Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2021

MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ PHÒNG CHỐNG "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

             Chiến lược "diễn biến hoà bình" của và các thế lực thù địch tuy được che đậy bởi các thủ đoạn phi quân sự là chủ yếu, hết sức tinh vi, lắt léo xảo quyệt, nhưng bản chất của chiến lược "diễn biến hoà bình" vẫn là bản chất phản cách mạng, chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội rất phản động và cực kỳ nguy hiểm. Đặc trưng của chiến lược diễn biến hoà bình của đế quốc Mỹ là:

Sử dụng các biện pháp phi vũ trang để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc. Bằng phương thức hoà bình, từng bước gây ảnh hưởng có lợi tiến tới xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, dập tắt phong trào cách mạng, phong trào độc lập dân tộc. Đây là cuộc chiến tranh không đại bác, xe tăng, máy bay, tàu chiến, không mùi thuốc súng nhưng cực kỳ nguy hiểm.

Thông qua các công cụ mềm; sự tác động từ bên ngoài tạo sự chuyển hoá, diễn biến từ bên trong; không phá hoại của cải vật chất một cách rầm rộ bằng vũ lực.

 Chiến lược "diễn biến hoà bình" mang tính toàn cầu, không giới hạn về thời gian, không gian. Đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, với nhiều biện pháp thủ đoạn thâm độc xảo quyệt, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, trước hết tập trung chống phá vào Đảng cộng sản Việt Nam nhằm tạo sự chuyển hoá từ bên trong nội bộ Đảng, nhà nước về tư tưởng, quan điểm, đường lối, tổ chức nhân sự tiến tới xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trong tình hình mới, âm mưu phi chính trị hoá quân đội của kẻ thù tuy chưa thể làm cho quân đội ta "biến chất", mất phương hướng và mục tiêu chính trị, tuy chưa thể xoá bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với quân đội ta, nhưng sự tồn tại của nó là hết sức nguy hiểm. Bởi âm mưu phi chính trị hoá quân đội của các thế lực thù địch đang có được một số điều kiện để tồn tại. Đó chính là tình hình chính trị, quân sự phức tạp trên thế giới; đó chính là những tác động tiêu cực từ điều kiện kinh tế xã hội  của đất nước, nhất là mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị - tinh thần của quân đội ta, đến tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ chiến sỹ, cộng thêm đó là một số vấn đề xã hội hết sức phức tạp, nhạy cảm như cơ cấu giai cấp, vấn đề tôn giáo, vấn đề dân tộc, vấn đề nhân quyền, vấn đề biên giới lãnh thổ,v.v...

Do vậy để đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hoà bình" đặc biệt là âm mưu "phi chính trị hoá quân đội" của các thế lực thù địch, yêu cầu đặt ra đối với nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị trong tình hình hiện nay cần làm tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là: Công tác đảng, công tác chính trị phải thường xuyên coi trọng công tác giáo dục giác ngộ giai cấp cho cán bộ chiến sỹ. Bởi quân đội bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không có quân đội đứng trên, đứng ngoài giai cấp, quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp.

Hai là: Công tác đảng, công tác chính trị phải góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ quân đội đủ sức đấu tranh chống âm mưu phi chính trị hoá của kẻ thù. Đội ngũ cán bộ mạnh không chỉ có giác ngộ tốt mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh.

Ba là: Công tác đảng, công tác chính trị phải làm tốt cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng và văn hoá. Để làm thất bại âm mưu phi chính trị hoá quân đội của kẻ thù , đòi hỏi chúng ta phải củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quân đội.

Bốn là: Nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, đào tạo trang bị kiến thức cơ bản cho bộ đội nhất là lý luận Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ của quân đội trong tình hình mới, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và cương vị chức trách được giao. Đồng thời phải thường xuyên chăm lo xây dựng quân đội, xây dựng từng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống tốt, nhạy bén sắc sảo về chính trị, đủ sức làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng hiện nay.

                                                                                                      CTD

VÌ SAO PHẢI PHÒ ÁNH DIỆT HUỆ ?

Gần đây thấy khá nhiều diễn đàn cho đăng tải các bài viết nhằm mục đích rửa tội cho Nguyễn Ánh đồng thời làm vấy bẩn hình ảnh của người anh hùng áo vải Tây Sơn - Nguyễn Huệ. Vậy mục đích cuối cùng của hành vi này là gì ?


Theo quan điểm và nhìn nhận của bản thân mình thì đám phò Ánh này chính là lũ chuyên xuyên tạc lịch sử và cái trò chạy tội cho Nguyễn Ánh nó chỉ là phụ. Mục đích cao nhất của trò “lật sử” này là tạo tiền lệ công nhận và đạo đức hóa hành vi rước ngoại xâm vào lãnh thổ. Cuối cùng là tấn công và phủ nhận cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của đất nước ta vào thế kỷ XX. Mục tiêu chỉ có nhiêu đó, rửa mặt cho Mỹ và hủy hoại lịch sử của đất nước.


Công lao mở mang đất nước rất lớn, nhưng Đàng Trong là một khu vực tự trị dưới một triều đình thống nhất là nhà Lê giai đoạn Lê Trung Hưng. Chúa Nguyễn là chính quyền tự trị của nhà Lê, công khai phá mở rộng bờ cõi thuộc về các chúa Nguyễn Kiên, Nguyễn Hoàng và đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoái thì không còn mở rộng được lãnh thổ về phía trong nữa.  Còn lịch sử của Nhà Nguyễn bắt đầu từ khi Gia Long Nguyễn Phúc Ánh lập ra nhà Nguyễn. Đó là hai giai đoạn lịch sử khác nhau, khi nhà Nguyễn đánh bại Tây Sơn, các vùng lãnh thổ của Việt Nam ngày nay đã hình thành cơ bản, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa.


Những việc tốt của Ánh không thể không kể đến như mở rộng bờ cõi cho Ai Lao và Nam Tàu mà nói một cách trắng phớ ra là chính Nguyễn Ánh đã đồng ý cắt đất cho Ai Lao ở phía Tây và cắt đất ở phía Bắc cho nhà Thanh để “cõng rắn về cắn gà nhà” & “rước voi về giày mả tổ”.  Cả Xiêm và bọn truyền đạo phương Tây (công cụ hỗ trợ) cho bọn Thực dân kiểu cũ vào xâm lược Việt Nam cũng là một tay Ánh rước vào. Có một số nhà sử học và thành phần “lật sử” lại chỉ ra rằng việc xây cố đô Huế, giờ đây nó là di sản là công lao của Nguyễn Ánh và nhà Nguyễn mà quên rằng về cơ bản nó là di sản của nhân dân chứ Nhà Nguyễn cũng chỉ dùng sức vóc của cải của nhân dân đế dựng nhà mà ở cho sướng chứ nghĩ gì đến hậu thế mà bảo phải biết ơn.


Nguyễn Ánh trước hết là kẻ đấu tranh vì ngôi vị để đòi đặc quyền cho gia tộc. So với Tây Sơn là một phong trào nông dân, khởi nguồn là vì nông dân để nông dân không còn phải chịu đặc quyền hà khắc của tầng lớp phong kiến nữa. Đặc điểm giai cấp này khiến các biểu hiện của phong trào Tây Sơn dù tồn tại ngắn nhưng rất nhiều điểm sáng như chống ngoại xâm, tích cực rèn luyện võ nghệ khiến sức vóc dân tộc được tăng lên và rất nhiều cải cách tiên tiến. Còn Nguyễn Ánh, bản chất của hắn là chống lại nó để đòi lại đặc quyền cho giai cấp và gia tộc mình. Mục tiêu tối cao này khiến hắn bỏ qua nguyện vọng hòa bình của nhân dân, bỏ qua quyền lợi dân tộc đê chấp nhận các giải pháp rất tởm như cầu cứu ngoại bang về gây chiến - thứ tội lỗi không thể nào chối bỏ được ở mọi thời kỳ.


Nói chung, loại như Ánh chỉ sánh vai với Ích Tắc, Chiêu Thống mà thôi cho dù Ánh đã chiến thắng, Ánh cùng phần lớn con cháu đã để lại hậu quả nặng nề cho sự phát triển của đất nước, ôm chân ngoại xâm để bảo vệ đặc quyền dân tộc mà bỏ qua lợi ích dân tộc cho tới ngày cuối cùng khi Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ (Bảo Đại) buộc phải trao lại chính quyền cho Cách Mạng mới thôi.


Vì thế bản chất và mục đích của bọn “lật sử” bắt đầu từ thời Gia Long - Nguyễn Ánh đã rõ. Mong rằng những bạn trẻ có kiến thức sâu và rộng về lịch sử sẽ không bỏ qua bất cứ bài viết nào của đám lật sử rửa tội cho Nguyễn Ánh nào để đập tan âm mưu phủ định cuộc chiến chống ngoại xâm đầy hào hùng của cha ông ta thế kỷ 20./.

Yêu nước ST.


Tăng cường đẩy lùi “tự suy thoái” trong đội ngũ đảng viên

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII thành công đẹp, đó là thành quả của sự đoàn kết, nhất trí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, thành quả đó thu được những thành tựu rất quan trọng, toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tạo dựng nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước chưa bao giờ có như ngày nay. Niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân và đảng viên vào sự lãnh đạo của Đảng luôn giữ vững .Tuy nhiên, hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước vẫn còn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, gây bức xúc trong nhân dân. Nguyên nhân của tình trạng trên trước hết là do những cán bộ, đảng viên này không gương mẫu, dẫn đến “tự suy thoái”. Để tăng cường trách nhiệm nêu gương, đẩy lùi nguy cơ “tự suy thoái” của cán bộ, đảng viên hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau: Một là, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác, tự nguyện nêu gương mọi lúc, mọi nơi, coi nêu gương là một biện pháp cơ bản để củng cố lòng tin của nhân dân và đẩy lùi những hạn chế, khuyết điểm của bản thân; trước hết, phải nêu gương về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đó là phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, việc gì có lợi cho nhân dân thì phải ra sức làm, việc gì có hại cho nhân dân phải hết sức tránh. Thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, gần gũi quần chúng, “ít lòng ham muốn về vật chất” .Nêu gương trong mối quan hệ với mình, với người, với việc; tiến hành thường xuyên, liên tục; thực chất chứ không hình thức. Phải thể hiện hành động thuộc về bản chất của mỗi cán bộ, đảng viên chứ không phải là việc làm nhất thời. Đồng thời, phải động viên, nhắc nhở người thân của mình thực hiện, như vậy mới không sợ “há miệng mắc quai” và nhân dân mới tin tưởng. Hai là, kiên quyết, kiên trì thực hiện nghiêm túc các quy định về nêu gương như Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, ngày 25/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy định số 08-QĐ/TW, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Ba là, thường xuyên thực hiện tốt tự phê bình và phê bình; tuyên truyền nhân rộng gương “người tốt, việc tốt”, kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ, đảng viên thực hiện tốt các quy định về nêu gương. Đồng thời, phát hiện, xử lý nghiêm những người thiếu gương mẫu, vi phạm các quy định, kỷ luật của Đảng, của tổ chức, đoàn thể, kiên quyết không có vùng cấm để răn đe, cảnh tỉnh những cán bộ, đảng viên khác. Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tiến hành có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát sẽ phát huy được ưu điểm, phát hiện và ngăn ngừa hạn chế, khuyết điểm, không để cho hạn chế, khuyết điểm kéo dài, gây hại cho tổ chức, cá nhân, bảo đảm cho bộ máy luôn trong sạch. Nội dung phải toàn diện, song cần có kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là sự gương mẫu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thái độ, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, v.v. Phát phát huy vai trò của cấp ủy, chi bộ, ủy ban kiểm tra các cấp, của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò giám sát của các đoàn thể chính trị - xã hội, Mặt trận Tổ quốc các cấp và Nhân dân đối với việc nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đẩy lùi “tự suy thoái” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn mẫu mực, tiêu biểu không chỉ trong công tác mà còn cả trong sinh hoạt đời thường. Thực hành nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên là cam kết chính trị với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, góp phần xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức./. TMT

Đấu tranh với thông tin xấu độc trước bầu cử Quốc hội khóa XV

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp dự kiến tổ chức vào tháng 5 năm 2021. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước năm 2021. Nhằm sáng suốt lựa chọn những cán bộ, đảng viên có đủ đức, đủ tài lãnh đạo đất nước đang trên đà hội nhập và phát triển. Tuy vậy, các thế lực thù địch đã lợi dụng việc chuẩn bị nhân sự cho bầu cử để đẩy mạnh chống phá bằng nhiều thủ đoạn, hình thức tinh vi, xảo quyệt; trong đó, chúng đặc biệt chú trọng sử dụng các phương tiện thông tin truyền thông, mạng xã hội để kích động, bôi nhọ, hạ thấp uy tín cán bộ lãnh đạo, nhằm gây chia rẽ nội bộ, nghi kỵ lẫn nhau trong cán bộ, đảng viên và nhân dân . Vì thế, để góp phần đấu tranh hiệu quả với các thủ đoạn, hành động xấu xa đó trước thềm bầu cử Quốc hội của Đất nước, cần thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau: Một là, tập trung chuẩn bị nhân sự bầu cử chu đáo, toàn diện. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bảo đảm cho thành công của bầu cử và góp phần củng cố uy tín của Đảng, chính phủ không tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để công tác chuẩn bị nhân sự bị tác động, chi phối bởi những thông tin giả, thông tin không chính thức, xấu độc, có dụng ý xấu, bịa đặt, xuyên tạc trên internet, mạng xã hội. Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước thông tin xấu, độc, vu khống, bịa đặt. để mọi người sẽ có khả năng tự đề kháng, tự phòng vệ, không tiếp tay, làm lan truyền; thậm chí biết phát hiện và chủ động đấu tranh với những thông tin xấu độc, không có lợi. Tuyên truyền quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kịp thời thông tin định hướng dư luận, nhất là trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, những vấn đề xã hội quan tâm, đáp ứng nhu cầu của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tránh để thông tin giả, thông tin không chính thống lan truyền trên mạng xã hội. Chủ động đấu tranh “phản thông tin”, đa dạng hình thức đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng nhiều diễn đàn trên mạng để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền các quan điểm chính thống, định hướng dư luận, đấu tranh phản bác trực diện với các trang mạng “độc hại”, phản động, không để họ xuyên tạc bản chất vụ việc và làm cho dư luận xã hội trượt theo hướng tiêu cực. Ba là, thường xuyên giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý “vừa hồng, vừa chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường quan điểm đúng đắn. làm cho cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tự giác học tập, trau dồi đạo đức cánh mạng, để mỗi người không chỉ có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu, mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực sự đi đầu, gương mẫu trong mọi hành động.Cần thực hiện công khai kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ theo tinh thần Nghị định số 90/2020/NĐ-CP, ngày 13/8/2020 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức. Cấp có thẩm quyền đánh giá, xếp loại, đồng thời thông báo rõ kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng và quyết định hình thức công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi họ công tác. Bốn là, tăng cường các biện pháp kỹ thuật để quản lý, sử dụng, ngăn chặn các trang mạng “độc hại” và việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” đó. Trên cơ sở luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế, các cơ quan chức năng cần chủ động phối hợp với đơn vị cung cấp dịch vụ (cả ở trong và ngoài nước) sử dụng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ để quản lý, kiểm soát các trang mạng xã hội, chủ động phát hiện, ngăn chặn, bóc gỡ, vô hiệu hóa tin giả, xấu độc. Mặt khác, cần quản lý, ngăn chặn kịp thời những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước đưa ra thông tin xuyên tạc, sai sự thật, ảnh hưởng đến cán bộ lãnh đạo các cấp của Đảng và ổn định chính trị xã hội. Càng gần thời điểm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, các đối tượng cơ hội chính trị, thù địch càng gia tăng công kích, chống phá các vấn đề liên quan đến bầu cử. Do đó, hơn lúc nào hết, chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, kiên quyết đấu tranh làm thất bại thủ đoạn xuyên tạc, kích động gây nhiễu loạn thông tin, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần vào thành công của bầu cử .

MỖI NGÀY MỘT CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ!

 May mắn được là cận vệ của Bác Hồ nhiều năm, sau khi Bác mất, ông lại chuyển sang làm ở Bảo tàng về Bác. Những tình cảm và tư tưởng của Người luôn làm ông xúc động mỗi khi nhớ lại.

Ông đã được đích thân Tổng thống V.Putin mời sang thăm nước Nga sau khi V.Putin được nghe ông kể về Bác Hồ. Ông là TS. Trần Viết Hoàn, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh.


Mơ ước được ở bên Bác Hồ

Chúng tôi tìm đến ngôi nhà đơn sơ của ông trong khu tập thể nằm trên phố Vạn Bảo, Hà Nội. Không muốn viết về bản thân, nhưng ông sẵn sàng kể những câu chuyện về Bác Hồ. Sau câu chuyện ông kể, chúng tôi dần hiểu rằng vì sao ông đã nguyện dành cả cuộc đời để được phục vụ Bác.

Năm 1963, mới 20 tuổi, đang học trường ngoại ngữ khoa tiếng Nga, ông vinh dự được gặp Bác Hồ. Lần ấy có Chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ sang thăm nước ta, Bác Hồ cùng nhân dân ra tận sân bay đón. Trường ông cũng có 2 khoa được chọn đứng xếp hàng đón đoàn lãnh đạo ở cổng Phủ Chủ tịch. Lần đầu tiên chàng sinh viên 20 tuổi vinh dự được nhìn thấy Bác Hồ, những cảm xúc ngày ấy đến tận bây giờ ông vẫn nhớ.

Thế rồi chẳng biết duyên số hay may mắn, năm 1964, ông được tuyển chọn làm cảnh vệ. Sau khóa học cảnh vệ một năm ở trường C500, nay là học viện An ninh, lớp ông được phân về cục Cảnh vệ, làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ, bảo vệ Đảng. Nhưng điều khiến ông rất vui và bất ngờ khi được phân về Đội 1, trực tiếp bảo vệ Bác Hồ và ở ngay tổ bảo vệ Nhà sàn. Với ông đó là một điều may mắn, vinh dự lớn lao khi hàng ngày được ở bên vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Ông vô cùng hạnh phúc khi hàng ngày được nhìn thấy Bác. Người thường xuống bếp hỏi han, quan tâm đến mọi người. Chính từ cách sinh hoạt và làm việc đến những câu chuyện Bác kể đã giúp ông rút ra được nhiều bài học quý báu.

Từ những việc rất nhỏ của Bác cũng khiến ông rất thấm thía. Mỗi khi Bác đi công tác nước ngoài vẫn thường có chút quà cho mọi người. Đôi khi chỉ là cái kẹo, quả táo... những vật tuy nhỏ nhưng cho thấy một tình cảm bao la của Người. Vào những ngày Tết âm lịch, Bác Hồ thường dùng tiền tiết kiệm hay nhuận bút của Bác mời anh em bảo vệ, những người trực tiếp bảo vệ, phục vụ mình. Bác không bao giờ lấy tiền của công đem chi việc riêng.

Điều đặc biệt nữa là vào dịp sinh nhật của mình, Bác không bao giờ ở nhà mà thường đi công tác để mọi người đỡ đến chúc mừng. Vì Bác biết, nếu các cơ quan đoàn thể mà đến chúc mừng thì sẽ tốn kém tiền của của nhân dân. Hơn nữa, như thế còn mất thời gian của cả mọi người. Mà Bác thì rất quý thời gian.

Từ 1965, Bác bắt đầu đi nơi khác vào dịp sinh nhật để viết Di chúc. Vào dịp này, Bác thường cho bắt cá ở ao để biếu đồng bào, cán bộ và anh em trong cơ quan cải thiện. Ông rất nhớ sinh nhật năm 1969 của Bác. Do sức khỏe kém nên năm đó Bác không đi xa được. Hôm đó anh em bắt được con cá trắm rất to, đang loay hoay không biết cân thế nào vì cá to quá, đặt lên lại chạm đất. Thấy vậy, Bác bảo một đồng chí bế con cá lên cân cả người cả cá rồi trừ số cân người đó, cuối cùng ra con cá nặng 24kg. Bác nói một câu rất chí lý: "Bắt nó lên để đề phòng cá lớn nuốt cá bé". Câu nói này về sau ông Hoàn vẫn thường kể cho những khách tham quan, nhất là các nhà lãnh đạo, các nguyên thủ quốc gia.

Một câu chuyện nữa ông luôn kể cho mọi người và coi đó là một đức tính rất đáng học tập. Đó là mỗi khi đi công tác, Bác thường mang cơm nắm theo. Bác không muốn địa phương nơi mình công tác lại tốn kém tiền tiếp đãi. Bởi đã có lần khi Bác về thăm một địa phương, nơi đó mời Bác dùng cơm. Sau đó họ làm quyết toán số tiền khá lớn. Biết chuyện Bác rất buồn nên sau lần đó, đi công tác đâu Bác cũng mang cơm nắm theo.

Tết năm 1969, Bác về thăm Vật Lại - Ba Vì và trồng cây ở đó. Khi ấy Bí thư và Chủ tịch xã có mời Bác ăn cơm. Bác nhận lời, cảm ơn và sau đó Bác mời lại các cán bộ dùng cơm nắm với mình. Đó là cái Tết cuối cùng của Bác đối với địa phương.

Thường trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc chuẩn bị Tết cho các cán bộ. Riêng Bác đã có kế hoạch của mình. Các chương trình đi thăm địa phương của Bác không báo trước ai, chỉ Thư ký và người cận vệ biết. Bởi như thế mới hiểu được cái thật của dân.


Nguyện cả đời theo Bác

Những câu chuyện về Bác, ông Hoàn kể mãi không hết. Cả cuộc đời ông nguyện phục vụ, chăm lo cho Bác. Chính vì thế mà sau khi Bác mất, Đảng và Nhà nước ta quyết định xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ông Hoàn lại tình nguyện gác cây súng, không làm cảnh vệ mà chuyển sang cầm chổi, cầm bút để làm ở Bảo tàng. Ông là một trong số những người đầu tiên làm việc ở Bảo tàng Bác Hồ. Sau đó ông được đi học lớp lịch sử và bảo tàng. Đến năm 1986, đi học trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, ra trường năm 1988, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh và đến năm 2004 thì về hưu.


Chính ông là người lập bàn thờ Bác Hồ trước khi về hưu. Bởi với ông, đó như là một nghĩa cử để mọi người khi tham quan có dịp thể hiện lòng tôn kính, biết ơn của mình đối với Bác. Làm ở Bảo tàng, ông lại có vinh dự được tiếp rất nhiều nguyên thủ quốc gia và các cán bộ cao cấp trên. Những câu chuyện về Bác Hồ, được ông kể trong sự tôn kính, trân trọng, tự hào đã khiến các vị khách xúc động. Đó là những bài học vô cùng thấm thía, ông luôn cố gắng làm sao để họ hiểu được hết con người giản dị, đại chân, chí nhân, chí mỹ của Bác.


Và trong một lần kể chuyện về Bác cho Tổng thống V. Putin nghe khi ông sang thăm Việt Nam (2001), lúc chuẩn bị ra về, bất ngờ ông Putin hỏi: "Ông có được gặp Bác Hồ không?". Ông Hoàn trả lời: "Tôi chính là cận vệ của Bác". Thế rồi ông Putin có lời mời ông sang thăm nước Nga, đi cùng máy bay với ông luôn. Trước lời mời hết sức bất ngờ, hơn nữa đây là việc lớn, cần phải xin ý kiến lãnh đạo nên ông đã xin khất dịp khác. Và ông Putin giao ngay cho một vị ở đại sứ quán chịu trách nhiệm thu xếp thủ tục. Khoảng một năm sau ông và vợ được sang thăm nước Nga một tuần. Đó là điều mà ông Hoàn thấy rất vinh dự và tự hào.

Luôn giữ mình trong sáng

"Bên Bác lòng ta trong sáng hơn", đó là điều mà ông Hoàn luôn luôn tự hào vì may mắn được sống gần Bác. Ông luôn khuyên con cháu phải sống tốt để giữ cái diễm phúc này, không chỉ của riêng ông mà còn của cả nhà, cả dòng họ. Phải luôn giữ mình trong sáng vì ông nhớ lời Bác: "Mọi tội lỗi, bất công của con người đều bắt nguồn từ danh và lợi". Vì vậy ông luôn sống giản dị. Dù về hưu nhưng ông vẫn tích cực tham gia công tác xã hội, các đoàn thể trong khu dân cư.

Yêu nước ST.

Chức năng của tôn giáo, tín ngưỡng

 


- Chức năng thế giới quan

Phản ánh hư ảo, hoang đường, "lộn ngược" về thế giới khách quan

- Chức năng đền bù hư ảo

"Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Tôn giáo là thứ rượu tinh thần làm cho những người nô lệ của tư bản mất phẩm cách con người và quyên mất hết những điều họ đòi hỏi để được sống một cuộc đời đôi chút xứng đáng với con người"[1]

". Bù đắp những bất lực của con người, xoa dụi bớt những nỗi đau, ru ngủ, mê hoặc con người trước tự nhiên, xã hội đương thời.

- Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức của con người.

- Chức năng liên kết xã hội

- Chuyển tải, bảo lưu bản sắc văn hóa

- Tác động đến đời sống xã hội

 + Tác động tích cực nhất định đến đời sống: về văn hóa, đạo đức...

Các nguyên tắc của tôn giáo có thể vẫn có những giá trị nhất định trong xã hội chủ nghĩa, như nguyên tắc yêu thương, nhân đạo, nhân ái của đạo Phật hay đạo Kitô.

Mác, Ăng ghen cho rằng, "nhà nước xã hội chủ nghĩa làm cho người có đạo hiểu rằng, niềm tin tôn giáo chân chính không đối lập với chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa, và chủ nghĩa xã hội đang hiện thực hoá lý tưởng của chủ nghĩa nhân đạo trong cuộc sống của mỗi người dân" 

+ Tác động tiêu cực: mê tín dị đoan, hoài nghi, cực đoan, thiếu chủ động, thiếu tích cực trong đời sống, không tin tưởng ở bản thân và xã hội...



[1] V.I. Lênin, tt, t.12. CNXH và tôn giaó, Sđd, tr.170

Tính chất tôn giáo, tín ngưỡng- đứng trên lập trường duy vật biện chứng

 


- Tính lịch sử

+ Tôn giáo ra đời cùng với sự phát triển sản xuất và tư duy trùi tượng

Trong suốt giai đoạn đầu của thời kỳ công xã nguyên thuỷ, tôn giáo vẫn chưa tồn tại, mà chỉ đến cuối thời kỳ này, và sang thời kỳ cổ đại thì những tôn giáo đầu tiên mới bắt đầu hình thành. Đó là do chỉ đến thời kỳ này con người mới có đủ những tri thức để xây dựng, hoàn thiện hệ thống kinh sách và tín điều, mà quan trọng nhất là việc xuât hiện chữ viết để ghi chép kinh sách.

+ Chịu tác động của những biến đổi lịch sử 

Khi xem xét những tôn giáo xuất hiện trong thời kỳ đầu lịch sử, ta nhận thấy chúng mang nhiều đặc điểm xuất phát từ những tín ngưỡng rất sơ khai. Tôn giáo của người Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp - La Mã hay Giéc-manh..., đều là những tôn giáo đa thần (polytheism) mang màu sắc tín ngưỡng "vạn vật hữu linh"; các thần thánh đều đại diện cho những lực lượng thiên nhiên, và "những lực lượng thiên nhiên ấy đã được nhân cách hoá một cách hết sức nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp". Là đại diện cho những lực lượng tự nhiên chi phối đời sống con người, thần thánh của các tôn giáo chi phối đời sống con người. Và bắt nguồn từ đó, những lực lượng chỉ mang tính tự nhiên đã dần mang tính xã hội. Và bắt nguồn từ đó, tôn giáo mang tính giai cấp- khi xuất hiện giai cấp và nhà nước trong xã hội chiếm hữu nộ lệ.

+ Tôn giáo sẽ mất đi trong những điều kiện nhất định

Trong bước nhảy vọt từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn không bị triệt tiêu ngay lập tức, mà chỉ "dần mất đi ảnh hưởng của nó đối với ý thức xã hội", và "chỉ trong xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển thì tôn giáo mới có thể hoàn toàn biến mất và hoàn toàn bị xoá bỏ khỏi đời sống con người".

- Tính xã hội, quần chúng của tôn giáo:

Trong Góp phần phê phán Triết học pháp quyền của Hêghen, Mác viết: "Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân".

 Ăng ghen: "Cơ đốc giáo cũng như mọi phong trào cách mạng lớn đều do quần chúng tạo nên"[1]; "Cơ đốc giáo cũng như CNXH hiện đại, nắm lấy quần chúng qua hình thức những giáo phái này khác, qua các hình thức các quan điểm cá nhân mâu thuẫn nhau"[2].

Tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư ảo của con người, những tôn giáo cũng phản ánh khát vọng của những con người bị áp bức về một xã hội về tự do, bình đẳng. Mặt khác, giáo lý của các tôn giáo đều chứa đựng những giá trị chân, thiện, mỹ. Do đó, vẫn thu hút được số đông quần chúng tham gia.

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Sinh hoạt tôn giáo là hoạt động văn hóa, tinh thần của con người – hoạt động xã hội.

- Tính giai cấp của tôn giáo

Trong xã hội có giai cấp, tôn giáo luôn phản ánh ý chí, nguyện vọng của những giai cấp nhất định

Những lực lượng thuộc tầng lớp trên của xã hội, có địa vị, có tiền của và có tri thức hơn, đã biết lợi dụng tôn giáo để bảo vệ và củng cố quyền lợi của mình. Đồng thời tôn giáo nhờ đó được phát triển, mở rộng. Đây là cơ sở hình thành liên minh thần quyền- thế quyền

Một sự kiện quan trọng có thể lấy làm minh chứng cho sự tác động của tầng lớp quý tộc tới tôn giáo, đó chính là sự kiện "Công đồng Nicaea": Hoàng đế La mã là Constantine đã triệu tập hội nghị tất cả các giám mục Kitô giáo tại Nicaea (Thổ Nhĩ Kỳ) năm 325 để biên soạn bộ Kinh Thánh Tân Ước với mục đích chính là để thống nhất các chi nhánh của Kitô giáo, đưa tôn giáo này trở thành công cụ để mê hoặc nhân dân, củng cố quyền lực của bản thân hoàng đế.



[1] Mác, Ăng ghen, t.21, H.1995, tr.438

[2] Mác, Ăng ghen, t.21, H.1995, tr.19

 

Bản chất của tín ngưỡng, tôn giáo- đứng trên lập trường duy vật biện chứng

 


Tôn giáo là sản phẩm của con người gắn với những điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định. Do đó xết về bản chất, tôn giáo phản ánh sự bế tắc, bất lực của con người trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội.

- Tôn giáo, tín ngưỡng là sản phẩm của con người, con người đã sáng tạo ra tôn giáo, tín ngưỡng

- Tín ngưỡng, tôn giáo phản ánh xuyên tạc, hư ảo hiện thực khách quan thành lực lượng siêu tự nhiên, là "thế giới quan lộn ngược"

Ăng ghen: "Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ảnh hư ảo - vào đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống của họ; là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức lực lượng siêu trần thế"[1]

- Sự bất lực, bế tắc của con người và biểu hiện sự khốn cùng hiện thực và sự phản kháng tiêu cực của tầng lớp nhân dân bị áp bức

Mác, Ăng ghen: "Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[2].

- Tôn giáo làm cho con người trở nên thụ động, cam chịu và tha hóa

Mác, Ăng ghen: "tính có thượng đế" trong lịch sử càng lớn bao nhiêu, thì tính phi con người, tính súc vật càng lớn bấy nhiêu. Thời trung cổ "có Thượng đế" cũng đã dẫn đến chỗ làm cho con người trở thành hoàn toàn như dã thú, dẫn đến chế độ nông nô"[3].

V. I. Lênin: "thứ rượu tinh thần làm cho những người nô lệ của tư bản mất phẩm cách của con người và quyên hết những điều họ đòi hỏi để được sống cuộc đời đôi chút xứng đáng với con người".

- Tôn giáo cũng chứa những giá trị đạo đức, văn hóa nhất định phù hợp với sự phát triển của CNXH- xã hội văn minh, tiến bộ.



[1] Mác, Ăng ghen, t.20, H.1995, tr.437

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb CTQG, H.2004, tr. 570

[3] Mác, Ăng ghen, t.1, H.1995, tr.819

Nguồn gốc tôn giáo, tín ngưỡng- Đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật - lịch sử,

 


 Nguồn gốc tự nhiên: V. I. Lênin "sự bất lực của người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu"[1]

 Nguồn gốc kinh tế- xã hội: V.I. Lênin "Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng y như sự bất lực của người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đã đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, những phép màu"[2]

 Nguồn gốc nhận thức: V. I. Lênin "nhận thức của con người không phải là (không đi theo) một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần vô hạn, đến một loạt những vòng tròn đến một vòng xoáy ốc. Bất cứ đoạn nào, mảnh nào, đoạn nào của đường cong ấy cũng có thể chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện) thành một đường thắng độc lập, đầy đủ, đường thẳng này (nếu chỉ thấy cây, không thấy rừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thầy tu (ở đây nó sẽ bị lợi ích giai cấp của giai cấp thống trị  củng cố lại). Tính đường thẳng và tính phiến diện, sự chết cứng và cứng nhắc, chñ nghĩa chủ quan và sự mù quáng chủ quan đó là những nguồn gốc về nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm"[3]

 Nguồn gốc tâm lý: V.I.Lênin "sự sợ hãi đã tạo ra thần linh"[4]




[1] V.I. Lêni, tt, t.12, Nxb TB, M.1979, tr. 169- 170

[2] V.I. Lêni, tt, t.12, Nxb TB, M.1979, tr. 169- 170

[3] V.I. Lêni, tt, t.29, Nxb TB, M.1981, tr.385- 386

[4] V.I. Lêni, tt, t.17, Nxb TB, M.1981, tr.515

 

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


    Ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia đa dân tộc (tộc người)1. Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc dù quá trình tộc người khác nhau nhưng luôn luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với truyền thống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Cái “giàn” mà ông cha ta đã tổng kết chính là Tổ quốc Việt Nam của tất cả chúng ta. Xuất phát từ đặc điểm đó, ông cha ta đã thực thi nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trước yêu cầu phát triển quốc gia, đặc biệt là trong thời cổ trung đại và di sản về vấn đề dân tộc trong lịch sử đã để lại nhiều bài học quý giá cho hôm nay khi giải quyết vấn đề dân tộc2. Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc. Có thể khẳng định chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc của Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước.

Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai.

Từ Đại hội IV đến Đại hội X của Đảng, chính sách dân tộc đã được Đảng ta đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể. Các nội dung cơ bản trên đây đã được thể chế hóa và triển khai thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

1. Vị trí của vấn đề dân tộc trong sự nghiệp cách mạng

Đây là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong việc xác định nguyên tắc cũng như chính sách của Đảng ta về vấn đề dân tộc. Đại hội Đảng lần thứ IV xác định: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới đều xác định vị trí của vấn đề dân tộc trên hành trình đổi mới của đất nước. Đó là vấn đề “có vị trí chiến lược lớn’’3, “luôn luôn có vị trí chiến lược’’4, “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta’’5.

Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX đã ra nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng ta về vấn đề này trong kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết chỉ rõ: Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xem vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển’’. Trải qua các thời kỳ cách mạng, công tác dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước. Trên cơ sở đánh giá toàn diện vấn đề dân tộc và xuất phát từ yêu cầu của tình hình mới, Nghị quyết khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên, vấn đề dân tộc được xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài có tính xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình phát triển của cách mạng nước ta, đồng thời Đảng ta còn xác định đây là vấn đề cấp bách. Đây là luận điểm rất quan trọng thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới trong bối cảnh quốc gia và quốc tế của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.

Việc xác định vị trí của vấn đề dân tộc của Đảng trên chính là xuất phát từ đặc điểm của cộng đồng quốc gia dân tộc ở nước ta và coi đó là bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển đất nước. Đây là cơ sở rất quan trọng để từ đó định ra các nguyên tắc cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Lênin đã từng chỉ rõ: “những sai biệt về mặt dân tộc và quốc gia giữa các dân tộc và các nước, những sai biệt này sẽ còn tồn tại lâu dài ngay cả sau khi nền chuyên chính vô sản được thiết lập trong phạm vi toàn thế giới’’6. Điều đó cho thấy chừng nào còn có sự khác biệt về dân tộc thì dân tộc vẫn tồn tại và vẫn còn cơ sở xã hội và thực tiễn cũng như nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn dân tộc và xung đột dân tộc, do đó, vấn đề dân tộc vẫn tiếp tục đặt ra.

Đối với nước ta, vấn đề dân tộc thiểu số vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề miền núi, vừa là vấn đề biên cương, vấn đề an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, đồng thời đây cũng là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, mà Đảng ta đã đề ra. Bài học của nhiều quốc gia trên thế giới những năm cuối thế kỷ XX cho thấy nếu coi nhẹ vấn đề dân tộc và không xác định đúng vị trí vấn đề dân tộc trong chiến lược phát triển quốc gia thì tất yếu dẫn đến xung đột dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến sự tồn vong quốc gia7.

Sự tồn tại lâu dài của vấn đề dân tộc nhất là trong điều kiện quốc gia đa tộc người, đa dạng về văn hóa là đặc điểm lớn ở nước ta, làđặc trưng diện mạo lịch sử, văn hóa Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận và khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam (Điều 5).

Khi xác định vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta đã quán triệt sâu sắc các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta. Điều này tiếp tục được khẳng định trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách của Nhà nước trong những năm đổi mới, đặt nền tảng quan trọng để Đảng và Nhà nước ta xây dựng đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn, giải quyết thành công vấn đề dân tộc.

10 CHIẾN DỊCH THẦN KỲ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

 

1. Trận chiến trên sông Bạch Đằng (938)

Trước khi tử trận trên sông Bạch Đằng năm 938, Lưu Hoằng Tháo không thể tưởng tượng việc quân dân người Việt do Ngô Quyền lãnh đạo sẽ tận dụng quy luật thủy triều để biến những bãi cọc ngầm cắm dưới lòng sông thành thứ vũ khí hủy diệt có sức mạnh kinh hồn. Thảm bại trong trận Bạch Đằng, quân Nam Hán đã phải bỏ mộng xâm chiếm nước Việt.

2. Chiến thắng quân xâm lược nhà Tống (1075)

Năm 1075, trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, vua quan nhà Lý đã đưa ra chủ trương "Tiên phát chế nhân", đem quân sang đất địch đánh trước để chặn thế mạnh của chúng. Lý Thường Kiệt đã chỉ huy 40.000 quân đánh các châu Khâm, Liêm trên đất Tống, hạ hàng loạt thành lũy, hủy hoại nặng nề sinh lực của quân Tống, khiến kế hoạch xâm lược của chúng bị trì hoãn, tạo điều kiện cho quân ta củng cố lực lượng và giành thắng lợi trong cuộc quyết chiến sau này.

3. Đại thắng quân Nguyên Mông (1288)

Trên sông Bạch Đằng năm 1288, chiến thuật chôn cọc gỗ kinh điển mà Ngô Quyền sử dụng 350 năm trước lại được Trần Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn tái hiện. Trong trận thủy chiến được đánh giá là lớn nhất lịch sử dân tộc này, quân Đại Việt đã đánh bại hoàn toàn quân xâm lược Nguyên Mông - đội quân thiện chiến nhất thế giới thời đó.

4. Trận chiến tiêu diệt chiến hạm của Công ty Đông Ấn Hà Lan (1643)

Mùa hè 1643, Công ty Đông Ấn Hà Lan - thế lực hải quân hùng mạnh bậc nhất thế giới lúc đó - phái 3 pháo hạm mạnh hội quân với họ Trịnh tại sông Gianh (Quảng Bình). Trong hải trình, hạm đội này đã bị gió thổi dạt vào gần cảng Eo ở Đàng Trong (Thừa Thiên - Huế). Dù có ý kiến can ngăn vì sợ người Hà Lan, chúa Nguyễn vẫn đưa 50 thuyền chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt chiến hạm lớn nhất của kẻ thù, khiến hai chiến hạm còn lại bỏ chạy. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử người Việt chiến thắng một hạm đội châu Âu, đồng thời cũng là một sự tổn thương nặng nề đối với thanh thế của Công ty Đông Ấn Hà Lan.

5. Cuộc Bắc tiến đại phá quân Thanh (1788)

Cuộc Bắc tiến đại phá quân Thanh do Hoàng đế Quang Trung tiến hành cuối năm 1788, đầu năm 1789 được coi là một cuộc hành quân thần tốc khó tin trong lịch sử dân tộc. Từ Phú Xuân (Huế), Hoàng đế Quang Trung chỉ mất 40 ngày (trong đó có 10 ngày dừng lại tại Nghệ An tuyển quân) đưa đại quân tiến về Thăng Long đánh đuổi quân Thanh. Do không thể tin quân Tây Sơn có thể tiến nhanh như vậy, quân xâm lược đã hoàn toàn mất cảnh giác và phải chịu sự thảm bại nặng nề.

6. Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại (1801)

Trong trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại diễn ra giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801, quân Nguyễn đã sử dụng lối đánh tập kích thọc sâu bất ngờ và đòn hỏa công tương tự trận Xích Bích diễn ra ở Trung Hoa 16 thế kỷ trước để hủy diệt hạm đội khổng lồ, tưởng như không thể nào bị đánh bại của quân Tây Sơn. Với thất bại này, thủy quân Tây Sơn hầu như đã sụp đổ hoàn toàn, nhường cho nhà Nguyễn nắm giữ quyền kiểm soát vùng biển.

7. Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)

Người Pháp từng tin rằng căn cứ Điện Biên Phủ là một pháo đài không thể công phá. Tuy vậy, bằng tài năng quân sự tuyệt vời của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biến niềm tin của họ trở thành sự tuyệt vọng với chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

8. Cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968)

Trước khi cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, ngay cả những người Mỹ có trí tượng tượng phong phú nhất cũng không thể hình dung nổi cảnh các chiến sĩ Giải phóng đánh trực diện vào các địa điểm trọng yếu tại Sài Gòn như Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, đài phát thanh, bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Chiến dịch quân sự này đã gây tiếng vang lớn, tạo bước đột phá buộc Mỹ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.

9. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (1972)

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972, lực lượng phòng không - không quân của miền Bắc Việt Nam đã làm được điều mà người Mỹ không thể tin nổi: Bắn hạ 34 “siêu pháo đài bay” B-52, đập tan hoàn toàn mưu đồ kéo dài chiến tranh của Mỹ và buộc họ phải quay trở lại bàn đàm phán tại Paris.

10. Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975)

Cuối tháng 9/1974, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp tại Hà Nội đã đưa ra bản dự thảo kế hoạch chiến lược Chiến dịch mùa xuân 1975, dự định hoàn thành việc thống nhất 2 miền Bắc - Nam trong 2 năm 1975-1976. Tuy vậy, với tinh thần “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Mùa Xuân 1975 đã được tiến hành khẩn trương và quyết đoán, đem lại chiến thắng cuối cùng cho dân tộc vào ngày 30/4/1975.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC HIỆN NAY

 


Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc, cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Ở cấp Trung ương, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cần có nghị quyết chuyên để về công tác dân tộc theo tỉnh thần Đại hội XII của Đảng; Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện đầy đủ các nội dung quy định tại Kết luận số 57-KL/TW ngày 3-11-2009 của Bộ _ Chính trị về công tác đân tộc, tôn giáo, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14-1-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc. Ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, các ngành cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác đân tộc; đề cao trách nhiệm và tăng cường trách nhiệm của từng cá nhân, tô chức trong thực thi chính sách dân tộc; đây mạnh công tác tuyên truyền chính sách đến đối tượng thụ hưởng để nhân dân tham gia trực tiếp vào quá trình triển khai thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn.

Khắc phục sự chồng chéo, bất cập trong hệ thống chính sách, pháp luật về dân tộc

Để khắc phục sựchồng chéo trong hệ thống chính sách, pháp luật về dân tộc, Chính phủ cần chỉ đạo Ủy ban Dân tộc làm đầu mối Tà soát lại hệ thống chính sách dân tộc đang được thực hiện trên địa bàn vùng dân tộc, miền núi. Việc rà soát này nhằm đánh giá quá trình tổ chức thực hiện và kết quả thực hiện chính sách để duy trì các chính sách còn hiệu lực, có hiệu quả và phát hiện ra những chính sách chồng chéo, bất cập theo lĩnh vực do các bộ, ngành quản lý từ đó có sự điều chỉnh, sửa đổi, bố sung chính sách mới cho phù hợp. Trong đó, cần ưu tiên theo các lĩnh vực: đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số và giảm nghèo bền vững ở các vùng dân tộc.

Ngoài hệ thống chính sách chung cho cả nước, khu vực dân tộc thiểu số có số dân ít, các khu vực trọng điểm về vấn đề dân tộc hay bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá chế độ cần được ưu tiên thực hiện một số cơ chế, chính sách đặc thù và luôn được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với mỗi một giai đoạn phát triển.

Ủy ban Dân tộc cần chủ động tham mưu cho Chính phủ để ban hành khung hệ thống chính sách đối với khu vực dân tộc thiểu số và miền núi cho từng giai đoạn, xây dựng khung chính sách phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội tổng thể của vùng và địa phương. Khung hệ thống chính sách sẽ là cơ sở để các bộ, ngành và địa phương xây đựng những chính sách cụ thê đầu tư phát triển theo ngành, lĩnh vực, khắc phục sự chồng chéo giữa các bộ, ngành, giúp cho Ủy ban Dân tộc thực hiện tốt hơn vai trò quản lý, giám sát việc xây dựng và tô chức thực hiện hệ thống chính sách ở vùng đân tộc thiểu số và miễn núi.

Với một số dân tộc thiểu số có dân số ít và một số vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, Ủy ban Dân tộc tham mưu cho Chính phủ ban hành có cơ chế, chính sách đặc thù để giảm nghèo: nhanh, góp phần bảo tồn, phát triển toàn diện các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Cùng với đó, cần sớm ban hành Luật hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miễn núi nhằm bỗ sung, hoàn thiện các quy định của các luật chuyên ngành có liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà _ nước về công tác dân tộc. Đồng thời, Luật này còn khắc phục những chồng chéo, dàn trải của chính sách, pháp luật chuyên ngành liên quan đến công tác dân tộc; tạo khung pháp lý thống nhất đảm bảo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đối với đồng bảo dân tộc thiểu số gắn với mục tiêu phát triển bền vững.

Phân bố các định mức chính sách phù hợp với từng vùng, từng dân tộc thiểu số

Thực tế cho thấy, đa số đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại các vùng còn kém phát triển; nhiều vùng chủ yếu nhận trợ cấp từ ngân sách Trung ương nên cân đối ngân sách rất khó khăn. Tại các vùng này, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn nhiều nên việc đóng góp theo xu hướng xã hội hóa khi xây dựng các công trình dân sinh là rất khó khăn. Vì vậy, cần có các định mức chính sách phù hợp, đủ để đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển văn, giáo dục, bảo vệ môi trường... Đồng thời, cần điều chỉnh chính sách bằng việc cấp đủ kinh phí từ Trung ương cho phù hợp với số đối tượng chính sách hoặc quy định một tỷ lệ phù hợp, tùy thuộc vào mỗi chính sách để tăng tính khả thi. Đối với những địa phương mang nhiều nét đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cần có quy định. cụ thể theo phương châm: quản lý các chương trình đầu tư chính là quản lý nguồn quỹ phát triển. Theo đó, nên có cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư tài chính theo các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn hay đài hạn.

Tiếp tục hoàn thiện tố chức bộ máy nhà nước quản lý về công tác dân tộc

Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước quản lý về công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương, gồm Ủy ban Dân tộc, Ban Dân tộc tỉnh, Phòng Dân tộc huyện theo hướng tính gọn, hiệu quả. Bồ sung trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ về quản lý nhà nước về công tác dân tộc vào chức năng, nhiệm vụ của 1 công chức Ủy ban cấp cơ sởở các địa bàn vùng dân tộc, miền núi (vì hiện nay ở cấp cơ sở chưa có biên chế cho công chức chuyên trách quản lý nhà nước về công tác dân tộc). Đối với các vùng dân tộc trọng điểm (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Tây duyên hải miền Trung), các tỉnh vùng dân tộc nghèo, đặc biệt khó khăn, các huyện nằm trong Chương trình 30a cần có cơ chế đặc thù để tăng số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý về công tác dân tộc (chú ý cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ tại chỗ); đây nhanh công tác đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý về công tác dân tộc tại các địa bàn này.

Đổi mới công tác đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Trong những năm tới, Học viện Dân tộc và một số trường đại học nên có chuyên ngành quản lý nhà nước về công tác dân tộc nhằm tiến tới chuẩn hóa yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác này. Các cơ sở đào tạo đại học/các học viện cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để mởmã ngành đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý nhà nước về công tác dân tộc nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu về công tác này.

Đặc biệt phải chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ quản lý nhà nước về công tác dân tộc là  người dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc bằng các biện pháp cụ thê:

Một là, Ủy ban Dân tộc và các địa phương tiến hành điều tra, phân loại cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc là người dân tộc thiêu số một cách công khai, dân chủ, sát với thực tế. Từ đó có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ đương nhiệm. Đối với đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách, cùng với kiến thức chuyên ngành cần tăng cường đảo tạo, bồi dưỡng kiến thức về dân tộc, miền núi, công tác dân tộc và chính sách dân tộc. Đối với đội ngũ cán bộ các cấpở địa phương, cần được cập nhật những chủ trương, chính sách mới, đào tạo về kỹ năng triển khai chính sách, chương trình, đề án cho hiệu quả nhất.

Đồng thời, hằng năm có kế hoạch tăng chỉ tiêu đào tạo cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc là người dân tộc thiểu số như: Học viện Dân tộc cần phối hợp với các trường phổ thông dân tộc nội trú hướng nghiệp cho những học sinh người dân tộc thiểu số đang học tại trường phổ thông dân tộc nội trú theo ngành quản lý nhà nước về công tác đân tộc; tăng chỉ tiêu xét tuyển học sinh đi học hệ cử tuyển tại các trường có chuyên ngành dân tộc học/quản lý nhà nước đúng đối tượng là người dân tộc thiểu số với sự trợ cấp học bổng và miễn học phí bằng Ngã sách của tỉnh và của Nhà nước.

Hai là, củng cố, kiện toàn hệ thống các khoa, trường đào tạo cán bộ quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Tăng thêm điều kiện và các phương tiện kỹ thuật giảng dạy, học tập cho các cơ sở đào tạo này. Tại các cơ sở đào tạo cán bộ quản lý nhà nước về công tác dân tộc, cần coi trọng đúng mức các học trình về lịch sử, ngồu ngữ, văn hóa, tâm lý, tập quán của dân tộc thiểu số.

Ba là, sửa đỗi, bỗ sung các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ _ làm công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc nói chung và cán bộ làm công tác này là người dân tộc thiểu số nói riêng. Với đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về công tác dân tộc là người dân tộc thiểu số phải có quy hoạch trước mắt, lâu đài và ổn định bằng việc lựa chọn những cán bộ có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt cử đi đào tạo/đào tạo lại/đào tạo nâng cao và có các chế tài ràng buộc để họ phải quay về phục vụ tại địa phương nơi họ đã sinh sống. Việc ._ quy hoạch và bố trí cán bộ quản lý nhà nước về công tác dân tộc phải có phương án chủ động, hợp lý trong toàn ngành với từng địa phương, từng dân tộc cụ thể (nhất là với các vùng, các dân tộc hiện nay có tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số còn thấp). 3.6. Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiếm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về dân tộc

Để thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, tông kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về dân tộc phải kiện toàn tổ chức bộ máy thanh tra công tác dân tộc, tập trung xây dựng hệ thống mục tiêu và chỉ tiêu phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá chính sách dân tộc. Tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin giữa thanh tra, kiểm tra công tác dân tộc với thanh tra, kiểm tra của các bộ, ngành chức năng ở cả Trung ương và địa phương. Đổi mới phương pháp tiến hành thanh tra, kiểm tra; giám sát việc thực hiện các kiến nghị, đề xuất sau thanh tra, kiểm tra. Đồng thời, đôi mới căn bản quy trình xây dựng chính sách và thực hiện chính sách về dân tộc, theo hướng người dân trực tiếp tham gia kiến nghị các nhu cầu và thiết kế chính sách; khi dự thảo xong chính sách sẽ lấy ý kiến của người dân, cùng với sự tư vấn, phản biện của các nhà khoa học độc lập, các nhà hoạt động xã hội; công khai các chương trình, dự án, nhất là các nguồn lực tài chính, các chính sách, chế độliên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và miền núi để nhân dân tại các địa bàn triển khai chương trình, dự án được biết, tham gia thực hiện, giám sát đảm bảo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

 Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội (các cấp) ở vùng dân tộc thiểu số phải đưa nội dung giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về vấn đề dân tộc vào kế hoạch hành động hàng năm để trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các tổ chức này. Qua đó sẽ nâng cao hiệu quả giám sát tại - địa phương.