Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

Bảo vệ đường lối của Đảng trong thực tiễn

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng thì cùng với việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, đấu tranh với những luận điệu sai trái, trước tiên phải là thực hiện đúng Cương lĩnh, đường lối của Đảng, phải kiên quyết chống các nguy cơ “sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên” như Cương lĩnh đã ghi. Chúng ta đều hiểu bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là nội dung quan trọng hàng đầu trong nhiệm vụ bảo vệ Đảng. Trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991), Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng đã có những nội dung phát triển mới trên một số lĩnh vực so với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII. Trong đó có những nội dung quan trọng, về những bài học kinh nghiệm của cách mạng và của Đảng, về phương thức lãnh đạo của Đảng, về nội dung chủ nghĩa xã hội mà chúng ta xây dựng... Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta xây dựng trong Cương lĩnh (bổ sung và phát triển năm 2011 - dưới đây gọi tắt là Cương lĩnh 2011) có 8 đặc trưng so với 6 đặc trưng của Cương lĩnh trước. Cương lĩnh 2011 bổ sung nội dung về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, không đưa các nội dung “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu” và “con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động” đã ghi trong Cương lĩnh trước. Cương lĩnh đã xác định những nội dung cơ bản về xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhưng khi triển khai Nghị quyết Đại hội XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn yêu cầu Hội đồng Lý luận Trung ương cần làm rõ chủ nghĩa xã hội là gì, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là gì,...? Như vậy, nội dung chủ nghĩa xã hội mà ta xác định trong Cương lĩnh 2011 tuy đã rõ hơn, sát thực tiễn hơn nhưng vẫn chưa rõ hẳn. Tuy chưa rõ hẳn, cần tiếp tục tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận để bổ sung nhưng nội dung chủ nghĩa xã hội mà ta xây dựng nêu trong Cương lĩnh đã khác với những gì chúng ta hiểu trước đây và về cơ bản là phù hợp với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tế đó bác bỏ luận điệu vu cáo cho là Đảng ta vẫn tiếp tục áp dụng “mô hình Xôviết” đã bị phá sản,... Tuy nhiên, trong lúc tiếp tục nghiên cứu, bổ sung cần kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng vì chính đó là “linh hồn” của Đảng. Các thế lực thù địch và những người cực đoan bằng các hình thức hợp pháp và chủ yếu là không hợp pháp đang tung ra những luận điệu vu cáo, tấn công vào những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh và đường lối của Đảng. Trong bài viết này, tôi chỉ nêu những ý kiến tranh luận với những luận điệu vu cáo cho là Đảng đang thực hiện “Đảng trị”, xây dựng “xã hội toàn trị” triệt tiêu dân chủ như một số trang mạng xã hội đã nêu. Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, nhưng trong Cương lĩnh cũng như Hiến pháp năm 2013 đã nêu rõ phương thức lãnh đạo của Đảng, nhấn mạnh tính thuyết phục, nêu gương và khẳng định: Đảng, các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình và yêu cầu nhân dân, báo chí giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên. Đảng ta hoạt động theo nội dung trong Cương lĩnh, đường lối đã ghi thì không thể gọi là “Đảng trị” như họ vu cáo. Tôi hiểu, dân chủ với các phương thức, hình thức khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nước ta là một nước dân chủ, mọi lợi ích và quyền hành đều ở nơi dân. Dân chủ là mục tiêu và động lực của xã hội xã hội chủ nghĩa. Nội dung chủ nghĩa xã hội mà ta xây dựng ghi trong Cương lĩnh đã có nội dung quan trọng: “nhân dân làm chủ”. Quan sát hơn 100 nước trên thế giới thực hiện đa đảng, chúng ta sẽ thấy rõ không phải cứ đa đảng thì sẽ có dân chủ, ổn định và sẽ chống được tham nhũng như họ tưởng. Trong thực tế quá trình đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, thể chế dân chủ đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực. Đã mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần. Trong sinh hoạt dân chủ, người dân đã tham gia thảo luận nhiều vấn đề, góp ý vào nhiều chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật quan trọng trước khi quyết định. Vấn đề phản biện và giám sát quyền lực được trao trách nhiệm cho Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và báo chí. Việc thảo luận, đối thoại, chất vấn tại Quốc hội ngày càng thực chất, giải đáp trực tiếp các vấn đề bức bách của cuộc sống. Việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn là một bước tiến trong việc mở rộng dân chủ, giám sát quyền lực... Trong thực tế, vấn đề dân chủ trong Đảng và trong xã hội tuy còn nhiều mặt chưa đạt yêu cầu nhưng là những vấn đề lớn đòi hỏi phải làm tốt hơn và không thể phủ nhận những việc làm được, càng không thể vu cáo cho ta đang thực hiện chế độ độc tài như một số người rắp tâm vu cáo, hòng chống đối lại Đảng và Nhà nước ta. Nói về hệ tư tưởng, coi việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động là nội dung độc quyền về tư tưởng, là một biểu hiện của “xã hội toàn trị” lại càng không đúng. Khi nêu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, văn kiện của Đảng đã khẳng định, đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá thế giới, chứ không chỉ có chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong quá trình hội nhập quốc tế và với việc nối mạng toàn cầu, nhiều lý thuyết về tự do dân chủ, pháp quyền... theo quan điểm phương Tây lan truyền rộng rãi ngay cả trên xuất bản phẩm công khai. Và trong một hội thảo tại Ban Tuyên giáo Trung ương, tôi đã nói, chính chủ nghĩa thực dụng và những hành vi mê tín dị đoan (như xem ngày tháng, xem giờ ngay cả những chuyến đi công tác, lập bàn thờ ở cơ quan,...) đang chi phối đời sống tinh thần xã hội thì làm sao có thể nói là độc quyền tư tưởng được! Còn việc ngăn ngừa và trừng phạt một số hoạt động xuyên tạc, vu cáo, xúc phạm danh dự tổ chức và công dân, lan truyền những tin đồn có khả năng gây bất ổn xã hội, mưu toan lật đổ chính quyền là hành động phạm pháp thì chính quyền nước nào cũng phải làm vì sự ổn định của xã hội và quyền được bảo vệ chính đáng của công dân, quyền tự do của đông đảo nhân dân. Một số ý kiến trên đây là bày tỏ thái độ không đồng tình với một số nội dung mà thế lực thù địch và những người cực đoan vu cáo, xuyên tạc và tấn công vào Cương lĩnh, đường lối dựa trên mục tiêu, phương hướng, giải pháp nêu ra trong các văn kiện của Đảng. Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng có những việc làm được, có việc chưa làm được, còn thiếu sót và cũng thẳng thắn nói rằng, có không ít việc làm sai, làm trái Cương lĩnh và đường lối của Đảng cần phải được nhìn nhận một cách khách quan, khoa học và trung thực hơn. Về phát triển kinh tế, Cương lĩnh và văn kiện các Đại hội Đảng đều nêu rõ, cùng với yêu cầu phát triển nhanh để tránh tụt hậu xa hơn so với các nước xung quanh, đều nhấn mạnh tăng năng suất lao động phát triển bền vững, nêu rõ những trụ cột cho sự phát triển bền vững. Nhưng trong thực tế, theo tôi hiểu thì căn bệnh thành tích của một số người lãnh đạo, quản lý muốn có “những con số đẹp” trong nhiệm kỳ của mình, muốn làm vừa lòng cấp trên đã chạy theo số lượng bề ngoài, không phản ánh đúng chất lượng, hiệu quả thật trong công tác, trở thành những vấn đề bức xúc trong xã hội, từng địa phương và từng đơn vị. Điều đó, còn dẫn đến nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước xung quanh. Mà thực tế thì năng suất lao động của ta vào loại thấp nhất trong khu vực. Phải chăng thế là làm trái Cương lĩnh và đường lối của Đảng? Văn hóa là lĩnh vực cực kỳ quan trọng, là nhân tố hàng đầu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng, đạo đức, lối sống là lĩnh vực then chốt của văn hoá, là quan điểm quan trọng trong đường lối của Đảng. Để đạo đức, lối sống sa sút, xuống cấp như hiện nay, tệ tham nhũng, lãng phí lan tràn không chỉ là nguy cơ như gần ba mươi năm trước đây đã cảnh báo, mà đang và đã trở thành hiểm họa đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Phải chăng đó là sự “chệch hướng” lớn trong quá trình thực hiện Cương lĩnh, đường lối trong xây dựng Đảng và xây dựng con người, coi con người là trung tâm? Tình trạng suy thoái đạo đức xã hội, đặc biệt là sự suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, công chức như đánh giá khá chính xác của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI là nỗi lo lớn của Đảng và xã hội, phải chăng là điều rõ nhất chứng tỏ việc thực hiện không thành công Nghị quyết Trung ương 5 về văn hóa và chiến lược cán bộ được thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII?... Chỉ một vụ sai phạm của cựu Tổng Thanh tra Chính phủ, nơi có trách nhiệm chủ yếu ngăn ngừa tham nhũng, và các hoạt động vi phạm luật pháp của bộ máy công quyền đã thấy rõ sự yếu kém của ít nhất từ chi bộ đảng, đảng ủy cơ quan và ban cán sự đảng, lãnh đạo của cơ quan Thanh tra Chính phủ lúc đó đến cơ quan chức năng cấp đất sai nguyên tắc, trong việc giám sát người đứng đầu như Đảng yêu cầu. Việc đó và còn các việc khác nữa làm cho ta thấy cần có những đánh giá trung thực và chính xác hơn về công tác xây dựng Đảng theo Cương lĩnh và đường lối của Đảng... Còn có thể kể nhiều chuyện không thực hiện đến nơi, đến chốn, thậm chí làm trái Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Chính những việc đó làm cho một số người nghi ngờ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, nghi ngờ con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn, nghi ngờ sự lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và bộ máy công quyền, là kẽ hở để các thế lực cực đoan tấn công Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đến đây tôi lại nhớ tới phát biểu của V.I. Lênin: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nếu chúng ta không mắc sai lầm, tự đánh đổ mình”. Không để xảy ra sai lầm đường lối, chính sách không hợp quy luật, không sát thực tế, không hợp lòng dân; không để mắc vào lợi ích nhóm và phe phái, họ tộc mà chọn lựa nhầm người tài đức trong bộ máy lãnh đạo Đảng và Nhà nước; cũng như có cơ chế giám sát quyền lực có hiệu quả, ngăn ngừa những sai phạm dẫn tới suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên (đang là nguyên nhân quan trọng hàng đầu), làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, tức là làm suy giảm tài sản quý báu nhất và cũng là nguồn lực có ý nghĩa quyết định làm nên sức mạnh của Đảng... Theo tôi nghĩ, đó là những việc quan trọng hàng đầu bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng thì cùng với việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, đấu tranh với những luận điệu sai trái, trước tiên phải là thực hiện đúng Cương lĩnh, đường lối của Đảng, phải kiên quyết chống các nguy cơ “sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên” như Cương lĩnh đã ghi. Nhìn lại các vụ gọi là “cách mạng sắc mầu” để lật đổ các chính quyền hợp pháp, ta thấy các thế lực thù địch thường khoét sâu các khuyết điểm của đảng cầm quyền, vin cớ chống tham nhũng, chống đặc quyền, độc tài gia đình trị, để lôi kéo quần chúng làm các cuộc đảo chính lật đổ chính quyền. Đó là những bài học cần rút ra trong quá trình giữ vững sự lãnh đạo của Đảng để ổn định và phát triển đất nước nhanh và bền vững. Một mùa xuân mới lại đến, Đảng ta thêm một tuổi, cần phải thể hiện sự trải nghiệm chín chắn, bằng cách luôn luôn tự làm trong sạch Đảng, gương mẫu tận tâm, tận lực, toàn trí với nhân dân, với dân tộc. Nhân dân chỉ có thể tin vào thực tiễn chứ không chỉ tin vào những lời nói tốt đẹp ghi trong các văn bản./.

Tự do phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật

Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Gần đây, trên một số trang mạng xã hội, xuất hiện một số người tự xưng là “người yêu tự do”, “nhóm yêu tự do”. Họ cho rằng quyền tự do ở Việt Nam đang bị hạn chế. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết về bản chất của tự do chân chính ở bất cứ nhà nước pháp quyền nào cũng đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật; không thể có tự do “vô chính phủ”, muốn làm gì thì làm. Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay được tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền. Bản chất của nhà nước pháp quyền là tính thượng tôn pháp luật. Pháp luật vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quyền tự do của công dân. Quyền tự do của công dân trong nhà nước pháp quyền được bảo đảm bằng pháp luật. Mọi người sống trong nhà nước pháp quyền được tự do trong khuôn khổ của pháp luật. Nhắc đến quyền tự do của con người, một số người đã trích Công ước nhân quyền châu Âu (Công ước) có hiệu lực từ ngày 3-9-1953, trong đó quy định: “Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới”. Một số người cho rằng, công dân Việt Nam chưa được hưởng quyền này. Thế nhưng họ không biết hoặc cố tình coi như không biết phần tiếp theo của Công ước đã trích dẫn ở trên nhấn mạnh: “Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc tán phát các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”. Như vậy, việc thực thi các quyền tự do đó và các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Vì mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do của công dân. Nước Mỹ được một số người coi là “hình mẫu của tự do”, nhưng tại Điều 2385 Chương 115-Bộ luật Hình sự Mỹ đã có quy định nghiêm cấm mọi hành vi "in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực". Theo Hiến pháp Mỹ thì Tòa án tối cao được phép đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện báo chí có hành vi phá hoại, lăng nhục, vu khống, xúc xiểm nhà nước, xã hội và cá nhân. Vì thế, hằng năm có hàng trăm các văn bản lớn nhỏ khác nhau được Tòa án tối cao ban hành để điều hành và kiểm soát báo chí ở Mỹ. Thực tế không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do của con người là tuyệt đối. Bởi lẽ, nếu tự do tuyệt đối thì xã hội sẽ bị loạn khi tự do bắn giết, tự do cướp bóc, tự do hãm hiếp… Quyền tự do của mỗi con người trong từng quốc gia đều được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia đó. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân. Quyền tự do của mọi người trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm bằng pháp luật của Việt Nam. Từ sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975) đến nay, quyền tự do, dân chủ của người dân Việt Nam ngày càng được mở rộng phù hợp với luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 đã nâng tầm chế định quyền con người, quyền công dân thành một chương. So với hiến pháp của nhiều quốc gia, Hiến pháp năm 2013 của nước ta thuộc vào những hiến pháp ghi nhận một số lượng cao về quyền con người, trong đó có quyền tự do. Sự tiến bộ này đã được nhiều học giả trên thế giới ghi nhận. Đặc biệt, Điều 20 và 21 của Hiến pháp năm 2013 quy định rõ, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của mọi người đều được bảo vệ; do đó, đã mở rộng chủ thể và nội dung quyền được bảo vệ về đời tư so với Điều 73 của Hiến pháp năm 1992-chỉ quy định về quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. Không chỉ củng cố các quyền đã được hiến định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 còn chế định một số quyền mới, như quyền sống (Điều 19); các quyền về nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (khoản 2, Điều 17). Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định công dân “có quyền được thông tin” (Điều 69), thì Hiến pháp năm 2013, ở Điều 25, thay chữ “được” bằng cụm từ “tiếp cận”. Nhờ quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin, cả về các quyền thực định cũng như về hoạt động tư pháp, để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật. Triển khai và cụ thể hóa những nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến quyền con người, nhằm nâng cao hơn nữa quyền tự do trong khuôn khổ pháp luật của người dân, Nhà nước ta đang khẩn trương xây dựng một số dự án luật mới như Luật Trưng cầu dân ý, Luật Về hội, Luật Biểu tình, Luật Tiếp cận thông tin... Trong đó, dự án Luật Biểu tình và dự án Luật Trưng cầu dân ý dự kiến sẽ được cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 (tháng 5-2015) và biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10-2015) của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII. Luật Báo chí dự kiến cũng sẽ được đưa ra sửa đổi tại nhiệm kỳ của Quốc hội này nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận của người dân trong khuôn khổ của pháp luật. Như vậy, ở nước ta quyền tự do của người dân đã và đang được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Trả lời phỏng vấn của Thông tấn xã Việt Nam mới đây, Phối Sư Thượng Tám Thanh-Hội trưởng Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh-nói: "Có thể là do một số nước không nắm được tình hình thực tế về sinh hoạt của các tôn giáo hiện có trên đất nước Việt Nam. Cũng có thể là các nước đó đã nhận được những nguồn tin thiếu trung thực, lệch lạc, khiến họ hiểu sai về thực trạng tự do hoạt động tôn giáo tại Việt Nam". Gần đây, khi một số người sử dụng mạng xã hội cũng như những hình thức thông tin khác xuyên tạc sự thật, chống phá Nhà nước và nhân dân ta bị xử lý theo pháp luật, đã có ý kiến trên mạng xã hội cho rằng, việc xử lý đó là vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng… và lên án gay gắt Điều 258 của Bộ luật Hình sự, đòi bỏ điều này. Cần phải khẳng định rằng, Điều 258 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn phù hợp với “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966”. Điều 258 Bộ luật Hình sự quy định những hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Điều luật này ban hành nhằm thực hiện quyền tự do của công dân trong khuôn khổ pháp luật cho phép, tránh những kẻ lợi dụng ý nghĩa của việc “tự do” để thực hiện những ý đồ đen tối, gây ảnh hưởng tới an ninh xã hội. Giả sử Điều 258 được bỏ đi như ý nguyện các nhà tự xưng là “tự do dân chủ” thì xã hội sẽ không thể tồn tại được bởi ai thích nói gì thì nói, có thể nói nhăng nói cuội, vu khống, bịa đặt… Lẽ tất nhiên, việc hoàn thiện thể chế, mở rộng hơn nữa các quyền tự do dân chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của chúng ta. Thế nhưng, dù có mở rộng “hết cỡ” các quyền tự do thì sự tự do ấy cũng phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật.

Tổ chức thực hiện tốt chính sách, chiến lược, chương trình liên quan đễn lĩnh vực dân tộc.

 


- Cùng với sự phát triển của đất nước, cơ chế, chính sách cho vùng dân tộc thiểu số đang có sự thay đổi căn bản, ngày càng sát thực tế hơn; từ chỗ chính sách cho vùng dân tộc thiểu số chủ yếu là hỗ trợ trực tiếp cho người dân, chuyển sang chính sách vừa đầu tư phát triển vừa hỗ trợ trực tiếp.

- Công tác tổ chức thực hiện chính sách dân tộc cũng được quan tâm phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; phát huy được vai trò của người dân và các đối tượng thụ hưởng. Nhờ vậy, tạo ra sự đồng thuận từ Trung ương đến địa phương trong các khâu xây dựng, thực hiện, kiểm tra và đánh giá chính sách. Đảng ta đã đánh giá: “Đã thực hiện có hiệu qủa nhiều chính sách đối với … đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa…”[1].

- Tập trung mọi nguồn lực, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc và miền núi; ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết những vấn đề bức xúc tại các địa bàn vùng dân tộc thiểu số như: vấn đề đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho các địa bàn khó khăn; phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí gắn với đào tạo nghề, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Ví dụ: Một số chính sách lớn được triển khai thực hiện có hiệu quả như:  

+ Chương trình 135 (năm 1998):

+ Các chính sách cho một số dân tộc rất ít người

+ Với nhiều cơ chế, chính sách giảm nghèo được ban hành trong giai đoạn vừa qua, bình quân tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2018 ở các huyện nghèo giảm xuống còn dưới 35% (giảm khoảng 5% so với cuối năm 2017); tỷ lệ hộ nghèo ở các xã ĐBKK giảm 3-4%/năm. Có 8 huyện thoát khỏi huyện nghèo theo Quyết định 30a của Thủ tướng Chính phủ; 14 huyện ra khỏi diện hưởng chính sách như huyện nghèo[2]. Hiện nay theo báo cáo của các địa phương, 124 xã, 1.298 thôn đủ điều kiện để xét hoàn thành mục tiêu Chương trình 135.

+ Công tác giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số đã có nhiều tiến bộ.

   + Mạng lưới y tế ở vùng dân tộc thiểu số phát triển, hệ thống bệnh viện tỉnh, huyện và trạm y tế xã đã được quan tâm đầu tư, 99,39% xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.

+ Hệ thống chính trị vùng dân tộc thiểu số thường xuyên được xây dựng, củng cố và ngày càng phát triển, nhất là hệ thống chính trị cơ sở.

Tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội cơ bản được ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Đồng bào các dân tộc đoàn kết, tin tưởng vào đưng lối đổi mới, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

- Các địa phương vùng DTTS đã quan tâm tới công tác quy hoạch, bố trí, sắp xếp dân cư, thực hiện phát triển sản xuất bền vững; lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư có trọng điểm, xây dựng các mô hình về phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường.

 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H.2016, tr.133

[2]. 8 huyện thoát khỏi huyện nghèo: Huyện Ba Bể (Bắc Kạn), Tân Sơn (Phú Thọ), Tân Uyên (Lai Châu), Than Uyên (Lai Châu), Quỳnh Nhai, Phù Yên (Sơn La), Như Xuân (Thanh Hóa), Sơn Hà (Quảng Ngãi). 14 huyện ra khỏi diện thực hiện chính sách như huyện nghèo: Bát Xát, Văn Bàn, tỉnh Lào Cai; Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; Vũ Quang, Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; Sông Hinh, Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên; Đăk Glei, Sa Thầy, Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; KBang, Krong Pa, La Pa, tỉnh Gia Lai.

Phòng ngừa, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Trong Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, một trong những thủ đoạn hết sức thâm hiểm của chúng là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, nhằm tha hóa nhận thức của cán bộ, từ đó dẫn đến những thay đổi về đường lối, chính sách-những biểu hiện của chuyển hóa chế độ XHCN ở nước ta sang một quỹ đạo khác. Tọa đàm khoa học "Kinh nghiệm về đấu tranh chống diễn biến hoà bình và phòng, chống tự diễn biến, tự chuyển hoá trên lĩnh vực tư tưởng- văn hoá ở Việt Nam hiện nay". Ảnh minh họa/ Nguồn: QĐND Đặc biệt là trong thời điểm hiện nay, khi tổ chức đảng các cấp đang tiến hành đại hội để tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII thì việc chống phá càng ráo riết. Các thế lực thù địch, cơ hội, bất mãn sử dụng đủ mọi chiêu trò, kể cả những việc có tính xảo trá như: Dựng chuyện, làm giả công văn giấy tờ, gửi đơn nặc danh tới các cơ quan công quyền để khiếu nại, tố cáo... Tất cả những hành động ấy là nhằm mục đích gây chia rẽ nội bộ, làm cho cán bộ, đảng viên nghi kỵ lẫn nhau, đảng viên phai nhạt niềm tin, quần chúng thiếu tin tưởng vào cấp ủy, chính quyền. Nhìn nhận một cách xác đáng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có cả nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, song quá trình và mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chủ yếu do nguyên nhân bên trong, nguyên nhân chủ quan, tức là do chính chúng ta quyết định. Điều này đã được V.I.Lê-nin cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”(1). Vì vậy, để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải kịp thời phát hiện và triệt tiêu các mầm mống, khả năng gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị. Thực tế cho thấy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mỗi con người, mỗi tổ chức trước hết và chủ yếu là về tư tưởng chính trị. Lĩnh vực này diễn ra hết sức phức tạp, đa dạng, với nhiều cấp độ, dần dần, nhỏ nhặt, mà biểu hiện cao nhất đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị trên các khía cạnh như: Phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đòi Đảng phải từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phê phán lịch sử cách mạng Việt Nam một cách thiếu khách quan; đòi xét lại con đường đi lên CNXH ở nước ta, kêu gọi thay bằng chế độ TBCN; xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Thực tiễn cách mạng thế giới đã cho thấy, nếu tư tưởng chính trị chệch hướng sẽ làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước bị chia rẽ, dẫn đến hệ lụy là nguy cơ “tự sụp đổ” chế độ chính trị khó tránh khỏi. Vì vậy, các thế lực thù địch luôn đặt trọng tâm thúc đẩy "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” nhằm vào các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, là nơi hoạch định ra đường lối, chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển đất nước. Tùy theo từng đối tượng và phạm vi tác động mà các thế lực thù địch sử dụng những thủ đoạn, nội dung, hình thức, biện pháp để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị khác nhau. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế. Biểu hiện đó là sự phủ nhận đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay; hạ thấp, đi đến làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước XHCN; đòi tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu để thay thế bằng chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN... Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế càng trở nên nguy hiểm trong điều kiện các thế lực thù địch có tiềm lực kinh tế rất mạnh. Chúng tìm mọi cách lợi dụng những kẽ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, khoét sâu vào hạn chế, khuyết điểm của ta để cổ súy, thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế, nhằm đến một lúc nhất định, khi sở hữu tư nhân TBCN đã giữ vai trò chi phối cơ sở hạ tầng kinh tế, thực chất là chuyển hóa thành kinh tế TBCN, thì kiến trúc thượng tầng XHCN chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa và “đổi màu”. Khi đó, chế độ kinh tế XHCN được thay thế bằng chế độ kinh tế TBCN. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống. Biểu hiện của quá trình này ở việc sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc; thương mại hóa các hoạt động văn hóa một cách thái quá, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, sống xa hoa, xa rời quần chúng... Nhận rõ tính chất nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”(2). Vì vậy, chúng ta cần làm tốt việc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trước hết chú trọng vào một số biện pháp chủ yếu sau: Thứ nhất, phải luôn giữ vững bên trong đi đôi với chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện "tự diễn biến", “tự chuyển hóa”. Giữ vững bên trong là giữ vững ổn định chính trị, xã hội; kiên định mục tiêu, lý tưởng XHCN; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc... Đồng thời, chủ động đấu tranh vạch rõ âm mưu, thủ đoạn hiểm độc của các thế lực thù địch tìm cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta ở mọi nơi, mọi lúc. Thứ hai, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy "xây" làm cơ sở quyết định để “chống”. Trước hết, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải tập trung xây dựng, củng cố hệ thống chính trị luôn trong sạch, vững mạnh để bảo đảm sự “miễn dịch” trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Phát hiện kịp thời các nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ khi còn ở dạng mầm mống, khả năng để làm cơ sở đấu tranh, phê phán, ngăn chặn hữu hiệu. Đồng thời, đấu tranh kiên quyết và triệt để với tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, coi đó như một thứ “giặc nội xâm”, không khác gì cuộc đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Thứ ba, phải coi trọng công tác tổ chức, cán bộ kết hợp với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng” vừa “chuyên”. Cần làm tốt công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, sắp xếp cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, chủ trì các cấp trong hệ thống chính trị, không để các thế lực thù địch lợi dụng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta. Vì thế, phải coi trọng gắn kết chặt chẽ công tác tổ chức, cán bộ với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ lý luận cách mạng, năng lực công tác, trau dồi phẩm chất đạo đức, lối sống, để mỗi người không dao động tư tưởng trước những tình huống khó khăn, phức tạp. Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn nham hiểm để hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta. Song, mọi mưu đồ của chúng có thực hiện được hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào chính chúng ta. Vì vậy, cần khẳng định, khi mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam luôn nhận rõ mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay; đồng thời, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng luôn vững niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự quản lý của Nhà nước, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, thì sẽ góp phần phòng ngừa, đẩy lùi được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân

Trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân. Điều này, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với cách mạng nước ta, góp phần đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Lợi ích theo Từ điển Tiếng Việt, là “điều có lợi, có ích cho một đối tượng nào đó, trong mối quan hệ với đối tượng ấy”[1]. Theo đạo đức học Mác - Lênin, “lợi ích là những điều kiện vật chất, tinh thần có tính khách quan đối với sự tồn tại và phát triển bình thường của các cá nhân, các cộng đồng người, các giai cấp và của xã hội nói chung”[2]. Với ý nghĩa đó, lợi ích cá nhân được hiểu là những điều có lợi, có ích cho cá nhân nói chung. Lợi ích cách mạng được hiểu là lợi ích chung của toàn dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử. Trong đó, xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam là xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, giành độc lập dân tộc và xây dựng thành công xã hội mới đảm bảo cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong bối cảnh đất nước bị xâm lược thì mục tiêu hàng đầu mà Hồ Chí Minh quan tâm đó là đánh đuổi chủ nghĩa thực dân, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Độc lập cho dân tộc là điều kiện để nhân dân được tự do, đồng bào được hạnh phúc. Nếu không có độc lập dân tộc thì không thể nói tới phát triển đất nước. Khi đất nước bị mất chủ quyền thì tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội đều phải chịu chung số phận của người nô lệ, đều phải chịu chung nỗi nhục mất nước. Người nhận thức sâu sắc rằng, độc lập dân tộc là cái trước hết, trên hết nhưng sau khi giành được độc lập rồi, thì đất nước sẽ phát triển theo con đường nào? Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại, Hồ Chí Minh khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc, phù hợp với xu thế thời đại và phù hợp với nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta. Mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân luôn tiềm tàng một mâu thuẫn, quan hệ giữa chúng là quan hệ giữa cái chung và cái riêng nên mâu thuẫn này là mâu thuẫn giữa cái chung và cái riêng, chứ không phải là mâu thuẫn đối kháng. Do đó, xã hội và cá nhân cần có sự điều chỉnh mối quan hệ giữa hai lợi ích trên. Với tư duy chính trị sắc bén, Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân. Nó góp phần khơi dậy, phát huy sức mạnh của cá nhân và cộng đồng trong sự nghiệp cách mạng chung. Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Hồ Chí Minh là phải đặt lợi ích của cách mạng, lợi ích của Tổ quốc lên trên lợi ích cá nhân. Điều này, được Người giải thích rất rõ trong “Bài nói tại buổi bế mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan trung ương” như sau: “Mọi người nhận rõ lợi ích chung của dân tộc phát triển và củng cố thì lợi ích riêng của cá nhân mới có thể phát triển và củng cố. Cho nên lợi ích cá nhân ắt phải phục tùng lợi ích của dân tộc, chứ quyết không thể đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích dân tộc. Đó là một tiến bộ”[3]. Vì “tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc”[4]. Sau này, trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Người khẳng định: “Trong chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, thì mỗi người là một bộ phận của tập thể, giữ một vị trí nhất định và đóng góp một phần công lao trong xã hội. Cho nên lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể. Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thoả mãn. Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”[5]. Trong bối cảnh đất nước mất chủ quyền, thực hiện giải phóng dân tộc trước hết đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp. Vì thế, lợi ích của giai cấp, của cá nhân phải phục tùng lợi ích của dân tộc. Tại Hội nghị lần thứ 8, của Ban chấp hành Trung ương Đảng (5/1941), Người khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại lại được”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam được tự do, nông dân có ruộng đất để cày cấy, trí thức được tự do sáng tạo… các giai cấp, tầng lớp trong xã hội từ thân phận của người nô lệ trở thành người chủ nước nhà. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục đạo đức, Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác nêu gương, vì đối với người phương Đông “Một tấm gương sống còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người nêu những tấm gương sáng của các vị anh hùng dân tộc và những cử chỉ tốt đẹp của Việt Minh đã luôn đặt lợi ích cách mạng, lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân để mọi người noi theo. Trong “Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng”, Người khẳng định: “Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. … Khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Uỷ ban Trung ương do Quốc dân đại hội bầu ra, đáng lẽ tham dự Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin lui, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng còn ở ngoài Việt Minh. Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học”[6]. Bên cạnh đó, Người còn dùng hình ảnh sinh động của “tàu điện” để phân tích một cách dễ hiểu về biểu hiện của việc chỉ chăm lo cho lợi ích cá nhân mình, tách cá nhân ra khỏi cộng đồng. Trong bài “Nói chuyện tại hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, Người nhấn mạnh: “…Trong khi kinh tế tài chính của ta có khó khăn lại muốn một mình ăn no mặc ấm. Ví dụ, ngoài đường kia có tàu điện chạy qua. Trong tàu điện có gái, trai, già, trẻ. Tàu điện đi đến đâu thì mọi người đi đến đó. Nhưng có người nói tàu điện chạy chậm quá muốn riêng mình đi cho mau, muốn nhảy ra khỏi tàu điện để chạy lên trước. Kết quả sẽ thế nào? Có thể là què chân, gãy tay. Vì vậy, không thể tách rời tiền đồ của cá nhân mình với tiền đồ của toàn dân, toàn Đảng”[7]. Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Nhưng quần chúng phải được giác ngộ, phải được tổ chức, được lãnh đạo theo một đường lối đúng đắn thì mới trở thành một lực lượng to lớn. Để làm được những việc có tầm rộng lớn ấy, Người thấy rõ phải đưa chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, từ đó thành lập Đảng Cộng sản để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vấn đề phải đặt lợi ích cách mạng, lợi ích của Đảng lên trên hết. Bởi vì, Đảng chính là người lãnh đạo, dẫn dắt toàn dân thực hiện lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, của nhân dân, “ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích khác… Vì vậy, mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài…”[8]. Theo Người, đó là mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người “đầy tớ” trung thành của nhân dân. Do đó, người dân Việt Nam luôn coi Đảng ta là của chính mình. Sau này, trong bài “Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, Người đã khẳng định mục đích đấu tranh của Đảng ta: “là muốn cho tất cả mọi người được ăn no, mặc ấm, được tự do”[9]. Mục đích của mỗi đảng viên đấu tranh cũng để mọi người được ăn no mặc ấm, được tự do. Đảng Cộng sản là đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân, đại diện cho ý chí, lợi ích của giai cấp công nhân, nhưng lợi ích của giai cấp công nhân về cơ bản là thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động. Người viết: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào... Giai cấp công nhân chẳng những đấu tranh để tự giải phóng, mà còn để giải phóng cả loài người khỏi áp bức, bóc lột. Cho nên lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích của nhân dân là nhất trí. Đảng viên là người thay mặt Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng, của giai cấp”[10]. Có thể nói, những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân gắn liền với sự giải phóng nó về mặt kinh tế, chính trị và tinh thần, gắn liền với sự phát triển toàn diện và tự do của loài người. Theo Hồ Chí Minh, “đặt lợi ích của Đảng, tức là đặt lợi ích của nhân dân lên trên, lên trước hết”[11], biết đem lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng là một trong những tiêu chuẩn của người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Một mặt, Hồ Chí Minh nêu lên những biểu hiện về sự thống nhất giữa lợi ích chính đáng của cá nhân với lợi ích của Đảng, mặt khác, Người cũng phê phán những biểu hiện cần tránh, đó là: “Nhiều khi lợi ích của cá nhân hợp với lợi ích của Đảng. Thí dụ đảng viên và cán bộ cẩn thận giữ gìn sức khoẻ của mình để làm việc. Ham học tập để nâng cao trình độ của mình. Làm đúng cần, kiệm, liêm, chính để cho dân tin, dân phục, dân yêu. Những lợi ích cá nhân đó rất chính đáng. Đảng mong cho đảng viên và cán bộ như thế. Song ngoài ra, như ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại, v.v.. Đó đều là trái với lợi ích của Đảng”[12]. Đồng thời, Người cũng lý giải tại sao mọi người lại lo nghĩ cho cá nhân trong bài “Nói chuyện tại hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục” như sau: “Có khi các cô, các chú lo nghĩ cho cá nhân, cái đó cũng dễ hiểu. Vì người ta không phải là thần thánh gì. Vả lại, khuyết điểm trong xã hội ảnh hưởng đến các cô, các chú”[13]. Có thể nói, dân tộc Việt Nam có truyền thống đề cao cộng đồng mà chưa có truyền thống và ý thức tôn trọng cá tính, nhân cách độc lập của mỗi người một cách đúng mức. Đây là mặt yếu, mà chúng ta đang dần dần khắc phục, để tạo ra một cuộc sống hài hòa giữa cộng đồng và cá nhân. Một mặt, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải đặt lợi ích cách mạng, lợi ích của Tổ quốc lên trên lợi ích cá nhân; mặt khác, Người cũng rất tôn trọng, quan tâm, chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng. Người viết: “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Nhưng lại phải thấy rằng chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình. Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”[14]. Đây là sự tiếp tục quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa tập thể. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định rằng: Chỉ có chủ nghĩa xã hội và sau đó là chủ nghĩa cộng sản mới có điều kiện phát huy toàn diện năng lực bản chất của con người, tự do, nhu cầu, khát vọng, năng khiếu của con người, C.Mác viết rằng, trong chủ nghĩa xã hội “sẽ xuất hiện một liên hợp trong đó có sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[15]. Bởi, cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng triệt để, sự thay đổi các điều kiện kinh tế - xã hội một cách căn bản và tiến bộ đã dẫn đến sự thay đổi các mặt đời sống xã hội, đem giá trị của con người trả lại cho con người, coi con người là mục đích cao nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, chống chủ nghĩa cá nhân nhưng “không giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Điều này tưởng chừng đơn giản nhưng để nhận thức đầy đủ và thực hiện đúng lại không đơn giản chút nào. Bởi lẽ, nếu quá nhấn mạnh lợi ích cá nhân, con người sẽ dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân và ngược lại, chống chủ nghĩa cá nhân không thận trọng sẽ “giày xéo” lên lợi ích chính đáng của cá nhân. Cả hai khuynh hướng trên đều dẫn tới những kết quả là cản trở sự nghiệp giải phóng cá nhân, khó thực hiện mục tiêu đem lại tự do, hạnh phúc cho mỗi người trong chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Ở đây, biểu hiện quan hệ giữa cá nhân và xã hội, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội thống nhất với nhau. Ở đó, con người không chỉ nghĩ và hành động vì mình mà vì người khác, có tinh thần trách nhiệm và thái độ tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, chúng ta phải chăm lo đến lợi ích vật chất, tác động vào các động lực chính trị - tinh thần như: phát huy quyền làm chủ và ý thức làm chủ của người lao động, thực hiện công bằng xã hội, bồi dưỡng các nhân tố đạo đức, văn hóa, pháp luật… để phát huy sức mạnh cá nhân. Để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân, theo Hồ Chí Minh, trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là “chủ nghĩa cá nhân”, phải biết đặt lợi ích của dân tộc, của giai cấp lên trên lợi ích cá nhân, phải biết quên mình cho nghĩa lớn. Vì vậy phải chống chủ nghĩa cá nhân. “Chủ nghĩa cá nhân” được hiểu là “cái gì cũng chỉ biết có mình và gia đình mình chứ ít khi nghĩ đến cái gia đình lớn là dân tộc, cái mình lớn hơn là phải hòa mình vào với dân tộc”[16]. Người ví chủ nghĩa cá nhân “như là một thứ vi trùng rất độc”, nó “đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”[17]. Sau này, Người còn chỉ ra những tác hại của chủ nghĩa cá nhân khi đảng viên mắc phải, như: “Vì chưa rửa gột sạch chủ nghĩa cá nhân, cho nên có đảng viên còn “kể công” với Đảng. Có ít nhiều thành tích, thì họ muốn Đảng “cảm ơn” họ. Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ. Nếu không thoả mãn yêu cầu của họ thì họ oán trách Đảng, cho rằng họ “không có tiền đồ”, họ “bị hy sinh”. Rồi dần dần họ xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”[18]. Trong khi miền Bắc nước ta đang tiến lên chủ nghĩa xã hội - Đó là công trình tập thể của hàng chục triệu người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, thì Người nhắc nhở: “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.[19] Vậy, “Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do. Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ăn no, mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, như thế mới đúng. Muốn như vậy, phải ra sức công tác, ra sức lao động sản xuất”[20]. Đồng thời, với việc chống chủ nghĩa cá nhân, Người đặc biệt coi trọng nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải “hết lòng tôn trọng tập thể, phát huy dân chủ nội bộ”, “phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ…”[21] Có thể nói, tư tưởng và tấm gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá mà Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta. Đây là một trong những nhân tố góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cho đến nay, những quan điểm của Người về giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân vẫn còn giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây cũng là nội dung, phương hướng rèn luyện đạo đức của mỗi người theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nó là kim chỉ nam của Đảng ta trong việc xây dựng đạo đức mới trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Những quan điểm trên của Người vẫn tiếp tục chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. Đặc biệt là trong bối cảnh, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, phai nhạt lý tưởng cách mạng, quá coi trọng đến lợi ích cá nhân đã và đang làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ thì việc nắm vững những quan điểm của Người về giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân có giá trị thời sự sâu sắc. Hiện nay, vận dụng quan điểm của Người để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng với lợi ích cá nhân, đòi hỏi mọi suy nghĩ và hành động của cá nhân phải trên cơ sở lợi ích chung của tập thể, của Đảng, của đất nước, trong đó có quyền lợi của chính bản thân mình, đó là phấn đấu vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong từng nhiệm vụ cụ thể, phải đặt lợi ích chung của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân mình. Đồng thời, xã hội phải có những cơ chế đảm bảo lợi ích chính đáng của cá nhân. Trong cơ chế cũ, có lúc chúng ta đã tuyệt đối hóa tập thể, triệt tiêu cá nhân. Lợi ích xã hội nhiều khi được quan niệm rất trừu tượng, mơ hồ, biến lợi ích chung thành lợi ích của thứ “cộng đồng hư ảo” như Mác đã nói… Ngày nay, trong quá trình chuyển đổi cơ chế lại có một sự điều chỉnh, đánh giá lại mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể và xã hội. Việc phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội; đáp ứng nhu cầu trước mắt với lợi ích lâu dài giữa cá nhân và cộng đồng là điều kiện đảm bảo tốt nhất vấn đề lợi ích, là cơ sở để đảm bảo sự gắn bó giữa Đảng với dân ở nước ta hiện nay. Như vậy, với nhãn quan chính trị sắc bén, Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân. Sự thống nhất, hài hòa các lợi ích này là động lực cho cá nhân hoạt động, là cơ sở cho sự gắn bó giữa cá nhân với tập thể và xã hội; đồng thời, phát huy được sức mạnh của cộng đồng cũng như sức mạnh cá nhân trong sự nghiệp cách mạng chung, góp phần đưa cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn.

Xây dựng "sức đề kháng" trước sự xâm nhập của thông tin xấu độc

Thông tin sai trái, độc hại do các thế lực thù địch chủ mưu thực hiện là sự phản ánh sai lệch sự thật, chủ ý bóp méo, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng, thay đen”, làm lẫn lộn đúng sai, thật giả, chân lý, sai lầm, nhằm lừa bịp, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vào Đảng, Nhà nước, Quân đội và chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. Thông tin sai trái, độc hại do các thế lực thù địch chủ mưu thực hiện là sự phản ánh sai lệch sự thật, chủ ý bóp méo, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng, thay đen”, làm lẫn lộn đúng sai, thật giả, chân lý, sai lầm, nhằm lừa bịp, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vào Đảng, Nhà nước, Quân đội và chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. Tác hại của thông tin sai trái, độc hại là rất lớn, nó không chỉ gây bất lợi cho sự ổn định an ninh chính trị mà còn làm ô nhiễm môi trường thông tin xã hội. Nó tựa như bụi bẩn, khói đen trộn lẫn vào không khí, người đi đường hít thở phải nó, gây ngạt thở, giàn giụa nước mắt và ho sặc sụa hoặc ví như nước sạch bị ô nhiễm tanh hôi của phế thải, làm người dùng sinh bệnh hiểm nghèo, lây nhiễm ung thư. Vì lẽ đó, thông tin sai trái, độc hại không chỉ xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, kỷ luật của Quân đội, hạ thấp uy tín, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội mà còn cố tình gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự phân tâm trong xã hội, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán nản, thất vọng, thậm chí mất phương hướng, mơ hồ về chính trị ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đối với đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động, bọn cơ hội chính trị là đẩy mạnh việc tung tin xấu độc, làm ô nhiễm bầu không khí chính trị ở nước ta trước, trong và sau đại hội Đảng các cấp nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lái nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Nham hiểm, ác độc hơn, chúng sử dụng mọi thủ đoạn có thể để cố tình gây mâu thuẫn trong nội bộ ta, chia rẽ sự đoàn kết thống nhất giữa Đảng với Nhà nước, giữa Đảng, Nhà nước với Quân đội và Nhân dân, làm rối loạn môi trường chính trị để dễ bề thúc đẩy "tự diễn biến","tự chuyển hóa" trong nội bộ Đảng, Nhà nước và Nhân dân, đòi “phi chính trị hóa” quân đội, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, thủ tiêu thành quả cách mạng mà nhân dân ta bằng xương máu, mồ hôi, công sức của mình xây đắp nên; hướng lái nước ta đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Một trong những giải pháp quan trọng, góp phần tạo sức đề kháng trước thông tin xấu độc là chúng ta cần hết sức chủ động, tích cực ngăn chặn, đẩy lùi, bác bỏ các thông tin sai trái, độc hại do các thế lực thù địch gây ra với nhiều thể loại; đồng thời, đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục chính trị nhằm củng cố vững chắc trận địa tư tưởng, văn hóa của Đảng trong quân đội, đặc biệt chăm lo công tác xây dựng bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ quân đội ta hiện nay. Vì sao phải làm như vậy? Bởi lẽ, bản lĩnh chính trị vững vàng của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta là thước đo phẩm chất chính trị, giá trị nhân cách Bộ đội Cụ Hồ với các thuộc tính bền vững: Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó; là vũ khí sắc bén để cán bộ, chiến sĩ tự tin chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, suốt đời tận trung với nước, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Các tín điều trong giáo lý Công giáo

 


(1) -Thiên Chúa và sự sáng tạo thế giới của Thiên Chúa:

+ Tin vào Thiên Chúa và sự màu nhiệm của Thiên Chúa là tín điều căn bản đầu tiên của Công giáo. Giáo lý Công giáo cho rằng Thiên Chúa là đấng thiêng liêng, sáng láng, có quyền phép vạn năng; Chúa là đấng hằng hữu có trước không gian và thời gian.

+ Thiên Chúa có ba ngôi, tuy là ba ngôi nhưng cũng cùng một bản thể - Thiên Chúa (tam vị nhất thể), mỗi ngôi có chức năng riêng: Ngôi thứ nhất là Cha - tạo dựng; Ngôi thứ hai là Con - cứu chuộc; Ngôi thứ ba là Thánh thần - thánh hóa.

 + Thiên Chúa là đấng sáng tạo: tạo dựng trời đất và muôn loài trong 6 ngày, ngày thứ bảy sau khi hoàn thành công việc tạo dựng thế giới, Thiên Chúa nghỉ ngơi và ngày đó được gọi là ngày Chúa nhật (Chủ nhật).

(2)- Con người và sự sa ngã của con người: Kinh Thánh cho rằng, con người do Thiên Chúa tạo ra theo hình ảnh của Ngài; được tạo dựng với mục đích là thờ phụng Thiên Chúa và tiếp tục kiến tạo thế giới. Con người, theo quan niệm của Công giáo có hai phần: phần xác hữu hình, mang tính phàm tục, có sinh có tử; còn phần hồn vô hình, thiêng liêng và bất tử. Con người sau khi chết, thể xác trở về với cát bụi còn phần hồn sẽ tồn tại vĩnh cửu theo sự phán xét của Thiên Chúa.

Giáo lý Công giáo đặc biệt nhấn mạnh đến tội lỗi, sự sa ngã của con người và coi đó thuộc về bản tính người. Chính vì những tội lỗi đó mà con người phải chết. Sau khi chết, linh hồn không được vào Thiên đường ngay mà phải chịu sự phán xét của Thiên Chúa.

(3)- Chúa Giêsu và công cuộc cứu chuộc: Công giáo cho rằng, ngôi hai Thiên Chúa (Chúa con) đã xuống trần làm người để cứu chuộc tội lỗi cho loài người (Đấng cứu thế). Sau khi chết 3 ngày, Chúa Giêsu sống lại, sống tiếp 40 ngày cùng các môn đệ cứu độ chúng sinh. Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã lập 7 phép Bí tích.

(4)- Chúa Giêsu trở lại và sự phán xét cuối cùng. Đây cũng là một trong những nội dung căn bản trong giáo lý Công giáo. Niềm tin vào việc Chúa Giêsu trở lại trần thế và phán xét cuối cùng được xem là việc hoàn tất công cuộc cứu chuộc (với 3 sự kiện: Tận thế, Phục sinh và sự phán xét của Thiên Chúa).

(5)- Thiên đường và địa ngục, thiên thần và ma quỷ. Trong Kinh Thánh Công giáo, Thiên đường và địa ngục, thiên thần và ma quỷ là những vấn đề thuộc đức tin và chúng có mối quan hệ gắn bó khăng khít. Riêng đối với Công giáo, ngoài thiên đường và địa ngục còn có thêm khái niệm luyện ngục.

Chuyển tiền nhầm: Xuất hiện thủ đoạn lừa đảo mới


        Một ngày nọ, tài khoản ngân hàng của bạn bỗng dưng nhận được một khoản tiền từ vài triệu đồng đến cả trăm triệu đồng mà không rõ người gửi. Bạn sẽ làm gì với số tiền đó? nên để kệ hay là rút ra tiêu - đa phần các chủ tài khoản đều có chung những câu hỏi trên.

 

          Thủ đoạn kiếm ăn trên lòng trắc ẩn

          Nếu có chuyện đó, chủ tài khoản cần cảnh giác ngay! Bởi thời gian qua đã xuất hiện những đối tượng chủ động chuyển nhầm tiền để lừa đảo.

          Bỗng dưng có tiền!

          Một buổi sáng tháng 5-2021, chị Hoàng Tử Vân - một người làm nghề tự do bỗng dưng nhận được tin nhắn từ điện thoại thông báo tài khoản của chị vừa được cộng thêm 30 triệu đồng.

          Cứ ngỡ đây là khoản tiền thù lao mà mấy công ty xuất bản trả cho hợp đồng dịch sách nên chị Vân lập tức rút 29 triệu đi mua điện thoại mới, rồi váy vóc, giày dép... Cho đến buổi tối, tài khoản của chị được cộng thêm 50 ngàn đồng kèm tin nhắn với nội dung xin lại tiền, vì lúc sáng chuyển nhầm. Bấy giờ, chị Vân mới liên hệ lại mấy công ty sách để hỏi thì họ nói khoảng 1 tuần - 10 ngày nữa mới chuyển thù lao cho chị.

          Trong khi chị đang trao đổi thì số điện thoại kia liên tục thúc giục chị "bắn" lại ngay, vì họ đang có việc cần. Chị Vân đã giải thích là do lúc sáng chị không biết là của họ chuyển nhầm mà tưởng đó là thù lao nên chị trót tiêu gần hết rồi, chị sẽ vay để trả lại cho họ. Suốt 30 phút sau đó, trong khi chị Vân gọi điện vay tiền từ người thân bạn bè để trả thì phía bên kia vẫn tiếp tục nã điện thoại. Thậm chí sau đó còn có cả tiếng giang hồ dọa dẫm...

          Một vụ việc khác. Anh Lê Phúc chuyên kinh doanh đồ công nghệ online cũng tự nhiên nhận được hàng trăm triệu đồng mà không rõ người gửi. Nghĩ là tiền "chùa", anh liền sử dụng để trả cho các đơn hàng đã mua trước đó. Anh Phúc nghĩ đơn giản là chỉ "mượn" một vài ngày rồi sẽ trả lại, không ngờ hàng hóa bán chậm mãi không gom đủ số tiền đã trót tiêu.

          Mặt khác, chủ tài khoản sau khi phát hiện ra chuyển nhầm đã nhắn tin cho anh xin lại. Phía bên ngân hàng cũng đã liên hệ với anh Phúc để trao đổi thông tin, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng. Cho đến khi cơ quan công an vào cuộc thì anh này mới vội vàng đi vay mượn để trả lại số tiền kia.

          Theo đại diện của ngân hàng V., mỗi năm hệ thống ghi nhận hàng trăm lượt khách hàng đề nghị tra soát giao dịch do chuyển nhầm vào hệ thống của ngân hàng này. Điều này đồng nghĩa với việc có hàng trăm chủ tài khoản bỗng dưng nhận được tiền.

          Nếu chủ tài khoản bên nhận có thiện chí thì việc hoàn trả rất đơn giản, song nếu chủ tài khoản không thiện chí, hoặc họ đã trót tiêu mất rồi, chủ tài khoản ở nước ngoài... thì sẽ rất rắc rối. Quy định hiện nay không cho phép ngân hàng tiết lộ thông tin cá nhân của người nhận cho người chuyển tiền và cũng không được phép can thiệp tài khoản người nhận, tự ý hoàn trả số tiền chuyển nhầm khi chưa được sự đồng ý của chủ tài khoản nhận. Hay nói cách khác, ngân hàng chỉ có thể hỗ trợ người chuyển tiền nhầm bằng cách liên hệ với người nhận để họ tự nguyện hoàn trả tiền.

          Xuất hiện hành vi lừa đảo

          Theo một điều tra viên phòng Cảnh sát hình sự, Công an TP Hà Nội, thời gian gần đây Cơ quan công an đã ghi nhận một số trường hợp có dấu hiệu lừa đảo trong việc chuyển nhầm tiền vào tài khoản.

          Trường hợp anh Vũ Hoàng T. (trú tại quận Hoàng Mai, Hà Nội) mới xảy ra gần đây là một ví dụ. Vào một buổi trưa anh T. thấy tài khoản "nổ" một khoản tiền hơn 2 triệu đồng vào tài khoản. Anh ngồi thừ ra một lúc, nghĩ mãi mà không biết ai đã chuyển vào cho mình. Khoảng 30 phút sau, có một số điện thoại lạ gọi đến với anh, giọng một phụ nữ hết sức ngọt ngào. Chị ta cho biết đã lỡ chuyển nhầm cho anh T. và mong được anh chuyển lại. Chị ta cũng nói rằng đang ở nước ngoài nên nhờ anh đăng nhập vào dịch vụ chuyển tiền quốc tế qua một đường link. Không ngờ, sau khi điền xong các thông tin, anh T. phát hiện thấy mấy chục triệu đồng trong tài khoản của mình đã bị rút sạch.

          Bên cạnh đó, đã xuất hiện tình trạng một số đối tượng cố tình chuyển nhầm tiền để đẩy chủ tài khoản vào đường dây vay lãi nặng. Đó là trường hợp chị O. (trú tại quận Ba Đình, Hà Nội). Chị cho biết ngày 12-6-2021 chị bất ngờ nhận được số tiền hơn 45 triệu đồng chuyển vào tài khoản ngân hàng cùng với một nội dung đính kèm khó hiểu. Đến cuối giờ chiều cùng ngày, một tài khoản zalo lạ kết bạn với chị và nói rằng công ty tài chính đã giải ngân khoản vay của chị. Như vậy, chị O. bỗng nhiên bị biến thành một người vay nợ.

          Nhận thấy có dấu hiệu lừa đảo vì bản thân không thực hiện bất cứ thủ tục vay mượn nào, nên chị O. đã trình báo sự việc lên cơ quan công an. Có vẻ như biết được hành vi lừa đảo đã bất thành, đối tượng trên lập tức đổi thái độ, nhắn nhiều tin cho chị với nội dung hăm dọa. Chị O. cho biết đã thực hiện các thủ tục tra soát với ngân hàng, đồng thời giao toàn bộ số tiền cho cơ quan công an giải quyết.

          Được biết chiêu thức lừa đảo này đã từng được một số kẻ gian sử dụng vào năm 2020, nhắm vào những người hiền lành, nhẹ dạ cả tin. Cụ thể, sau khi đã có được một số thông tin cá nhân của người dùng, như tên tuổi, số điện thoại hay thậm chí là địa chỉ, các đối tượng lừa đảo sẽ cố ý "chuyển nhầm" một khoản tiền đến cho "con mồi". Kẻ lừa đảo sẽ giả danh là người thu hồi nợ của một công ty tài chính nào đó để liên hệ với "con mồi". Lúc này, chúng có thể yêu cầu người dùng trả lại số tiền kia như một khoản vay cùng với một khoản lãi "cắt cổ".

          Một chiêu thức khác của các đối tượng lừa đảo là lập ra trang web giả mạo ngân hàng, có giao diện khá giống với website của ngân hàng. Sau đó tìm kiếm trên mạng những trường hợp khách hàng chuyển khoản nhầm và đóng giả nhân viên ngân hàng hỗ trợ khắc phục sự cố chuyển nhầm, nhận nhầm. Khi bị hại tin thật, nhóm này gửi đường link để họ đăng nhập vào trang web giả mạo để chiếm đoạt thông tin, chiếm đoạt tiền trong tài khoản thật của khách hàng.

          Vào đầu tháng 5-2021 vừa qua, Công an quận Đống Đa, TP.Hà Nội đã bắt giữ nhóm đối tượng chuyên giả danh ngân hàng lừa đảo người chuyển khoản nhầm để chiếm đoạt tiền của họ. Các đối tượng trong ổ nhóm này gồm Trương Huy Cường (SN 1993), Lê Minh Hoàng (SN 1998) và Lưu Quốc Toàn (SN 1987), đều trú tại tỉnh Quảng Nam.

          Trước đó các đối tượng phát hiện ra chị Phạm Thị T. (trú tại quận Đống Đa, Hà Nội) chuyển nhầm tiền và lên mạng hỏi cách lấy lại. Các đối tượng lập tức đóng vai là nhân viên ngân hàng liên hệ lại rồi chiếm quyền quản trị tài khoản, lấy đi hơn 200 triệu đồng của chị. Để tránh bị truy vết, nhóm này chuyển tiền từ tài khoản người bị hại vào tài khoản ví điện tử sử dụng SIM rác. Từ các ví điện tử này sẽ chuyển tiền nạp vào game có máy chủ đặt tại nước ngoài.

          Làm gì khi "Bỗng dưng có tiền"?

          Theo một điều tra viên phòng Cảnh sát hình sự, Công an TP Hà Nội, khi chủ tài khoản bỗng dưng nhận được một khoản tiền "chuyển nhầm" cho mình thì cần làm theo các bước sau. Một là không sử dụng số tiền ấy vào việc chi tiêu cá nhân, nếu đó là tiền chuyển nhầm thật thì sẽ có đại diện ngân hàng liên hệ để làm việc, hoặc người dân có thể chủ động liên hệ với ngân hàng để thông báo.

          Nếu là số tiền nhỏ thì chủ tài khoản có thể yêu cầu ngân hàng cung cấp sao kê rồi đối chiếu với những thông tin nhận được và tiến hành chuyển lại. Còn đối với số tiền lớn thì chủ tài khoản nên sắp xếp thời gian đến trực tiếp chi nhánh ngân hàng để thực hiện việc xác minh. Hoặc người dân cũng có thể liên hệ với cơ quan công an để giải quyết.

          Người dân tuyệt đối không chuyển hoàn cho người lạ khi không có bên thứ ba làm chứng, tránh bị phiền toái sau này. Đồng thời không chuyển hoàn vào một tài khoản khác với tài khoản đã chuyển cho mình, phải chờ ngân hàng giải quyết trước. Khi nhận được điện thoại từ ngân hàng, bạn cần kiểm tra xem có đúng là số của ngân hàng không. Để chắc chắn hơn, chủ tài khoản nên đến ngân hàng làm việc trực tiếp. Đặc biệt không bao giờ cung cấp mã OTP, tên đăng nhập, password của tài khoản ngân hàng cho bất cứ ai kể cả họ có tự xưng là người thân, bạn bè, nhân viên ngân hàng hay cơ quan chức năng...