MỘT CHẾ ĐỘ LẤY TỔ QUỐC, NHÂN DÂN LÀM TRUNG TÂM, CHẾ ĐỘ ĐÓ LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH, LÀ THẮNG LỢI, LÀ ẤM NO!
Thứ Hai, 29 tháng 3, 2021
ĐỊNH “CHUI SÂU LEO CAO” VÀO QUỐC HỘI ĐỂ CHỐNG PHÁ THÌ ĐÃ BỊ BẮT
Cần xử lý nghiêm các hành vi chống phá, gây bất ổn trật tự xã hội.
Thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều thủ đoạn, chiêu bài tuyên truyền, xuyên tạc về Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận quần chúng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt, cứ mỗi kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước lại tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây mất ổn định về an ninh trật tự, chúng sử dụng nhiều thủ đoạn, chiêu bài tuyên truyền, xuyên tạc về Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận quần chúng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Nguy hiểm hơn, nhiều tổ chức phản động hoạt động có tính chất khủng bố, sử dụng bạo lực, vũ trang để gây bất ổn về an ninh trật tự. Nhưng dù hoạt động rất tinh vi, nhiều thủ đoạn thì các hành vi này đều bị các cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện, đấu tranh và xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Phương thức hoạt động của chúng như:
Sử dụng
không gian mạng để tuyên truyền, xuyên tạc
Gần đây, thủ
đoạn tuyên truyền chống phá của các đối tượng thù địch nổi lên một số vấn đề
đáng chú ý. Đó là lợi dụng các trang thông tin điện tử, mạng xã hội, tổ chức
các hội, nhóm tập hợp những đối tượng có tư tưởng chống đối cả ở trong và ngoài
nước để hoạt động tuyên truyền một cách bài bản, có tổ chức chặt chẽ, tinh vi.
Đây là hành
vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây
phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Những hành vi này đã tiếp tay cho các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị tuyên
truyền, kích động gây hoang mang trong dư luận quần chúng, gây chia rẽ đoàn kết
trong nội bộ Đảng và Nhà nước, cần xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục,
răn đe, phòng ngừa chung.
Đầu tháng 1
vừa qua, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử vụ án cựu nhà báo Phạm
Chí Dũng và các đồng phạm về tội "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền
thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam"
Từng là một đảng viên,
một nhà báo, tuy nhiên sau đó, Phạm Chí Dũng đã "biến chất," bẻ cong
ngòi bút của mình, móc ngoặc với nhiều đối tượng ở trong và ngoài nước để đăng
tải những bài viết có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước, vi phạm pháp luật; từ năm 2014, Phạm Chí Dũng và các đồng phạm
thường xuyên tiếp xúc với các đối tượng, tổ chức có tư tưởng bất mãn về chính
trị ở trong và ngoài nước. Từ đó, Dũng nảy sinh tư tưởng bất mãn với chính quyền
nên đã khởi xướng thành lập cái gọi là "Hội Nhà báo độc lập Việt Nam";
sau khi thành lập hội, Phạm Chí Dũng giữ vai trò Chủ tịch Hội; cùng các đối tượng
khác thành lập các chi hội miền Trung, miền Nam và hải ngoại. Phạm Chí Dũng
cùng đồng phạm tạo lập website và blog "Việt Nam Thời báo" do Dũng quản
trị, tiếp nhận và duyệt đăng thông tin, bài viết của mình, của hội viên và các
cộng tác viên. Phạm Chí Dũng sử dụng nhiều bút danh khác nhau để viết, đăng tải
1.530 tin, bài viết trên trang "Việt Nam Thời báo" của "Hội Nhà
báo độc lập Việt Nam," có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân
dân, bịa đặt, xâm phạm uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm chống phá Nhà nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bản án nghiêm minh mà Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh đã tuyên là hình phạt thích đáng đối với Phạm Chí Dũng và các đồng phạm.
Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, bày tỏ chính kiến của công dân được pháp luật
bảo đảm và được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, với những hành vi lợi dụng
quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật, việc xử lý những người vi phạm là cần
thiết, được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật Việt Nam và phù
hợp với các quy định của luật pháp quốc tế. Thời gian qua, công an các đơn vị,
địa phương đã triển khai lực lượng tổ chức xác minh, đấu tranh với hàng nghìn đối
tượng, củng cố tài liệu, chứng cứ, xử lý hình sự, hành chính hàng trăm đối tượng,
giáo dục, thuyết phục hàng nghìn đối tượng có hoạt động tuyên truyền xuyên tạc,
tung tin sai sự thật, phá rã hàng trăm hội, nhóm trái pháp luật trên không gian
mạng có hoạt động chống phá Đại hội Đảng; kiên quyết xử lý, kể cả xử lý về hình
sự những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật.
Khủng bố,
gây bất ổn về an ninh trật tự
Cùng với
tuyên truyền kích động, nguy hiểm hơn, một số tổ chức phản động còn hoạt động
mang tính chất khủng bố, sử dụng bạo lực, vũ trang để gây bất ổn về an ninh trật
tự ở Việt Nam. Cũng đầu tháng 1/2021, Bộ Công an Việt Nam phát đi thông báo về
tổ chức khủng bố mang tên "Triều đại Việt" do các đối tượng nguyên là
thành viên tổ chức khủng bố "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời"
thành lập tháng 1/2018. Tổ chức khủng bố này đặt trụ sở tại Canada; tổ chức này
có nhiều trang web và các kênh truyền thông để truyên truyền chống phá như:
"Triều đại Việt," "Free Bibet," "Hoàng Kỳ,"
"Giải độc chính trị," "Việt Nam today," "Việt tự
do," "Radio tiếng nói quốc dân," "Phung Nguyen,"
"Scott Huynh," "Jeffrey Thai," "Tin tức hàng ngày TV24".
Nhưng nguy hiểm hơn, tổ chức khủng bố "Triều đại Việt" hoạt động theo
phương thức bạo động vũ trang và phương châm "đốt sạch," "giết sạch,"
"phá sạch," "cướp sạch"; hỗ trợ tiền, chỉ đạo số cơ sở
trong nước tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại; kích động người dân xuống
đường biểu tình, bạo loạn cướp chính quyền; tổ chức khủng bố "Triều đại Việt"
đã gửi hàng chục ngàn USD, hàng trăm triệu đồng cho một số đối tượng trong nước
mua sắm vũ khí, chế tạo bom, mìn, may cờ, in truyền đơn, khẩu hiệu phản động. Ngay
sau khi tách khỏi tổ chức khủng bố "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời,"
những kẻ cầm đầu tổ chức khủng bố "Triều đại Việt" đã chỉ đạo số cơ sở
nội địa đồng loạt lập ra các "Quân khu" tại các tỉnh miền Tây Nam bộ,
Nam Trung bộ và các tỉnh phía Bắc. Nhiệm vụ của các "Quân khu" là tìm
cách móc nối, phát triển lực lượng, mở rộng địa bàn hoạt động; mua sắm vũ khí,
chế tạo thuốc nổ và khảo sát, lên kế hoạch tấn công khủng bố nhằm vào trụ sở
các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, mục tiêu bảo vệ và các địa điểm công cộng,
nhưng đều bị lực lượng chức năng của Việt Nam phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hóa
kịp thời.
Ngoài ra, tổ chức khủng bố "Triều đại Việt" còn có ý đồ thành lập một
số nhóm vũ trang hoạt động độc lập như "Trung đoàn Tây Đô," "Biệt
động quân," "Thủy quân lục chiến," "Cảnh sát Đại Việt,"
"Không quân," "Hải quân"… gồm những đối tượng cực đoan, sẵn
sàng thực hiện các vụ tấn công khủng bố, bất chấp hậu quả, nhưng đều bị Cơ quan
An ninh đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; ngày 12/6/2018, các đối tượng thuộc tổ
chức này đã sử dụng thuốc nổ TNT tấn công trụ sở Công an phường 12, quận Tân
Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, khiến 1 người bị thương, làm hư hỏng 6 xe máy.
Nhóm này còn chuẩn bị sẵn 8 quả nổ, 38 kíp nổ khác và đã lên kế hoạch tấn công
khủng bố nhà riêng một số đồng chí lãnh đạo địa phương nhưng bị lực lượng chức
năng Việt Nam ngăn chặn; tháng 7/2018, nhóm đối tượng tiến hành gây nổ tại cổng
sau Công an tỉnh Hậu Giang nhưng không gây thiệt hại về người, tài sản. Ngoài
ra, các đối tượng đã tổ chức những nhóm từ nước ngoài, xâm nhập về Việt Nam
theo đường tiểu ngạch để gây nổ, sát hại lực lượng chức năng và người dân.
Nhưng âm mưu của chúng đều bị lực lượng chức năng Việt Nam kịp thời phát hiện,
ngăn chặn. Đến nay, cơ quan chức năng Việt Nam đã bắt, truy tố, xét xử 17 đối
tượng; ra quyết định truy nã 2 đối tượng là thành viên của tổ chức khủng bố
"Triều đại Việt" về tội "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân
dân" theo Điều 113 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Để
giữ vững an ninh, trật tự, các lực lượng chức năng Việt Nam đã chủ động nắm chắc
tình hình, an ninh chính trị nội bộ, an ninh thông tin truyền thông, an ninh mạng,
an ninh xã hội, âm mưu, hoạt động chống phá; kịp thời tham mưu giải quyết có hiệu
quả các yếu tố tiềm ẩn phức tạp đối với an ninh quốc gia gắn với đấu tranh
phòng, chống tội phạm, xây dựng, củng cố xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn và
lành mạnh.
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa - cơ sở hình thành nền dân chủ ở Việt Nam
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ
rõ: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự giành lấy chính quyền, phải tự
vươn lên thành giai cấp dân tộc”[1] phải
giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực nhà nước và tồ
chức quyền lực đó thành nhà nước dân chủ vô sản. Theo hai ông, giai cấp công
nhân giành được chính quyền là dấu mốc làm xuất hiện một nền dân chủ mới, khác
về chất so với các nền dân chủ trước đó - dân chủ vô sản.
Công xã Pari năm 1871 là mầm mống đầu tiên của dân chủ xã hội chủ nghĩa.
V.I.Lênin viết: “Công xã dường như đã thay bộ máy nhà nước bị đập tan, bằng một
chế độ dân chủ “chỉ” hoàn bị hơn mà thôi... từ chỗ là dân chủ tư sản đã biến
thành dân chủ vô sản, từ là nhà nước (= lực lượng đặc biệt đề trấn áp một giai
cấp nhất định) nó biến thành một cái gì thực ra không phải là nhà nước hiểu
theo nghĩa thật sự nữa”[2].
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (1917) vĩ đại với sự xuất hiện
nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - Nhà nước Xôviết, xây dựng nền
dân chủ phục vụ lợi ích cho đa số người lao động - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
bắt đầu ra đời.
Như vậy, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ được xác lập sau khi giai cấp
công nhân thông qua đội tiền phong của mình là đảng cộng sản giành được chính
quyền, tiến hành cải tạo và xây dựng xã hội mới thông qua cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa dưới các hình thức khác nhau.
Quá trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới
cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; có sự kế thừa một cách chọn lọc giá trị
của các nền dân chủ trước đó, trước hết là nền dân chủ tư sản. Nguyên tắc cơ bản
của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ
giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc
quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là nền dân chủ của thiểu số và
cho thiểu số bóc lột, có đặc quyền đặc lợi và muốn dành thêm đặc quyền, đặc lợi;
ngược lại, nó là nền dân chủ của đa số và vì đa số. Do đó, về nguyên tắc, nỏ
bài trừ đặc quyền, đặc lợi và vì lợi ích của đa số nhân dân lao động, nó phải gạt
bỏ những kẻ đặc quyền, đặc lợi ra khỏi vị trí quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Bản thân nền dân chủ này cũng phát triển từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Nhưng càng hoàn thiện bao nhiêu, nó càng tự tiêu vong bấy nhiêu. Thực
chất của sự tiêu vong này theo V.I.Lênin, đó là tính chính trị của dân chủ sẽ mất
đi trên cơ sở không ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ
thể quyền lực của nhân dân, tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã hội (xã hội tự quản). Quá trình
đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt xã hội..
để đến lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất
đi tính chính trị của nó.
Như vậy, quá trình tiêu vong của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa
với quá trình làm sâu, rộng hơn các thành quả dân chủ, đưa nó
lên những trình độ phát triển mới, tiến dần tới dân chủ trọn vẹn, dân chủ hoàn
toàn, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại từ “vương quốc tất yếu” sang
“vương quốc tự do”. Đây là quá trình lâu dài, khi xã hội đã đạt trình độ phát
triển rất cao, xã hội không còn sự phân chia giai cấp, đó là xã hội cộng sản chủ
nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện, khi đó dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là
một chế độ nhà nước cũng tiêu vong, không còn nữa.
Cho đến nay, sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chỉ trong một
thời gian ngắn, ở một số nước có xuất phát điểm về kinh tế, xã hội rất thấp, lại
thường xuyên bị kẻ thù tấn công, gây chiến tranh, do vậy, mức độ dân chủ đạt được ở những nước
này hiện nay còn nhiều hạn chế ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngược
lại, sự ra đời, phát triển của nền dân chủ tư sản có thời gian cả mấy trăm năm,
lại ở hầu hết các nước phát triển (do điều kiện khách quan, chủ quan). Hơn nữa,
trong thời gian qua, để tồn tại và thích nghi, chủ nghĩa tư bản đã có nhiều lần
điều chỉnh về xã hội, trong đó quyền con người đã được quan tâm ở một mức độ nhất
định (sự điều chỉnh này không ảnh hưởng nhiều đến lợi ích cơ bản của giai cấp
tư sản). Nền
dân chủ tư sản có nhiều tiến bộ, song nó vẫn bị hạn chế bởi bản chất của chủ
nghĩa tư bản.
Để có một chế độ dân chủ thực sự quyền lực thuộc về nhân dân, ngoài yếu
tố giai cấp công nhân lãnh đạo (mặc dù là yếu tố quan trọng nhất), đòi hỏi cần
nhiều yếu tố như trình độ dân trí, xã hội công dân, việc tạo dựng cơ chế pháp
luật đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền làm chủ nhà nước và quyền tham gia vào
các quyết sách của nhà nước, điều kiện vật chất để thực thi dân chủ.
Lịch sử hình thành các nền dân chủ trên thế giới
- Nền dân chủ chủ
nô
Trong chế độ cộng
sản nguyên thủy đã xuất hiện hình thức manh nha của dân chủ mà Ph.Ăngghen gọi
là “dân chủ nguyên thủy” hay còn gọi là “dân chủ quân sự”. Đặc trưng cơ bản của hình thức dân chủ này là nhân dân bầu ra thủ lĩnh quân sự thông
qua “Đại hội nhân dân”. Trong Đại hội này, nhân dân có quyền lực thật sự (có
dân chủ), mặc dù trình độ sản xuất còn kém phát triển.
Sự phát triển của
lực lượng sản xuất dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu và sau đó là giai cấp đã
làm cho hình thức “dân
chủ nguyên thủy” tan rã, nền
dân chủ chủ nô ra đời. Nền dân chủ chủ nô được tổ chức thành
nhà nước, nhà nước dân
chủ chủ nô (nhà nước Athen).
Đặc trưng của nền dân chủ chủ nô là dân tham gia bầu ra Nhà nước. Tuy nhiên,
giai cấp chủ nô quy định: “Dân” chỉ gồm giai cấp chủ nô và phần nào thuộc về
các công dân tự do (tăng lữ, thương gia và một số trí thức). Đa số còn lại
không phải là “dân” mà là “nô lệ” - họ không được tham gia vào việc bầu ra nhà
nước. Như vậy về thực chất, nhà nước dân chủ chủ nô cũng chỉ thực hiện dân chủ
cho thiểu số, quyền lực của dân đã bị giai cấp chủ nô chiếm đoạt.
- Nền dân chủ tư
sản
Lịch sử loài người
đã trải qua hình thái kinh tế - xã hội phong song “chế độ dân chủ phong kiến”
đã không tồn tại. Với cách tổ chức quyền lực của nhà nước, giai cấp phong kiến
đã thủ tiêu những tiến bộ của nền dân chủ chủ nô trước đó, thiết lập nhà nước
quân chủ của giai cấp mình.
Trước sự hà khắc
của chế độ chuyên chế (quân chủ) phong kiến, nhân dân (đông đảo là nông dân) đã
đấu tranh phản kháng buộc giai cấp quý tộc phong kiến phải thực thi một số yêu
cầu dân chủ. Ở phương Tây, vào thế kỷ XIV-XVI, các trào lưu tiến bộ của giai cấp
tư sản mới xuất hiện đã nêu cao yêu cầu tự do, dân chủ (nhất là trong lĩnh vực
văn hóa, khoa học) mở đường cho sự ra đòi của chế độ tư bản chủ nghĩa.
Sự xuất hiện của
nền dân chủ tư sản gắn liền với sự hình thành của phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa. Quá trình khẳng định dân chủ tư sản đồng thời cũng là quá trình phủ
định nền quân chủ, diễn ra từ thấp tới cao trên các lĩnh vực của đời sống xã hội,
từ hẹp đến rộng, nhằm xóa bỏ từng yếu tố phản dân chủ của chế độ phong kiến, đi
tới phủ định nền quân chủ (mặc dù chưa triệt để). Quá trình khẳng định và phủ định
này không phải tự động, tự nhiên mà là quá trình đấu tranh giai cấp quyết liệt
của giai cấp tư sản và những đồng minh của nó nhằm xóa bỏ phương thức sản xuất
phong kiến, lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến. Nền dân chủ tư sản được
hình thành tương đối đầy đủ trong quá trình đấu tranh CMTS - một nấc thang quan
trọng của tiến bộ lịch sử.
Dân chủ tư sản
là một sự phát triển về chất, đó là bước phát triển nhảy vọt so với nền chuyên
chế, độc tài của chế độ phong kiến, quân chủ. Bình đẳng, bình quyền, tự do cá
nhân là nội dung nổi bật của dân chủ tư sản (những yếu tố chưa hề có trong chế
độ phong kiến). Giai cấp tư sản không những hình thành và hoàn chỉnh một nền
dân chủ tư sản, mà còn xây dựng một hệ thống chính trị cùng với một hệ thống
thiết chế nhà nước nhằm bảo đảm sự thống trị của giai cấp tư sản. Đặc trưng cơ
bản của nền dân chủ tư sản là xác lập nhà nước pháp quyền (nguyên tắc hoạt động:
tam quyền phân lập) và xã hội công dân (công dân có các quyền cơ bản và quyền bầu
ra nhà nước) dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu.
So với chế độ
quân chủ phong kiến, dân chủ tư sản ra đời là một bước tiến lớn của nhân loại
(C.Mác). Tuy nhiên, để bảo vệ quyền thống trị về chính trị, kinh tế, giai cấp
tư sản đã thẳng tay sử dụng chuyên chính đàn áp các cuộc đấu tranh của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động. Hiện nay, để tồn tại, giai cấp tư sản buộc phải
có nhiều điều chỉnh, trong đó có việc mở rộng quyền dân chủ cho nhân dân. Nhưng
điều đó không có nghĩa là dân chủ tư sản đã biến thành dân chủ “nhân dân”. Với
những giới hạn không thể vượt qua, nền dân chủ tư sản vẫn là dân chủ dành cho
thiểu số những người có của.
V.I.Lênin cho rằng, ngay trong giai đoạn phát triển nhất của nền cộng
hòa dân chủ tư sản thì chế độ dân chủ ấy vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp
của sự bóc lột tư sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà
thôi[1].
- Nền dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa)
Thắng lợi chính trị của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và các cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa khác đã đưa giai cấp công nhân và nhân dân lao động từ địa
vị những người nô lệ bị bóc lột và áp bức lên địa vị những người chủ của xã hội.
Chính quyền đã thuộc về tay giai cấp cồng nhân với tư cách là nhà nước kiểu mới,
là bộ máy quản lý và điều hành mọi hoạt động của xã hội để thực hiện quyền làm
chủ của những người lao động đã được giải phóng.
Việc thiết lập chính quyền nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động, việc đảng cộng sản khẳng định trong thực tê vai trò lãnh đạo nhà nước
và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa... là những tiền đề, nguyên tắc
dẫn tới xác lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ mới về chất cao
hơn so với nển đàn chủ tư sàn và các nền dân chủ trước đó. Theo V.I.Lênin:
“Xôviết tựu trung là một hình thức và một kiều chế độ dân chủ vô cùng cao hơn,
chính là do chỗ nó tập hợp được quần chủng
công nông và lôi cuốn họ
tham gia sinh hoạt chính trị, nên nó là cơ quan gần “nhân dân" nhất"[2]. Dân
chủ xã hội chủ nghĩa xuất hiện trong thắng lợi cứa cách mạng chính trị giành
chính quyền của giai cấp công nhân, gắn liền với sự ra đời của nhà nước kiểu mới
- nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nền dân chủ này lại có một quá trình phát triển và
hoàn thiện cùng với quá trình lịch sử lâu dài mà giai cấp cồng nhân, nhân dân
lao động dựa trên nhà nước của mình để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xă hội chủ nghĩa là thực hiện quyền lực
của nhân dân - tức là xây dựng nhà nước dân chủ thực sự, dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền lợi
cho đại đa sổ nhân dân.
Như vậy, với tư cách là một nhà nước, một chế độ chính trị thì trong
lịch sử có ba chế độ (nền) dân chủ. Nền dân chủ chủ
nô, gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ; nền dân chủ tư sản,
gắn với chế độ tư bản chủ nghĩa; nền dân chù xã
hội chủ nghĩa, gắn với chế độ
xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, muốn biết một nhà nước dân chủ có thực sự dân chủ
hay không còn phải xem trong nhà nước ấy dân là ai và bản
chất của chế độ xã hội ấy như thế nào.
Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ
Kế tục tư tưởng
vì dân của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng chế độ dân
chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong thời
kỳ Đổi mới, Đảng ta đã khẳng định, dân chủ là mục tiêu, là bản chất, là
động lực phát triển đất nước. Cương
tĩnh xây dựng đắt nước trong thời kỳ quả độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền
dân chủ xã hội chù nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống
ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và
phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. ... Nhân dân thực
hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”1.
Tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), vấn đề dân chủ đã được Đảng ta đưa vào chủ đề
của Đại hội, đồng thòi trở thành một mục độc lập trong phần xin của Báo cáo
chính trị với tiêu đề: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân”, đồng thời bổ sung thành tố “hoàn thiện, phát huy
dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân” trong mục tiêu, nhiệm vụ
của Đại hội2. Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, đầy đủ của Đảng
không chỉ về bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mà còn về vai trò to lớn
của dân chủ, vì không phát huy dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân sẽ
không có chủ nghĩa xã hội.
Từ
các cách tiếp cận trên có thể hiểu: Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ảnh
những quyền cơ bản của con người,
là một hình thức tổ chức nhà
nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó những quyền
cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng...)
pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các
nguyên tắc (quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật,
thiểu số phục tùng đa sổ, quyền tự do tư tưởng, ý chí, hành động, bầu cử tự do và công bằng...) để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân
dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Trên cơ sở của
chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”[1]. Đây là một
trong những luận điểm nổi bật trong tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Dân chủ là “Làm sao cho nhân dân
biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình dám nói, dám làm[2]”. Người nhấn mạnh: “địa vị cao nhất là dân, vì
dân là chủ”[3], mọi
quyền lực đều thuộc về nhân dân, mọi lợi ích đều vì dân, mọi công việc đều do
dân. Tư tưởng đề cao nhân dân, hết lòng vì lợi ích nhân dân được Hồ Chí Minh
coi như một chân lý. Theo Người, dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.10, ứ.457ệ
[2] Hồ
Chí Minh: Toàn tập,
Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011,1.15, Ừ.293.
[3] Hồ
Chí Minh: Toàn tập,
Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.7, Ừ.434.
Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011,
tr.84-85.
Xem Đảng
Cộng sản Việt Nam: Vãn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Nxb.Chính trị quoc gia, H.2016, ừ. 166.
TĂNG CƯỜNG HƠN NỮA BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CHỦ NGHĨ MÁC - LÊ NIN SAU ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp; là sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa trọng đại, đánh dấu bước phát triển mới của đất nước và hoạch định những đường lối chiến lược quan trọng của đất nước, nhìn lại sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 ( kỷ niệm tròn 100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước).
Các văn kiện đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, luôn kiên
định với lập trường quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam.
Vậy mà, trong thời gian trước và sau Đại hội XIII của Đảng các thế lực thù địch,
nhóm “dân chủ cuội” tiếp tục đẩy mạnh chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng
với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm hơn. Chúng tung ra
những luận điệu đều có chung mục đích chống phá Đảng, Nhà nước ta, với những
hình thức thể hiện ngày càng thay đổi đa dạng, biến tướng khôn lường.
Có quan điểm thể hiện rõ sự thù địch, hằn học với chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; có quan điểm thừa nhận lịch sử nhưng lại phủ
nhận giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin... Đặc biệt, những luận điệu cố
tình tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa
Mác - Lênin, từ đó “nâng tầm” một cách giả tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là quan
điểm có tính ngụy biện dễ làm cho một số người ngộ nhận, sinh thời Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã viết: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là
chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang”
thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến
thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta
thấy rõ con đường Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã nghiên
cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và nêu rõ bản chất cốt lõi của chủ nghĩa Mác
- Lênin một cách cơ bản, hệ thống. Theo Người: “Tất cả mọi người đều có
quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và
V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là “cố gắng vận dụng”
tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo phù hợp
với điều kiện thực tiễn Việt Nam”. Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin thì không
có tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ khi tiếp nhận được chủ nghĩa Mác - Lênin thì tư
tưởng Hồ Chí Minh mới thực sự được xác lập và phát triển. Chủ nghĩa Mác - Lênin
là nguồn gốc lý luận sâu sắc chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Cũng theo Hồ Chí Minh, mục đích học chủ nghĩa Mác - Lênin là để
phụng sự lợi ích chung, chứ không có gì cao xa, nếu không hết lòng, hết sức
phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư, tự lợi là trái với chủ nghĩa Mác -
Lênin. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình,
có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”. Bản chất của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học, cách mạng thống nhất
biện chứng với nhau. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư
tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh
để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại. Cũng không thể đề cao hoặc
tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như bằng cách này hay cách khác lại
phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin.
Nhằm thực hiện những mưu cầu đen tối về chính trị, phủ nhận chủ
nghĩa Mác - Lênin, tách rời chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, các
nhóm “dân chủ cuội” cho rằng: “Ở Việt Nam bây giờ học thuyết Mác - Lênin đã lỗi
thời, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là còn đáng giá, chỉ cần nói tư tưởng Hồ Chí
Minh là đủ, không cần nói tới chủ nghĩa Mác - Lênin”. Đây là luận điệu sai trái,
phản động không phải là sự ca ngợi, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh theo đúng giá
trị đích thực, vốn có trong tư tưởng của Người; mà trái lại thực chất các thế
lực phản động muốn cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc lý
luận chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin. Thật là, “quá
nham hiểm”; đồng thời làm suy yếu và tiến tới phủ nhận chính tư tưởng Hồ Chí
Minh. Điều này là hết sức nguy hiểm nếu như chúng ta không tỉnh táo; vì đích
cuối cùng luận điểm này hướng đến đó là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ
nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng, cương lĩnh,
đường lối của Đảng, làm suy yếu và đi đến xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Hơn 76 năm qua Quân đội nhân dân Việt Nam do
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức lãnh đạo và rèn luyện, luôn là lực
lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân,
luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, thực sự là đội quân chiến đấu,
đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Như lời đồng chí Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã từng khen ngợi; Quân đội nhân dân Việt Nam
luôn chủ động, nhạy bén tích cực đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị,
làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa”,
“dân sự hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Tin tưởng rằng, với quyết
tâm chính trị và bản lĩnh “Bộ đội Cụ Hồ”, Quân đội ta sẽ tiếp tục xung kích đi
đầu để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội; các cấp ủy
đảng, các cơ quan, đơn vị… tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu
quả nhiệm vụ đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán
bộ, chiến sĩ luôn kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt
đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó.
Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ
V.I.Lênin quan
niệm: “Dân chủ là sự thống trị của đa số”1. Do vậy, dân chủ được
nhìn nhận như là một hình thức, một hình thái nhà nước, trong đó thừa nhận sự
tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực
hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân. Mức độ,
phạm vi tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước
phản ánh trinh độ phát triển của nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lõi nhất
của dân chủ.
Dân chủ là sản
phẩm của lịch sử, là thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải
phóng dân tộc, đấu tranh cho văn minh tiến bộ của loài người qua các giai đoạn
lịch sử. Mỗi giai đoạn lịch sử đều đã ghi dấu mốc quan trọng trên bước đường
phát triển dân chủ và thể hiện sự đấu tranh không khoan nhượng với những yếu tố
phi dân chủ (sự độc tài, chuyên chế, phát xít...), thậm chí trong cuộc đấu
tranh giành dân chủ, nhân loại đã phải trả giá đắt bằng cả máu, xương của mình.
Chủ nghĩa
Mác-Lênin đã chỉ rõ: Dân chủ không phải là sản phẩm của tự nhiên, cũng không phải
là bẩm sinh, càng không phải là tặng phẩm của giới siêu nhân nào đó, mà là kết
quả của quá trình đấu tranh trong trường kỳ lịch sử của nhân loại vì sự tiến bộ,
văn minh. Do đó, đứng trên quan điểm phát triển biện chứng xem xét thì dân chủ
là một giả trị nhân văn, mang tính
nhân loại. Mỗi bước tiến của
dân chủ phản ánh bước tiến về quyền con người. Dân chủ phát triền càng cao, quyền
con người càng được khẳng định; tự do, bình đẳng trong xã hội càng cao. Do vậy,
với tính chất là một giá trị nhân văn (giá trị văn hóa) của nhân loại, dân chủ
ngày càng trở thành tiêu chí, thước đo của sự tiến bộ xã hội, trình độ văn minh của loài người.
Chủ nghĩa
Mác-Lênin cũng khẳng định, trong quá trình phát triển của xã hội loài người,
khi xã hội phân chia thành giai cấp và nhà nước xuất hiện, quyền tự do của mỗi
cá nhân đều mang tính giai cấp, phản ánh lợi ích giai cấp (trước hết là giai cấp
cầm quyền). Lịch sử đã chứng minh rằng, trong xã hội có giai cấp, cuộc đấu
tranh giành dân chủ bao giờ cũng biểu hiện tính giai cấp rõ rệt, đại biểu cho lợi
ích giai cấp, là công cụ và thủ đoạn của giai cấp thống trị. Những giá trị dân
chủ có tính nhân loại chính là kết quả cuộc đấu tranh giai cấp của những lực lượng
xã hội tiến bộ, những giai cấp tiên tiến, giữ vai trò trung tâm của thời đại.
Do vậy, dân chủ mang tỉnh
giai cấp sâu săc. Không có
dân chủ trừu tượng, phi giai cấp, ngoài giai cấp. Bản chât của dân chủ được thể
hiện ở tính giai cấp của nó.
V.I.Lênin đã chi rõ: Không có “dân chủ nói
chung”, “dân chủ phi giai cấp”. Tính chất giai cấp của phạm trù dân chủ là tiêu
chí để phân biệt bản chất khác nhau của các nền dân chủ (dân chủ chủ
nô, dân chủ tư
sản, dân chủ vô sản - dân chủ xã hội chủ nghĩa). Theo V.I.Lênin, mỗi chế độ và nhà nước
dân chủ đều do một giai cấp thống trị chi phối các lĩnh vực của đời sống xã hội,
do đó, tính giai cấp thống trị cũng chi phối tính dân tộc và tính chất của chế
độ chính trị, kinh tế, văn hỏa, xã hội... ở mỗi dân tộc cụ thể. Năm 1919,
V.I.Lênin viết: "... Quan điểm dân chủ thuần túy hình thức chính là quan
điểm của ngưòi dân chủ tư sản, là kẻ không thừa nhận rằng lợi ích của giai
cấp vô sản và của cuộc đấu tranh giai cấp của vô sản cao hơn” . Do vậy,
V.I.Lênin đã nhắc nhở những người cộng sản rằng, khi xây dựng nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, không được quên trả lời câu hỏi có tính chất nguyên tắc: dân chủ cho ai và vì cái gì; tự do đối với ai,
vì ai và vì cái gì.
Với tư cách là một
chế độ xã hội, dân chủ là một phạm trù lịch sử vì nó có sự ra đời, tồn tại và phát triển trong
một giai đoạn nhất định và sẽ mất đi khi trong xã hội không còn giai cấp. Tính
lịch sử của dân chủ với nghĩa là một chế độ xã hội còn thể hiện qua quá trinh
hình thành, phát triển, vận động từ chỗ chưa có dân chủ đến có dân chủ, đến tồn
tại, phát triển và tiêu vong. Chủ nghĩa Mác- Lênin nêu rõ quá trình phát triển
của dân chủ là “từ chuyên chế đến dân chủ tư sản; từ dân chủ tư sản đến dân chủ
vô sản; từ dân chủ vô sản đến không còn dân chủ nữa”2.
Do vậy, hình thức
của nền dân chủ là đa dạng vì chính thể của mỗi quốc gia không chỉ chịu sự chi
phối của thể chế chính trị mà còn chịu sự kiềm chế của các điều kiện thực tế của
các chính thể khác nhau3. Không có mô hình dân chủ và chế độ chính
trị chung cho mọi quốc gia, dân tộc.
Từ những tính chất
nêu trên, khi xem xét bản chất dân chủ, chế độ dân chủ không chỉ căn cứ vào
tính giai cấp mà còn phải đứng trên quan điểm lịch sử và phải có thái độ biện
chứng, khoa học đối với những thành tựu dân chủ với tính cách là những giá trị
mà loài người đã đạt được trong tiến trình lịch sử. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhắc
nhở giai cấp công nhân, các đảng cộng sản không nên nhấn mạnh tính giai cấp, tính chính trị mà xem nhẹ tính lịch sử, giá trị nhân
văn của dân chủ (hoặc ngược lại); đồng thời, phải đứng trên quan điểm biện chứng
để xem xét quá trình phát triển của dân chủ với tư cách là một chế độ... Có như
vậy, mới tránh được sự mơ hồ, duy ý chí, nóng vội, thậm chí là sai lầm và đổ vỡ
chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.
