Thứ Năm, 18 tháng 2, 2021

Một số giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

 Hiện nay, các thế lực thù địch triệt để sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền các thông tin xấu, độc và các luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng (chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh). Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, chúng ta cần tập trung thực hiện một số giải pháp như sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội; nâng cao trách nhiệm các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội; tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Một số giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

Ảnh minh họa

Từ khóa: mạng xã hội; thông tin xấu, độc; quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch không ngừng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chúng sử dụng rất nhiều các hình thức, phương pháp tinh vi, trong đó có mạng xã hội.       

Quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là những quan điểm sai lệch hoặc đối lập với nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam được đăng tải trên không gian mạng với mục đích gây nhiễu loạn thông tin, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam.

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của các đoàn thể xã hội và cả sự hợp tác quốc tế.

1. Sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội với các hình thức đa dạng, phong phú

Một là, các cơ quan trong hệ thống chính trị phải thường xuyên bám sát các chỉ đạo, định hướng, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị (khóa XII) về đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cụ thể là cần thường xuyên bám sát các thông tin và định hướng của Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của cấp mình gắn với việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Hai là, các cơ quan trong hệ thống chính trị tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình, hàng năm cần xây dựng kế hoạch, chương trình, giải pháp cụ thể để thực hiện nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từng cơ quan phải đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.

Ba là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, rà soát để chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động của các đối tượng chống phá, xuyên tạc. Rà soát thường xuyên, nắm tình hình, phát hiện các trang blog, trang facebook, trang website, các diễn đàn thường đăng tải các thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, ban tuyên giáo các cấp, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh.

Năm là, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, lấy thông tin tích cực đẩy lùi các thông tin tiêu cực. Vì vậy, cần xây dựng và tổ chức các trang thông tin chính thống có uy tín để thường xuyên cập nhật, đưa các thông tin chính xác, nhanh nhạy.

Sáu là, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bảy là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, rút kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ; nâng cao trình độ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tám là, tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, ngăn chặn sớm các tin tức xấu độc trên các trang mạng xã hội. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Chín là, nâng cao nhận thức và đề cao cảnh giác với các biểu hiện của bệnh giáo điều, cơ hội, thực dụng và xét lại trên mạng xã hội ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội XII của Đảng nhận định: “...một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”(1).

Nếu là thông tin xấu do các thế lực phản động, thù địch tấn công độc hại một thì các thông tin xấu do chính những kẻ cơ hội, bất mãn, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội sẽ nguy hại gấp nhiều lần. Bởi vậy, phải kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Lãnh đạo các cơ quan của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội cần sớm phát hiện, kịp thời giáo dục và xử lý kỷ luật thích đáng, nếu cần thiết thì đưa ra khỏi tổ chức mình cán bộ, đảng viên cơ hội, thực dụng và xét lại ở mức độ nghiêm trọng để làm trong sạch đội ngũ.

2. Phân định rõ trách nhiệm các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội

a. Trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và các cơ quan quản lý của Nhà nước

Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, rất cần sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo 35, Ban Tuyên giáo các cấp và các cơ quan chức năng của Nhà nước như Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông... và chính quyền các cấp.

Một là, các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở phải coi đây là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách. Trong quá trình xây dựng nền tảng tư tưởng của Đảng phải luôn luôn đi đôi với chống sự phá hoại và coi nhiệm vụ xây là cơ bản, chống là cần thiết nhưng bối cảnh hiện nay phải tập trung chống nhiều hơn, quyết liệt hơn. Trung ương Đảng kịp thời ban hành các chỉ thị, nghị quyết liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, đồng thời chỉ đạo sát sao với các cơ quan chuyên môn của Đảng như Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh... có những hoạt động cụ thể, quyết liệt để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này. Các cấp ủy đảng đưa nội dung đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội vào chương trình, kế hoạch lãnh đạo của cấp mình và thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng khắp; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh trong nội bộ tổ chức đảng.

Hai là, cơ quan Công an, Thông tin - Truyền thông và chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở thể chế hóa, cụ thể hóa văn bản lãnh đạo của Đảng và chỉ đạo việc thực hiện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội mà trọng tâm là thực hiện nghiêm Luật An ninh mạng. Bên cạnh đó, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin chính thống bằng nhiều kênh và tăng cường đối thoại với nhân dân về những vấn đề bức xúc, nhạy cảm; chủ động, linh hoạt tham gia giải quyết các vấn đề thiết thực của xã hội.

Chính quyền các cấp thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng như thông tin truyền thông, an ninh mạng...; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội.

b. Trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng

Các cơ quan chức năng như Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, các viện nghiên cứu, hệ thống trường Đảng, trường chính trị... cần huy động nguồn lực và tổ chức xây dựng lý luận sắc bén và trang bị cho các thành viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Từ đó, nâng cao tính tích cực phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch trên mạng xã hội cho đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội.

Các cơ quan tuyên giáo các cấp phải thường xuyên tổ chức các hội nghị báo cáo viên, thường xuyên cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân để giúp cán bộ, đảng viên có hiểu biết đầy đủ, chính xác, trung thực những vấn đề chính trị của đất nước đang diễn ra. Chỉ khi làm được như vậy mới giúp mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực chuyên môn, nắm vững các quan điểm, đường lối của Đảng, hiểu rõ tình hình trong nước và quốc tế, nhận thức rõ “đối tượng” và “đối tác” để vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta.

c. Trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội

Các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội nông dân) tham gia tích cực trong công tác này. Các tổ chức chính trị - xã hội thường xuyên nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho các thành viên của tổ chức mình để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Một là, tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho các thành viên của các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cán bộ chủ chốt về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó kiên định lập trường tư tưởng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, từ sau sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, do đó, cần nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để tiếp tục bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị đến đông đảo nhân dân, nhất là những người của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội để nắm chắc hơn, sâu sắc hơn những nguyên lý lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, cần nhận thức rõ những giá trị lý luận bền vững; những luận điểm lý luận đã bị lịch sử vượt qua, hoặc từng bị hiểu sai; những luận điểm lý luận không còn phù hợp với thực tế hiện nay trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, cán bộ, đảng viên và nhân dân mới có niềm tin có cơ sở khoa học về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để kiên định lập trường tư tưởng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Hai là, nâng cao tính tích cực phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch đối với những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho thành viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội. Hiện nay, các thế lực thù địch thường sử dụng các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên mạng xã hội đối với những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng nhiều hình thức tinh vi khác nhau. Trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội là phải giúp cho đoàn viên, hội viên hiểu về những luận điệu xuyên tạc này.

d. Trách nhiệm của các tổ chức xã hội

Các tổ chức xã hội thường xuyên bám sát định hướng của Đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Tăng cường giáo dục ý thức cảnh giác cho các thành viên tổ chức mình tránh bị lôi kéo, lợi dụng, mắc mưu mà vô tình hoặc cố ý tiếp tay cho các thế lực bất mãn, phản động truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng

xã hội.

Ngoài ra, đối với các tổ chức xã hội có chức năng, nhiệm vụ có thể có những kế hoạch, chương trình thực hiện phù hợp. Chẳng hạn Hội Nhà báo Việt Nam cần hướng dẫn Hội Nhà báo các cấp, phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị. Các cơ quan báo chí cần phát huy vai trò nòng cốt đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Tất nhiên, cần chú trọng các thông tin đấu tranh. Yêu cầu các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với nước ta.

3. Tăng cường hợp tác quốc tế

a. Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm các quan điểm sai trái, thù địch chống phá trên mạng xã hội

Cơ quan chức năng cần chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá trên mạng xã hội để đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng. Kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá các nước XHCN như Lào, Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam...

Để nắm tình hình có hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan quản lý các mạng xã hội cần sử dụng tổng hợp các lực lượng, phương tiện, biện pháp; thường xuyên rà quét, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung phức tạp, các đối tượng viết bài trên những trang mạng này; khai thác thông tin trên các trang web, blog để xác định được đối tượng sở hữu, quản lý bài viết và đề xuất biện pháp kịp thời xử lý.

b. Tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế có liên quan trong việc quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội ở Việt Nam

Tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế có liên quan trong việc quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram..., tính toán sử dụng các giải pháp về công nghệ để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu độc trên các trang mạng. Đặc biệt, phải chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội, sau đó xóa dữ liệu, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định.

c. Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi, rút kinh nghiệm với các nước có cùng chế độ chính trị về đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội với các nước Trung Quốc, Lào, Triều Tiên, Cu Ba. Chẳng hạn, tháng 8-2019, các thế lực thù địch đã lợi dụng một số vấn đề có liên quan đến vấn đề biên giới giữa Lào và Campuchia nêu lên những thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội Facebook nhằm mục đích gây ra sự hiểu lầm về quan hệ giữa Lào và Campuchia. Văn phòng Ủy ban biên giới Quốc gia của Lào (Office of the National Boundary Committee, Ministry of Foreign Affairs) đã kịp thời tổ chức họp báo ở Thủ đô Viêng Chăn để phản bác lại các quan điểm này, góp phần thuyết phục các đảng viên, nhân dân trong nước và bạn bè thế giới nắm bắt thực chất vấn đề biên giới giữa Lào và Campuchia.

Ngoài ra, cần thường xuyên trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý mạng xã hội của các nước tiên tiến khác trên thế giới.

d. Tập hợp rộng rãi các nhân sĩ, trí thức, Việt kiều yêu nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia phòng - chống các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên mạng xã hội

Các thế lực phản động đã thiết lập hàng nghìn trang Website, blog, tài khoản Facebook, trang Fanpage với hầu hết máy chủ đặt ở nước ngoài, tổ chức hàng trăm chiến dịch tuyên truyền, phát tán với tần suất và số lượng lớn các tin, bài bình luận, videoclip... có nội dung xấu, độc, thật, giả, trắng đen lẫn lộn, thậm chí công khai các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Từ đó, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán nản thậm chí thù hận không chỉ một số người trong nước mà ngay cả Việt kiều và người nước ngoài, dẫn đến thiếu niềm tin vào Đảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Việt Nam. Do vậy, chúng ta cần huy động, thu hút được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức, Việt kiều yêu nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng và Nhà nước Việt Nam thông qua đẩy mạnh thông tin đối ngoại để giúp họ hiểu rõ bản chất tốt đẹp và những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng và phát triển đất nước. Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng.

Trong bối cảnh cả nước đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cần nâng cao cảnh giác đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội để giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự kiên định tư tưởng trong Đảng và toàn xã hội thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

__________________

Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trong thời đại công nghệ số

 Khi an ninh mạng đang nổi lên như một thách thức toàn cầu thì chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trở thành tâm điểm của các cuộc tranh luận(1). Bài viết tập trung làm rõ nội hàm của khái niệm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, phân tích sự cần thiết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, làm rõ mối quan hệ giữa bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng với bảo vệ các quyền cơ bản của con người; những thách thức trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trong thời đại công nghệ số

Vệ tinh Vinasat I và II của Việt Nam trên bầu trời

Từ khóa: chủ quyền quốc gia, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, quyền tự do cơ bản của con người, quản lý nhà nước về an ninh mạng.

1. Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng - nội hàm mở rộng của khái niệm chủ quyền quốc gia trong thời đại công nghệ số

Tôn trọng chủ quyền quốc gia là một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong hệ thống luật pháp quốc tế. Điều 1 Hiến chương Liên Hợp quốc ghi nhận: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc”. Khoản 1, Điều 2 Hiến chương khẳng định: “Liên Hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên”(2). Theo đó tất cả các quốc gia, không tính đến quy mô lãnh thổ, dân số, chế độ chính trị - xã hội, đều có chủ quyền quốc gia. Đây là một trong những đặc trưng chính trị và pháp lý thiết yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Trong các từ điển luật học hay các công trình nghiên cứu, “chủ quyền quốc gia là thuật ngữ dùng để chỉ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một quốc gia độc lập được thể hiện trên mọi phương diện, chính trị, an ninh, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội và được đảm bảo toàn vẹn, đầy đủ mọi mặt cả lập pháp, hành pháp lẫn tư pháp của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia mình”(3).

Việc đặt ra nguyên tắc và luật lệ nhằm ghi nhận và bảo vệ chủ quyền quốc gia là rất quan trọng, tuy nhiên vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào các quốc gia có thể bảo vệ chủ quyền của mình trong bối cảnh mới. Những năm gần đây, thế giới chứng kiến việc công dân của quốc gia này hoàn toàn có thể thực hiện các hoạt động dân sự hay chính trị trên lãnh thổ của quốc gia khác mà không cần có sự hiện diện về mặt thể nhân. Thí dụ, chúng ta ở Việt Nam nhưng vẫn có thể tham gia hoạt động mua sắm hay làm việc cho các công ty ở nước Mỹ. Các công ty công nghệ mặc dù không có trụ sở, tài sản ở một quốc gia nhất định nhưng họ vẫn thực hiện các hoạt động kinh doanh, buôn bán, cung cấp dịch vụ cho người dân của các quốc gia này. Các cá nhân, tổ chức có thể sử dụng công nghệ cao, đặc biệt là internet để can thiệp vào các hoạt động chính trị tại các quốc gia có chủ quyền. Gần đây Nga bị cáo buộc đã sử dụng các tài khoản Facebook, Twitter giả để can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ bằng việc định hướng tâm lý cử tri từ đó làm giảm sự ủng hộ cho ứng cử viên của Đảng Cộng hòa(4). Như vậy là các chủ thể ở bất cứ một quốc gia nào cũng có thể thực hiện các hoạt động trên không gian mạng với mục tiêu gây thiệt hại về kinh tế, chính trị cho cá nhân và tổ chức ở các quốc gia mà họ không cần hiện diện thể nhân.

Công nghệ ngày càng phát triển khiến cho việc thực hiện các chức năng vốn có của chính phủ như: tiến hành bầu cử, thu thuế, quản lý và kiểm soát các hoạt động của các chủ thể trên phạm vi lãnh thổ quốc gia mình ngày càng trở nên ít rõ ràng hơn. Các chính phủ đang phải hoạt động trong những khuôn khổ cực kỳ hạn chế mà Moises Naim, cố vấn cao cấp của Ngân hàng Thế giới gọi là “sự suy tàn của quyền lực”. Internet đã làm biến đổi xã hội, chính trị và cả quyền lực(5), nó cũng làm thay đổi các vấn đề liên quan đến việc thực thi chủ quyền quốc gia. Nếu như trước đây các quốc gia đã từng đổ máu để giữ vững quyền thống trị của mình thông qua việc bảo vệ các đường biên giới thì giờ đây các đường biên giới gần như đã bị dịch chuyển. Vấn đề diện tích, quy mô của vùng lãnh thổ nằm dưới quyền cai trị của một quốc gia sẽ không còn có ý nghĩa tuyệt đối đối với cuộc sống của từng cá nhân(6). Do vậy, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia không chỉ là việc bảo vệ các đường biên giới mà được mở rộng hơn rất nhiều. Những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn quốc tế hiện nay phần lớn liên quan đến các quy tắc của không gian mạng và những thách thức mang tính hệ thống đối với việc quản trị toàn cầu trong không gian mạng. Các chính phủ đã nỗ lực không ngừng trong việc bảo vệ quyền vốn có của mình theo đó khái niệm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng ra đời.

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cho việc thống nhất các quan điểm thì cho đến nay, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng vẫn còn là chủ đề gây nhiều tranh cãi. Nhiều quốc gia cho rằng nguyên tắc chủ quyền quốc gia dựa trên lãnh thổ là cơ sở pháp lý hiệu quả để xây dựng các quy phạm về an ninh mạng nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Theo đó, các quốc gia có quyền quản lý và áp dụng luật pháp quốc gia về không gian mạng trong phạm vi lãnh thổ của mình theo quan điểm của luật pháp quốc tế. Do đó các công ty, tập đoàn cung cấp dịch vụ trên không gian mạng cần đặt hệ thống cơ sở hạ tầng trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia để chính phủ có thể thực thi quyền quản lý(7). Tuy nhiên, điều này hoàn toàn bất khả thi về mặt thực tế và câu hỏi đặt ra là vậy thì các quốc gia có quyền quản lý với các hoạt động của các chủ thể nếu họ không đặt hệ thống cơ sở hạ tầng tại quốc gia đó.

Để đạt được mục đích cuối cùng là các cá nhân và tổ chức có quyền truy cập sử dụng mạng cho mục đích cá nhân của mình nhưng không làm tổn hại đến lợi ích của các chủ thể khác cũng như không vi phạm an ninh của các quốc gia có chủ quyền, nguyên tắc về chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đã được hình thành. Trên phương diện hợp tác đa phương, các quốc gia đã thỏa thuận nhằm đưa ra nguyên tắc trong việc công nhận chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Theo nguyên tắc này, các quốc gia sẽ hợp tác để hỗ trợ lẫn nhau trong việc truy tìm nguốn gốc ban đầu của các cuộc tấn công mạng nhằm xác định các tác nhân cụ thể phải chịu trách nhiệm đồng thời truy tố hoặc dẫn độ những cá nhân đó(8). Từ năm 2013 đến 2017, các chuyên gia trên lĩnh vực an ninh mạng đã xây dựng quy tắc hướng dẫn sử dụng mạng. Theo quy tắc này các chủ thể không được tiến hành các hoạt động trên không gian mạng vi phạm chủ quyền của một quốc gia khác. Đồng thời, các quốc gia có quyền kiểm soát đối với việc truy cập và sử dụng không gian mạng để thực hiện các hoạt động trên phạm vi lãnh thổ của họ(9). Các quốc gia khác được yêu cầu phải tuân thủ và công nhận chủ quyền quốc gia của các quốc gia khác trên không gian mạng đồng thời có thể thực hiện một số biện pháp kiểm soát đối với không gian mạng của mình(10). Như vậy, cũng giống như khái niệm chủ quyền quốc gia trên biển, chủ quyền quốc gia trên không và chủ quyền quốc gia trong không gian vũ trụ, khái niệm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng vẫn có cơ sở từ khái niệm chủ quyền quốc gia theo nghĩa truyền thống.

2. Mối quan hệ giữa bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và việc bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người

Khái niệm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quy tắc quốc tế về không gian mạng(11). Tuy nhiên, việc này đang là chủ đề có nhiều quan điểm khác biệt. Internet và các mạng viễn thông là thành tựu của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ cho phép kết nối không giới hạn. Vào giữa thế kỷ XX, các học giả như Herbert McLuhan đã xem công nghệ và sự kết nối thông qua các phương tiện truyền thông là một phương tiện để tạo ra “ngôi làng toàn cầu”. Một số học giả còn tin rằng công nghệ sẽ thúc đẩy một sự tiến hóa trong tâm thức con người; công nghệ sẽ giúp thay thế thời đại công nghiệp; thúc đẩy khả năng cạnh tranh. Do đó càng nhiều thông tin được chia sẻ, xã hội càng tự do, càng có nhiều tiềm năng hợp tác, hợp tác hoàn hảo gặt hái kết quả tương tự như cạnh tranh hoàn hảo và không có người thua cuộc(12). Theo đó, nhiều học giả cho rằng chính phủ và các tập đoàn không nên kiểm soát sự phát triển của công nghệ, thông tin. Người ta tin rằng bất cứ ai kiểm soát hệ thống thông tin hoặc truyền thông cũng kiểm soát tin nhắn, điều đó là vi phạm các quyền tự do cơ bản của con người đã được ghi nhận trong hệ thống luật nhân quyền quốc tế. Điều 19 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; quyền này bao gồm việc bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và quan điểm thông qua bất cứ phương tiện đại chúng nào không giới hạn về biên giới”(13). Vậy nếu nhà nước can thiệp vào các tên miền trên không gian mạng và kiểm soát các luồng thông tin được lan truyền trên không gian mạng cũng như sử dụng các bức tường lửa hay các phương tiện kỹ thuật khác nhằm hạn chế việc người dân truy cập, tìm kiếm, lan truyền thông tin, là đi ngược lại với tinh thần của Điều 19 Tuyên ngôn Nhân quyền toàn cầu.

Tại Việt Nam trước và sau khi Luật An ninh mạng được thông qua và chính thức có hiệu lực từ năm 2019, có rất nhiều quan điểm trái chiều được đưa ra như: “người dân có quyền truy cập vào bất cứ trang mạng nào họ muốn”; nhà nước sẽ vi phạm quyền tự do thông tin của người dân nếu sử dụng các phương tiện kỹ thuật để yêu cầu các tổ chức, cá nhân phải gỡ bỏ hay ngăn chặn không cho người dân truy cập vào các trang mạng. Đài Châu Á Tự do xuyên tạc về Luật An ninh mạng của nước ta, khi cho rằng đó là biện pháp để chính quyền xâm phạm quyền tự do riêng tư, quyền tự do ngôn luận của người dân. Họ đặt ra các dòng tiêu đề như sau: “Luật An ninh mạng: chỗ nào bảo vệ riêng tư cho người dân? Những người quyền cao chức trọng cần phải tuyệt đối rõ ràng minh bạch lại được quyền ẩn danh hèn nhát, còn người dân thấp cổ bé họng lại sắp bị tước đi cả cái quyền lẩn mình vào đám đông để tự vệ trước cường quyền”(14).

Một số đối tượng cũng chỉ trích về vai trò của quân đội trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Theo Điều 30, Luật An ninh mạng năm 2019 của nước ta: “Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng”, họ coi đó là việc làm “vi hiến”, và cho rằng: “Quân đội chỉ để chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, nhân dân mà thôi”(15).

Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là nguyên tắc đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, theo đó các chính phủ có quyền kiểm soát đối với các hoạt động trên không gian mạng. Điều này xuất phát từ những lý do cơ bản như sau:

Một là, chúng ta phải kiểm soát không gian mạng để nó có thể tồn tại và hoạt động theo các chức năng của mình. Bởi các không gian mạng luôn có một cấu trúc vật lý được đặt trên mặt đất gắn liền với những địa danh cụ thể, nếu không có cấu trúc vật lý này chúng ta không có quyền truy cập thông tin trên không gian ảo. Các cấu trúc vật lý này luôn đòi hỏi phải có người giám sát và vận hành để nó hoạt động và phát triển, người ta phải gắn tên miền và địa chỉ cho các đường truyền trên không gian mạng.

Hai là, các quốc gia phải có các biện pháp quản lý nhà nước về an ninh mạng vì các hoạt động trên không gian mạng luôn gắn với chủ quyền của các chủ thể cụ thể được xác lập thông qua các mối quan hệ tài chính được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật của các quốc gia. Do đó, nếu các quốc gia không thiết lập chủ quyền quốc gia trên không gian mạng thì các quan hệ tài chính đó rất khó được vận hành hoặc sẽ là rất nguy hiểm nếu nó vận hành mà không có sự điều tiết, quản lý bởi hệ thống pháp luật. Thực tế là, các hoạt động kinh doanh đều dựa trên nền tảng của pháp luật.

Ba là, các hoạt động trên không gian ảo nhưng lại có tác động mạnh mẽ đến thế giới thực. Chúng ta vẫn tin rằng internet và các mạng truyền thông ra đời như một phương tiện hợp tác để cải thiện cuộc sống của con người, do đó chúng ta có thể không quan tâm đến việc lạm dụng mạng. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều sử dụng internet cho những mục tiêu tốt đẹp. Có những người coi internet là phương tiện để khai thác những mối lợi từ các cá nhân khác thông qua việc tạo ra sự hỗn loạn, giành lợi thế so với đối thủ cạnh tranh hoặc phổ biến thông điệp gây thù hằn sắc tộc, tôn giáo, khuyến khích chiến tranh, khủng bố. Do đó, cũng giống như trong thế giới thực, nhà nước cần phải thực hiện các hoạt động để kiểm soát và điều chỉnh hành vi của các nhóm chủ thể. Hầu hết các quốc gia đã có quy định pháp luật nhằm ngăn chặn các dòng thông tin xấu có thể làm ảnh hưởng đến sự an toàn đối với cuộc sống của công dân nước mình như việc ngăn chặn các dòng thông tin về khiêu dâm, về khủng bố, kỳ thị chủng tộc, tôn giáo... Chính những dòng thông tin độc hại này đang làm sói mòn đạo đức, gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sự an toàn của con người, nên các quốc gia có nghĩa vụ hợp pháp là kiểm soát đối với những gì đang được lan truyền, đang diễn ra thông qua không gian ảo.

Bốn là, những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia. Hiện nay, nhiều quốc gia khai thác không gian mạng như một phương tiện nhằm đạt được lợi thế chiến lược và quân sự so với các quốc gia khác. Do đó, các quốc gia phải kiểm soát hoạt động này như một vấn đề an ninh quốc tế.

Vì khả năng gây hại trong không gian ảo là có thật và vẫn đang tiếp tục gây ra những tác hại nghiêm trọng do đó các quốc gia không thể bỏ qua việc kiểm soát các hoạt động và luồng thông tin được lan truyền trên không gian mạng. Chính vì thế cần phải khẳng định mạnh mẽ, việc các chính phủ trong đó có Chính phủ Việt Nam triển khai các hoạt động bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, triển khai các hoạt động quản lý nhà nước về an ninh mạng không đi ngược lại tinh thần bảo vệ các quyền cơ bản của con người đã được nghi nhận trong hệ thống luật nhân quyền quốc tế, trong Hiến pháp, pháp luật quốc gia. Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua thể hiện nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc tạo ra công cụ pháp lý nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân và tổ chức được bảo vệ quyền truy cập, sử dụng mạng cho mục đích cá nhân của mình mà không bị làm hại hay gây hại cho chủ thể khác.

Trả lời câu hỏi liệu quân đội tham gia các hoạt động bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng có là “vi hiến”, thì cần khẳng định không vì quân đội bảo vệ chủ quyền quốc gia trong thời đại công nghệ số không chỉ là bảo vệ vùng biển, vùng trời, các đường biên giới mà còn là bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng. Nếu như các thế lực thù địch đã thay đổi phương thức, phương tiện để hoạt động chống phá, nếu tội phạm đã mở rộng phạm vi, phương thức hoạt động thì việc quân đội phải thay đổi phương thức tác chiến, tham gia làm sạch môi trường mạng, giữ vững chủ quyền quốc gia là điều hiển nhiên, làm sao có thể gọi là “vi hiến”?

3. Những thách thức đối với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Nhìn lại tiến trình phát triển nhận thức cũng như hoạt động mà các quốc gia đã triển khai nhằm bảo vệ chủ quyền của mình trên không gian mạng, có thể thấy một số thách thức cơ bản như sau:

Thứ nhất, những thách thức do thiếu cơ sở pháp lý cũng như các cơ chế hợp tác quốc tế để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Thế giới đã đi đến nhiều đồng thuận trong việc cần phải bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng nhưng vẫn chưa đi đến thống nhất để có thể xây dựng, thiết lập các nguyên tắc pháp lý mang tính quốc tế đối với các hoạt động này. Năm 2011, Nga đưa ra sáng kiến về việc Liên Hợp quốc nên xây dựng công ước về bảo đảm an ninh thông tin quốc tế trong đó đề cập đến các tiêu chuẩn điều phối hoạt động trên internet, trong đó có các hoạt động liên quan đến chủ nghĩa khủng bố, hình sự, chính trị và quân sự. Tuy nhiên, sáng kiến này của Nga không được các quốc gia chấp thuận. Đến năm 2015, một nỗ lực để đạt được các thỏa thuận quốc tế nhằm xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng tiếp tục được đưa ra. Các chuyên gia của Liên Hợp quốc đã đi đến một thỏa thuận với bốn nguyên tắc nhằm bảo đảm hòa bình trong không gian mạng. Tuy nhiên, các quốc gia như Nga và Trung Quốc lại có những cách tiếp cận khác nhau đối với việc xây dựng các quy chuẩn chung này. Cho đến nay, thế giới mới chỉ có các thỏa thuận riêng lẻ giữa các quốc gia trong từng khu vực liên quan đến đảm bảo an ninh mạng mà chưa có các quy chuẩn pháp lý mang tính quốc tế để điều chỉnh các hoạt động trên lĩnh vực này. Liên minh châu Âu có Công ước Budapest năm 2001 nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý chung cho các quốc gia châu Âu trong công tác phòng chống tội phạm mạng. Đến nay công ước đã được đàm phán và mở rộng cho các quốc gia thành viên ở châu Á như: Nhật Bản, Philippines. Tuy nhiên, Nga, Trung Quốc và Brasil lại cho rằng để công ước này trở thành công ước chung cho toàn thế giới cần phải đàm phán để xây dựng lại công ước này bởi bản thân công ước được xây dựng dựa trên những đặc thù của khu vực nên không phản ánh hết các điều kiện và nhu cầu của tất cả các quốc gia trên thế giới(16). Việc thiếu cơ sở pháp lý mang tính quốc tế khiến cho việc thực hiện các hoạt động bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng của quốc gia gặp nhiều khó khăn, cũng như các hoạt động hợp tác, phối hợp trong bảo vệ chủ quyền của các quốc gia sẽ không được thúc đẩy trên thực tế.

Thứ hai, liên quan đến năng lực thực thi của các quốc gia. Việc triển khai các hoạt động phòng, chống các cuộc tấn công trên không gian mạng, ngăn chặn tin tặc hay tội phạm công nghệ cao luôn gặp phải những giới hạn liên quan đến nguồn lực như năng lực thực thi của các cơ quan công quyền, hạn chế trong hệ thống hạ tầng công nghệ. Pháp luật của các quốc gia đôi khi lạc hậu hơn so với sự phát triển và thay đổi nhanh chóng của các hoạt động tội phạm dựa trên công nghệ số. Chính vì thế mà nhiều quốc gia như Trung Quốc đã thiết lập không gian mạng riêng đáp ứng nhu cầu sử dụng mạng của người dân nước mình. Tại nước ta, nhiều người cũng đặt ra câu hỏi là: liệu Việt Nam có nên thiết lập một hệ thống mạng riêng cho người Việt giống như những gì mà Trung Quốc đang thực hiện? Tuy nhiên cần phải thấy rằng, việc làm này đi ngược lại với tinh thần và nền tảng của cuộc cách mạng công nghệ số là kết nối vạn vật, không giới hạn không gian và thời gian(17). Điều đó chỉ chứng tỏ sự hạn chế hay sự bất lực của nhà nước trong việc kiểm soát các hoạt động trên không gian mạng. Phương án này cũng được cho là bất khả thi với các quốc gia có dân số không quá lớn. Do đó, các quốc gia cần phải tìm ra các phương thức hoàn hảo hơn trong việc quản lý và kiểm soát các hoạt động trên không gian mạng nhằm bảo vệ hòa bình, ổn định, bảo đảm các quyền cơ bản của con người mà không làm mất đi đặc tính ưu việt của công nghệ là kết nối vạn vật.

Thứ ba, thách thức trong việc xác định ranh giới giữa hoạt động bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng với các hoạt động được coi là vi phạm quyền tự do cơ bản của con người. Rõ ràng, để bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia thì các loại hoạt động tội phạm mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng... là các hoạt động bị cấm. Tuy nhiên, một thách thức đặt ra cho các cơ quan chức năng là, làm thế nào để xác định đâu là các hoạt động mạng gây thiệt hại cho an ninh quốc gia, trật tự công cộng, an toàn tài sản và tính mạng của người dân. Vẫn có những hoạt động đứng giữa lằn ranh của hai thái cực(18) và những xung đột giữa việc bảo vệ quyền kiểm soát của chính phủ với việc bảo vệ các quyền tự do cơ bản của người dân. Chính phủ Pháp đã từng có nhiều nỗ lực nhằm ngăn chặn các cá nhân tìm cách tải các phim hay nhạc bất hợp pháp trên internet nhưng lại gặp phải sự phản đối của người dân và điều này chỉ được thông qua gần đây sau những sự phản đối của các ca sĩ. Hay việc Liên minh châu Âu “yêu cầu tất cả các nhà cung cấp dịch vụ internet lưu giữ thông tin về lưu lượng email, truy cập vào các trang web và các cuộc gọi điện thoại qua internet trong 12 tháng”. Yêu cầu này đã dẫn đến những phản ứng của một số nhóm. Do vậy, việc các quốc gia áp đặt chủ quyền trên không gian mạng thông qua việc yêu cầu xác định rõ hơn các tác nhân không gian mạng không phải lúc nào cũng đạt được sự đồng thuận hay ủng hộ từ phía người dân(19), bởi rất khó để xác định ranh giới của các hoạt động bảo vệ an ninh mạng với các hoạt động vi phạm quyền tự do cơ bản của con người.

Nhận thức đúng về bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam

           Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc là một thể hoàn chỉnh, thống nhất, gắn chặt với nhau, nên không được xem nhẹ bất cứ một nội dung nào. Trong đó, bảo vệ độc lập là nguyên tắc tối thượng. Để giành và giữ được độc lập, có được cuộc sống tự do, hạnh phúc và là chủ thể đất nước như hiện nay, nhân dân ta đã phải trả một cái giá không hề rẻ bằng cả máu, mồ hôi và nước mắt của mình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; và rằng: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”. Đó là chân lý, lời hiệu triệu toàn dân của Người - lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Và, trong thời điểm tình thế ngặt nghèo của đất nước năm 1946, trước khi lên đường dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Người đã căn dặn các đồng chí lãnh đạo của Đảng: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cái “bất biến” ở đây chính là “độc lập”, dù tình hình khó khăn, phức tạp đến đâu cũng phải giữ cho được “độc lập”, đó là nguyên tắc chiến lược, vấn đề căn bản nhất để “ứng vạn biến”. Trong chừng mực nào đó, chúng ta có thể nhân nhượng, thậm chí thỏa hiệp, nhằm đạt được mục tiêu của cách mạng, nhưng sự nhân nhượng, thỏa hiệp đó tuyệt đối không được làm ảnh hưởng tới độc lập, tự do của dân tộc; hơn thế, còn phải góp phần vào giữ vững nền độc lập của nước nhà. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó dự báo và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giữ vững độc lập, tự chủ là vấn đề sống còn, nhiệm vụ quan trọng nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Xét về bản chất, giữ vững “độc lập” hiện nay không khác trước đây, nhưng về tính chất và yêu cầu thì có những điểm mới cần chú ý để có biện pháp thực hiện phù hợp. Đặc biệt, trong mối quan hệ quốc tế đan xen, phức tạp hiện nay, phải hết sức tránh bị lệ thuộc vào nước ngoài, nhất là về chính trị và kinh tế. Bởi, bị lệ thuộc tức là mất quyền tự chủ và ở mức độ nào đó cũng có nghĩa là mất độc lập. Vì thế, phải rất tỉnh táo, tránh để bị lệ thuộc, nhưng đồng thời cũng không để rơi vào thế cô lập, hơn thế còn tích cực mở rộng quan hệ, nhằm góp phần đẩy mạnh phát triển đất nước đi đôi với bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.Việt Nam là quốc gia có chủ quyền, được quốc tế công nhận, đó là cơ sở pháp lý mà không một ai, không một thế lực nào, dù mạnh đến đâu có thể phản bác hoặc xâm phạm. Chủ quyền thiêng liêng ấy của nước ta không tự nhiên có được, mà nhân dân ta đã phải giành lại cùng với giành độc lập, tự do từ tay kẻ thù xâm lược qua cuộc đấu tranh cách mạng đầy hy sinh, gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì thế, trách nhiệm cao cả của mỗi người Việt Nam hôm nay và mai sau là phải giữ cho được chủ quyền quốc gia, dân tộc, đó là quyền có tiếng nói, quyền được tôn trọng tại các tổ chức, diễn đàn, hội nghị quốc tế,... mà Việt Nam tham gia với tư cách thành viên. Chủ quyền quốc gia phải được giữ vững và thể hiện một cách đầy đủ theo đúng hàm nghĩa của nó, tức là trên tất cả các lĩnh vực, trong các vấn đề đối nội và đối ngoại, nhất là chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Phải giữ vững sự thống nhất các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Đây vừa là mục tiêu, yêu cầu của cách mạng Việt Nam, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, vừa là truyền thống tốt đẹp của dân tộc cần được tiếp tục gìn giữ, phát huy. Phải giữ vững và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất toàn dân và các tôn giáo, nhằm không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng các chính sách thỏa đáng, hợp lòng dân, có lợi cho dân, vì nhân dân. Đặc biệt, phải coi trọng giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng “như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, đảm bảo cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, phải chú trọng đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước đối với nước ta, nhất là quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp liên quan tại khu vực, thế giới. Thống nhất dựa trên cơ sở đoàn kết, có giữ vững được đoàn kết mới có sự thống nhất và có đoàn kết, thống nhất thì mới thành công, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Thực tiễn cho thấy, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất là giữ vững và tăng cường nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng, đưa nước ta tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường đổi mới, hội nhập, phát triển, hướng tới tương lai.

Bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là nghĩa vụ và trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nhiệm vụ này càng trở nên quan trọng khi tình hình Biển Đông đang diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ khó lường đe dọa đến chủ quyền, quyền chủ quyền, an ninh vùng biển nước ta. Đặc biệt, thời gian gần đây, nước ngoài đã bất chấp luật pháp, thông lệ quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), Quy định về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), ngang nhiên có những hành động xâm phạm vùng biển Việt Nam. Vì thế, hơn bao giờ hết, chúng ta phải thường xuyên nâng cao cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh với mọi hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc. Dân tộc Việt Nam không bao giờ có ý định, chứ chưa nói tới hành động xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào, nhưng cũng không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của mình. Đó là nguyên tắc, là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là quan điểm cơ bản, tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đang bị chi phối bởi nhiều yếu tố. Trước hết là sự tác động nhiều chiều của tình hình thế giới, khu vực; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và các hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ đối với nước ta. Và trên thực tế, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những nguy cơ hiện hữu như Đảng ta đã cảnh báo. Thực tiễn đã chỉ ra, không phải cái gì “có” là không thể “mất”, ranh giới giữa “có” và “mất” rất mong manh, “có” mà không giữ được hoặc không biết giữ thì sẽ có thể “mất”, thậm chí “mất” hoàn toàn, đúng như luận điểm của V.I Lê-nin: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Vấn đề bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc cũng vậy. Hơn thế, đó là mục tiêu, lợi ích cao nhất của quốc gia, dân tộc. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải thường xuyên nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu và hành động chống phá nước ta của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội và chủ động đấu tranh với các hành động xâm phạm chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, nhất là trên vùng biển của đất nước. Về nhận thức, tư tưởng, cần phải thấu suốt đây là cuộc đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng, diễn ra và kết thúc không thể “một sớm, một chiều”, mà là thường xuyên, lâu dài. Quá trình thực hiện phải quán triệt phương châm: kiên quyết, kiên trì đấu tranh; kiên quyết nhưng phải tỉnh táo, thận trọng, không nóng vội và kiên trì nhưng luôn chủ động, linh hoạt, giữ vững nguyên tắc. Đồng thời, cần nắm vững quan điểm của Đảng về hợp tác và đấu tranh, đối tác và đối tượng: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta”1. Đối với việc giải quyết các vấn đề phức tạp ở Biển Đông, lập trường kiên định, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là kiên quyết bảo vệ chủ quyền, kiên trì giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và các thỏa thuận giữa các bên trong khu vực, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các tranh chấp về chủ quyền, lãnh thổ.

Như vậy, cần khẳng định: “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” là quan điểm đúng đắn của Đảng xuyên suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm trên định hướng tư tưởng và hành động cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc -  lợi ích cao nhất của đất nước; đồng thời, còn thể hiện rõ thái độ, lập trường nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề này. “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh,...” là một thể thống nhất, không tách rời nhau trong quá trình thực hiện. Kiên quyết đấu tranh, tức là đấu tranh không khoan nhượng, không do dự, thỏa hiệp, nhưng như thế chưa đủ, mà còn phải gắn với kiên trì, bền bỉ đấu tranh, không được nóng vội, bởi đây là cuộc đấu tranh lâu dài, không thể kết thúc trong “ngày một, ngày hai”. Đó là nội dung cốt lõi của quan điểm mà chúng ta cần quán triệt để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới."Phi chính trị hóa" quân đội - sự nguy hiểm khi có chính biến.

Vì sao phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

 


Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong tình hình mới đang đứng trước những cơ hội thuận lợi và không ít khó khăn, phức tạp, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc của Đảng; trong đó, “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” là quan điểm cơ bản, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt. Đây là quan điểm cơ bản, quan trọng của Đảng ta. Trước hết là bởi, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đây là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Sự nghiệp cao cả đó phải thường xuyên được coi trọng, không được lơi lỏng và phải gắn chặt với nhiệm vụ xây dựng đất nước. Điều đó, xuất phát từ tình hình quốc tế và trong nước, nhất là những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ khó dự báo, sự chống phá quyết liệt, bằng nhiều hình thức của các thế lực thù địch đối với nước ta; đồng thời, từ bài học kinh nghiệm quý báu được đúc kết từ lịch sử và đã trở thành quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc ta, đó là: “dựng nước phải đi đôi với giữ nước”. Những lý do trên nói lên tầm quan trọng của quan điểm này. Hơn thế, kết quả thực hiện quan điểm đó có quan hệ trực tiếp tới sự tồn vong của chế độ, đất nước, dân tộc. Vì thế, bất luận trong hoàn cảnh nào, thuận lợi và khó khăn ra sao, chúng ta cũng phải kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là trách nhiệm chính trị, nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng của các thế hệ người Việt Nam cả trước đây, hiện nay và mai sau.


ĐỪNG YÊU NƯỚC KIỂU NGÂY THƠ !


     I/- TẠI SAO BỘ SỬ 30 TẬP DO PHAN HUY LÊ TỔNG CHỦ BIÊN KHÔNG PHÁT HÀNH ĐƯỢC NHƯ DỰ ĐỊNH:

Từ ngày nhóm Phan Huy Lê, Trần Đức Cường…cố gắng chạy vạy để  cái gọi là Viện sử học cho phép  biên tập và xuất bản bộ sử 15 tập, khi đã sắp xuất bản thì Phạm Văn Linh Phó trưởng ban TGTW cho “họp phê duyệt” rồi họp báo tuyên bố rêu rao là trong bộ sử này có nhiều điều mới, nhiều nhận thức tiến bộ về quan điểm nhìn nhận về Nhà Mạc, Nhà Nguyễn và “đặc biệt là về việc đánh giá lại chính quyền VNCH”  và do đó nên bộ sử đã “không còn gọi chính quyền tay sai-bù nhìn SG là ngụy quân, ngụy quyền nữa “! bọn họ lý giải rằng gọi chính quyền bù nhìn SG là “ngụy là miệt thị, là không khách quan và không phù hợp với chủ trương  hòa hợp, hòa giải của Đảng, và bộ sử sẽ được phát hành ra quốc tế nên người nước ngoài khó nghe; và điều tối quan trọng là nếu gọi chính quyền bù nhìn SG, tay sai  đế quốc Mỹ là ngụy quyền tức không công nhận chúng, thì coi như ta mất vĩnh viễn Hoàng Sa, nên phải bỏ từ ngụy, gọi là chính phủ VNCH thì ta sẽ có cơ hội lấy lại được quần đảo này (!?)

Khi bộ sử chưa kịp đưa ra thị trường với lời quảng bá đó đã làm dấy lên một phong trào toàn quốc phản đối quyết liệt nhiều chỗ trong nội dung bộ sử, những người phản đối bao gồm nhiều thành phần yêu nước chân chính, là các cựu chiến binh, là những người đã đương đầu với sự  ác độc và man rợ của chế độ bù nhìn Sài Gòn, là cán bộ đang công tác hoặc đã về hưu, là những người nhận thức được việc làm sai trái của những người Biên tập bộ sử nói trên. 

Bộ sử 15 tập vừa mới phát hành chưa nhìn thấy mặt mũi ở đâu, thì bọn họ lại khẩn trương chuẩn bị phát hành bộ sử 30 tập (có 5 tập kỷ yếu) với số tiền được Nhà nước bỏ ra gần 100 tỷ đồng và nó cũng được nhóm biên tập rêu rao, quảng bá y chang như họ đã quảng cáo cho bộ sử 15 tập nói trên, có lẽ nội dung họ muốn nhấn mạnh để thay đổi là “từ bỏ gọi chính quyền SG là ngụy và đánh giá tích cực lại chế độ bù nhìn này !”

Họ chắc mẫm là cuối năm 2018  bộ “quốc sử 30 tập” do Phan Huy Lê làm Tổng chủ biên, Vũ Minh Giang làm phó chủ biên sẽ được ra lò…Tuy nhiên những người biên tập sử đã một lần nữa bị sấm sét của búa rìu dư luận, nhiều đơn kiến nghị, một cơn bão phản đối kể cả có sự phản đối của đồng bào ta đang sinh sống ở ngoài nước, những phân tích sâu sắc và vạch trần âm mưu phản bội lịch sử của ban biên tập đứng đầu là Phan Huy Lê, và tất cả những điều đó đã được Trung ương Đảng lắng nghe và họ  bị Trung ương Đảng huýt còi, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng và P. Thủ tướng Vũ Đức Đam đã cho gọi họ lên để nhắc nhỡ, buộc họ phải hoãn lại để đính chính, để biên tập lại cả về nội dung và quan điểm. 

Hôm nay  thời gian dù đã bước sang quý I/2020 mà bộ sử cũng chưa có dấu hiệu gì được xuất bản vì những sai lầm có tính chất nguyên tắc và yếu tố phản động được mưu mẹo bất lương gắn trong các lời văn của nó như chúng ta đã biết !

II/- CÁC BỘ SỬ DO PHAN HUY LÊ, TRẦN ĐỨC CƯỜNG, VŨ MINH GIANG BIÊN TẬP ĐÃ LÀM CHIA RẼ NHÂN DÂN VÌ NÓ  XUYÊN TẠC VÀ ĐƯA RA SỰ KHÁC BIỆT NHẬN THỨC LỊCH SỬ:

Trong xã hội ta  đang tồn tại cái tâm lý cho là một ai đó được Nhà nước có thời tôn vinh thì kẻ ấy mãi mãi là được tôn vinh, cho dù người ấy không hề còn cái phẩm giá như khi họ được khen thưởng,  đó là một sự nhận thức  sai lầm;  May mà mới đây tên công thần Lê Mã Lương đã bị cảnh cáo vì hành vi chống lại Quân đội Nhân dân của y, cho dù hắn đã có thời là Anh hùng, đã từng có thời là một chiến sĩ dũng cảm ở mặt trận, nhưng do vì không chịu tiếp tục rèn luyện tu dưỡng nhân cách, nên y đã rơi tõm xuống hố rác công thần và vòng tay nhung của bọn thù địch…Tuy nhiên, việc trừng phạt Lê Mã Lương vẫn là chưa đủ !

Còn đối với  Phan Huy Lê khi còn sống, ông  cũng đã  có những đóng góp nhất định cho ngành sử nước nhà, đã được Đảng và Nhà nước khen thưởng. Nhưng đến khi Lê tự chuyển hóa thành kẻ hèn hạ xuyên tạc tấm gương người Anh hùng Liệt sĩ Lê Văn Tám, thì trong chúng ta ai ai cũng biết Phan Huy Lê có vấn đề về diễn biến phản bội. Quần chúng nhân dân, các nhân chứng trong những ngày Sài Gòn – Gia Định  kháng chiến, các trí thức yêu nước chân chính  ở cả hai miền đều lên tiếng phản đối Lê, họ đòi Lê phải ra đối mặt để tranh luận, để đối chứng, nhưng Lê  hèn nhát trốn nhẹm. Lúc bấy giờ lẽ ra những người có trách nhiệm canh gác chính trị tư tưởng trong Đảng ta phải gọi Lê lên để cảnh cáo ông ta, buộc phải  đính chính, phải xin lỗi nhân dân về những điều dối trá của mình, thu hồi những khen thưởng đã trót giao cho ông ta, nhằm làm cho Nhân dân hiểu được sự thật của âm mưu phản bội lịch sử của Lê. Nhưng tiếc thay, họ đã không làm ! Đó là lý do tại sao có một số ít người vì nông nổi và ấu trĩ cứ  “cuồng Lê” và bám lấy cái cớ là Phan Huy Lê được tặng nhiều khen thưởng, được ca ngợi, nên cái gì của Phan Huy Lê nói và làm đều là làm theo ý của Nhà nước ! Lê nói Anh hùng Lê Văn Tám là giả mà Lê không bị Nhà nước trừng phạt, không phủ định lời của Lê nên Lê là kẻ nói đúng (!?) nhưng họ có biết đâu rằng trong lúc Lê cho rằng chuyện về  người Anh hùng Lê Văn Tám là giả thì tên Phan Huy Quát, anh trai của Lê là Thủ tướng ác ôn của ngụy quyền SG hết làm tay sai cho thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ  là thật !

Trên mạng  xã hội hiện nay, hay trên các bài viết dạng blog, Nhân dân đang chia rẽ sâu sắc, thực tế là có hai phe, một số ít theo Lê, Cường , Giang…vì họ cho là bọn đó được Nhà nước khen thưởng, giao việc, còn số đông là những người không chấp nhận âm mưu bỏ chữ ngụy trong hai bộ sử, mặc dù những người yêu nước chân chính đã phản biện sắc sảo, quyết liệt, họ đòi trừng trị bọn Lê, Cường, Giang vì những hành vi phản bội Lịch sử của chúng !?

Những người chống lại bọn Lê, Cường và bọn phản bội lịch sử nhận thức rằng, cuộc Kháng chiến chống  thực dân Pháp - Đế quốc Mỹ xâm lược của Nhân dân ta đã khép lại tròn 45 năm rồi, Dân tộc đã trải qua hơn 117 năm ly loạn, khổ đau và tăm tối, hàng chục triệu người chết, hàng triệu gia đình tan nát. Vì hậu quả của chiến tranh nên Đất nước lầm than, do đó phải đi lên chậm hơn các nước khác hàng trăm năm. 

Tuy vậy, cuối cùng thì Đất nước, Non sông đã được thu về một mối. Ở miền Nam dưới ách cai trị của Mỹ, hàng triệu lượt thanh niên miền Nam đã bị bắt buộc cầm súng cho Mỹ thực hiện vai trò đánh thuê cho chúng dưới một chính phủ và quân đội bù nhìn cực kỳ phản động từ thời Ngồ Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu. 

Ngay sau ngày 30/4/1975  một số tên đầu sỏ, có nợ máu trong ngụy quân và ngụy quyền bị đưa đi cải tạo để họ trở thành người lương thiện, còn hàng  triệu anh em khác trong binh lính Sài Gòn thì đều được trở về quê cũ làm ăn. Họ và gia đình, con cái họ không hề bị phân biệt đối xử, rất nhiều người đã trở thành cán bộ dưới chế độ mới, rất nhiều người đã trở thành chủ những xí nghiệp lớn và vừa. Không ai còn gọi họ là lính ngụy hay quân ngụy những từ ngữ đó đã lùi về quá khứ, là những tên gọi của lịch sử đau thương trong chiến tranh không ai muốn nhắc lại nữa !

Thế nhưng bọn Lê, Cường, Giang và đồng bọn thì bỗng dưng lại nhắc tới, xới vấn đề đó lên để khêu gợi thù hận, nếu chúng lẳng lặng thì chẳng ai biết, đằng này chúng rêu rao trong cuộc họp báo, trong trả lời phỏng vấn các đài phản động, dường như chúng muốn khoa trương đó là một thành tích, một đóng góp lớn lao cho hòa hợp hòa giải mà Nhà nước không làm được !

Chúng đánh tráo giữa hiện tại và quá khứ, danh từ ngụy quân, ngụy quyền đã được Nhân dân ta dùng từ khi có chính quyền ngụy - Quốc gia  (Trước 1954) và sau này là ngụy – VNCH (Sau 1954) đã thuộc về quá khứ, đã thuộc về lịch sử. Đã là lịch sử thì phải soạn đúng không được vì nhận thức hiện tại mà bổ sung để điều chỉnh cái đã xảy ra quá khứ…làm như vậy sẽ sai trái về học thuật và  xuyên tạc bản chất của lịch sử.

Bọn chúng không phải vì vô tình hay nhầm lẫn mà chúng có âm mưu rõ ràng như Trung Tướng Nguyễn Thanh Tuấn và Thiếu Tướng Hoàng Kiềng đã nói rõ và nhấn mạnh trong clip do VTV1 phát ngày 28-8- 2019 ( xem clip trích kèm theo).

Chúng cố ý bỏ chữ ngụy tức chính quyền bù nhìn SG không phải là ngụy quyền mà là  một chính phủ hợp pháp ! Việc chúng giải thích bỏ chữ ngụy một cách nửa vời mà không nói rõ tại sao Nhân dân ta và nhân dân thế giới kể cả nhân dân Mỹ gọi chúng là ngụy quyền (Puppet Government). Chúng không dám nói đến Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngay sau khi có Tổng tuyển cử đa đảng ngày 06/01/1945 để thành lập Chính phủ đa đảng đầu tiên được nước Pháp công nhận đầu tiên ! Chính phủ đó là chính phủ Cộng hòa và hợp pháp dựa trên Cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu đầu tiên trong Lịch sử dựng nước và giữ nước của Dân tộc Việt Nam. Khi chính phủ đó chưa bị Quốc hội giải thể thì nó vẫn là Chính phủ hợp pháp điều hành đất nước; bất cứ ở đâu trên đất nước Việt Nam đồng thời  lại có 1 chính phủ khác do quân Xâm lược dựng lên thì nó là Chính phủ bù nhìn, -  là con rối - là ngụy quyền ! rõ ràng rằng các chính phủ Quốc gia dưới thời Bù nhìn  Bảo Đại và từ 1954 đến 30/4/1975 đều là ngụy quyền !

III/ -ĐỪNG YÊU NƯỚC THEO KIỂU NGÂY THƠ, ẤU TRĨ !

Hòa vào giọng điệu phản bội lịch sử  của Lê, Cường, Giang gần đây một số cán bộ về hưu tự vỗ ngực cho là “cấp tiến” có cả cán bộ cao cấp cũng cao giọng và hiểm độc đòi “Tôn vinh 74 lính ngụy chết ở Hoàng Sa vì lính ngụy này rất yêu nước, họ đã xả thân bảo vệ chủ quyền biển đảo, nên phải tôn vinh họ nếu đời này không làm được, thì đời sau sẽ làm v.v…!”  Mớ lý luận này nghe thật trơ trẽn và hèn hạ, chúng dám đổi trắng thay đen, cả gan biến phi nghĩa thành chính nghĩa ! bọn “cấp tiến” này đã đánh tráo và  tung hỏa mù nhằm che đậy và lừa bịp những người nhẹ dạ tin rằng việc lính ngụy chết ở Hoàng Sa  là yêu nước ! Nhưng sự thật chẳng qua 74 lính ngụy đó chỉ là những cái bia thịt  đã được sắp đặt và họ là những nạn nhân đau đớn của cuộc trao đổi đất đai giữa Mỹ và Trung Quốc để đổi lấy việc Trung Quốc không tiếp tục ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Nhân dân ta mà thôi, còn bọn ngụy quyền ở Sài Gòn lúc nào cũng bị Mỹ đặt vị thế là kẻ ngoài cuộc !!!

Bọn Lê, Cường và lũ tôi tớ cũng được một số ít người  trên MXH “bỏ phiếu” tán thành. Chẳng qua là những người đó tỏ ra yêu nước, muốn “hòa hợp” theo  cái bẫy của bọn Lê, Cường, nhóm người này cũng  là những người yêu nước, nhưng ấu trĩ, ngây dại và mê muội họ đã bị bọn Lê, Cường, Giang xỏ mũi dẫn dắt đi trên con đường rắc rối, ma trận  họ chưa thể nhận ra được ! 

Những người yêu nước ngây dại này tập trung trong các nhóm  trên MXH như VHK, Vietvision v.v…và họ được bọn chống cộng cực đoan từ Mỹ ủng hộ cả tinh thần lẫn tiền bạc để đấu lại những người chống bọn phản bội lịch sử !

Mong  rằng những người yêu nước ấu trĩ này hãy mau chóng nhận thức đúng và  tỉnh ngộ đừng dại dột tự biến mình thành nhữ kẻ chống lại Tổ Quốc !

Lê Đắc Thẩm ST.

HƯỚNG VỀ HẢI DƯƠNG TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19


Những ngày này mọi người dân trên khắp cả nước đều đang hướng về Hải Dương nơi có dịch bùng phát hết sức phức tạp nhiều người đã bị mắc bệnh. Đã có rất nhiều việc làm có ý nghĩa của các nhà hảo tâm trong nước và kiều bào ở nước ngoài chia sẻ những khó khăn cả về vật chất và tinh thần đó là ủng hộ trang thiết bị cho người dân, tiền mặt cho những người làm nhiệm vụ phòng chống dịch, cấp ủy chính quyền nhân dân và các ban ngành, lực lượng trong tỉnh Hải Dương nói riêng và nhân dân cả nước nói chung đang nỗ lực hết mình thực hiện nghiêm quy định 5 K của Bộ y tế trong phòng chống dịch và có hành động sử phạt của cơ quan chức năng đối với những người không thực hiện nghiêm túc quy định trong phòng chống dịch. Chúng ta tin tưởng rằng với quyết tâm của chính quyền, sự đồng lòng của Nhân dân trong thời gian tới chúng ta sẽ đẩy lùi được dịch bệnh để người dân có cuộc sống trở lại bình thường.

Nhiều bác sĩ phải tự cách ly vì bệnh nhân về từ vùng dịch không khai báo

 Mặc dù trở về từ tỉnh Hải Dương nhưng bệnh nhân L.A. không khai báo y tế, sau khi phát hiện nhiều bác sĩ và nhân viên y tế bệnh viện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) đã phải tự cách ly.

Tối 18/2, Bệnh viện Đa khoa thị xã Kỳ Anh (Hà Tĩnh) thông tin, đơn vị này vừa có công văn báo cáo về một bệnh nhân khai báo không đúng khi đến khám chữa bệnh ở đây.

Cụ thể, vào 10h15 ngày 18/2, Bệnh viện Đa khoa thị xã Kỳ Anh tiếp nhận bệnh nhân N.T.L.A. (SN 2002, ở thôn Phú Tân, xã Kỳ Phú, huyện Kỳ Anh) đến khám với triệu chứng đau bụng.

Khi đi qua cổng bệnh viện, bộ phận sàng lọc khai thác các yếu tố dịch tễ để phân luồng, bệnh nhân L.A. khai báo không đi đâu về. Sau đó, bệnh nhân được chuyển vào khoa khám bệnh.

L.A. được phân vào buồng khám bệnh số 3. Tại đây, bệnh nhân khai lại là trở về từ tỉnh Hải Dương. Ngay sau đó, bệnh nhân này được chuyển ra buồng khám cho các ca bệnh có yếu tố dịch tễ liên quan đến COVID-19.

Theo đại diện Bệnh viện Đa khoa thị xã Kỳ Anh, bệnh nhân L.A. có yếu tố dịch tễ phức tạp, khai báo không trung thực khi về địa phương, đề nghị cách ly tập trung và xử lý theo quy định.

Được biết, bệnh nhân L.A. thuộc diện cách ly tại nhà, bệnh nhân đi về từ phường Tứ Minh (thành phố Hải Dương).

Hiện toàn bộ bác sĩ, nhân viên y tế có tiếp xúc gần với bệnh nhân trên được cách ly tại nhà, chờ kết quả xét nghiệm của bệnh nhân.

Phong tỏa Công ty xi măng Hoàng Thạch vì có ca mắc Covid-19

 Chính quyền thị xã Kinh Môn (Hải Dương) đã phong tỏa tạm thời Công ty TNHH MTV Ximăng Vicem Hoàng Thạch vì có ca mắc Covid-19 mới.

Theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Hải Dương, từ 15h ngày 17/2 đến 15h ngày 18/2, toàn tỉnh ghi nhận thêm 18 trường hợp mắc Covid-19 mới. Tổng số ca mắc cộng dồn của tỉnh là 576 trường hợp. Đã có 78 trường hợp được điều trị khỏi và ra viện.

Trong 18 ca mắc mới nói trên có 14 trường hợp là F1 của các bệnh nhân trước và đã được cách ly tập trung, trong đó Cẩm Giàng có thêm 13 ca, Chí Linh 2 ca, Nam Sách 1 ca, 1 trường hợp ghi nhận tại TP Hải Dương là trường hợp có biểu hiện triệu chứng được phát hiện thông qua sàng lọc cộng đồng; 1 trường hợp ghi nhận tại thị xã Kinh Môn, là công nhân của Công ty xi măng VICEM Hoàng Thạch được phát hiện thông qua sàng lọc sốt ho đến khám tại Trung tâm Y tế thị xã Kinh Môn.

Trường hợp ca mắc ở thị xã Kinh Môn nói trên là anh N.V.H., công nhân xưởng sửa chữa Công ty TNHH MTV Ximăng Vicem Hoàng Thạch, trú tại khu dân cư Bích Nhôi, phường Minh Tân, Kinh Môn. Công nhân này đã được cách ly tại địa phương từ ngày 1/2-15/2/2021. Sau đó, bệnh nhân bị sốt, ho và đi xét nghiệm, đến ngày 18/2 có kết quả dương tính với SARS-CoV-2. Ca bệnh này hiện chưa rõ nguồn lây.

Thị xã Kinh Môn đang khẩn trương truy vết F1 và hiện đã truy vết được 26 người, phong tỏa khu dân cư nơi bệnh nhân này sống.

Trong chiều 18/2, Kinh Môn đã tổ chức lấy mẫu xét nghiệm cho 350 hộ dân với 1.500 nhân khẩu, chuẩn bị khu cách ly tập trung đối với các F1 tại Trường Mầm non Tử Lạc.

Thị xã đã phong tỏa tạm thời đối với Công ty TNHH MTV Ximăng Vicem Hoàng Thạch từ 14h ngày 18/2 và yêu cầu doanh nghiệp thực hiện quy định "4 tại chỗ" nghiêm ngặt, xét nghiệm toàn bộ 1.635 công nhân và phun khử khuẩn công ty.

Phạt quán nhậu phục vụ hơn 60 khách trong lúc dịch Covid-19 bùng phát

 Quán nhậu ở quận Gò Vấp (TPHCM) bị đoàn kiểm tra lập biên bản xử phạt do phục vụ tới hơn 60 người cùng một lúc và không giữ khoảng cách theo quy định.

Tối 18/2, UBND phường 1 (quận Gò Vấp, TPHCM) phối hợp cùng đoàn liên ngành tiến hành kiểm tra các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn về việc phòng, chống dịch Covid-19 theo chỉ đạo của UBND TPHCM.

Lúc 19h, quán Lộ Thiên nằm trên đường Lê Quang Định đông nghịt người. Bên ngoài, xe máy xếp hàng dài, chịt kín trên vỉa hè. Bên trong, hơn 20 nhân viên hối hả đưa món ăn lên cho khách.

Thấy bóng dáng của tổ công tác, hơn 60 thực khách có đôi chút ngỡ ngàng rồi tiếp tục câu chuyện dở dang trên bàn nhậu.

Sát quầy thu ngân, 9 bạn trẻ ngồi trên bàn nhậu với ly bia rót đầy và nhiều đĩa thức ăn còn nóng hổi phải tạm dừng câu chuyện khi thấy công an làm việc với quản lý. Bàn của các bạn trẻ này và nhiều bàn nhậu khác được nhân viên phục vụ đến nhờ hỗ trợ thanh toán tiền, gói mang về để đảm bảo việc giữ khoảng cách.

Sau gần 30 phút làm việc, hơn 20 thực khách tính tiền ra về, nhiều bộ bàn ghế được nhân viên kê gọn lên và quản lý quán nhậu nhắc bảo vệ tạm ngưng nhận khách đến quán ăn, uống.

"Hôm nay là ngày khai trương nên khách quen đến hơi đông. Tất cả khách đều được rửa tay sát khuẩn và các nhân viên bắt buộc đeo khẩu trang", anh Nguyễn Kim Tiếp, quản lý quán nhậu cho hay.

Bị lập biên bản xử phạt vì không thực hiện biện pháp hạn chế tập trung đông người để phòng, chống Covid-19 theo Nghị định 117/2020, anh Tiếp cho biết sẽ giữ khoảng cách giữa các thực khách và bán mang về trong ngày mai.

Tại tuyến đường Phạm Văn Đồng (quận Gò Vấp giáp quận Bình Thạnh), hàng loạt quán nhậu, beer club tạm ngưng hoạt động để hỗ trợ chính quyền trong công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Đang loay hoay lên món ăn, phục vụ cho 10 thực khách, nữ chủ quán nhậu trên đường Phạm Văn Đồng tỏ ra hợp tác khi đoàn kiểm tra vào làm việc.

"Nếu đóng cửa thì tôi mất trắng số tiền 23 triệu đồng thuê mặt bằng hằng tháng. Quy mô quán tôi cũng nhỏ nên sẽ chấp hành nghiêm về việc phòng, chống dịch bệnh", nữ chủ quán cho hay.

Cách đó vài trăm mét, nhiều thực khách đang ngồi nhậu trên dãy bàn dài của quán rộng hơn 100m2 đã hối hả đứng dậy tính tiền khi thấy tổ công tác vào kiểm tra. Tại các khu vực khác của quán này, các bàn ăn dành cho 4 người được bố trí cách nhau gần 2m.

Đại diện UBND phường 1 (quận Gò Vấp) cho biết, cả 2 quán trên đều bị lập biên bản nhắc nhở, tuyên truyền về việc giữ khoảng cách giữa các người ngồi ăn và cơ sở kinh doanh nào tái phạm khi đã bị xử phạt thì bị rút giấy phép.

Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, kể từ 12h ngày 9/2, UBND TPHCM tạm dừng toàn bộ các dịch vụ văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí và các cơ sở kinh doanh dịch vụ.

Chính quyền thành phố yêu cầu các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống không phục vụ quá 30 người trở lên cùng một lúc, bố trí chỗ ngồi thông thoáng, bảo đảm khoảng cách giữa 2 người từ 1m trở lên, đồng thời thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định của cơ quan y tế. 

LÍNH BINH ĐOÀN TÂY NGUYÊN

 


Tiếng súng đã vang trên Biên giới phía Bắc năm 1979, trong lúc Binh đoàn Tây Nguyên (Quân đoàn 3) chúng tôi đang tập trung lực lượng giúp Bạn ở Campuchia. Khi có lệnh của cấp trên, toàn Binh đoàn chúng tôi đã nhanh chóng cơ động ra Biên giới phía Bắc. Thật không may cho chúng tôi, vừa đặt chân đến nơi tạm dừng, thì Trung Quốc tuyên bố rút quân trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, do thiệt hại nặng hay sợ thiệt hại nặng lớn hơn, mất mặt nhiều hơn, khi các đơn vị chủ lực của chúng ta cơ động từ phía Nam ra và ở tuyến sau lên... Nhưng tóm lại, không thực hiện được dã tâm xâm lược nên phải rút quân. Chúng tôi được lệnh ổn định doanh trại và sẵn sàng chiến đấu... Năm 1985, Binh đoàn chúng tôi được lệnh chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng tham gia bảo vệ Biên giới; cán bộ, chiến sĩ trong Binh đoàn đã hào hứng, hăng say luyện rèn để được tham gia bảo vệ Biên giới. Cuối năm 1985, một phần lực lượng của Binh đoàn chúng tôi được lệnh hành quan cơ động lên tuyến I, bảo vệ biên giới ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang), rất nhiều cán bộ, chiến sĩ trẻ của Binh đoàn lần đầu tiên được nghe thấy tiếng đề ba của pháo, cối, tiếng rít như xé trời của đạn hỏa tiễn..., bao nhiêu bỡ ngỡ ban đầu nhanh chóng được làm quen (đúng là chiến tranh, không phải trò đùa); những địa danh nổi tiếng thời đó, như: Cối xay thịt (Ngã Ba Thanh Thủy), Cầu Sập (Cầu Thanh Thủy), Thác Âm phủ, Thung lũng gọi hồn, Hang Dơi, Hang Làng Lò, Đồi Đài, Cốt ích, Pháp, 4 Hầm, H1, H3, 812, 1250, 1509,... nơi đâu cũng in dấu chân những người lính Binh đoàn. Binh đoàn Tây Nguyên chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ biên giới tại điểm nóng nhất lúc bấy giờ ở Biên giới phía Bắc, đó là Vị Xuyên - Hà Tuyên. Sau đó, đơn vị chúng tôi được rút về tuyến sau, nhưng có nhiều đồng đội tôi đã anh dũng hy sinh và vẫn ở lại tuyến đầu của Tổ Quốc, sự hy sinh của họ đã góp phần bảo vệ sự bình yên của Tổ Quốc ngày hôm nay, chúng tôi luôn kính cẩn nghiêng mình trước họ, những người chiến binh tuyệt vời, đã hy sinh vì nền độc lập của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

 

KHAI BÁO Y TẾ THIẾU TRUNG THỰC

 


Bệnh dịch Covid-19 không chừa một ai. Sau khi vui xuân đón Tết, mọi người ai về nhà ấy để đi làm, đi học... Nhiều người từ các vùng quê, vùng dịch về rất tự giác khai báo y tế để được giám sát, tầm soát... tránh dịch bệnh bùng phát hoặc các cơ quan chức năng có điều kiện, chủ động phòng chống dịch bệnh, mang lại sự ổn định cho xã hội, cho mọi người. Ấy vậy, một số người lại thiếu trung thực, sợ bị cách ly nên khai báo y tế gian dối, làm khó cho cơ quan chức năng trong việc kiểm soát và dập dịch. Những người này rất đáng được xã hội và cộng đồng lên án, vì đã không chung tay, chung sức trong phòng chống dịch, làm khổ rất nhiều người, làm thiệt hại kinh phí của Nhà nước... Do vậy đề nghị cơ quan chức năng tùy theo lỗi phạm, hãy xử lý thật nghiêm, để giữ nghiêm các quy định của pháp luật, góp phần nhanh chóng dập dịch, để cuộc sống của chúng ta nhanh chóng trở lại bình thường. Hời ôi, những người chưa khai báo y tế hoặc khai báo chưa trung thực hãy suy nghĩ lại, hãy vì chính mình, gia đình mình (có nhiều ca nhiễm trong gia đình), bạn bè mình, cộng đồng dân cư... khẩn trương khai báo y tế trung thực nhé...

MỘT SỐ ÍT NGƯỜI

 


Trước Tết Nguyên đán Tân Sửu, một số người có thể là vô tình hoặc cố ý né tránh việc khai báo y tế đã đến vùng dịch hoặc tiếp xúc ở những nơi có dịch hoặc khai báo thiếu trung thực..., có thể thông cảm một chút, vì có thể họ đơn giản coi thường dịch bệnh hoặc sợ không được ăn Tết ở nhà... Nhưng sau Tết, vẫn có một số người ngại khai báo y tế hoặc khai báo y tế thiếu trung thực, có lý do riêng; trốn cách ly, trốn nơi có dịch... Điều này, là không thể chấp nhận được, vì ảnh hưởng lớn đến cộng đồng, đến việc làm, bát cơm, manh áo của nhiều người (hãy giảm bớt cái tôi trong mình một tý). Mong rằng những người đó không ngại, bớt chút thời gian, nhanh chóng, chủ động hợp tác với các cơ quan chức năng, khai báo y tế trung thực, để giữ cho mình, gia đình mình và cộng đồng nơi mình sinh sống, làm việc các bạn nhé.

LẠI NÓI VỀ COVID-19

 


Năm hết, Tết đến, cả dân tộc Việt Nam chúng ta ai, ai cũng khấp khởi, đón chờ một năm mới, trong tư thế vừa trải qua một năm khó khăn, thách thức vì dịch bệnh Covid, bão lũ... Ấy vậy mà đợt sóng Covid thứ tư lại xuất hiện trong cộng đồng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc vui xuân, đón Tết của cả dân tộc ta, nhiều người phải chống chọi với dịch bệnh, nhiều người không được nghỉ Tết để tham gia phòng chống Covid, đem lại cuộc sống bình yên đón Tết Nguyên đán cho mọi người, đấy là những chiến sĩ biên cương, những chiến sĩ áo trắng, những chiến sĩ công an đã tham gia vào việc truy tìm nguồn lây lan của dịch bệnh, như truy tìm thủ phạm phạm pháp... biết bao nhiêu người không được hưởng một cái Tết bình yên. Rất nhiều người đã được hưởng một cái Tết kiểu mới “Tết Covid” trong những nơi cách ly tập trung, nhất là các cháu học sinh tuổi còn nhỏ mà phải xa gia đình... đến nay, nhờ sự vào cuộc nhanh chóng, quyết liệt của các cấp chính quyền và toàn dân, tình hình dịch bệnh Covid ở nước ta đã tạm thời nắng xuống, đây là tin vui cho cộng đồng, xong vẫn còn nhiều khó khăn đang ở phía trước, nhất là ở Hải Dương và các thành phố lớn. Với sự đồng lòng của chính quyền và nhân dân, chúng ta tin tưởng đợt phòng chống dịch lần này sẽ nhanh chóng thành công, nhưng cũng phải đề cao cảnh giác với các đợt dịch tiếp theo có thể sảy ra, nếu chúng ta không làm tốt việc phòng chống dịch Covid thường xuyên.

NHỚ ĐỒNG ĐỘI

 


Chiến tranh biên giới phía Bắc đã lùi vào quá khứ được 42 năm, những kỷ niệm vui buồn của người lính đã trải qua vẫn hàng ngày hiện hữu. Đồng đội tôi người còn, người mất, nhưng tựu chung lại chúng ta đã giữ yên được dải biên cương, giữ được những mảnh đất mà biết bao thế hệ người Việt Nam đã hiến dâng cả đời mình giữ gìn. Tổ quốc, một danh từ rất thiêng liêng và cao cả, những ai đã từng cống hiến sức lực, trí tuệ, cả tuổi trẻ, cả đời, thậm trí hy sinh để bảo vệ rất dỗi tự hào... Nhân dịp kỷ niệm 42 năm ngày chiến thắng Chiến tranh biên giới phía Bắc, mỗi chúng ta kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của các anh hùng liệt sĩ, những người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho Tổ quốc, cho chúng ta ngày hôm nay.

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI

 


Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta lãnh đạo đã giành được những thành quả to lớn. Thời kỳ đầu đổi mới, công tác tư tưởng luôn đứng trước những vấn đề gay gắt. Song, công tác tư tưởng và những người làm công tác tư tưởng đã cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta từng bước tháo gỡ những khó khăn trong tư duy lý luận rồi đến những vận dụng thực tiễn. Nhờ vậy công tác tư tưởng đã góp phần quan trọng vào thành quả của sự nghiệp đổi mới.

Nhìn lại chặng đường đổi mới, có thể rút ra những bài học quý trong công tác tư tưởng đó là:

1. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng. Đây là bài học của toàn bộ sự nghiệp đổi mới. Bởi vì đổi mới không phải là rời bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là tìm con đường, phương pháp, bước đi đi thích hợp theo mục tiêu đó.

2. Thực hiện dân chủ hóa trong công tác tư tưởng. Đây là bài học quan trọng, then chốt, chúng ta đã từng bước khắc phục căn bệnh áp đặt trong công tác tư tưởng gắn với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.

3. Công tác tư tưởng bám chắc các mục tiêu kinh tế xã hội. Công tác tư tưởng là hoạt động thuộc kiến trúc thượng tầng, có tác dụng định hướng quan trọng, song nếu tách rời hiện thực xã hội thì không phát huy được tác dụng. Công tác tư tưởng phải luôn bám sát mục tiêu chính trị của Đảng, của cách mạng, luôn phát hiện vấn đề trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng để xác định các giải pháp phù hợp.

4. Nâng cao tính văn hóa trong công tác tư tưởng. Công tác tư tưởng thời kỳ đầu đổi mới rất phong phú, phức tạp và khó khăn. Đòi hỏi về tính văn hóa cao hơn. Tính văn hóa trong công tác tưởng đó là những lập luận có cơ sở khoa học và thực tiễn trong công tác nghiên cứu và giáo dục lý luận, là những thuyết minh sáng rõ về những luận cứ trong đường lối, quan điểm, nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Đó là phương cách chủ động sang tạo, gần cuộc sống, gần quần chúng thể hiện đạo đức, tác phong của đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng.

5. Nâng cao tính chiến đấu trong công tác tư tưởng của Đảng. Tính chiến đấu là thuộc tính của công tác tư tưởng. Trong giai đoạn hiện nay cùng với việc đấu tranh bác bỏ những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, tính chiến đấu còn biểu hiện trong đấu tranh trong nội bộ Đảng, nội bộ nhân dân, nhằm khắc phục những thói hư, tật xấu, những nhận thức lệch lạc cần chỉnh đốn./.

XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH CỦNG CỐ NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN VỚI ĐẢNG

 


 

Dù cách thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì những luận điệu xuyên tạc của các phần tử chống đối, thù địch cũng chỉ là những tiếng nói lạc lõng, đi ngược lại xu thế, dòng chảy chung. Với tinh thần thượng tôn pháp luật, thời gian qua Đảng, Nhà nước ta đã kiên quyết xử lý những cán bộ sai phạm, nhất là cán bộ cao cấp với quan điểm cán bộ cấp càng cao càng phải nêu gương. Qua đó làm trong sạch đội ngũ, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao uy tín và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng.

Những phần tử chống đối thù địch lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, cố tình hướng lái việc xử lý cán bộ sai phạm nhằm gây chia rẽ trong Đảng, làm suy giảm lòng tin của người dân đối với Đảng. Lịch sử hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, trong đó công tác cán bộ là then chốt của then chốt. Công tác xây dựng Đảng được triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục trên cả hai mặt xây và chống, trong đó xây trước, chống sau; xây là cơ bản, lâu dài, chống là quan trọng cấp bách, hai nhiệm vụ luôn song hành, kết hợp nhuần nhuyễn nhằm làm trong sạch đội ngũ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, việc kỷ luật, đưa ra xét xử các cán bộ, đảng viên vi phạm là một nhiệm vụ quan  trọng trong công tác xây dựng Đảng. Để ngăn chặn tình trạng suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, Đảng, Nhà nước thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng những hành vi sai phạm; kiên quyết xử lý, loại trừ khỏi bộ máy những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước với tinh thần thượng tôn pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kỳ cán bộ, đảng viên nào có sai phạm đều bị xử lý nghiêm minh, công bằng. Điều này được nhân dân đánh giá cao và đồng tình ủng hộ, bởi người dân nhận thức được việc Đảng tự chỉnh đốn, hoàn thiện mình để phục vụ nhân dân tốt hơn. Vậy nhưng, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta. Chúng cố tình làm sai lệch bản chất sự việc, phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên với âm mưu gây mơ hồ, hoài nghi, tác động vào niềm tin của nhân dân đối với Đảng; chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết trong Đảng, trong dân, thâm độc hơn là nhằm gây bất ổn về chính trị, xã hội, lật đổ chế độ ta.

Dù cách thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch có tinh vi, xảo quyệt đến đâu, thì đó cũng chỉ là những tiếng nói lạc lõng, đi ngược lại xu thế, dòng chảy chung. Những tiếng nói lạc lõng đó không thể làm lay chuyển quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực nhằm xây dựng và chỉnh đốn Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, phù hợp với mong muốn, nguyện vọng chung của toàn Đảng, toàn dân, vì lợi ích và sự phát triển trường tồn của dân tộc Việt Nam./.