của thời đại ngày nay và được phản ánh trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ngay từ khi chủ nghĩa xã hội được hình thành thì chủ nghĩa đế quốc đã tìm mọi cách để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Ngay sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, 14 nước đế quốc đã bao vây hòng tiêu diệt nước Nga Xô viết. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ nghĩa phát xít cũng muốn tiêu diệt Liên Xô. Trong Chiến tranh lạnh, thế giới tư bản tìm mọi cách cô lập các nước xã hội chủ nghĩa bằng cách bao vây kinh tế, đẩy mạnh chạy đua vũ trang với mong muốn xóa bỏ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn hiện nay của thời đại, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội có nhiều biểu hiện mới. Đây là mâu thuẫn giữa hai hình thái kinh tế xã hội mang bản chất đối lập nhau không thể điều hòa được. Vì vậy cho dù chủ nghĩa xã hội dù bị đổ vỡ một bộ phận, không còn là một hệ thống nhưng vẫn còn tồn tại các nước xã hội chủ nghĩa và đặc biệt hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong niềm tin của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn là trung tâm của cuộc đấu tranh hiện nay trên thế giới.

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội được giải quyết bằng nhiều con đường, phương thức khác nhau trong phạm vi từng nước cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Trong đó, việc tiến hành thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa là phương thức cơ bản và quyết định nhất. Tuy nhiên, giải quyết mâu thuẫn này không thể thực hiện được trong thời gian ngắn và không tách khỏi những bước thăng trầm khác nhau trong từng nước và trên toàn thế giới.

Từ đối đầu gay gắt, quyết liệt, đến nay chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đang trong trạng thái vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Nhưng không vì thế mà mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản mất đi, ngược lại nó vẫn tồn tại và phát triển. Các nước tư bản chủ nghĩa chưa bao giờ từ bỏ mục tiêu xóa bỏ những nước xã hội chủ nghĩa, dập tắt khuynh hướng đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân loại. Ngược lại, các lực lượng xã hội chủ nghĩa cũng không từ bỏ mục tiêu cách mạng, tiến hành thắng lợi sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân trên phạm vi quốc tế, đưa nhân loại tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

 

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUỐC HỘI CHÍNH THỨC THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT CẢ NƯỚC CÓ 34 TỈNH, THÀNH PHỐ!

     Sáng nay 12/6, tại Kỳ họp thứ 9, sau khi thảo luận, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố.
Với 461/465 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 96,44% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội tán thành với đề án của Chính phủ về việc sắp xếp 52 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 4 thành phố và 48 tỉnh để hình thành 23 đơn vị hành chính cấp tỉnh mới.

Đáng chú ý, Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua.

Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố; trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp quy định tại nghị quyết này và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp là các tỉnh: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Sơn La và thành phố Hà Nội, thành phố Huế.

Các cơ quan theo thẩm quyền khẩn trương thực hiện các công tác chuẩn bị cần thiết bảo đảm để chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp chính thức hoạt động từ ngày 1/7/2025.

Chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố trước sắp xếp tiếp tục hoạt động cho đến khi chính quyền địa phương ở tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp chính thức hoạt động.

Quốc hội yêu cầu Chính phủ, HĐND, UBND tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm tổ chức thi hành nghị quyết này; sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan, tổ chức ở địa phương; hỗ trợ, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bị tác động, ảnh hưởng của việc thực hiện sắp xếp; bảo đảm an sinh xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

Chính phủ có trách nhiệm tổ chức việc xác định chính xác diện tích tự nhiên, phạm vi ranh giới trên bản đồ hành chính, trên thực địa. Trường hợp sau khi rà soát, đối chiếu trên thực địa mà số liệu về diện tích tự nhiên của đơn vị hành chính khác với số liệu ghi trong nghị quyết này thì Chính phủ tiến hành cập nhật, điều chỉnh và thực hiện công bố công khai các thông tin này bằng hình thức thích hợp mà không phải báo cáo lại Quốc hội.

Bên cạnh đó, Chính phủ, các bộ, ngành ở trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh, kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền địa phương các cấp để thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025

1. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tuyên Quang. Sau khi sắp xếp, tỉnh Tuyên Quang có diện tích tự nhiên là 13.795,50 km2, quy mô dân số là 1.865.270 người.

Tỉnh Tuyên Quang giáp các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai, Phú Thọ, Thái Nguyên và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

2. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lào Cai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên là 13.256,92 km2, quy mô dân số là 1.778.785 người.

Tỉnh Lào Cai giáp các tỉnh Lai Châu, Phú Thọ, Sơn La, Tuyên Quang và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

3. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Thái Nguyên. Sau khi sắp xếp, tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên là 8.375,21 km2, quy mô dân số là 1.799.489 người.

Tỉnh Thái Nguyên giáp các tỉnh Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang và thành phố Hà Nội.

4. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Phú Thọ. Sau khi sắp xếp, tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên là 9.361,38 km², quy mô dân số là 4.022.638 người.

Tỉnh Phú Thọ giáp các tỉnh Lào Cai, Ninh Bình, Sơn La, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tuyên Quang và thành phố Hà Nội.

5. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh thành tỉnh mới có tên gọi là Bắc Ninh. Sau khi sắp xếp, tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên là 4.718,6 km2, quy mô dân số là 3.619.433 người.

Tỉnh Bắc Ninh giáp các tỉnh Hưng Yên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, thành phố Hải Phòng và thành phố Hà Nội.

6. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Hưng Yên. Sau khi sắp xếp, tỉnh Hưng Yên có diện tích tự nhiên là 2.514,81 km2, quy mô dân số là 3.567.943 người.

Tỉnh Hưng Yên giáp tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Ninh Bình, thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng và Biển Đông.

7. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Hải Phòng. Sau khi sắp xếp, thành phố Hải Phòng có diện tích tự nhiên là 3.194,72 km2, quy mô dân số là 4.664.124 người.

Thành phố Hải Phòng giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Ninh và Biển Đông.

8. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Nam, tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Ninh Bình. Sau khi sắp xếp, tỉnh Ninh Bình có diện tích tự nhiên là 3.942,62 km2, quy mô dân số là 4.412.264 người.

Tỉnh Ninh Bình giáp các tỉnh Hưng Yên, Phú Thọ, Thanh Hoá, thành phố Hà Nội và Biển Đông.

9. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Trị. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Trị có diện tích tự nhiên là 12.700 km2, quy mô dân số là 1.870.845 người.

Tỉnh Quảng Trị giáp tỉnh Hà Tĩnh, thành phố Huế, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Biển Đông.

10. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Đà Nẵng. Sau khi sắp xếp, thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 11.859,59 km2, quy mô dân số là 3.065.628 người.

Thành phố Đà Nẵng giáp tỉnh Quảng Ngãi, thành phố Huế, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Biển Đông

11. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên là 14.832,55 km2, quy mô dân số là 2.161.755 người.

Tỉnh Quảng Ngãi giáp tỉnh Gia Lai, thành phố Đà Nẵng, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông.

12. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bình Định và tỉnh Gia Lai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Gia Lai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Gia Lai có diện tích tự nhiên là 21.576,53 km2, quy mô dân số là 3.583.693 người.

Tỉnh Gia Lai giáp tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Quảng Ngãi, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông.

 13. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hoà thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Khánh Hòa. Sau khi sắp xếp, tỉnh Khánh Hoà có diện tích tự nhiên là 8.555,86 km2, quy mô dân số là 2.243.554 người.

Tỉnh Khánh Hoà giáp tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Lâm Đồng và Biển Đông.

14. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Đắk Nông, tỉnh Bình Thuận và tỉnh Lâm Đồng thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lâm Đồng. Sau khi sắp xếp, tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên là 24.233,07 km2, quy mô dân số là 3.872.999 người.

Tỉnh Lâm Đồng giáp các tỉnh Đắk Lắk, Đồng Nai, Khánh Hoà, Thành phố Hồ Chí Minh, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông.

15. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đắk Lắk. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên là 18.096,40 km2, quy mô dân số là 3.346.853 người.

Tỉnh Đắk Lắk giáp các tỉnh Gia Lai, Khánh Hoà, Lâm Đồng, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông.

16. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và tỉnh Bình Dương thành thành phố mới có tên gọi là Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi sắp xếp, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên là 6.772,59 km2, quy mô dân số là 14.002.598 người.

Thành phố Hồ Chí Minh giáp các tỉnh Đồng Nai, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Tây Ninh và Biển Đông.

17. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Nai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 12.737,18 km2, quy mô dân số là 4.491.408 người.

Tỉnh Đồng Nai giáp tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và Vương quốc Cam-pu-chia.

18. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Long An và tỉnh Tây Ninh thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tây Ninh. Sau khi sắp xếp, tỉnh Tây Ninh có diện tích tự nhiên là 8.536,44 km2, quy mô dân số là 3.254.170 người.

Tỉnh Tây Ninh giáp tỉnh Đồng Nai, tỉnh Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh và Vương quốc Cam-pu-chia.

19. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Cần Thơ. Sau khi sắp xếp, thành phố Cần Thơ có diện tích tự nhiên là 6.360,83 km2, quy mô dân số là 4.199.824 người.

Thành phố Cần Thơ giáp các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long và Biển Đông.

20. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bến Tre, tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Vĩnh Long. Sau khi sắp xếp, tỉnh Vĩnh Long có diện tích tự nhiên là 6.296,20 km2, quy mô dân số là 4.257.581 người.

Tỉnh Vĩnh Long giáp tỉnh Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ và Biển Đông.

21. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Tháp. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Tháp có diện tích tự nhiên là 5.938,64 km2, quy mô dân số là 4.370.046 người.

Tỉnh Đồng Tháp giáp các tỉnh An Giang, Tây Ninh, Vĩnh Long, thành phố Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông.

22. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Cà Mau. Sau khi sắp xếp, tỉnh Cà Mau có diện tích tự nhiên là 7.942,39 km2, quy mô dân số là 2.606.672 người.

Tỉnh Cà Mau giáp tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và Biển Đông.

23. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Kiên Giang và tỉnh An Giang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh An Giang. Sau khi sắp xếp, tỉnh An Giang có diện tích tự nhiên là 9.888,91 km2, quy mô dân số là 4.952.238 người.

Tỉnh An Giang giáp tỉnh Cà Mau, tỉnh Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông./.
Ảnh: Đại biểu Quốc hội ấn nút biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025
Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: “VAI TRĂM CÂN, CHÂN VẠN DẶM”!

     Trong những năm tháng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, trên chiến trường Khu 5 có một đơn vị gồm hơn 600 cô gái tuổi mười sáu, đôi mươi làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, đạn dược, làm nên huyền thoại về “đội quân tóc dài” của miền Trung khói lửa. Đó là Tiểu đoàn Vận tải 232 do đồng chí Phạm Thị Thao làm Tiểu đoàn trưởng.
“Đạp 50 cân xuống đất, hất 70 cân sang bên, vì chiến trường mang lên một tạ”,
“Không tính khối lượng, có sức bao nhiêu cống hiến tất cả”,
“Vai trăm cân, chân vạn dặm”;
“B.om th.ù, mưa dội, đường trơn
Hàng em vẫn xẻ Trường Sơn đi về”...
Đó là những phương châm trong 4 năm công tác, Tiểu đoàn Vận tải 232 đã vận chuyển hơn 5.000 tấn hàng hóa ra chiến trường. Ước tính trung bình, mỗi nữ chiến sĩ đi bộ khoảng 600km mỗi năm. Đơn vị đã dệt nên bao huyền thoại, mãi bất tử cùng những chiến công trên các cung đường Trường Sơn m.áu lửa./.
Ảnh: Nữ quân nhân Tiểu đoàn Vận tải 232 gùi vũ khí ra chiến trường.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TP.HCM KIẾN NGHỊ GIỮ LẠI TOÀN BỘ TRỤ SỞ QUÂN SỰ QUẬN, HUYỆN PHỤC VỤ QUỐC PHÒNG!

     Tư lệnh Bộ Tư lệnh TP.HCM kiến nghị Bộ Quốc phòng và Quân khu 7 cho phép TP.HCM giữ lại toàn bộ trụ sở quân sự các quận, huyện, cam kết sẽ tận dụng tối đa công năng để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng trong giai đoạn mới!

Rà soát quỹ đất quốc phòng để xác định nhu cầu sử dụng

Tại hội nghị Đảng ủy Quân sự TP.HCM phiên 6 tháng đầu năm tổ chức ngày 11.6 do Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Văn Nên chủ trì, thiếu tướng Vũ Văn Điền, Tư lệnh Bộ Tư lệnh TP.HCM, cho biết sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã, phường, TP.HCM mới có 168 phường, xã. Tổng số cán bộ quân sự cấp xã hiện là 672 người. Theo chủ trương hiện tại, ban chỉ huy quân sự mỗi phường, xã sẽ được bố trí theo mô hình "bộ bốn", gồm chỉ huy trưởng, hai chỉ huy phó và một trợ lý, tương đương ba công chức. Tính toán cho thấy sau khi bố trí theo mô hình này, sẽ dư ra khoảng 289 cán bộ.

Số cán bộ này, theo ông Điền, sẽ được xem xét điều chỉnh chức danh phù hợp, như từ chỉ huy trưởng xuống chỉ huy phó, hoặc điều động xuống công tác ở cấp thấp hơn. Thậm chí, có một số trường hợp đặc biệt được sắp xếp làm tiểu đội trưởng trong môi trường chiến đấu.

Đối với trụ sở ban chỉ huy quân sự cấp phường, xã, ông Điền cho biết hiện nhiều trụ sở không đạt chuẩn diện tích tối thiểu 500m2 theo quy định, không phù hợp cho bố trí lực lượng đông như trung đội hoặc đại đội. Do đó, Bộ Tư lệnh TP.HCM đề xuất dồn các trụ sở nhỏ lẻ, tận dụng những trụ sở dư trong cùng quận để bố trí lại hệ thống chỉ huy, lực lượng thường trực và khu vực huấn luyện. Các trụ sở của UBND cấp phường nếu dư thừa cũng có thể chuyển giao cho lực lượng quân sự sử dụng làm nơi đóng quân, chỉ huy.

Thiếu tướng Vũ Văn Điền nhấn mạnh, sau sáp nhập, tổ chức quân sự địa phương cũng cần được ổn định. Một trong những nhiệm vụ cấp thiết là định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt với những người nghỉ, phục viên hoặc chuyển chức danh. Đồng thời, Bộ Tư lệnh TP.HCM vẫn phải duy trì các nhiệm vụ thường xuyên như huấn luyện, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, duy trì nền nếp chính quy, kỷ luật và công tác hậu cần, kỹ thuật.

Tại hội nghị, Tư lệnh Bộ Tư lệnh TP.HCM kiến nghị Bộ Quốc phòng và Quân khu 7 cho phép TP.HCM giữ lại toàn bộ trụ sở quân sự các quận, huyện, cam kết sẽ tận dụng tối đa công năng để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng trong giai đoạn mới.

Về công tác phối hợp, ông Điền đề nghị Quân khu 7 và các đơn vị liên quan chủ động thông báo, tuyên truyền cho lực lượng vũ trang về kế hoạch sáp nhập, dồn ghép tỉnh để tránh hoang mang khi cán bộ, chiến sĩ trở về địa phương.

Về quản lý và sử dụng đất quốc phòng, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được lưu ý, trong bối cảnh TP.HCM đang hướng đến mô hình siêu đô thị sau sáp nhập tỉnh thành, trong khi quỹ đất nội thành ngày càng hạn hẹp, cần tính toán lại định hướng bố trí đất quốc phòng.

Ông Nguyễn Văn Được đề nghị Bộ Tư lệnh TP.HCM chủ trì rà soát lại toàn bộ quỹ đất quốc phòng trên địa bàn thành phố, đồng thời làm việc với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu để xác định cụ thể nhu cầu sử dụng đất quốc phòng, vị trí và mục đích sử dụng. Tuy nhiên, với dư địa sau sáp nhập lớn hơn hiện nay, TP.HCM không nhất thiết bố trí đất quốc phòng trong khu vực nội thành, cần nghiên cứu lại để hài hòa giữa lợi ích kinh tế và nhiệm vụ quân sự - quốc phòng.

Tăng cường củng cố quốc phòng của TP.HCM trong giai đoạn mới

Kết luận hội nghị, Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Văn Nên đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự chủ động, ý thức vượt khó của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là công tác phục vụ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm đất nước thống nhất. Bên cạnh đó, các nhiệm vụ thường xuyên như tuyển quân, hội thao, tuyên thệ chiến sĩ mới đều hoàn thành đúng kế hoạch.

Về phương hướng 6 tháng cuối năm, Đảng ủy thống nhất các nhiệm vụ trọng tâm: tiếp tục quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức của cán bộ chiến sĩ về chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

"Tinh thần chung của việc sắp xếp bộ máy, sắp xếp hệ thống chính trị lần này là mọi việc phải tốt hơn. Nếu có vấn đề phải giải quyết trên từng lĩnh vực trong toàn quân. Muốn như vậy thì phải đảm bảo con người được sắp xếp, phân công, bố trí phù hợp, đảm bảo được trên từng vị trí, tư tưởng phải an tâm, phải thông và nhiệm vụ tương xứng với cương vị chức vụ", Bí thư Nên nhấn mạnh.

Bí thư Thành ủy cũng đề nghị Bộ Tư lệnh tiếp tục phối hợp tốt với Thành ủy, UBND TP.HCM và các cơ quan liên quan trong công tác tham mưu, nhất là trong bối cảnh có nhiều đề án, nhiệm vụ mới. Đặc biệt, cần tính toán kỹ lưỡng các yếu tố liên quan đến đất đai, tài sản quân sự để quy hoạch sử dụng hiệu quả, đúng quy định. Cần rà soát, xác định lại các địa bàn trọng điểm, vùng giáp ranh để củng cố thế trận phòng thủ, tuyệt đối không để bị động, bất ngờ.

Ông Nên cũng yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng tuyển quân, công tác hậu phương quân đội, chuẩn bị chu đáo cho đợt tuyển quân nghĩa vụ quân sự năm 2026. Đối với những quân nhân xuất ngũ trở về địa phương sau sáp nhập, cần có sự chia sẻ, giải thích cụ thể, không để họ bỡ ngỡ.

Bí thư Nguyễn Văn Nên chỉ đạo phải tập trung xây dựng lực lượng vũ trang thành phố vững mạnh về chính trị, tư tưởng, chính quy, sẵn sàng chiến đấu, tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2.9./.


Môi trường ST.

XUYÊN TẠC VỀ “DÂN CHỦ” NHẰM PHÁ HOẠI ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM!

     Ngày 24/5/2025, trên trang blog Việt Nam Thời Báo tán phát bài “Dân chủ và phát triển: Những huyền thoại cần hóa giải và hòa hợp cho Việt Nam”, kêu gọi, cổ xúy Việt Nam xây dựng nền “dân chủ” thực sự với pháp quyền mạnh mẽ, tự do báo chí và xã hội dân sự, chúng ca ngợi mô hình “dân chủ phương Tây” như một “chìa khóa vạn năng” để đạt tới sự phát triển bền vững, đồng thời xuyên tạc, phủ nhận mô hình dân chủ và pháp quyền mà Việt Nam đang xây dựng. Luận điệu này không mới, nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ nguy hiểm khi len lỏi vào tư duy nhận thức của một bộ phận quần chúng, đặc biệt là giới trẻ, cán bộ trí thức nếu không được nhận diện và đấu tranh quyết liệt.

Thứ nhất, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là dân chủ thực chất, toàn diện, lấy người dân làm trung tâm

Khác với nền dân chủ hình thức trong chế độ tư sản – nơi quyền lực chính trị bị thao túng bởi các nhóm lợi ích tài phiệt – dân chủ ở Việt Nam được thực thi theo hướng thực chất, toàn diện và gắn bó chặt chẽ với lợi ích của nhân dân. Dân chủ trong chế độ ta không chỉ giới hạn ở quyền bầu cử, ứng cử, mà được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống: từ quyền giám sát, phản biện xã hội, quyền tiếp cận thông tin, đến quyền tham gia xây dựng pháp luật, chính sách.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã khẳng định rõ: “Thực hiện tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm dân chủ gắn với kỷ cương, dân chủ được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Đó là nền dân chủ có tổ chức, có định hướng, không phải dân chủ vô giới hạn, vô trách nhiệm như một số luận điệu cổ súy.

Mặt khác, ở Việt Nam, dân chủ được đảm bảo cả ở khía cạnh chính trị, kinh tế và xã hội. Việc bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế, hỗ trợ người yếu thế… chính là những biểu hiện sinh động của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo báo cáo của UNDP năm 2023, tỷ lệ người dân Việt Nam tin tưởng vào chính quyền địa phương đạt mức cao nhất khu vực Đông Nam Á (84%), điều đó phản ánh chất lượng quản trị công và sự hài lòng của nhân dân với mô hình dân chủ hiện hành.

Thứ hai, Pháp quyền xã hội chủ nghĩa không phải là bản sao của mô hình phương Tây mà là sự phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện Việt Nam

Việc bài viết đề cao mô hình “pháp quyền phương Tây” như một giá trị phổ quát, đồng thời phủ nhận mô hình pháp quyền XHCN Việt Nam là hoàn toàn sai trái. Thực chất, khái niệm “pháp quyền” không mang tính tuyệt đối và phổ quát, mà luôn gắn với bản chất giai cấp, đặc điểm lịch sử và điều kiện cụ thể của từng quốc gia.

Ở Việt Nam, nguyên tắc “mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân” được thể chế hóa trong Hiến pháp, trong đó, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Pháp luật là công cụ quan trọng để tổ chức, điều hành xã hội, nhưng không thể tách rời khỏi sự lãnh đạo chính trị của Đảng – lực lượng duy nhất đại diện cho lợi ích toàn dân tộc. Sự lãnh đạo của Đảng không đứng ngoài, mà nằm trong thể chế pháp quyền, thông qua tổ chức, cán bộ, và các thiết chế dân chủ.

Việc tuyên truyền rằng “chỉ có pháp quyền phương Tây” mới là thước đo phát triển, trong khi phủ nhận hệ thống luật pháp và thiết chế tư pháp Việt Nam, thực chất là sự phủ nhận tính hợp hiến, hợp pháp của thể chế chính trị hiện hành, kích động xu hướng “phi chính trị hóa”, “đa nguyên hóa”, dẫn đến mất ổn định thể chế.

Thứ ba, cổ súy “tự do báo chí tuyệt đối” và “xã hội dân sự” là mưu đồ tạo dựng trận địa truyền thông đối lập

Một luận điệu thường gặp trong các bài viết phản động là đề cao “tự do báo chí tuyệt đối” và yêu cầu hình thành “xã hội dân sự độc lập”. Thực chất, đây là chiêu bài lợi dụng các quyền tự do để thiết lập hệ thống truyền thông ngoài sự quản lý của Nhà nước, biến báo chí thành công cụ chống phá, kích động xã hội, gây bất ổn chính trị.

Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Hiến pháp ghi nhận và luật pháp bảo vệ. Tuy nhiên, đó là sự tự do trong khuôn khổ luật pháp, có trách nhiệm với cộng đồng, không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc. Những tổ chức mạo danh “xã hội dân sự”, hoạt động trái phép, nhận tài trợ nước ngoài, thực chất là “bàn tay nối dài” của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động bất mãn, lôi kéo tầng lớp trí thức và thanh niên đi theo con đường lệch lạc.

Thực tiễn cho thấy, sự buông lỏng quản lý truyền thông tại một số quốc gia đã dẫn đến hỗn loạn thông tin, lan truyền thuyết âm mưu, tin giả, kích động hận thù sắc tộc và xung đột chính trị. Việt Nam không chấp nhận “tự do báo chí tuyệt đối” vì điều đó đồng nghĩa với tự do phá hoại thể chế, lật đổ chính quyền hợp pháp, gây rối trật tự công cộng và đe dọa an ninh quốc gia./.
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIỮ GÌN CỐT CÁCH CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

     Chất “cách mạng” chính là phẩm chất cốt lõi của báo chí cách mạng Việt Nam, để phân biệt với các nền báo chí khác. Tuy nhiên, hiện nay, với những tác động mặt trái của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, của quá trình hội nhập khiến độc giả nhận thấy có những cơ quan báo chí không thể hiện được phẩm chất cách mạng trong các tác phẩm báo chí của mình. Việc giữ gìn phẩm chất cách mạng là một yêu cầu tất yếu vì sự tồn tại và phát triển bền vững của báo chí cách mạng Việt Nam.

Khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh khai sinh ra tờ báo Thanh niên vào ngày 21-6-1925, có thể hiểu rằng mong muốn của Người là tận dụng tối đa sức mạnh tuyên truyền, giác ngộ của báo chí để đưa cách mạng Việt Nam tới thành công. Vì Người biết báo chí có khả năng làm nên những thay đổi lớn lao, tác động tới nhân dân một cách trực tiếp, có thể biến những từ ngữ bình dị trên mặt báo thành sức mạnh vô song góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên. Như vậy, mục đích để ra đời báo chí cách mạng là để trở thành một lực lượng của cách mạng, một công cụ của cách mạng.

Có thể nêu ra một vài đặc trưng nổi bật của báo chí cách mạng Việt Nam là: Thứ nhất, báo chí cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là nền báo chí của nhân dân, vì lợi ích cao cả của nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân mà hoạt động, chịu sự giám sát của nhân dân.

Thứ hai, người làm báo cách mạng chính là người hoạt động cách mạng bằng phương tiện báo chí, thông qua hoạt động báo chí để tuyên truyền, cổ động, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi cương lĩnh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Thứ ba, mỗi cơ quan báo chí đều được xác định tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ đặc thù của mình. 

Thứ tư, báo chí phải thực sự là diễn đàn của nhân dân, phản ánh được thực chất ý chí, trí tuệ, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Thứ năm, báo chí là bộ phận cấu thành của văn hóa, mỗi bài báo là một sản phẩm văn hóa, phải có tính giáo dục, xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, xây dựng con người phát triển toàn diện.

Ra đời trước cả khi có Đảng ta, có Nhà nước ta, những thành tựu mà báo chí cách mạng Việt Nam đạt được trong 100 năm qua đã đóng góp vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đã tạc thành một tượng đài báo chí trong lòng xã hội và nhân dân. Nhiều lãnh tụ, nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam là nhà báo, người làm báo, có các tác phẩm báo chí có ảnh hưởng lớn tới công chúng như: Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đầu thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã dùng báo chí như một vũ khí sắc bén, là lực lượng tinh nhuệ để đấu tranh với những hạn chế, tiêu cực của xã hội, vận động sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, toàn thể nhân dân tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh này. Loạt tác phẩm báo chí “Những việc cần làm ngay” đăng trên Báo Nhân Dân đã thể hiện rõ tinh thần ấy.

Trong suốt thời kỳ đổi mới cho tới nay, báo chí cách mạng Việt Nam không chỉ giúp người dân cập nhật tốt thông tin mà còn góp phần định hướng dư luận xã hội, tăng cường niềm tin; đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, suy thoái tư tưởng chính trị và đạo đức trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; đấu tranh với các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động...

Cùng với mặt tích cực là chủ đạo đó, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, báo chí đã chịu những tác động của mặt trái xã hội thời kinh tế thị trường. Nếu soi chiếu với những đặc trưng, cốt cách của báo chí cách mạng Việt Nam thì có những vấn đề phải được suy tính nghiêm túc về thực trạng báo chí hiện nay, từ đó có giải pháp hữu hiệu.

Đó là, trong một giai đoạn, nhiều cơ quan báo chí, nhiều trang tin điện tử hoạt động như báo chí được sinh ra một cách tràn lan, với tôn chỉ, mục đích không thật vững chắc, cơ quan chủ quản buông lỏng quản lý, nguồn thu không ổn định. Từ đó đã phát sinh không ít hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu của một bộ phận cơ quan báo chí, nhà báo và những cộng tác viên tự xưng là “nhà báo” đối với các cơ quan, bộ, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và nhân dân. Có một thời kỳ, ngay cả trong các phiên họp Chính phủ cũng có những ý kiến phản ảnh những hành vi tiêu cực của một số cơ quan báo chí đã thành cản lực cho quá trình hoạt động của các cơ quan, bộ, ngành.

Rồi xuất hiện cả các nhà báo “đếm tầng”, tờ báo “đếm tầng”, lợi dụng những hạn chế trong việc chấp hành pháp luật trong xã hội để nhũng nhiễu, tống tiền cả các hộ dân khi xây dựng các công trình nhà ở. Đáng buồn thay khi đã có cơ quan báo chí bị rút giấy phép xuất bản, có những nhà báo bị kỷ luật, rút thẻ nhà báo, thậm chí bị xử lý hình sự vì các hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật.    

Cùng với đó, có một hiện tượng báo chí bị mất định hướng chính trị. Có những nhà báo, thậm chí là cán bộ quản lý của cơ quan báo chí cũng không xác định được chính xác vai trò của mình, không hiểu được tính cách mạng, tính đảng của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Họ đem các giá trị của báo chí phương Tây để rập khuôn vào Việt Nam và hiểu nhầm rằng đó mới là những giá trị cốt lõi của báo chí.

Có người thậm chí có suy nghĩ lệch lạc rằng báo chí cần phải giữ thế “khách quan”, “trung lập” trong mối quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là những biểu hiện không thể xem nhẹ, cần được kịp thời nhận biết và có các giải pháp để điều chỉnh. Trong đó, cần phải đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ người làm báo, đặc biệt là những người làm công tác lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí.   

Ngược lại, cũng có một bộ phận báo chí chưa thực hiện đúng chức năng là diễn đàn của nhân dân, chưa phản ánh được thực chất ý chí, trí tuệ, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, rơi vào trạng thái “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”.

Những tờ báo ấy trở thành một kiểu báo chí phụ họa, báo chí một chiều, một kiểu công báo chứ không phải báo chí đúng nghĩa. Kiểu báo chí ấy sẽ khiến công chúng dần xa lánh, sẽ tự đánh mất vai trò của mình, tự kết liễu mình, sẽ không hoàn thành được trọng trách là cầu nối tin cậy giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Báo chí cách mạng, nhà báo cách mạng dứt khoát phải có dũng khí, phải có sự can trường để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công lý, vì nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân.

Lại có kiểu báo chí hoàn toàn để nhu cầu tầm thường của độc giả dẫn dắt nên trong nội dung toàn những thứ thông tin gây sốc, không phù hợp với văn hóa, khai thác quá mức đời tư của các ngôi sao, người của công chúng... Có thể vì những người làm báo ấy cho rằng như thế mới là nhạy bén, mới hiểu độc giả, phục vụ thị hiếu độc giả. Nhưng thực ra, họ đang đi theo một con đường ngược hướng, lẽ ra phải thực hiện chức năng giáo dục, hướng độc giả đến những thông tin lành mạnh, tạo ra những nhu cầu mới, hữu ích cho độc giả thì kiểu báo chí ấy lại khiến độc giả của mình chìm đắm trong những thông tin có hại.   

Có những người so sánh báo chí và mạng xã hội để nhận xét rằng, báo chí đang tụt lại trong cuộc cạnh tranh thông tin với mạng xã hội, mà thực chất là một cuộc đấu tranh sinh tồn. Nhận xét như thế có hơi vội vàng chăng? Bởi công nghệ sẽ luôn thay đổi, sẽ không có tận cùng. Công nghệ này ra đời ít lâu, sẽ có công nghệ khác mới hơn, vượt trội hơn phủ định. Cho nên tốc độ đưa thông tin, độ phủ của thông tin tuy rất quan trọng nhưng không phải là tất cả. Tính chính xác, khách quan, giá trị nhân văn, nhân bản của thông tin mới là thứ mà công chúng thực sự tìm kiếm.

Công chúng đã và sẽ ngày càng chán ngấy kiểu đưa thông tin hỗn loạn, thiếu chắc chắn, thậm chí lừa bịp, giá trị ảo, vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm của các KOL, người nổi tiếng trên mạng xã hội, để từ đó tìm những nguồn tin đáng tin cậy. Sự tin cậy chính là giá trị giúp báo chí tồn tại và phát triển. Thực hiện đúng phẩm chất, đặc trưng của báo chí cách mạng chính là cơ sở để cơ quan báo chí củng cố vững chắc sự tin cậy của độc giả.

Với 100 năm tuổi, báo chí cách mạng Việt Nam là một chứng nhân hàng đầu của lịch sử cách mạng Việt Nam với bao biến cố, thăng trầm, thành tựu. Những người làm báo chí cách mạng Việt Nam đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, buộc phải thay đổi nhanh để thích ứng với những yêu cầu mới đang đặt ra, nhất là yêu cầu về công nghệ và nhu cầu của độc giả. Thế nhưng những sự thay đổi ấy không thể làm thay đổi bản chất của báo chí cách mạng Việt Nam.

Báo chí cách mạng Việt Nam sẽ luôn là lực lượng, là động lực quan trọng để thúc đẩy con thuyền cách mạng Việt Nam tới những bến bờ vinh quang./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HẢI PHÒNG, HẢI DƯƠNG PHẤN ĐẤU ĐƯA BỘ MÁY THEO MÔ HÌNH MỚI HOẠT ĐỘNG TỪ 1/7!

     Hải Dương, Hải Phòng phấn đấu thời điểm hoạt động các cơ quan, đơn vị cấp thành phố và cấp xã theo mô hình tổ chức mới từ ngày 1/7!

Thường trực Ban Chỉ đạo triển khai đề án hợp nhất Hải Dương và Hải Phòng vừa thống nhất phấn đấu đưa các cơ quan, đơn vị hành chính cấp thành phố và cấp xã của TP Hải Phòng vào hoạt động theo mô hình tổ chức mới từ ngày 1/7 tới.

Kết luận được đưa ra tại cuộc họp mới đây, sau khi nghe báo cáo tiến độ thực hiện các nhiệm vụ hợp nhất và sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của TP Hải Phòng năm 2025.

Thường trực Ban Chỉ đạo giao các tổ công tác của hai địa phương rà soát toàn bộ nhiệm vụ, báo cáo Ban Thường vụ cấp ủy để chỉ đạo kịp thời. Đảng ủy UBND TP Hải Phòng xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đảm bảo triển khai đồng bộ mô hình chính quyền địa phương hai cấp ngay sau khi các văn bản pháp lý liên quan được ban hành.

Một số xã, phường sẽ được chọn vận hành thử mô hình mới nhằm rút kinh nghiệm trước khi áp dụng chính thức. Kết quả báo cáo Thường trực Thành ủy trước ngày 12/6.

Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng được giao rà soát tiến độ theo Kế hoạch 446-KH/TU ngày 27/3, phối hợp thẩm định chế độ cán bộ và tham mưu bố trí nhân sự sau hợp nhất. Đồng thời, xây dựng đề án tinh gọn hệ thống MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp.

Sở Nội vụ tiếp tục theo dõi sát tiến độ, đôn đốc các cơ quan liên quan và kịp thời báo cáo khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG LÝ GIẢI CÔNG CHỨC BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ XÃ KHÔNG PHẢI LÀ SĨ QUAN!

     Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng cho biết công chức của Ban chỉ huy quân sự cấp xã xác định chưa phải là sĩ quan, nếu có tình huống sẽ cử sĩ quan của Ban chỉ huy phòng thủ khu vực xuống giúp xã.
Quốc hội sáng nay thảo luận tại tổ về việc sáp nhập tỉnh và một luật sửa 11 luật liên quan đến lĩnh vực Quốc phòng gồm: Luật Quốc phòng; Luật Sĩ quan QĐND Việt Nam; Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; Luật Nghĩa vụ quân sự; Luật Biên phòng Việt Nam; Luật Phòng không nhân dân; Luật Lực lượng dự bị động viên; Luật Phòng thủ dân sự; Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; Luật Dân quân tự vệ; Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh.

Quân đội đã sắp xếp theo hướng tỉnh, gọn, hiệu quả, hiệu lực bảo đảm phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp. Cụ thể, giải thể các Ban chỉ huy quân sự cấp huyện, thành lập Ban chỉ huy phòng thủ khu vực trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh và giải thể Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh, thành lập Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh.

'Thái bình nên gắng sức, non nước ấy ngàn thu'

Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng nhấn mạnh Ban chỉ huy phòng thủ khu vực không phải là một cấp hành chính mà chỉ là một đơn vị trực thuộc. Các nhiệm vụ của Ban chỉ huy quân sự cấp huyện phải chia cho Ban chỉ huy quân sự cấp xã và Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh.

Bộ trưởng dẫn chứng trước đây thẩm quyền gọi nhập ngũ do Ban chỉ huy quân sự cấp huyện quyết định nhưng trong lần sửa Luật Nghĩa vụ quân sự này sẽ giao cho chủ tịch UBND xã. "Một tỉnh có thể tuyển hơn nghìn quân thì bây giờ giao cho từng xã. Cấp xã hiện nay từ 10.035 xuống còn 3.321, có nơi 3-4 xã, 2 xã, hoặc 5 xã nhập vào làm một nhưng bình quân là 3-4 xã nên giao cho chủ tịch xã đảm nhiệm", Bộ trưởng giải thích.

Có đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ vị trí, quyền hạn của Ban chỉ huy phòng thủ khu vực để bảo đảm sự thống nhất về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Ban chỉ huy phòng thủ khu vực và Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh. 

Bộ trưởng Quốc phòng nhấn mạnh tinh thần của việc sửa luật là "phải làm tốt cho thời bình nhưng phải tính cho khi có tình huống xảy ra... Từ xưa các cụ đã có câu 'thái bình nên gắng sức, non nước ấy ngàn thu'. Nếu không chuẩn bị thì sẽ bị bất ngờ ngay, mà phải chuẩn bị thật kỹ, thật chắc, nhiều bài, nhiều phương án...". Từ đây, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh vai trò của Ban chỉ huy phòng thủ khu vực khi có tình huống xảy ra.

Luật Dân quân tự vệ đã bổ sung trung đội Dân quân phòng không, pháo binh trong tổ chức Dân quân tự vệ. Từ thực tế các cuộc xung đột, chiến tranh trên thế giới, Đại tướng Phan Văn Giang chia sẻ việc xác định khu vực trọng điểm về quốc phòng là bài toán không dễ, trong khi có thể xác định được khu vực trọng điểm về an ninh.

Dự thảo luật sửa đổi quy định Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự cấp xã là công chức để phù hợp với dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Luật Cán bộ, công chức.

Bộ trưởng Quốc phòng cho biết công chức của Ban chỉ huy quân sự cấp xã chưa xác định đây là sĩ quan, nếu có tình huống sẽ cử sĩ quan của Ban chỉ huy phòng thủ khu vực xuống để giúp xã làm một số nhiệm vụ. Đó là, huấn luyện dân quân tự vệ, xây dựng phương án để xác định xã là pháo đài bảo vệ địa phương cấp xã...

Bộ trưởng cho biết mỗi xã có khoảng 5-7 người trong Ban chỉ huy quân sự, nếu là sĩ quan thì với hơn 3.300 xã sau sáp nhập thì phải cần đến hơn 15.000 sĩ quan. Bộ trưởng khẳng định con số này không nhỏ nên trước mắt vẫn áp dụng "ngụ binh ư nông".

Về việc sáp nhập tỉnh, có đại biểu băn khoăn việc cán bộ phải chuyển về địa phương khác để làm việc nhưng gặp khó khăn về điều kiện nhà ở, đảm bảo cuộc sống.

Bộ trưởng Quốc phòng dẫn chứng việc từ Đắk Nông đến Đà Lạt, Lâm Đồng phải mất 4 tiếng nếu đi ô tô, trong khi Đà Lạt là TP du lịch, chi phí đắt đỏ và cán bộ di chuyển về nơi làm việc mới cũng phải đưa gia đình đi theo.

Vì vậy Đại tướng Phan Văn Giang cho rằng phải có nhà công vụ và phải xây dựng với phương pháp nhanh nhất để đảm bảo đời sống cho cán bộ, công chức./.
Đại tướng Phan Văn Giang: Trước mắt vẫn áp dụng "ngụ binh ư nông"
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔ CHỨC ĐỢT KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG BỘ TỔNG THAM MƯU GIÀU TÍNH NGHỆ THUẬT, NHÂN VĂN!

         Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chiều ngày 10/6 chủ trì Hội nghị Ban Chỉ đạo các hoạt động kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống Bộ Tổng Tham mưu (07/9/1945). Cùng dự có các đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng.

⭐Kết luận Hội nghị, Đại tướng Nguyễn Tân Cương yêu cầu Ban chỉ đạo, Ban Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống Bộ Tổng Tham mưu thực hiện theo đúng các tiêu chí: ý nghĩa, chất lượng, hiệu quả. Các cơ quan, đơn vị phải tranh thủ tối đa thời gian chỉnh sửa kịch bản, phối hợp, tập luyện, thể hiện vẻ đẹp thống nhất, chính quy, hiện đại của Quân đội. Các chương trình nghệ thuật, chính luận nghệ thuật cần tôn vinh hình ảnh người nghệ sĩ quân đội, tạo dấu ấn sâu sắc trong lòng nhân dân./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NÂNG CAO NĂNG LỰC BẢO VỆ VỮNG CHẮC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO!

     “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn lấy nó...”. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu và quán triệt, thực hiện mục tiêu xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Vùng 3 Hải quân luôn đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ...

Để những con tàu luôn sẵn sàng chiến đấu

Trao đổi với Chuẩn đô đốc Nguyễn Thiên Quân, Tư lệnh Vùng 3 Hải quân, chúng tôi được anh chia sẻ kinh nghiệm về công tác quản lý, điều hành đơn vị: “Trước hết, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải nhận thức rõ trách nhiệm thiêng liêng của những người lính biển, luôn coi trọng phát huy nhân tố chính trị tinh thần; thường xuyên coi trọng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), bảo đảm cho đơn vị có đủ năng lực sẵn sàng ứng phó, xử trí thắng lợi với mọi tình huống và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Đây vừa là mục tiêu, yêu cầu, vừa là bài học kinh nghiệm xuyên suốt của Vùng 3 Hải quân trong những năm qua”.

Chuẩn đô đốc Nguyễn Thiên Quân dẫn chúng tôi xuống quân cảng. Mùa hạ nắng rát mặt, nhưng khí thế làm việc của các đơn vị rất sôi động, khẩn trương. Cán bộ, thủy thủ trên các con tàu hăng say luyện tập khoa mục tại bến. Tiếng máy, tiếng khẩu lệnh hòa cùng tiếng sóng âm vang...

Sau cái bắt tay chắc nịch, Thượng tá Nguyễn Xuân Hòa, Chính ủy Lữ đoàn 172 đưa chúng tôi đi thăm các tàu, chứng kiến bộ đội luyện tập xử trí các tình huống. Thượng tá Nguyễn Xuân Hòa cho biết: Để những con tàu hoạt động trên biển, đòi hỏi công tác huấn luyện, SSCĐ phải đáp ứng yêu cầu cao, chuẩn bị chu đáo đến mấy cũng không thừa. Cán bộ, chiến sĩ tranh thủ thời gian luyện tập nhiều phương án để ra khơi thật an toàn. Để thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, bảo đảm an toàn tuyệt đối, đơn vị tập trung vào những khoa mục ứng dụng phức tạp, chuẩn bị cho các thủy thủ tâm thế sẵn sàng nhận nhiệm vụ ra khơi trong mọi điều kiện, tình huống.

Thực tế cho thấy, nếu như trước đây, Lữ đoàn 172 chỉ đặt vấn đề gắn chất lượng huấn luyện với trách nhiệm của cấp ủy, người chỉ huy, thì nay gắn cụ thể trách nhiệm của từng cá nhân. Quá trình huấn luyện, trước đây thường ra tình huống ngay tại bến, nhưng bây giờ đợi cho các tàu, biên đội hành quân ra khu neo đậu mới phát tình huống chiến đấu. Cách làm như vậy phát huy được tính chủ động, sáng tạo, ứng phó nhanh nhạy của chỉ huy và mọi cán bộ, chiến sĩ.

Chính nhờ phát huy sức mạnh tập thể và tính chủ động, tích cực của mọi cá nhân nên trong những năm qua, Lữ đoàn 172 tổ chức huấn luyện trên biển đạt 100% kế hoạch; huấn luyện chuyên ngành đạt 100% khá, giỏi (hơn 50% giỏi)... Những con tàu ra khơi thực hiện nhiệm vụ phải đối mặt với bao thử thách, sóng gió và hiểm nguy thường xuyên rình rập, nhưng cán bộ, chiến sĩ luôn đoàn kết, bản lĩnh, tự tin, linh hoạt xử trí tốt các tình huống, vượt qua mọi nguy nan, gian khó, SSCĐ và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

“Mắt thần” giữ biển

Chúng tôi hành quân lên Trạm 545 (Trung đoàn 351) trên một điểm cao. Gần trưa mà sương mù vẫn còn dày đặc, sương rừng lan tỏa tạo nên sự thú vị, gần gũi giữa thiên nhiên với con người.

Trên đường đi, Đại tá Nguyễn Hữu Hùng, Chính ủy Trung đoàn 351 đã chia sẻ khái quát về tình hình đơn vị: Trong những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 351 luôn đoàn kết, khắc phục khó khăn, bám trạm, bám đài, phát huy hiệu quả tính năng kỹ thuật, chiến thuật của trang bị, khí tài, nhất là khí tài mới; kết hợp nhiều nguồn thông tin, kịp thời phát hiện sớm, theo dõi, nắm bắt diễn biến tình hình trên biển, báo cáo chính xác, kịp thời về sở chỉ huy các cấp, không để bị động, bất ngờ. Những năm qua, Trung đoàn luôn phát huy tốt dân chủ, kỷ luật nghiêm, 100% cán bộ chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Tâm sự với Thiếu tá Hoàng Văn Tưởng, Trạm trưởng Trạm 545, anh giãi bày: “Bộ đội ra-đa hải quân có đặc thù riêng, là lính thủy nhưng lại làm việc trên các điểm cao, núi rừng. Trong khi đồng đội ở đơn vị tàu lướt sóng ra khơi thì chúng tôi căng mắt trên màn huỳnh quang ra-đa 24/24 giờ để quan sát, phát hiện mục tiêu, không được phép lơ là, mất cảnh giác, dù chỉ là một giây, một phút. Nhiệm vụ đặc thù như vậy nên đơn vị càng phải duy trì nghiêm các chế độ trực SSCĐ; kịp thời phát hiện, theo dõi và báo cáo tình hình với cấp trên. Hoạt động thông tin liên lạc cũng phải luôn bảo đảm thông suốt, nhận chuyển điện kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn".

Tìm hiểu chúng tôi được biết, những năm qua, không riêng Lữ đoàn 172 và Trung đoàn 351 mà tất cả cơ quan, đơn vị của Vùng 3 Hải quân đều nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, thiết thực góp phần xây dựng lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc./.
Yêu nước ST.

NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH: MỘT PHONG CÁCH LÀM BÁO ĐỈNH CAO!

         Tuổi trẻ nhiệt huyết với ý chí mãnh liệt tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã có những năm tháng sôi nổi và can trường ngay ở giữa lòng châu Âu. Người ta biết nhiều về viên gạch hồng đã giúp Người được sưởi ấm trong giá lạnh thành Paris những năm đầu thế kỷ XX. Nguyễn Ái Quốc phải làm nhiều nghề để kiếm sống và tích lũy những kỹ năng cần có trước khi chuyên tâm vào một công việc như một phương tiện quan trọng để làm cách mạng. Đó là nghề báo.

Cuộc đời làm báo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và những huấn thị của Người về báo chí, những câu chuyện tiếp xúc với báo giới trong và ngoài nước... đã để lại cho các thế hệ làm báo những bài học vô giá.

Ban đầu, Nguyễn Ái Quốc học viết báo vì mục đích trên hết, trước hết là để tố cáo tội ác của thực dân ở An Nam và các nước thuộc địa. Năm 1917, Người bước vào nghề, tập viết những câu, những dòng, những mẩu tin ngắn đầu tiên với sự chỉ dẫn của những nhà báo lão luyện Marcel Cachin, chủ bút báo L'Humanité (Nhân đạo); Jean Laurent Frederick Longuet - cháu ngoại của Karl Marx, Chủ nhiệm báo Populaire (Dân chúng), Gaston Monmousseau, Thư ký Tổng Liên đoàn Lao động Pháp, chủ bút báo La Vie d'Ouvriers (Đời sống thợ thuyền); của những người Việt thông thạo tiếng Pháp như luật sư, nhà báo Phan Văn Trường...

Chỉ sau một thời gian ngắn, sự thông minh và khổ luyện đã giúp người thanh niên 27 tuổi Nguyễn Ái Quốc mau chóng trở thành một cây bút già dặn, khiến đồng nghiệp nể phục. Cái tên “Nguyễn Ái Quốc” bắt đầu được chính phủ Pháp quan tâm đặc biệt. Một đồng sự của Người ở báo Le Paria là luật sư Max Clainville Bloncourt kể: Tôi có cảm tưởng, ở anh ý nghĩ đấu tranh giải phóng dân tộc luôn luôn khắc sâu trong tâm trí và quán triệt suốt cuộc đời... Anh là một con người đầy tình nhân đạo và tinh thần quốc tế. Không bao giờ thấy ở anh một nét nhỏ nào của sự ích kỷ. Và càng hoạt động chúng tôi càng yêu thương nhau, càng thấy các dân tộc thuộc địa phải đoàn kết với nhau chống kẻ thù chung.

Những tác phẩm văn học, báo chí, kiến nghị của Nguyễn Ái Quốc thời đó như "Yêu sách của dân tộc An Nam" ngày 18/6/1919, "Bản án chế độ thực dân Pháp" năm 1925 đã làm chấn động báo giới, Nhà nước và nhân dân Pháp.

Năm 1922, báo Người cùng khổ (Le Paria) do Nguyễn Ái Quốc sáng lập kiêm chủ bút, kiêm người viết chính trực thuộc Hội Liên hiệp thuộc địa ra đời. Số đầu ra ngày 1/4/1922, tại Lời nói đầu đăng ở số báo đầu tiên tuyên bố rằng, báo này "là vũ khí để chiến đấu, sứ mạng của nó đã rõ ràng: Giải phóng con người".

3 năm sau, tại Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc sáng lập báo Thanh Niên. Báo Thanh Niên xuất bản số đầu vào ngày 21/6/1925, là tờ báo cộng sản được viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở nước ta, mang những ảnh hưởng có tác động quyết định đến việc tập hợp đội ngũ, phương hướng thành lập Đảng, cũng như đường lối cách mạng của nước ta.

Chánh mật thám Pháp lúc đó là Louis Marty cay đắng thừa nhận: “... Cần phải nói ngay rằng tờ báo của Nguyễn Ái Quốc được tất cả các đảng viên ở nước ngoài, ở trong nước và đông đảo người cảm tình đọc, những người đọc này chẳng những tự mình đọc báo Thanh Niên mà còn chép đi chép lại nhiều lần để cho người khác đọc”.

Với những đóng góp to lớn đó, báo Thanh Niên được coi là tờ báo tiền thân của báo Đảng, ngày 21/6 được coi là Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam và tên tuổi Nguyễn Ái Quốc gắn liền với vai trò người sáng lập, người thầy của Báo chí cách mạng Việt Nam trong suốt một thế kỷ qua.

Cũng cần phải nhấn mạnh thêm rằng, không chỉ có báo Thanh Niên, chỉ vài năm sau Nguyễn Ái Quốc đã liên tiếp sáng lập và phát hành trong nước cũng như ở hải ngoại các tờ báo: Quốc tế Nông dân (1924), Công Nông (1925), Lính Kách mệnh (1925), Thân Ái (1928), Việt Nam Độc lập (1941), Cứu quốc (1942) và Tạp chí Đỏ (1930).

Khi đất nước giành được độc lập, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã lập tức chỉ đạo việc xúc tiến thành lập Đài Phát thanh quốc gia (nay là Đài Tiếng nói Việt Nam) ngày 7/9/1945; Hãng tin quốc gia (nay là Thông tấn xã Việt Nam) ngày 15/9/1945; Đoàn báo chí Việt Nam tháng 12/1945 rồi Đoàn báo chí kháng chiến 1947 (nay là Hội Nhà báo Việt Nam), rồi báo Nhân Dân ngày 11/3/1951; Báo ảnh Việt Nam ngày 15/10/1954...

Kể chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên cho báo Nhân Dân, nhà báo Hoàng Tùng, Tổng Biên tập đầu tiên của báo Nhân Dân không quên câu nói của Người ngày đó: “Bác nói, tất cả là của dân và đều phải thống nhất, chính quyền nhân dân, ủy ban nhân dân, quân đội nhân dân, công an nhân dân. Vì thế tờ báo của ta, của Đảng đặt là Nhân Dân để thể hiện là tờ báo của dân, do dân, vì dân”.

Nói như vậy để thấy, riêng chỉ tên gọi một tờ báo đã chứa đựng rất nhiều ý nghĩa to lớn, sâu sắc, mà những người làm báo Đảng nói riêng, những nhà báo cách mạng các thế hệ chúng ta không thể lãng quên và xem nhẹ.

Quan tâm xác định, rèn giũa lý tưởng, mục tiêu, đạo đức của báo chí cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt chăm lo xây dựng đội ngũ các nhà báo - chiến sĩ, những người sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, vì sự nghiệp phò chính trừ tà. Đó là câu chuyện Người trực tiếp đặt tên cho “Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng”, với mong muốn đào luyện những cây bút chiến sĩ phục vụ kháng chiến lúc đó phải học tập theo đúng tinh thần, nhân cách và tài năng của vị chí sĩ nổi tiếng đất Quảng Nam Huỳnh Thúc Kháng.

Người thầy của báo chí cách mạng trong bức thư gửi lớp học báo chí đầu tiên tiên khai giảng tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 1949, đã viết: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục, và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung. Mục đích là kháng chiến và kiến quốc”. Báo Cứu Quốc số đặc biệt ra ngày 12/9/1949 nhân ngày bế mạc khóa học đầu tiên có bài viết thể hiện tư tưởng báo chí của Người: “Cũng như các ngành khác của chúng ta, báo chí, một vũ khí sắc bén để đập tan quân địch cũng như một lợi khí cần thiết để xây dựng quốc gia”.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ quan niệm “văn dĩ tải đạo” của người xưa, đến việc coi văn chương nghệ thuật, báo chí là một vũ khí, một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ của cách mạng, đã ghi vào lịch sử tư tưởng nước nhà một bước phát triển vượt bậc vĩ đại.

Tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ II vào tháng 4/1959, Người nói: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành...) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được”.

Xác định lý tưởng, sứ mệnh của báo chí, của người làm báo cách mạng là chiến đấu quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì những quyền cơ bản của con người, năm 1962, nói chuyện tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ III, Người nói: “Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”; “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”.

Để dễ hiểu, lan tỏa được sâu rộng đến đông đảo quần chúng nhân dân, trước hết là để phục vụ nhân dân - lực lượng của cách mạng, Người nhắc nhở: “Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo” (Trích thư gửi lớp báo chí Huỳnh Thúc Kháng, ngày 9/6/1949). Cũng với tinh thần đó, Người đặt ra yêu cầu đối với tất cả những người cầm bút: “Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi” (Trích bài nói chuyện tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III năm 1962).

Trong cuộc đời vì nước, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã để lại vô vàn bài học giá trị về nghề báo. Trong các bài nói chuyện, trong những lần gặp gỡ trực tiếp với các nhà báo, Người đều để lại những bài học nghề nghiệp sâu sắc; rèn giũa đạo đức, tác phong và sự thận trọng của người làm báo, nghề báo.

Bài giảng về “cách viết” tại Lớp Chỉnh Đảng Trung ương, ngày 17/8/1953, Bác chỉ rõ 5 cách tìm tài liệu, cũng là 5 khâu trong lao động nhà báo: “1 - Nghe: Lắng tai nghe các cán bộ, nghe các chiến sĩ, nghe đồng bào để lấy tài liệu mà viết. 2 - Hỏi: Hỏi những người đi xa về, hỏi nhân dân, hỏi bộ đội những việc, những tình hình ở các nơi. 3 - Thấy: Mình phải đi đến, xem xét mà thấy. 4 - Xem: Xem báo chí, xem sách vở, xem báo chí trong nước, xem báo chí nước ngoài. 5 - Ghi: Những gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã đọc được thì chép lấy để dùng mà viết.”

Đến dự và phát biểu tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ III, ngày 8/9/1962, Người có những tổng kết kinh nghiệm mà nay đã thành lý luận kinh điển cho các thế hệ người làm báo cách mạng nước ta: “Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm. Chớ tự ái, tự cho bài của mình là “tuyệt” rồi. Tự ái tức là tự phụ, mà tự phụ là kẻ địch dữ tợn nó ngăn chặn con đường tiến bộ của chúng ta”.

Nhà báo Phan Quang, người được tháp tùng Bác Hồ trong một số chuyến công tác, tác giả cuốn sách “Bác Hồ, người có nhiều duyên nợ với báo chí” (NXB Đại học Quốc gia 2019) và từng được Bác trực tiếp góp ý, trao đổi chuyện nghề, đã khẳng định tầm vóc quốc tế của nhà báo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh: “Là nhà báo lớn nhất của Việt Nam trong mọi thời đại, một cây bút ngang tầm những tên tuổi nổi bật nhất về văn hóa và báo chí trên thế giới”. Nhà báo Phan Quang nói suốt đời chỉ nỗ lực “đi” trong 11 chữ của Bác để lại: “Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?” mà chưa đi hết…

Hồ Chí Minh, một phong cách làm báo gần gũi, riêng có; những chỉ dạy của Người luôn có ý nghĩa tích cực cho những nhà báo hôm nay muốn vươn lên trở thành một nhà báo của dân, vì dân đúng nghĩa. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm báo cách mạng không bao giờ được phép lơ là tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, phải đúng mực ngay từ thái độ đối với quần chúng, công chúng của mình.

Ở vị trí lãnh tụ của Đảng, là vị Chủ tịch nước kính yêu của toàn dân tộc, Người vẫn dành cho các nhà báo một tình đồng nghiệp đặc biệt, đó là câu chuyện nhà báo Việt Tùng kể khi Người hướng dẫn các nhà quay phim cách có đủ ánh sáng quay phim bằng việc rút bớt mái tranh trên nóc nhà ở chiến khu Việt Bắc, hay đi chậm lại để các ống kính kịp thu vào hình ảnh thời sự của Người trong chuyến sang thăm Liên Xô…

Không chỉ tạo điều kiện cho các nhà báo làm việc, Người còn là một biên tập viên cừ khôi khi duyệt bản tin tường thuật Lễ khai mạc Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 1959 của nhà báo Nguyễn Mạnh Hào (Thông tấn xã Việt Nam), đã trực tiếp chữa: “Các anh hùng, chiến sĩ thi đua trai gái, già trẻ”… bằng cây bút mực đỏ, làm dấu ngoặc hoán vị “trai gái” thành “gái trai”. Sau đó, Người giải thích: Để “trai gái”, trai trước gái sau là không tôn trọng phụ nữ; hơn nữa để “trai gái” người ta dễ nghĩ đến chuyện trai gái, không hay.

Tết năm 1958, nhà báo Lê Việt Thảo (Thông tấn xã Việt Nam) viết một bài dài và cho rằng mình đã thông tin đầy đủ nhất, văn chương nhất về chuyến Bác Hồ thăm xã Việt Hưng, ngoại thành Hà Nội. Đọc xong, Bác gọi lên, đưa cho bản thảo Bác đã gạch bỏ và sửa chi chít. Bác nói: "Bác gạch nhiều chắc tác giả không thích. Nhưng đi thăm đồng bào đâu chỉ có Bác, còn nhiều đồng chí lãnh đạo khác nữa. Viết nhiều về Bác thế này thì Bác tham quá. Chú viết về Bác mà cô Nguyễn Thị Mơ, Bí thư xã Việt Hưng nói về người nông dân lao động năm nắng mười sương thì chú không viết, thế là không công bằng". Đó là một bài học “nhớ đời” của nhà báo Lê Việt Thảo về quan điểm quần chúng, về sự tôn trọng nhân dân.

Bằng những cách như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà báo cách mạng số 1 của Báo chí cách mạng Việt Nam đã để lại cho muôn sau những di sản quý báu, trong đó có tư tưởng, đạo đức, phong cách báo chí Hồ Chí Minh.

Chúng ta biết ơn Người đã sáng tạo ra con người và hệ giá trị tinh thần Việt Nam trong thời đại mới, thời đại mà ngày nay chúng ta vẫn gọi với lòng tự hào và biết ơn vô hạn: Thời đại Hồ Chí Minh! Những tư tưởng, đạo đức, phong cách mà tình cảm của Người dành cho báo chí cách mạng, người làm báo cách mạng Việt Nam, sáng mãi trong lòng những người cầm bút, sáng mãi trong sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam./.
Yêu nước ST.