Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

BẢN CHẤT CỦA QUÂN DỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 


Quân đội nhân dân Việt Nam được hình thành từ những tổ chức vũ trang  trong phong trào đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp sáng lập, tổ chức, lãnh đạo. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định tính tất yếu, đặc thù ra đời và vai trò to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Về bản chất, Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, công cụ bạo lực vũ trang của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và có bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

 Là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Quân đội nhân dân Việt Nam cùng với các lực lượng của toàn dân tộc, tiến hành đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược để giành độc lập dân tộc và thực hiện thống nhất nước nhà. Sau khi đất nước độc lập thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng và công cuộc lao động hoà bình xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quan tâm giáo dục, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Bản chất giai cấp công nhân và truyền thống vinh quang của quân đội ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".

Là quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn có bản chất giai cấp công nhân sâu sắc. Bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta được biểu hiện ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; hệ tư tưởng và nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước xã hội chủ nghĩa quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; quyết định các nguyên tắc tổ chức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Hệ tư tưởng thống trị trong quân đội ta là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân.

Bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta còn được biểu hiện ra ở các đặc trưng chính trị - xã hội và chức năng cơ bản của nó. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là đặc trưng quan trọng nhất, nguồn gốc chủ yếu quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Quân đội ta còn là quân đội của dân, do dân và vì nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mối liên hệ máu thịt giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với nhân dân không ngừng được củng cố và tăng cường. Đảm bảo sự thống nhất và tăng cường mối liên hệ giữa quân đội với nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng quân đội ta từ trước đến nay. Trong sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của mình, quân đội ta còn mang tính quốc tế sâu sắc. Tính quốc tế của quân đội ta do bản chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và bản chất giai cấp công nhân của quân đội quy định. Các đặc trưng trên của quân đội ta không tách rời nhau, mà có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Quân đội ta luôn có sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân sâu sắc và tính dân tộc chân chính. Sự thống nhất này biểu hiện toàn diện trong quá trình xây dựng và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ  nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm trong phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Đồng chí Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng ban Chỉ đạo Chương trình số 10-CTr/TU ngày 17-3-2021 của Thành ủy về “Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2021-2025” (gọi tắt là Chương trình số 10-CTr/TU) vừa ký ban hành Kế hoạch số 03-KH/BCĐ về tổ chức thực hiện Chương trình số 10-CTr/TU của Thành ủy giai đoạn 2021-2025.

Kế hoạch nêu rõ, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tổ chức nghiên cứu, quán triệt nội dung Chương trình số 10-CTr/TU nghiêm túc, hiệu quả để tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Gắn nhiệm vụ triển khai thực hiện Chương trình số 10-CTr/TU với việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVII Đảng bộ thành phố, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhằm nâng cao nhận thức, ý thức, vai trò, xác định trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, đảng viên và nhân dân Thủ đô trong công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Các cấp ủy, chính quyền từ thành phố tới cơ sở, căn cứ nội dung Chương trình số 10-CTr/TU, chức năng, nhiệm vụ được giao và tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị để xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để triển khai; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức thực hiện Chương trình số 10-CTr/TU bảo đảm hiệu quả.

Kế hoạch phân công cụ thể từng cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện Chương trình số 10-CTr/TU. Trong đó, Ban Chỉ đạo Chương trình số 10-CTr/TU giúp Ban Thường vụ Thành ủy chỉ đạo triển khai việc tổ chức thực hiện chương trình; hằng năm tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả triển khai thực hiện ở các cấp ủy trực thuộc, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố; sửa đổi, bổ sung các nội dung, nhiệm vụ phát sinh và giải pháp để thực hiện có hiệu quả Chương trình số 10-CTr/TU…

HÃY ĐỂ SỰ THẬT LÊN TIẾNG

 

Sự việc quân nhân Trần Đức Đô ở Trường Quân sự Quân khu 1 chết bất thường đang được 5 đơn vị tiến hành điều tra. Các đơn vị đang vào cuộc gồm: Phòng Điều tra hình sự Quân khu 1, Cục Điều tra hình sự (Bộ Quốc phòng), Cục Bảo vệ an ninh quân đội (Bộ Quốc phòng), Viện Pháp y quân đội và Công an tỉnh Thái Nguyên.

Nên gọi đây là vụ quân nhân chết bất thường. Bất thường, vì đây là tân binh, chết trong giờ hành chính, khi đơn vị đang huấn luyện, trong khu vực thao trường dã ngoại, địa bàn đơn vị đang kiểm soát; và ngay từ đầu, giữa gia đình và đơn vị có phát ngôn khác nhau.

Trong trường hợp cái chết này, ngay lúc này, ai đó nói quân nhân Trần Đức Đô chết do nguyên nhân nào, đều là vội vàng, chủ quan, và rất dễ vi phạm luật tố tụng. Bởi đây là vụ việc nghiêm trọng, một cái chết bất thường, có nhiều nghi vấn; đặc biệt, cơ quan chức năng đang trong quá trình điều tra.

Khi cơ quan chức năng đang trong quá trình điều tra, những nội dung khám nghiệm hiện trường, dựng hiện trường, thực nghiệm điều tra… chưa hoàn tất, chưa có kết luận chính thức, thì mọi suy đoán, suy luận, thậm chí, đi xa hơn, thay cơ quan điều tra kết luận, đều không được phép. Nó sẽ tác động tiêu cực đến tính khách quan, tuân thủ sự thật của pháp luật; nó không có lợi trong việc trấn an dư luận, tạo đồng thuận xã hội, điều rất nên chú ý trong những vụ việc như thế này. Lúc này, dư luận cần nghe thông tin chuẩn xác từ cấp đơn vị trực tiếp quản lý quân nhân, tiểu đội, trung đội, đại đội.

Vụ quân nhân chết bất thường là nỗi đau, trước hết cho gia đình quân nhân, đơn vị, đồng đội, thêm nữa, quân đội, cộng đồng xã hội. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, huống hồ sinh mạng một quân nhân, từng tự nguyện viết đơn xin nhập ngũ, được đánh giá là quân nhân tu dưỡng tốt, được chọn đi học lớp tiểu đội trưởng! Cái chết bất thường, nhưng đừng để vụ việc thành phức tạp, nghiêm trọng.

Trong chế độ ta, môi trường xã hội, môi trường quân đội là rất ưu việt, tốt đẹp, nhưng không hoàn toàn vô trùng, vô nhiễm. Trong cuộc sống này, chuyện gì cũng có thể xảy ra. “Lò” đốt tiêu cực mà Tổng bí thư của Đảng nhóm lên từ nhiều năm qua vẫn thường xuyên đỏ lửa! Vậy thì, đừng ngại ngần, hãy để sự thật cất tiếng nói! Biết đâu, đây là cơ hội, để Quân đội càng xứng đáng là Quân đội Nhân dân, để Nhân dân thêm tin yêu Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu!


ĐỪNG “CHỈ THẤY CÂY MÀ KHÔNG THẤY RỪNG”

 


"Mất niềm tin vào Quân đội" "Không tham gia quân đội, không tham gia nghĩa vụ quân sự..." có lẽ đây là những câu xuất hiện nhiều nhất trong mấy ngày hôm nay trên khắp mặt trận, khắp các diễn đàn trên mạng xã hội… Xin hỏi nếu bạn không tin vào Quân đội nhân dân Việt Nam thì bạn sẽ tin ai"..?

Nếu như đất nước Việt Nam chúng ta, không còn lực lược vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân thì lấy ai bảo vệ Tổ quốc, lấy ai bảo vệ biên giới, hải đảo, giặc ngoại xâm. Thiên tai bão lũ, lũ lụt sạt lở đất miền núi, bão lũ miền biển lấy ai cứu hộ nhân dân, cứu hộ thiên tai, cứu hộ ngư dân gặp nạn, cứ hộ đê kè... Thiên tai qua đi vẫn là "màu xanh" đó hỗ trợ khắc phục hậu quả bão lũ, sát vai cùng nhân dân từng phút. Vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân là không thể thay thế được. Dịch bệnh hoành hành, lực lượng vũ trang Quân đội nhân dân vẫn là lực lượng xung kích cùng với ngành Y tế tham gia trên tuyến đầu công tác phòng chống dịch Sars-covi-2. Trong cuộc chiến thời bình hiện nay cũng đã có biết bao nhiêu cán bộ, chiến sỹ hy sinh khi làm nhiệm vụ; có bao nhiêu con người phải từ biệt mẹ già, con thơ, xa gia đình cả năm không về; có những đồng chí hoãn cưới hay gia đình có người thân mất cũng không về mà phải lập bàn thờ "bái vọng" từ xa không?..nhưng trên hết họ vẫn kiên cường vượt qua tất cả. Bởi họ luôn tâm niệm rằng " Tổ quốc ở trong tim, Nhân dân ở phía trước".. như vậy đã đủ cống hiến, đã đủ hy sinh chưa các bạn..?

"Nghĩa vụ quân sự" là nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của bất kỳ quốc gia nào không riêng gì ở Việt Nam, con em chúng ta khi tham gia nghĩ vụ quân sự, có thể xa gia đình 2 năm nhưng cũng có nhiều người trưởng thành, họ đã dành cả tuổi trẻ nhiệt huyết, dành cả cuộc đời cho Quân đội, cho Tổ quốc tới lúc đoàn tụ với gia đình có lẽ mái tóc đã điểm bạc...

Sự việc của đồng chí Đô của Quân khu 1, Chính phủ, Bộ quốc phòng vẫn đang trong quá trình điều tra xác minh, chưa có thông tin thông cáo báo chí chính thức, nhưng người đọc chỉ đọc qua các bài báo, các phát ngôn cá nhân mà đã quy chụp kết luận từ đó bài xích đánh đồng chức năng nhiệm vụ của Quân đội nhân Việt Nam. Ai thấy, ai biết vụ việc này mà không đau, không xót. Các cấp chỉ huy trong Quân đội, đồng đội của đồng chí Đô… họ cũng đau, cũng xót lắm chứ...và trong vụ việc cũng còn có nhiều điều cần phải làm, nhưng không vì thế mà vội vàng kết luận sự việc mà phải chờ vào kết quả điều tra rõ ràng, cụ thể và chính thức thừ Bộ Quốc Phòng. Cha mẹ mất đi con cái đó là điều vô cùng đau xót. Cũng rất mong các cơ quan chức năng sớm điều tra làm rõ nguyên nhân tử vong của đồng chí, cho gia đình, người thân cũng cho nhân dân 1 câu trả lời sớm nhất, thỏa đáng nhất.

Nhưng... không phải thế mà chúng ta mất đi niềm tin vào lực lượng vũ trang, Quân đội nhân dân Việt Nam. Và xin được khẳng định lại rằng:  Ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ thời điểm nào, từ 2 cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước đến cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở Biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc... Ở khắp nơi, biên cương, hải đảo xa xôi, thời chiến cũng như thời bình lực lượng Quân đội nhân dân vẫn đang ngày đêm vững tay súng, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ, và cũng từ đó mà có rất nhiều sự hi sinh thầm lặng vẫn diễn ra hằng ngày, để xã hội và Nhân dân có được cuộc sống bình yên, đất nước được hòa bình...

Thượng tướng Phan văn Giang, Bộ trưởng Bộ quốc phòng đã từng nói: "Quân đội sẽ cố gắng làm, làm hết mình, vì Nhân dân, vì Tổ quốc, vì sự trường tồn của Đất nước này"..! Phẫn nộ, bức xúc... là tâm trạng của mọi người khi theo dõi về vụ việc, nhưng hãy là người tỉnh táo, sáng suốt, công tâm nhất, khách quan nhất đừng vì 1 sự việc chưa có kết luận, một hiện tượng đơn lẻ mà phủ nhận,  đánh đồng cho toàn bộ lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đột phá mạnh vào sắp xếp tổ chức các bộ...

Bộ trrưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cho biết sẽ có đột phá mạnh trong sắp xếp tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, các đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị hành chính...

Ngày 2-7, Bộ Nội vụ tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2021 của ngành Nội vụ.

Giảm đầu mối gắn với giảm biên chế

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà đánh giá vấn đề sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập vẫn còn chậm, lúng túng.

“Nơi nào sáng tạo, linh hoạt, năng động, tích cực, quyết tâm, quyết liệt thì nơi đó thực hiện rất tốt. Nơi nào thấy còn băn khoăn, chưa quyết liệt, chưa quyết tâm cao thì nơi đó chậm chạp”- Bộ trưởng nói và đánh giá việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa tạo ra được sự nhận thức thống nhất, đồng bộ và quyết tâm, quyết liệt.

“Đây là tồn tại, hạn chế của một số địa phương”- bà nói thêm.

Cũng theo Bộ trưởng Nội vụ, bộ máy hiện nay còn quá cồng kềnh, nhiều tầng nấc trong tổ chức đầu mối bên trong. Các bộ và cơ quan ngang bộ cũng rất chồng chéo.

“Tới đây, chúng tôi sẽ phải đột phá rất mạnh vào vấn đề sắp xếp tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, các đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị hành chính. Đồng thời thay đổi mô hình quản lý, đẩy mạnh tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp”- bà Trà nhấn mạnh.

Bộ trưởng Nội vụ sau đó cũng lưu ý việc đột phá vào việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã. Theo bà, nếu không giảm được đầu mối sẽ không thể tinh giản biên chế.

“Đầu mối cứ nguyên trạng thế này thì không bao giờ giảm biên chế được. Do vậy, việc giảm đầu mối gắn với giảm biên chế là một nguyên tắc, phải tập trung đột phá vấn đề này”- bà Trà nói.

Bà cũng chỉ ra rằng, kỷ cương, kỷ luật hoạt động công vụ, công chức ở nhiều nơi chưa nghiêm và hiệu quả còn thấp; quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn nhiều hạn chế ở nhiều địa phương, nhất là tổ chức bộ máy, biên chế công chức, viên chức và quản lý tín ngưỡng, tôn giáo…

Dám nghĩ, dám làm, dám đột phá

Lưu ý một số nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm, Bộ trưởng Nội vụ nhận định nhiệm vụ của ngành thời gian tới rất nặng nề, khó khăn và nhiều việc rất phức tạp, nhạy cảm. Do vậy, nếu không quyết tâm, nỗ lực và không năng động, sáng tạo sẽ không làm được.

Toàn ngành cần lưu ý bám sát tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Chương trình hành động của Chính phủ, Bộ Nội vụ và địa phương để tập trung đổi mới nội dung, phương thức chỉ đạo, điều hành, bám sát thực tiễn địa phương, cơ sở, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá.

“Nếu chúng ta không dám nghĩ, dám làm, không dám đột phá sẽ không giải quyết được những vấn đề rất lớn mà Đảng, Nhà nước và xã hội đang mong đợi”- Bộ trưởng nói.

Bà Trà lưu ý cần triển khai đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả nhiệm vụ chính trị của bộ, ngành, để vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt cũng như có một tầm nhìn chiến lược lâu dài cho sự phát triển của ngành Nội vụ. Theo bà, sự phát triển của ngành Nội vụ tác động trực tiếp đến việc xây dựng một nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, hiệu lực, hiệu quả.

Để có một hệ thống công vụ, công chức đảm bảo theo đúng yêu cầu của tình hình mới, Bộ trưởng cho rằng toàn ngành phải đổi mới tư duy, đổi mới phương pháp, đổi mới phương thức chỉ đạo và điều hành.

Người đứng đầu ngành Nội vụ đặc biệt lưu ý việc xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách trong lĩnh vực của ngành. Trong đó, tập trung hoàn thiện và tăng cường phân cấp, phân quyền; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khơi thông những “điểm nghẽn” để thúc đẩy sự phát triển của ngành, nhất là các lĩnh vực khó như tổ chức bộ máy, biên chế, công vụ, công chức, thu hút và trọng dụng nhân tài, cải cách hành chính.

“Đây là những vấn đề rất nhiều nút thắt, rào cản, cần tập trung thực hiện”.

 


NHẬN RÕ ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt, hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, từng bước chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Chúng tập trung triệt để sử dụng Internet, các trang mạng xã hội, các blog để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Bằng việc sử dụng thông tin thật giả lẫn lộn, bịa đặt, sử dụng mạng xã hội để tác động, chuyển hóa người dân Việt Nam. Sản xuất những kênh, những video clip phản động, chống phá trực diện, cập nhật liên tục trên kênh Youtube, với thủ đoạn  cắt ghép hình ảnh từ các báo chí chính thống và lồng ghép nội dung xuyên tạc, bịa đặt để đánh lừa, kích động người xem, người đọc, gây phân tâm lớn trong xã hội. Ngoài ra các thế lực phản động còn kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi và cực đoan trong các tôn giáo; tán phát nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam ; kích động để đẩy mạnh “dân chủ, nhân quyền”, tạo bất ổn về an ninh chính trị; lợi dụng những diễn biến phức tạp trên biển Đông, quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc để chống phá. Thâm hiểm hơn, chúng lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý điều hành của chính quyền một số nơi để xuyên tạc chống phá nhằm thúc đẩy xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, thời gian qua Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và các đơn vị trong toàn quân đã có những chủ trương, giải pháp về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực phản động. Cụ thể hoá các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của trên vào nghị quyết của cấp uỷ, chi bộ và các kế hoạch, chương trình hoạt động của cơ quan, đơn vị. Không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; không dao động trước mọi khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ chấp hành nghiêm chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước bằng nhiều hình thức, phương pháp; kịp thời thông tin, vạch trần bản chất của các đạo lạ, các tổ chức bất hợp pháp như: Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, tà đạo Hội Thánh Đức Chúa Trời, Pháp Luân công, Tâm linh Hồ Chí Minh…kịp thời cung cấp và định hướng thông tin về tình hình hoạt động của các tổ chức “hội”, “đoàn”, “nhóm”, “câu lạc bộ”, “nhân vật” chống phá liên quan đến lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, hoạt động của một số linh mục, đối tượng chống đối… để cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, không để các thế lực phản động lợi dụng chống phá.

Đồng thời chỉ đạo các lực lượng không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Tập trung lựa chọn những vấn đề chính trị, xã hội mang tính thời sự, tổ chức viết bài đăng tải trên các trang mạng xã hội để lan toả thông tin cho nhiều người. Chia sẻ các nguồn thông tin chính thống từ các đài, báo của Trung ương và các địa phương, tổ chức comment, thể hiện trạng thái, ủng hộ những nội dung tích cực; phản bác những quan điểm sai trái, tiêu cực. Cung cấp đường link các trang mạng, tài khoản facebook xấu độc để đấu tranh, phản bác trực diện, kịp thời. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”; chia sẻ, lan toả thông tin tích cực, bóc gỡ thông tin xấu độc; bảo đảm an toàn không để lộ, lọt thông tin bí mật quân sự.

Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân khi sử dụng mạng xã hội, để mỗi người dân trở thành người có trách nhiệm khi tham gia sử dụng mạng xã hội: Trách nhiệm chia sẻ thông tin cá nhân lên trang của cá nhân mình; trách nhiệm chia sẻ lại thông tin của người khác; trách nhiệm phản bác lại thông tin xuyên tạc, bịa đặt gây hại cho cộng đồng trên môi trường mạng để mỗi người dân cùng chung tay với các cơ quan chức năng bảo đảm môi trường mạng lành mạnh, phản bác các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch; hướng dẫn, định hướng cho nhân dân  nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận biết và tiếp cận những nguồn thông tin chính thống, không để các thế lực thù địch tuyên truyền, phá hoạt tư tưởng.

Nhận diện rõ những âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch cũng là để cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội để đẩy nhanh phát triển kinh tế- xã hội.

NÊU CAO TINH THẦN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 


Việc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt nhận thức; nhằm giúp cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung cốt lõi, những điểm mới trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động để tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đồng thời tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết.

Để bảo đảm nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội XIII của Đảng đạt kết quả cao, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần thực hiện một số vấn đề trọng tâm. Cụ thể, cần nhận thức sâu sắc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội XIII của Đảng là việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, khoa học trong suốt nhiệm kỳ và là nhiệm vụ trọng tâm năm 2021, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng và cả hệ thống chính trị để mỗi cán bộ Đảng viên nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội XIII của Đảng.

Đồng thời góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc.

Bên cạnh đó, việc triển khai nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết cần tiến hành nghiêm túc, có chất lượng. Tập trung làm rõ những quan điểm, nội dung cốt lõi, những chủ trương mới trong các văn kiện Đại hội XIII từ tầm bao quát, cách tiếp cận mới, mục tiêu tổng quát, các định hướng lớn, nhiệm vụ trọng tâm, các chỉ tiêu chủ yếu, các khâu đột phá chiến lược để thấy rõ sự kế thừa, bổ sung phát triển tư duy lý luận của Đảng, nắm vững những bài học kinh nghiệm từ thành tựu 35 năm đổi mới đất nước, nhất là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, nhận diện đầy đủ những thuận lợi, thời cơ, khó khăn thách thức và nhiệm vụ của các cấp ủy trong thời gian tới, liên hệ vận dụng phù hợp với yêu cầu điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị để xác định và thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trong nhiệm kỳ 2021-2025.

Trong quá trình nghiên cứu học tập Nghị quyết phải đề cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu, ý thức tự giác gương mẫu của cán bộ đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp ủy, tổ chức Đảng.

Công tác tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phải được tiến hành thường xuyên, bền bỉ, đồng bộ, sáng tạo với nhiều hình thức phong phú đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống tuyên giáo các cấp, các cơ quan báo chí xuất bản, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, văn nghệ sỹ, báo cáo viên, tuyên truyền viên. Trong quá trình tuyên truyền phải kịp thời lý giải những băn khoăn vướng mắc của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung Nghị quyết. Kịp thời uốn nắn những nhận thức chưa đúng, chủ động định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận tích cực trong xã hội. Kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch.

Việc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII chỉ là bước đầu, điều quan trọng là phải sớm đưa nội dung Nghị quyết vào thực tiễn cuộc sống, nói đi đôi với làm, thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác Hồ: “Kế hoạch 10 phần thì biện pháp 20 phần và quyết tâm 30 phần”. Biến những quyết định của Đại hội thành hiện thực sinh động trong thực tế, thành của cải vật chất, mang lại giàu có và hạnh phúc cho nhân dân. Các cấp ủy, tổ chức Đảng phải tập trung xây dựng chương trình hành động cụ thể hóa bằng các kế hoạch, dự án, đề án khả thi sát với điều kiện thực tế, định lượng được kết quả, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ trong các đơn vị, địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội và việc xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của mỗi đơn vị. Khắc phục triệt để bệnh hình thức, qua loa, đại khái; kịp thời phát hiện khen thưởng biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích trong nghiên cứu học tập, nhất là việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ở mỗi cấp.

Vắc xin Covid-19 có hiệu quả với bệnh nhân ung thư không?

Nhiều nhóm chuyên gia y tế khuyến cáo rằng hầu hết những người bị ung thư hoặc tiền sử ung thư nên tiêm vắc xin Covid-19 khi họ đã có sẵn loại vắc xin này.

        Mối quan tâm chính về việc tiêm phòng không phải là liệu nó có an toàn cho bệnh nhân ung thư hay không mà là về hiệu quả của nó, đặc biệt là ở những người có hệ miễn dịch suy yếu.
        Một số phương pháp điều trị ung thư như hóa trị, xạ trị, cấy ghép tế bào gốc hoặc tủy xương hoặc liệu pháp miễn dịch có thể ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, điều này có thể làm cho vắc xin kém hiệu quả hơn. Những người mắc một số loại ung thư, như ung thư bạch cầu hoặc u lympho, cũng có thể bị suy yếu hệ thống miễn dịch, điều này có thể làm cho vắc xin kém hiệu quả.
        Các nghiên cứu ban đầu thử nghiệm vắc xin Covid-19 không bao gồm những người được điều trị bằng thuốc ức chế hệ thống miễn dịch, như hóa trị hoặc những người bị suy yếu hệ thống miễn dịch vì các lý do khác. Điều này là do các nghiên cứu cần thiết để xem liệu vắc xin có hoạt động ở những người có hệ miễn dịch khỏe mạnh hay không. Do đó, vẫn chưa rõ hiệu quả của vắc xin đối với những nhóm người này.
        Chưa có thông tin cụ thể về mức độ hiệu quả của vắc xin đối với những người đang được điều trị ung thư, nhưng vắc xin có thể mang lại hiệu quả ở những người có hệ miễn dịch suy yếu kém hơn so với những người có hệ miễn dịch khỏe mạnh.
        Dù vậy, các chuyên gia vẫn khuyến cáo rằng hầu hết bệnh nhân ung thư nên tiêm vắc xin phòng Covid-19. Lý do vì những người có hệ miễn dịch mỏng manh có nguy cơ mắc bệnh Covid-19 nghiêm trọng, do đó, thậm chí nhận được một số biện pháp bảo vệ từ vắc xin vẫn tốt hơn là không có bất kỳ biện pháp bảo vệ nào.
        Vì tình hình bệnh của mỗi người là khác nhau, tốt nhất là bạn nên thảo luận về những rủi ro và lợi ích của việc tiêm một trong các loại vắc xin Covid-19 với bác sĩ ung thư của bạn. Họ có thể tư vấn cho bạn và cho bạn biết khi nào bạn nên tiêm.
        Theo PGS.TS Đào Xuân Cơ, Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Tổng Thư ký Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc Việt Nam, những trường hợp bệnh nhân ung thư đã điều trị ổn định, nên tiêm ngừa vắc xin Covid-19.
        "Những người đã có tiền sử ung thư sau điều trị ổn định càng nên tiêm vắc xin ngừa Covid-19. Bởi bệnh nhân ung thư khi nhiễm Covid-19, đã có sẵn bệnh lý nền khi mắc bệnh sẽ biểu hiện nặng nề hơn. Vắc xin sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh, giảm nguy cơ các triệu chứng nặng", PGS Cơ cho biết.
        Tuy nhiên, nhóm người có bệnh lý nền đã ổn định (bao gồm cả bệnh nhân ung thư điều trị ổn định) thuộc nhóm thận trọng khi tiêm, nên được khuyến cáo tiêm chủng tại bệnh viện, được bác sĩ khám sàng lọc kỹ trước khi chỉ định tiêm. Nếu đủ điều kiện tiêm chủng sẽ thực hiện tiêm chủng, theo dõi sức khỏe sau tiêm như hướng dẫn.


Hà Nội triển khai tổng điều tra kinh tế năm 2021 giai đoạn 2

Hà Nội sẽ tổng điều tra kinh tế giai đoạn 2 từ ngày 01 - 30/7 nhằm thu thập thông tin toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể và các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng. .Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Hà Minh Hải - Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Thành phố - đánh giá: Cuộc tổng điều tra lần này có sự đổi mới triệt để trong khâu thu thập thông tin, từ việc ứng dụng mạnh mẽ các hình thức thu thập thông tin điện tử đến việc đổi mới cách tiếp cận đối tượng, đơn vị điều tra nhằm đảm bảo việc thu thập thông tin thống kê ngày càng đầy đủ, chính xác, kịp thời. Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội đề nghị Cục Thống kê TP. Hà Nội, cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế Thành phố tiếp tục chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các sở, ban ngành thành viên Ban Chỉ đạo tổ chức triển khai tổng điều tra kinh tế giai đoạn 2 theo đúng tiến độ. Ban Chỉ đạo quận, huyện, thị xã căn cứ kế hoạch, thường xuyên nắm bắt kip thời, hướng dẫn, giải thích những vướng mắc về nghiệp vụ cho điều tra viên trong suốt quá trình điều tra. Đặc biệt, các đơn vị cần hỗ trợ điều tra viên liên lạc với các cơ sở sản xuất kinh doanh tạm nghỉ do dịch Covid-19. Ngoài ra, các điều tra viên, giám sát viên, thành viên Ban Chỉ đạo các cấp cũng phải thực hiện tốt các quy định, các biện pháp phòng chống dịch của Trung ương và Thành phố. Dự kiến, kết quả sơ bộ tổng điều tra kinh tế 2021 toàn Thành phố sẽ được công bố vào tháng 12/2021 và kết quả chính thức công bố vào tháng 02/2022./.

130 quốc gia ủng hộ đề xuất của Mỹ về mức thuế tối thiểu toàn cầu

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen thông báo hôm thứ Năm rằng nhóm 130 quốc gia đã đồng ý mức thuế tối thiểu toàn cầu đối với các doanh nghiệp, đây là một phần của thỏa thuận rộng hơn nhằm sửa đổi các quy tắc thuế quốc tế. "Trong nhiều thập kỷ, Mỹ đã tham gia vào một cuộc cạnh tranh thuế quốc tế, hạ mức thuế doanh nghiệp chỉ để nhìn các quốc gia khác giảm thuế của họ để đáp trả. Kết quả là một cuộc chạy đua thuế suất toàn cầu đến đáy. Ai có thể hạ thấp thuế suất doanh nghiệp của họ hơn nữa và nhanh hơn? Không có quốc gia nào đã chiến thắng trong cuộc đua này", bà Yellen nói trong một tuyên bố về hiệp định. Bộ trưởng Tài chính Mỹ cho rằng: "Thỏa thuận ngày nay của 130 quốc gia đại diện cho hơn 90% GDP toàn cầu là một dấu hiệu rõ ràng: cuộc đua thuế suất xuống đáy còn một bước nữa là kết thúc". Thỏa thuận cũng được cho là bao gồm một khuôn khổ để loại bỏ thuế dịch vụ kỹ thuật số, nhằm vào các công ty công nghệ lớn nhất của Mỹ. Bên cạnh đó, các quan chức đã đồng ý với một kế hoạch thuế mới sẽ liên kết với những nơi mà các công ty đa quốc gia đang thực sự kinh doanh, thay vì nơi họ đặt trụ sở chính. Phần lớn cơ sở để áp dụng GMT đã được đặt ra bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Tổ chức đã phát hành bản kế hoạch chi tiết vào mùa thu năm ngoái phác thảo cách tiếp cận hai yếu tố chính đối với thuế quốc tế. Khuôn khổ bao trùm của OECD về Xói mòn cơ sở và Dịch chuyển lợi nhuận, được gọi là BEPS, là sản phẩm của các cuộc đàm phán với 137 quốc gia thành viên và khu vực pháp lý. Thông báo của bà Yellen không bao gồm thuế suất thực tế thuế tối thiểu toàn cầu sẽ được đặt ở mức bao nhiêu, nhưng chính quyền ông Biden mong muốn thúc đẩy nó đạt ít nhất 15%. Các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương G-20 dự kiến ​​sẽ gặp nhau tại Venice, Ý vào cuối tháng này và kế hoạch thuế quốc tế dự kiến ​​sẽ nhận được sự chấp thuận cao trong chương trình nghị sự. Thỏa thuận GMT thể hiện một phần quan trọng trong điều mà Tổng thống Joe Biden đã gọi là "chính sách đối ngoại đối với tầng lớp trung lưu". Chiến lược này cũng nhấn mạnh cách chính sách đối ngoại và chính sách đối nội có thể được tích hợp vào một nền tảng trung gian mới giữa cách tiếp cận truyền thống bảo thủ và tự do đối với các vấn đề toàn cầu. "Chính sách đối ngoại đối với tầng lớp trung lưu" nhằm đảm bảo rằng toàn cầu hóa, thương mại, nhân quyền và quân đội đều có thể được khai thác vì lợi ích của những người Mỹ đang làm việc, không chỉ cho các tỷ phú và các tập đoàn đa quốc gia, nhưng cũng không phải vì những lý do liên quan tới chủ nghĩa duy tâm.

Đặc điểm của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam

 


- Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam phản ánh sâu đậm quá trình dựng nước, giữ nước hào hùng và oanh liệt của dân tộc

+ Với một đất nước luôn xảy ra thiên tai, địch họa, kẻ xâm lăng lại thường đông và mạnh, việc dân tộc ta thờ các vị anh hùng dân tộc như là sự kêu cầu và huy động sức mạnh của các bậc tiền bối anh linh của đất nước phù hộ, độ trì giúp cho sự nghiệp đại nghĩa được thành công. Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc trở thành nhân tố đoàn kết chặt chẽ mọi người dân, mọi tầng lớp, giai cấp và các dân tộc để chống quân xâm lược, xây dựng đất nước.

+ Theo thời gian, số lượng các vị thần anh hùng dân tộc ngày một nhiều, phản ánh quá trình phát triển đất nước, con người Việt Nam rất anh hùng, bất khuất. Hoặc như các nhà Nho từng giải thích bằng thuyết “địa linh sinh nhân kiệt”: dòng sinh khí của núi sông Việt Nam đã hun đúc, sinh ra nhiều anh hùng cái thế. Vì thế, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc của nước ta, cho dù trải qua những giai đoạn lịch sử thăng - trầm khác nhau, song vẫn tồn tại, phát triển.

- Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam đan xen, hòa đng với các loại hình tín ngưỡng, tôn giảo khác

+ Nội dung các lễ hội Thánh Gióng, An Dương Vương, các Vua Hùng, Trần Hưng Đạo... thường đan xen các nghi lễ của tín ngưỡng vật linh giáo, bái vật giáo, phồn thực...

+ Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc vừa mang nghi lễ của Nho giáo, lại vừa đan xen nghi lễ Phật giáo. Hoặc trong thần phả, nội dung mô tả thường có sự giao thoa của các giá trị tam giáo (Phật, Lão, Nho). Sự đan xen, hòa đồng của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc với các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác cũng thể hiện rõ ở nơi đình, đền, miếu thờ Thành hoàng, mà đa số Thành hoàng là các vị anh hùng dân tộc.

+ Sự đan xen đó không làm cho tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc bị hòa tan, bị che khuất, mà vẫn giữ được nét đặc sắc riêng. Điều này thể hiện ở việc người dân am hiểu khá rõ về căn tích (thần phả) của các vị thần anh hùng dân tộc, nhất là tại địa phương nơi thờ phụng, tri ân họ. Nơi thờ tự tín ngưỡng anh hùng dân tộc hầu hết cỏ tượng và bài vị của các vị thần. Các ngày lễ hội trong năm là nhằm ngày sinh, ngày giỗ của các vị thần anh hùng dân tộc. Triều đình phong kiến thường xét công trạng của các vị anh hùng khi họ còn sống, cùng với tính thiêng để rồi phong thần, sau đó giao cho các địa phương và quan lại bản xứ thờ cúng.

- Cơ cấu đối tượng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam có sự hài hòa giữa nam thần và nữ thần

+ Trong các vị thần anh hùng dân tộc ở nước ta có khoảng 25% là thần nữ. Nữ thần anh hùng dân tộc là các vị anh hùng kiệt xuất mà tên tuổi, công trạng và cả sự hiển linh của họ được sánh ngang với các vị nam thần. Như trong lịch sử có Hai Bà Trưng, Bà Triệu và các nữ tướng ca các bà; còn thời cận hiện đại là bà Nguyễn Thị Minh Khai, bà Ba Định, là anh hùng Võ Thị Sáu... Lớp đối tượng nữa được thờ là các bà mẹ, người vợ của các vị anh hùng dân tộc, khi sống họ có công lao giúp chồng, con lập nên sự nghiệp anh hùng.

+ Sự hài hòa nam thần - nữ thần còn thể hiện ở các mỹ tự phong thần. Dưới triều Nguyễn, năm Tự Đức thứ 3 (1850), quy định cụ thể mỹ tự, đó là: nam thần dùng chữ “Trác vĩ” (tuyệt tác, vĩ đại); nữ thần dùng chữ “Trang huy” (huy hoàng, sáng đẹp).

+ Các nữ thần anh hùng dân tộc Việt Nam vẫn được thờ cúng cho đến nay. Trong khi, các dân tộc đều thờ nữ thần, nhưng do chế độ phụ hệ thay thế dần chế độ mẫu hệ và dưới chế độ phong kiến Nho giáo, nữ giói bị xem nhẹ, nên tín ngưỡng thờ nữ thần mai một ở nhiều dân tộc.

- Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam mang đậm màu sắc chính trị chnh thống, nhưng nhìn chung phù hợp với lợi ích, tâm nguyện của nhân dân lao động

+ Các triều đại phong kiến Việt Nam đã rất quan tâm, chú ý đến tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc. Sự quan tâm ấy được diễn ra theo hai xu hướng

Thứ nhất, nếu chính trị cầm quyền đại diện xứng đáng cho tiến bộ xã hội, được nhân dân ủng hộ thì sự quan tâm của họ đối với tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc sẽ có sự thống nhất cao với lợi ích và tâm nguyện của toàn dân.

Thứ hai, nếu chính trị cầm quyền cản trở sự tiến bộ, không được nhân dân ủng hộ, thì việc thờ anh hùng dân tộc sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, trong khi giai cấp thống trị thờ các vị thần để củng cố vương quyền, thì giai cấp bị trị lại mong các vị thần phù hộ, độ trí giúp sức cho mình lật đổ vương quyền đó.

+ Chính quyền nhà nước phong kiến ban hành các quy định về nghi lễ thờ anh hùng dân tộc, từ đẳng cấp thần, điều kiện thực hiện, cho đến quy mô, nghi thức cụ thể. Triều đình tích cực trong việc chế bài vị thần và xây cất các nơi thờ tự. Nội các thường có bộ máy thiết chế qun giám bách thần, giúp vua xét duyệt, phong tước các vị thần, biên chép thần tích, giao việc chăm lo thờ cúng[1].

+ Việc sắc phong thần chỉ có vua - Thiên tử - mi được sắc phong cho thần, sau đó, giao cho quan lại, dân chúng các địa phương thờ cúng, sắc phong thần là văn bản thiêng nên được các địa phương bảo vệ, bảo quản rất cẩn thận.

+ Trong tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, còn

+ Có hiện tượng, triều đại sau phế bỏ thần mà các triều đại trước đã phong bởi lý do chính trị, khi các vị thần ấy không phù hợp với triều đại đương thời.

+ Với hình thức chính trị phong thần, các vị thần anh hùng dân tộc vốn là biểu tượng thiêng liêng trong niềm tin tín ngưỡng của nhân dân, thì nay vẫn là bề tôi, nhưng linh thiêng, luôn phù hộ cho triều đình và xã hội. Điều đó bảo đảm lợi ích trực tiếp của chính quyền; song cũng vì lợi ích của toàn dân tộc, thế nên các triều đại phong kiến đều biết, dù ít hay nhiều, cố gắng điều chỉnh (có thể chỉ là về hình thức) lợi ích giai cấp mình đến gần, hòa vào lợi ích toàn dân tộc.

- Nghỉ lễ thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam được tiến hành rộng rãi, thường xuyên, từ quy mô quốc gia cho đến làng xã

+ Vì Tín ngưỡng thờ Anh hùng dân tộc có ưu thế hơn so với các loại hình tín ngưỡng khác ở chỗ, nó được triều đình phong kiến Trung ương rất quan tâm, nên nghi lễ được diễn ra một cách quy củ, nền nếp và thống nhất ở quy mô toàn quốc. Khắp các chốn làng quê,nơi đâu cũng đều có đình, đền, miếu thờ cúng các vị thần anh hùng dân tộc, trong đó, nhiều vị thần được suy tôn là thần Thành hoàng. Bộ máy quan lại ở địa phương có trách nhiệm rất cao, đề ra các thiết chế như quy định chủ tế, ban khánh tiết, ban tư văn, hội dâng hoa, hội bát âm...

+ Các đặc điểm trên đây của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc cho thấy đây là một loại hình tín ngưỡng mang tính phổ biến của dân tộc, đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của xã hội và chính trị. So với các hình thức tín ngưỡng khác, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc có sự ưu trội, không chỉ ở thực hành nghi lễ, mà còn ở sự thống nhất cao của các yếu tố hợp thành một hĩnh thức tín ngưỡng.



[1] Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (xuất bản năm 1993), triều Nguyễn mở rộng quy mô thờ thần ở các dinh, trấn, cho lập đền, miếu ở địa phương. Vua Gia Long năm đầu chuẩn cho tỉnh Phú Yên thờ 526 vị, tỉnh Bình Định thờ 206 vị; tỉnh Khánh Hoà 250 vị.

Quá trình du nhập và phát triển công giáo ở Việt Nam

 


 Công giáo vào Việt Nam xuất phát bởi những lý do cơ bản sau:

+ Cũng như các tôn giáo khác, Công giáo xem việc truyền đạo sứ mạng thiêng liêng và thường trực, điều này được ghi trong sách Phúc âm “Hãy đi khắp trái đất và giảng phúc âm cho mọi người”.

+ Từ những phát kiến địa lý quan trọng trong thời kỳ cận đại (thế kỷ XV-XVI), nhất là các phát kiến của Cristoforo Colombo (1451-1506, Ferdinand Magellan (1480-1521)...đã mở ra những triển vọng cho việc mở rộng nước Chúa

+ Xuất phát từ quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, từ thế kỷ XVII đến XVIII một số nước phương Tây mạnh lên dẫn đến sự phân chia lại phạm vi ảnh hưởng và truyền đạo. Quá trình mở rộng nước Chúa gắn với chiến tranh xâm lược của CNTB để mở rộng thị trường, khai thác tài nguyên …

+ Từ sự can thiệp trực tiếp của Giáo hoàng trong việc ưu ái cho Giáo hội Pháp chen chân vào Viễn Đông và Đông Dương (được độc quyền truyền giáo ở Đông Dương).

+ Tình hình xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XVI có nhiều xáo trộn và phức tạp.

- Nhiều nhà nghiên cứu lấy năm 1533 là mốc đánh dấu việc truyền Công giáo vào Việt Nam (gắn với dòng Phan Sinh năm 1209 và dòng Đa Minh năm 1216). Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi rõ: “Năm Nguyên Hòa đời Vua Lê Trang Tôn (1533 - Tây lịch) có một thương nhân là Inikhu đi đường biền lén vào giảng đạo Giatô ở Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy”.

+ Ngay sau khi Công giáo đã hiện diện được ở Việt Nam, các giáo sĩ dòng Tên nghĩ đến việc bổ sung các Giám mục phụ trách để đẩy công cuộc truyền giáo phát triển ở bước cao hơn với các mốc từ năm 1645 đến năm 1960.

+ Ngày 24/11/1960, Hàng giáo phẩm Việt Nam được thiết lập (Giáo hoàng Gioan XXIII ban sắc chỉ). Theo Sắc chỉ này, tại Việt Nam sẽ có 3 giáo tỉnh gồm: Giáo tỉnh Hà Nội; Giáo tỉnh Huế; Giáo tỉnh Sài Gòn.

Nguồn gốc tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam

 


Xuất phát từ các khái niệm “tín ngưỡng thờ thần” và “anh hùng dân tộc”, “Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc” được hiểu là tín ngưỡng thờ những nhân vật sinh thời có nhiều công trạng to lớn đối với đất nước, dân tộc và khi qua đời, họ được nhà nước phong kiến sắc phong thần, kèm theo những quy định về thiết chế thờ cúng cụ thể.

- Nguồn gốc sâu xa: Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc có nguồn gốc từ kinh tế - xã hội, từ trình độ nhận thức, tâm lý xã hội được phát triển đến một trình độ nhất định.

- Nguồn gốc trực tiếp của tín ngưõng thờ anh hùng dân tộc là từ tín ngưõng thờ thần của hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc là một bộ phận của tín ngưỡng thờ thần. Các vị thần được xã hội thờ cúng có thể phân loại theo những tiêu chí khác nhau như: nếu là từ tiêu chí xuất xứ của thần thì có nhân thần và nhiên thần; từ phẩm chất của thần có phúc thần và tà thần. Thần anh hùng dân tộc là một bộ phận của các phúc thần và ở nước ta, chủ yếu là các nhân thần, rất ít là nhiên thần.

- Trong nguồn gốc xã hội của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam, yếu tố nhân dân và yếu tố chính trị có ý nghĩa đặc biệt. Nhân dân, từ sự biết ơn, tôn kính đối với những người có công trạng to lớn với đất nước, dân tộc và quê hương, đã tri ân suy tôn, thần thánh hóa, lập nơi thờ cúng các vị anh hùng dân tộc. Đồng thời, các triều đại phong kiến Việt Nam, đứng đầu là nhà vua, đã định lệ tổ chức các đợt phong thần là các anh hùng dân tộc, dựa trên tâm nguyện của nhân dân và quy định của triều đình. Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ờ nước ta, do đó, có cơ sở vững chắc từ sự tri ân, ghi nhớ công lao của quần chúng nhân dân đến phương diện chính trị pháp lý của nhà nước phong kiến.

- Xét về thòi gian, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu. Theo truyền thuyết, vào thế kỷ thứ III Tr.CN, Thục Phán, một vị vua dựng nước Âu Lạc, đã dựng cột đá thề trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh (thuộc tỉnh Phú Thọ), để làm nghi lễ tâm linh, thề nối nghiệp các Vua Hùng. Tiếp đó, vào những năm 40 đẩu Công nguyên, Hai Bà Trưng khi dấy binh khỏi nghĩa đã thề trước các anh linh tiền bối, rằng: “Một xin ra sạch nước thù/Hai xin đưa lại nghiệp xưa họ Hùng”. Những nghi lễ thề đó thể hiện rõ yếu tố tín ngưỡng về sự biết ơn, tinh thần trách nhiệm, cầu mong sự phù trợ, che chở cùa các Vua Hùng.

 

TIN MỚI NHẤT VỀ ĐÁM TANG QUÂN NHÂN TRẨN ĐỨC ĐÔ

 


Chiều 01/7, đám tang quân nhân Trần Đức Đô đã được tổ chức trong không khí trang nghiêm, với lời chia buồn sâu sắc từ đơn vị và các cơ quan liên quan. Như vậy là bước đầu Đô đã được an nghỉ, đó là việc tốt cho hương hồn của em và cũng giúp gia đình bớt đau xót. Giờ chúng ta cần tin tưởng vào kết quả điều tra, vì khám nghiệm xong và đưa đi an táng tức là bố mẹ Đô đã đồng ý với kết quả khám nghiệm sơ bộ. Vụ của Đô đang được 4 bên hợp tác điều tra gồm Phòng Điều tra hình sự Quân khu 1, Cục Điều tra hình sự (Bộ Quốc phòng), Công an tỉnh Thái Nguyên và Viện Pháp y Quân đội.

Dù vậy, có thể nhiều vị trên cõi .. mạng sẽ không tin kết quả điều tra nếu nó không đúng theo kịch bản được các anh chị vẽ ra, giống như vụ án giao gà vậy hay nhiều vụ mà các anh chị từng sụp hố.

Còn hỏi quân đội có đánh nhau dẫn đến tử vong hay không thì chúng tôi cũng xin chia sẻ luôn là CÓ. Sự thật là như vậy, chúng tôi không hề giấu diếm.

Môi trường quân đội đề cao kỷ luật, luôn cấm hành vi bắt nạt và bao che. Nhưng đây cũng là một xã hội thu nhỏ, không ai có thể canh chừng quân nhân 24/7 được. Những xích mích vụn vặt, mâu thuẫn lớn bé, thậm chí chỉ cần sự bốc đồng nhất thời cũng đủ dẫn tới xô xát gây thương tích rồi.

Nhưng nói Quân đội tồn tại tình trạng bắt nạt có hệ thống là tuyệt đối SAI. Quân đội Nhân dân, cá nhân phạm lỗi - tập thể chịu trách nhiệm, chứ không áp dụng chế độ huấn nhục, cho sĩ quan quyền đánh đấm, làm nhục cấp dưới như nhiều quốc gia khác. Bất kỳ ai có hành vi như vậy đều đã và sẽ bị xử nghiêm. Quân đội cũng không bao che giấu diếm các hành vi sai trái trong quân ngũ.  Quân pháp cực kỳ nghiêm khắc và liên đới trách nhiệm rất cao, có đeo hàm tướng mà phi qua cổng không xuất trình giấy tờ thì cũng bị bắn cảnh cáo, hay vi phạm thì sẽ bị điều tra và nhận bản án nghiêm minh .

Năm 2004, sáu quân nhân thuộc trung đội vệ binh của Trung đoàn 209 (Sư đoàn 312, Quân đoàn 1) tự cho mình quyền đánh và xử phạt với quân nhân vi phạm kỷ luật. Hậu quả là binh nhất Trần Văn Đại đã tử vong sau những trận đòn của họ. Ngay sau có kết quả pháp y, Viện kiểm sát Quân sự Quân đoàn 1 đã truy tố các bị cáo nêu trên về tội cố ý gây thương tích, với tình tiết tăng nặng dẫn đến hậu quả chết người theo Điều 104, Bộ luật Hình sự. Tuyệt đối không bao che hay cho chìm xuồng bất kỳ vụ án nào. Chưa kể cấp chỉ huy liên quan đều bị liên đới, nhẹ thì kỷ luật giam hàm, nặng thì giáng chức, thậm chí là cả đơn vị bị đánh hạng thi đua.

Vậy nên nếu Đô không tự tử thì cơ quan chức năng sẽ điều tra rõ ràng, truy tố đúng người đúng tội. Còn nếu thật sự tự tử thì cũng phải điều tra nguyên nhân, không để lọt người lọt tội.

Nếu có oan khuất thì bố mẹ, gia đình Đô sẽ lên tiếng đầu tiên, không đến lượt những người không liên quan kêu hộ.

Điều gia đình cần là sự an ủi động viên tinh thần để vượt qua nỗi đau này, những người khác đừng làm rối thêm là mừng lắm rồi.

Hãy cùng chờ kết quả điều tra minh bạch và rõ ràng của cơ quan chức năng, chứ đừng mượn cái chết của quân nhân Trần Đức Đô để vơ đũa cả nắm và chửi rủa cả một đội quân đang căng mình chiến đấu trên nhiều mặt trận để bảo vệ Tổ quốc.

Mọi công dân Việt Nam hãy tập trung vào nhiệm vụ trước mắt là chống dịch COVID cho tốt bởi vì nếu dịch COVID còn hoành hành thì nền kinh tế của đất nước ta, đời sống của Nhân dân ta còn vất vả ./.

 

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay.

 


Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc hiện nay. Để thực hiện tốt giải pháp này cần thực hiện tốt các biện pháp cụ thể sau:

- Ban chấp hành Trung ương cần sớm ban hành nghị quyết chuyên đề mới về công tác dân tộc theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi trong tình hình mới.

- Chính phủ: chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, BCH Trung ương về công tác dân tộc; lãnh đạo việc rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, ổn định, tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; hoàn thiện chính sách đối với cán bộ làm công tác dân tộc, nhất là cán bộ công tác ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng về công tác dân tộc, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong tình hình mới.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong điều hành thực hiện CSDT.

+ Thể chế hóa những quan điểm ưu tiên đối với đồng bào DTTS thành cơ chế, chính sách cụ thể; nhất là Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030

+ Xây dựng cơ chế điều phối, phối hợp hiệu quả giữa Ủy ban Dân tộc với các Bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc;

+ Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc.

- Cấp ủy đảng, chính quyền các địa phương vùng DTTS cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc; đề cao trách nhiệm và tăng cường trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức trong thực thi chính sách dân tộc; đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách đến đối tượng thụ hưởng để nhân dân tham gia trực tiếp vào quá trình triển khai thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn.

Hà Nội: Tín dụng tăng 5,9% so với cuối năm 2020

Số liệu thống kê về tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn Hà Nội quý II và 6 tháng đầu năm 2021vừa được Cục Thống kê TP Hà Nội công bố cho thấy, mặt bằng lãi suất trên địa bàn đã được các tổ chức tín dụng (TCTD) điều chỉnh giảm nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và cá nhân tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp hơn. Cụ thể, lãi suất huy động bằng VND trên địa bàn TP. Hà Nội phổ biến ở mức 0,1 - 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,1-3,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,0-6,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 5,6-6,8%/năm. Lãi suất huy động USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Hà Nội: Tín dụng tăng 5,9% so với cuối năm 2020 - Ảnh 1 Mặt bằng lãi suất cho vay bằng VND của TCTD phổ biến ở mức 5,5- 8,0%/năm đối với ngắn hạn; 7,5-9,5%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) ở mức 4,5%/năm. Tính đến hết tháng 6/2021, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn Thành phố ước tính đạt 3.911 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 4,2% so với thời điểm kết thúc năm 2020. Trong đó, tiền gửi VND đạt 3.240 nghìn tỷ đồng, tăng 5% so với thời điểm kết thúc năm 2020; tiền gửi ngoại tệ đạt 412 tỷ đồng, tăng 0,7%; tiền gửi tiết kiệm đạt 1.491 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2%; tiền gửi thanh toán đạt 2.161 nghìn tỷ đồng, tăng 4,7%. Đến hết tháng 6/2021, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn Thành phố đạt 2.333 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 5,9% so với thời điểm kết thúc năm 2020, trong đó dư nợ cho vay đạt 2.118 nghìn tỷ đồng (chiếm 90,8% trong tổng dư nợ), tăng 1,8% và tăng 6,5%. Theo kỳ hạn, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 942 nghìn tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và 7,1% so với thời điểm kết thúc năm 2020; dư nợ trung hạn và dài hạn đạt 1.391 nghìn tỷ đồng, tăng 1,4% và tăng 5,1%. Các TCTD tích cực nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro thông qua việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nhằm phát hiện các khoản vay có vấn đề trước khi phát sinh tình trạng nợ xấu. Tính đến hết tháng 6/2021, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD chiếm 1,9% trong tổng dư nợ và 2,1% trong tổng dư nợ cho vay. Trước đó, Tổng cục Thống kê cũng cho biết, tính đến ngày 21/6/2021, tăng trưởng tín dụng của toàn nền kinh tế ước đạt 5,47% so với cuối năm 2020 (cùng thời điểm năm 2020 tăng 2,45%). Tổng phương tiện thanh toán tăng 3,48% so với cuối năm 2020 (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,59%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 3,13% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,35%). Với hoạt động của thị trường chứng khoán, tính đến hết tháng 5/2021, tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế của thị trường chứng khoán ước tính đạt 116,4 nghìn tỷ đồng, tăng 68% so với cùng kỳ năm trước. Trên thị trường cổ phiếu, tại thời điểm ngày 20/6/2021, chỉ số VN-Index đạt 1.377,8 điểm, tăng 3,7% so với cuối tháng trước và tăng 24,8% so với cuối năm trước; mức vốn hóa thị trường đạt 6.699,5 nghìn tỷ đồng, tăng 64,5% so với cùng thời điểm năm trước. Giá trị giao dịch bình quân trên thị trường chứng khoán trong tháng 6/2021 (đến ngày 20/6) đạt 32.013 tỷ đồng/phiên, tăng 265,3% so với cùng kỳ năm 2020; tính chung 6 tháng đầu năm 2021, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường đạt 22.428 tỷ đồng/phiên, tăng 302,3%. Trên thị trường trái phiếu, tính đến cuối tháng 5/2021 có 456 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.381 nghìn tỷ đồng, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2020. Trong lĩnh vực chứng khoán phái sinh và các sản phẩm khác, quy mô giao dịch bình quân đến ngày 20/6/2021 đạt 34.121 tỷ đồng/phiên, tăng 137,8% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 6 tháng đầu năm 2021 đạt 24.041 tỷ đồng/phiên, tăng 90,9%.