Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2021

BẢN ÁN THÍCH ĐÁNG CHO NGƯỜI NHIỄM COVID-19 GÂY RỐI TẠI CHỐT KIỂM DỊCH VÀ LÀM LÂY LAN BỆNH CHO NGƯỜI KHÁC.

 

 

Ngày 16-9, TAND TP Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh) mở phiên tòa xét xử, tuyên phạt Nguyễn Văn Quý (31 tuổi, trú trên địa bàn) 26 tháng tù về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, 10 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo về cả hai tội danh là 36 tháng tù. Theo cáo trạng, tối 10-6, Quý điều khiển xe mô tô đi qua chốt kiểm dịch COVID-19 ở đường Âu Cơ, phường Kinh Bắc. Khi tổ công tác yêu cầu dừng phương tiện và xuất trình giấy tờ, Quý không chấp hành, ngang nhiên thách thức, đe dọa cán bộ công an làm nhiệm vụ. Quý liên tiếp lăng mạ, xúc phạm tổ công tác và quay ngang xe mô tô không cho các phương tiện khác di chuyển qua chốt, gây mất an ninh trật tự tại khu vực khoảng 20 phút. Công an khống chế, đưa Quý đến Bệnh viện Quân y 110 xét nghiệm COVID-19. Kết quả, người này dương tính với SARS-CoV-2. Để phục vụ công tác truy vết, các bác sỹ yêu cầu Quý viết tờ khai y tế về lịch trình di chuyển và tiếp xúc nhưng Quy không viết. Khi bác sỹ hỏi, Quý có biểu hiện chống đối và khai báo không đầy đủ. Đáng chú ý, trước khi được xác định nhiễm bệnh, Quý từng tiếp xúc với nhiều người.

Ngày 3-6, Quý bị ho nhưng không khai báo y tế, không đi khám bệnh. Ngày 7-6 và 10-6, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 của phường phát phiếu xét nghiệm COVID-19 đến từng gia đình nhưng Quý không đi xét nghiệm. Sau khi Quý có kết quả dương tính với COVID-19, cơ quan y tế tiến hành truy vết, xác định 80 người là F1 của Quý, trong đó bảy trường hợp dương tính với  SARS-CoV-2.

 

Nhận thức về nhân quyền của Đảng ta trước thời kỳ đổi mới

 


Cương lĩnh chính trị năm 1930, Đảng xác định mục tiêu của cách mạng Việt nam là “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Theo đó nhiệm vụ của Đảng là tập hợp lực lượng toàn dân, tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Vấn đề quyền con người được thể hiện ở việc tố cáo tội ác vi phạm của chủ nghĩa Thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam và đề ra các khẩu hiệu đấu tranh cụ thể như “Việt Nam tự do”, đấu tranh và xây dựng một xã hội tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, phổ cập giáo dục…Đây là mục tiêu, nhiệm vụ xuyên suốt, là ngọn cờ tập hợp lực lượng và đó cũng chính là cơ sở làm nên thắng lợi của cách mạng tháng Tám.

Ngay sau khi giành chính quyền, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm sâu sắc vấn đề quyền con người và mục tiêu hướng tới là bảo vệ quyền con người, quyền làm người; trân trọng những giá trị quý báu mà nhân loại đã đạt được trên lĩnh vực quyền và tự do, dân chủ của con người (hiến pháp năm 1946), đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại bằng chính sự nghiệp cách mạng của mình. Trong Luận cương cách mạng Việt Nam, Tại Đại hội lần thứ II (1951), đã khẳng định rõ mục tiêu của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo là: “…Bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ quyền lợi của dân và bảo đảm việc công dân làm trọn nghĩa vụ với Tổ quốc. Quyền lợi đó là: được hưởng nhân quyền, dân quyền và tài quyền. Nghĩa vụ đó là: bảo vệ đất nước, ủng hộ chính quyền nhân dân, đóng góp cho công quỹ, giữ gìn và phát triển tài sản chung của quốc gia”.

Quyền con người và quyền công dân được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và trong Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959). Nhà nước Việt Nam cũng bước đầu tham gia vào hệ thống pháp luật quốc tế trong hoàn cảnh đất nước đang phải tiến hành kháng chiến chống xâm lược, đó là một nỗ lực to lớn.( Trong năm 1957 Nhà nước Việt Nam đã tham gia 4 Công ước của Luật Nhân đạo quốc tế - một ngành luật bảo vệ con người trong hoàn cảnh xung đột và chiến tranh, được xem như cặp song sinh củar Luật Nhân quyền quốc tế.)Khi đất nước hòa bình, thống nhất, chỉ 4 năm sau khi trở thành thành viên của Liên Hợp quốc (1977), Nhà nước Việt Nam đã tích cực tham gia vào hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người (các năm 1981,1982,1983, Nhà nước Việt Nam tham gia một loạt công ước của Liên hợp quốc về quyền con người như: Công ước về ngăn ngừa và xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc, 1965; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966; Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức về phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, 1979; Công ước về quyền trẻ em, 1989 (và hai nghị định thư bổ sung); Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người, 1984; Công ước về quyền của người khuyết tật, 2006)

Nhận thức về nhân quyền của Đảng, Nhà nước và nhân dân ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn.


Trong các cương lĩnh chính trị, các văn kiện các kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quyền con người, quyền công dân và luôn đổi mới để tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân tốt hơn, phù hợp hơn với các điều ước quốc tế.Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thể chế hóa quyền con người trong hiến pháp và pháp luật và các thể chế.  Đặc biệt là đã tăng cường kiểm soát yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến của các dự thảo luật, bộ luật trước và trong quá trình soạn thảo và thông qua luật theo đúng trình tự, thủ tục. 

CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


 Công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động trên không gian mạng ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều kẽ hở, dẫn đến việc một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước “lách luật”. Các loại hình tội phạm mới trên không gian mạng đã lợi dụng để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Đặc biệt là việc tận dụng nền tảng mạng xã hội có máy chủ đặt ở ngoài nước như Facebook, Youtobe, Tik Tok… sẽ dẫn đến khó khăn trong việc quản lý và áp các chế tài xử phạt theo quy định của pháp luật Việt Nam đối với các tài khoản người dùng có hoạt động tuyên truyền, đưa tin sai sự thật và xâm phạm an ninh Quốc gia, vi phạm pháp luật Việt Nam. Có thể kể đến như hoạt động lợi dụng kẽ hở trong việc quản lý và sử dụng tên miền của các web trên không gian mạng để lập các trang web giả của cơ quan, tổ chức Nhà nước để tiến hành đăng tải các nội dung tuyên truyền, thông tin sai sự thật về tình hình phòng, chống dịch COVID -19 khiến cho người đọc khi truy cập khó phân biệt được đâu là trang tin thật, đâu là trang tin giả. Ngoài ra, các đối tượng còn tiến hành tổ chức các cuộc thi tìm hiểu với giải thưởng có giá trị về vật chất trên không gian mạng như cuộc thi viết bài về tình hình thời sự, chính trị, xã hội trong nước trong bối cảnh dịch COVID-19 do nhóm “Tuổi trẻ Việt Nam và đất nước” phát động, với phần thưởng là máy tính xách tay macbook air, ipad, iphone, qua đó đã thu hút sự chú ý và tham gia của nhiều người, nhất là học sinh, sinh viên tại Việt Nam. Việc tổ chức các cuộc thi này chỉ là cái cớ nhằm lấy giá trị tiền bạc của giải thưởng để che giấu ý đồ thu thập thông tin, cũng như âm mưu tuyên truyền các thông tin sai sự thật trên không gian mạng, tạo cơ hội để các đối tượng xấu viết bài đả phá chế độ. Qua đó, các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước thu được nhiều tin tức về tình hình chính trị, xã hội của Việt Nam, đồng thời còn tác động đến nhận thức của những người tham gia viết bài, gây hiểu sai về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác phòng, chống dịch COVID -19. Do cuộc thi được tổ chức trên mạng xã hội, người đoạt giải được nhận giải qua đường bưu điện, chuyển khoản qua ngân hàng hoặc dưới các dạng hỗ trợ, khen thưởng khác nên gây khó khăn cho công tác quản lý của nhà nước, nhất là khi các đối tượng sử dụng các tài khoản nặc danh, ẩn danh để đưa tin, bài, che giấu nhân thân, mã hóa thông tin. Việc sử dụng mạng xã hội khi xảy ra các vụ việc nhạy cảm, phức tạp hay các vấn đề thu hút sự chú ý của người dân như công tác phòng, chống dịch COVID - 19 để xuyên tạc, bịa đặt, tiến tới kích động luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa đến tình hình an ninh, trật tự và hiệu quả của các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Việt Nam là một trong những quốc gia mà các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước âm mưu tiến hành các bước chuyển hóa “cách mạng màu” trong chiến lược “Diến biến hòa bình” nhằm biến thành một quốc gia bất ổn, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự đa dạng các nền tảng mạng xã hội đã biến không gian mạng thành một thế giới ảo rộng lớn, nơi con người ở quốc gia này có thể gặp gỡ giao lưu với con người ở quốc gia khác mà không cần phải di chuyển hay lo về ngôn ngữ bất đồng. Đây cũng là môi trường để một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước triệt để lợi dụng với những phương thức và thủ đoạn ngày càng tinh vi, cũng như không theo các quy luật truyền thống như thay vì các đối tượng phải sang một nước thứ ba để tập huấn về bất bạo động, nhận hỗ trợ tài chính và dễ dàng bị lộ, bị bắt khi về nước thì ngày nay, thông qua mạng xã hội, các đối tượng dễ dàng nhận tài liệu, tham gia các lớp tập huấn, nhận nhiệm vụ tại các nhóm kín có tính bảo mật cao…

Từ đó nhận chỉ thị về việc đăng tải các nội dung sai sự thật về công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại Việt Nam với sự lan tỏa rộng rãi, tạo nên sự hoài nghi, sự hoang mang trong người dân về tình hình dịch bệnh, hướng tới các hoạt động gây khó khăn cho các công tác phòng, chống dịch, tiến tới kích động người dân tụ tập biểu tình, gây mất an ninh, trật tự.

TUYÊN TRUYỀN PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH COVID – 19, LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MỌI NGƯỜI

 


Tuyên truyền là một trong những mặt công tác đặc biệt quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Trong từng thời kỳ, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng không thể thiếu công tác tuyên truyền. Bởi vì làm tốt công tác tuyên truyền sẽ giúp “ý Đảng, lòng dân” được hợp nhất, từ đó tạo nên sức mạnh vô địch đẩy lùi mọi khó khăn thử thách để giành được những chiến thắng vĩ đại.

Trong công cuộc phòng chống dịch, bệnh Covid - 19 trong thời gian này, khi mà diễn biến dịch bệnh đang tiếp tục có những diễn biến phức tạp trên khắp cả nước đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương thì công tác tuyên truyền lại cần phải được chú trọng và phát huy cao độ để mọi qui  định, chính sách về phòng chống, dịch bệnh Covid - 19 đến được với người dân và mỗi người dân đón nhận với sự tin tưởng tuyệt đối và tự giác, tự nguyện chấp hành.

Tuy nhiên, công tác tuyên truyền không được hiểu đơn thuần rằng chủ thể là các cơ quan chức năng, ban ngành, đoàn thể, cán bộ, công chức nhà nước; còn  người dân chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin tuyên truyền và thực hiện theo. Mà phải làm sao tuyên truyền cho mỗi người dân khi tiếp nhận thông tin về công tác phòng, chống dịch thì ngoài việc chấp hành nghiêm cần phải tuyên truyền vận động người khác biết và thực hiện hiệu quả. Như thế, sẽ tạo được một mặt trận “tuyên truyền Nhân dân” rộng khắp, như một “lá chắn thép” khổng lồ, khép kín vững chãi trước dịch bệnh Covid – 19.

Vì vậy, phải xác định công tác tuyên truyền phòng chống dịch, bệnh Covid - 19 là trách nhiệm của mọi người. Điều này đòi hỏi mỗi người dân không chỉ quán triệt tốt, tuân thủ đúng, mà phải một tuyên truyền viên để cùng với cộng đồng, nâng cao ý thức phòng, chống dịch, tự giữ an toàn cho mình và cho những người xung quanh nhất là trong giai đoạn hiện nay.

Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong phòng chống dịch COVID-19 là ý thức và trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội. Người dân, trước hết phải tin tưởng vào các quyết sách, biện pháp của Nhà nước, vì tin tưởng thì mới tự nguyện làm theo tốt nhất. Vì thế khi tuyên truyền, vận động cần tập trung vào những vấn đề cơ bản, quan trọng trong Chỉ thị 15, Chỉ thị 16, Chỉ thị 19 của Thủ tướng chính phủ. Trong đó, nhấn mạnh về Qui định 5K, giãn cách xã hội, khai báo y tế, cách ly tập trung, tự cách ly theo đúng qui định của Chính phủ, Bộ Y tế và chính quyền, cơ quan chức  năng các cấp. Bên cạnh đó tuyên truyền các chế tài xử lý vi phạm hành chính trong công tác phòng, chống dịch bệnh để khuyến cáo mọi người không tham gia các hoạt động đưa người nhập cảnh trái phép vào địa phương; người dân có người thân ở nước ngoài chủ động vận động người thân không nhập cảnh trái phép, không vượt biên trái phép, chủ động báo cáo với cơ quan chức năng khi phát hiện trường hợp nhập cảnh trái phép; không chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng, thông tin xuyên tạc về tình hình dịch bệnh trên Internet và mạng xã hội.

Khi  tuyên truyền cũng cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những thành quả nhất định trong công cuộc phòng, chống Covid – 19 của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã đạt được. Nhất là khi  sử dụng các phương tiện, ứng dụng công nghệ thông tin cần suy xét kỹ lưỡng trước những thông tin trên mạng xã hội, nhất là những thông tin trên các trang tin không chính thống, tránh bị kẻ địch lợi dụng để chia sẻ những thông tin xấu  độc làm ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền về công tác phòng chống dịch của chúng ta./.

CÁC ĐÓI TƯỢNG CHỐNG PHÁ VỚI CUỘC THI “VIẾT VỀ COVID-19” TẠI VIỆT NAM

 


Các đối tượng chống đối, bất mãn, một số cá nhân có tư tưởng, nhận thức sai lệch, gom vào các group, hội, nhóm kín như “Công dân - góc nhìn báo chí”; “Đấu trường dân chủ”… để cung cấp tin, hình ảnh, đưa ra các bài viết, bình luận, lan truyền chia sẻ những thông tin sai sự thật về tình hình dịch COVID -19 tại Việt Nam. Thời gian qua, tình hình dịch COVID -19 diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, đặc biệt tại TP Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh phía Nam. Bên cạnh những nỗ lực không ngừng nghỉ của các cấp đảng, chính quyền, của đội ngũ y tế, lực lượng vũ trang sát cánh cùng nhân dân thì trên không gian mạng, một số cá nhân, tổ chức lại cố tình phớt lờ những công sức đó, tìm cách xuyên tạc, bịa đặt nhằm gây phức tạp tình hình, tạo cớ chống phá Đảng, Nhà nước. Một số cá nhân, tổ chức, bên cạnh những tài khoản hiện có, đã tiến hành xây dựng hệ thống kênh tin truyền thông trải đều trên các nền tảng mạng xã hội như you tobe, face book, blog, instagram… với lượt người theo dõi và tương tác lớn như BBC Tiếng Việt, VOA Tiếng Việt, RFI Tiếng Việt, Chân trời mới, Việt Tân…

Đi liền với đó là tập hợp các đối tượng chống đối, bất mãn, một số cá nhân có tư tưởng, nhận thức sai lệch, gom vào các group, hội, nhóm kín như “Công dân - góc nhìn báo chí”; “Đấu trường dân chủ”… để cung cấp tin, hình ảnh, đưa ra các bài viết, bình luận, lan truyền chia sẻ những thông tin sai sự thật về tình hình dịch COVID -19 tại Việt Nam. Nhiều người trong và ngoài nước đã thông qua các tin bài trong group để đưa lên các các trang cá nhân, diễn đàn với sự đa dạng về nội dung và đối tượng tiếp cận như nhân danh chuyên gia y tế, chia sẻ kinh nghiệm, tâm sự của người trong khu cách ly, quan điểm của người được cho là nổi tiếng, nghệ sĩ, trí thức… Từ đó, họ mở rộng các góc độ tiếp cận cho người đọc để tiến hành xuyên tạc, bịa đặt, thổi phồng các số liệu về tình hình phòng, chống dịch COVID - 19 ở Việt Nam. Thông qua hệ thống các trang tin trên, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã không ngừng đăng tải các thông tin, nội dung xuyên tạc sự thật lên mạng xã hội theo hiệu ứng “sóng nước”, tạo thành một làn sóng thông tin sai lệch tràn ngập, gây hoang mang cho người dân. Đây được coi là phương thức phổ biến và nguy hiểm mà các đối tượng xấu lợi dụng, dễ kích động người dân trong việc tuyên truyền, xuyên tạc thông tin trên mạng internet. Do đó, việc nhận diện âm mưu, thủ đoạn, ý đồ của một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước xuyên tạc, bịa đặt về tình hình phòng, chống dịch COVID -19 tại Việt Nam, góp phần nâng cao cảnh giác, ý thức trách nhiệm của người dân trong thời gian dịch bệnh diễn biến phức tạp là điều hết sức cần thiết.

Ý NGHĨA LỊCH SỬ NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI

 

 

  Ngày 10 tháng 10 năm 1954 chính là ngày Giải phóng thủ đô Hà Nội – niềm tự hào dân tộc, ngày mà Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chính thức tiến vào tiếp quản Hà Nội từ tay Thực dân Pháp sau Chiến tranh Đông Dương. Giải phóng thủ đô ngày 10/10/1945 Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ thì Hiệp định Giơnevơ về việc đình chiến ở Đông Dương đã được ký kết. Sau nhiều ngày đấu tranh sôi nổi, tại Ủy ban Liên hợp đình chiến Trung ương các hiệp định về việc chuyển giao Hà Nội đã được ký kết vào ngày 30/9/1954 và 02/10/1954.  Ngay sau đó, Chính Phủ đã chỉ đạo các đội công an, trật tự cảnh vệ và hành chính tiến vào thủ đô Hà Nội để chuẩn bị cho việc tiếp quản thành phố. Theo nghị quyết ngày 17/9/1954 của Hội đồng Chính phủ, thiếu tướng Vương Thừa Vũ đã thành lập Ủy ban quân chính của thành phố Hà Nội, do tư lệnh sư đoàn Quân Tiên phong làm Chủ tịch và Phó Chủ tịch là bác sĩ Trần Duy Hưng. Theo kế hoạch đã định trước, vào sáng 8/10/1954 các đơn vị của quân đội ta đã chia nhiều đường để tiến vào ngoại thành Hà Nội. Đến khoảng 16 giờ 30 phút thì tiến đến đường Đê La Thành, Vĩnh Tuy, Bạch Mai, Ngã Tư Sở, Ô Cầu Giấy và Nhật Tân. Đến 6 giờ sáng ngày 09/10/1954, quân đội ta lại theo nhiều đường từ ngoại thành và tiến vào nội thành, sau đó chia thành nhiều cánh quân để tiến vào 5 cửa ô chính rồi tỏa đi các nơi. Đến 16 giờ 30, quân đội ta đã hoàn toàn kiểm soát được thành phố Hà Nội, tiếp thu thành phố gọn gàng và trật tự. Bộ đội ta tiến đến đâu thì nhân dân ta đổ ra hai bên đường, tung hoa phất cờ, reo mừng tới đó. Các cổng chào, khẩu hiệu được dựng lên khắp các đường phố, cờ đỏ sao vàng rực rỡ bay phất phới khắp nơi. Ngày 10/10 là ngày gì? Ngày thủ đô chính thức sạch bóng quân thù 05.00 giờ sáng ngày 10/10: Toàn bộ người dân thủ đô ăn mặc chỉnh tề và cầm theo cờ tổ quốc, ảnh Bác Hồ, hoa tươi, sau đó xếp thành một đội ngũ trật tự đi theo từng công sở, xí nghiệp, trường học, khu phố..., kéo tới những con đường mà đã được thông báo là bộ đội ta sẽ hành quân qua. Đoàn xe đầu tiên sẽ do thiếu tướng Vương Thừa Vũ cùng với đó là Chủ tịch Ủy ban Quân chính và Phó Chủ tịch Ủy ban Quân chính dẫn đầu đi qua phố Hàng Đường, Hàng Đào và sau đó là đi qua trung tâm thành phố. 08.00 giờ sáng: Cánh quân ở phía Tây  những chiến sĩ bộ binh của Trung đoàn Thủ đô xuất phát từ Quần Ngựa. Các chiến sĩ bắt đầu diễu binh đi qua Kim Mã, Hàng Đẫy, Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Đào,… và đến 09.45 thì tiến vào Cửa Đông thành Hà Nội. 08.45: Cánh quân phía Nam bắt đầu xuất phát từ Việt Nam học xá và tiến qua Bạch Mai, phố Huế, sau đó vòng quanh hồ Gươm rồi lại vòng lại chiếm lĩnh toàn bộ khu vực Đồn Thủy và Đấu Xảo. 09.30: Đoàn cơ giới và pháo binh bắt đầu xuất phát từ Bạch Mai, qua phố Huế, đến 10.0 5 thì tới Bờ Hồ, sau đó đi qua Hàng Ngang, Hàng Đào, chợ Đồng Xuân, rồi rẽ sang Cửa Bắc để tiến vào thành lúc 10.45. 15.00 . Còi Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội đã nổi lên một hồi dài, khi đó mấy chục vạn nhân dân thủ đô đã trang nghiêm dự lễ chào cờ do Ủy ban Quân chính tổ chức. Sau lễ chào cờ, Chủ tịch Ủy ban Quân chính trân trọng đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi nhân dân Thủ đô Hà Nội nhân ngày giải phóng. Ngày 10/10/1954 chính là ngày thủ đô Hà Nội chính thức sạch bóng quân thù, hân hoan chào đón những con người kiên cường bất khuất đã giành chiến thắng và mang lại hòa bình cho thủ đô. Đây là một sự kiện đánh dấu bước ngoặt to lớn, là một niềm tự hào to lớn của mỗi người con Việt Nam. Sự kiện đã mở ra một thời kỳ mới, vô cùng vẻ vang trong lịch sử ngàn năm văn hiến Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Kể từ ngày đó, Thủ đô Hà Nội của chúng ta đã hoàn toàn thoát khỏi ách thống trị, là một bước đệm quan trọng để giải phóng đất nước, Bắc - Nam thống nhất. Nhân dân lao động cũng từ đó vĩnh viễn xóa bỏ các chế độ áp bức, bóc lột, đứng lên làm chủ vận mệnh của cuộc sống, phấn khởi xây dựng xã hội mới, mở đầu cho sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa tại nước ta.

Mối quan hệ của quyền con người

 


Quyền con người và vấn đề đói nghèo

Đói nghèo không đơn giản chỉ là vấn đề thu nhập, mà còn là công bằng xã hội và quyền con người. Liên hợp quốc khẳng định, đói nghèo cùng cực và cách biệt xã hội tạo thành sự vi phạm nhân phẩm, cản trở sự hưởng thụ quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, lập tức giảm nhẹ và dần dần xóa bỏ tình trạng nghèo khổ cùng cực, phải là ưu tiên cao đối với cộng đồng quốc tế.

Quyền con người và dân chủ

Dân chủ và quyền con người có mối quan hệ gắn bó với nhau. Trong quan niệm của UNESCO, dân chủ bảo đảm các quyền và tự do cơ bản. Phương pháp thảo luận tập thể, công khai để giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội sẽ không thể thực hiện được nếu không có các quyền như: tự do ngôn luận, quyền lập hội, tự do đi lại và an ninh thân thể. Mọi người có thể dựa vào dân chủ để bảo vệ các quyền đó, bởi vì chúng là tối quan trọng cho việc tồn tại các nền dân chủ.

Quyền con người và pháp quyền

Hội nghị thế giới về các quyền con người tại Viên (Áo,1993) đã nhấn mạnh, hệ thống pháp quyền bao gồm các cơ quan thi hành pháp luật, các cơ quan công tố, đặc biệt là ngành tư pháp theo đúng các chuẩn mực thông thường trong các văn kiện quốc tế về quyền con người là điều kiện thiết yếu để thực hiện một cách đầy đủ các quyền con người và là điều không thể thiếu đối với quá trình dân chủ và phát triển bền vững.

Quyền con người và phát triển con người

Với tiêu đề quyền con người và phát triển con người. Báo cáo phát triển con người của UNDP đã đánh giá, quyền con người và phát triển con người đều có cùng quan điểm và mục đích chung là bảo đảm tự do, hạnh phúc và phẩm giá cho mọi người. Phát triển con người là nền tảng để công nhận quyền con người và quyền con người là cơ sở để phát triển con người một cách đầy đủ.

Quyền con người và đa dạng văn hóa

Quyền con người phổ biến không phải phụ thuộc vào một truyền thống văn hóa duy nhất, mà là kết quả đóng góp của nhiều nền văn hóa khác nhau trong gi đình nhân loại. UNESCO đã ghi nhận: Mọi dân tộc, mọi nhóm người, bất kể thành phần hay nguồn gốc xuất thân, đều có khả năng đóng góp chúng vào tiến bộ văn hóa, văn minh, đều có quyền bình đẳng để đạt được những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ. Tuy nhiên sự dân dạng văn hóa phải gắn với thực hiện các quyền con người phổ biến phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, Bộ luật quốc tế về quyền con người và các văn kiện quốc tế về quyền con người.

Nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân đối với nhà nước và xã hội trong thực hiện quyền con người

 


Vấn đề nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân đối với nhà nước và xã hội đã được quan tâm trong nhiều truyền thống văn hóa, trong các tư tưởng chính trị, triết học và luật học. Về mặt xã hội, công dân có tư cách là thành viên của một cộng đồng chính trị, một chế độ nhà nước và chịu sự chi phối của quy tắc: phục tùng luật pháp. Thời kỳ phục hưng và cận đại, tư cách công dân gắn liền với sự tuân thủ một luật lệ bền vững, hoặc tuân thủ ý chí trung trong một thể chế chính trị. Nói cách khác, công dân vì lợi ích của mình và vì lẽ phải, không chỉ có quyền mà có nghĩa vụ chính trị đối với tập thể. Trong các xã hội có hiến pháp dân chủ hiện nay, quan niệm phổ biến đều cho rằng: Sự tham gia của người dân vào một nền dân chủ theo hiến pháp cũng đòi hỏi người công dân phải có trách nhiệm tôn trọng các luật và các quyết định của tập thể trong các hoạt động công cộng, ngay cả khi cá nhân không hoàn toàn không đồng ý với các  luật lệ và quyết định đó…đó là điều cốt yếu cho xã hội công dân. Quan niệm khá phổ biến đã được thể hiện trong Hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng quy định rõ về quyền và nghĩa vụ công dân.

Tạm đình chỉ thực hiện quyền con người trong bối cảnh khẩn cấp

 


Điều 4 ICCPR (1966) cho phép các quốc gia tạm đình chỉ thực hiện quyền trong bối cảnh khẩn cấp quốc gia. Tuy nhiên đây chỉ là những biện pháp mang tính chất “ngoại lệ và tạm thời” và các quốc gia phải chứng minh được hai điều kiện: thứ nhất, có tình trạng khẩn cấp diễn ra trong thực tế đe dọa vận mệnh của dân tộc; thứ hai, đã tuyên bố một cách chính thức về tình trạng khẩn cấp đó. Tuy nhiên không phải mọi tình hình rối loạn nào ở quốc gia cũng dẫn đến ban bố tình trạng khẩn cấp. Vấn đề này thường  phải chịu sự  xem xét của Ủy ban Giám sát Công ước. Mặt khác, các biện pháp áp dụng phải có những giới hạn trong phạm vi địa lý và mức độ cần thiết của tình trạng khẩn cấp. Nói cách khác, nó như một phương thức cuối cùng đòi hỏi phải được áp dụng.

Theo quy định tại khoản 2, Điều 4 ICCPR (1966), các biện pháp được áp dụng không được vi phạm các điều sau đây: Điều 6 (quyền sống); Điều 7 (quyền không bị tra tấn và các hình thức trừng phạt vô nhân đạo, hạ nhục, hoặc bị sử dụng làm thí nghiệm y học, khoa học nếu không có sự đồng ý của người đó); Điều 8 (không bị bắt giữ làm nô lệ, nô dịch); Điều 11 (không bị bỏ tù vì lý do không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng); Điều 15 (Không được áp dụng hồi tố trong tố tụng hình sự); Điều 16 (được công nhận là thể nhân trước pháp luật) và Điều 18 (quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo)

Quyền có thể bị hạn chế trong một số trường hợp

 


Giới hạn quyền được quy định trong một số điều ước quốc tế về quyền con người, theo đó luật quốc tế cho phép các quốc gia thành viên đưa ra những biện pháp hợp lý để hạn chế thực hiện một số quyền. Theo Điều 4 ICESCR (1966), những hạn chế này phải tuân thủ các điều kiện: a)Các biện pháp hạn chế phải được quy định trong pháp luật quốc gia; b)Không trái với bản chất quyền bị hạn chế; c)Vì mục đích thúc đảy phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

          Các quy định trên mang hàm nghĩa, biện pháp hạn chế không thể áp dụng theo cách thức độc đoán, tùy tiện. Trong một số công ước quốc tế có quy định cụ thể một số quyền phải chịu giới hạn, vì các mục đích: a)An ninh quốc gia; b) Trật tự công cộng; c)Sức khỏe và đạo đức xã hội; d)Quyền và tự do của người khác. Các quyền có thể chịu giới hạn như: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền tự do đi lại; quyền tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng; quyền tự do lập hội; quyền hội họp hòa bình;v.v…

Thế hệ quyền thứ ba của quyền con người

 


Quyền con người thế hệ thứ ba bao gồm các quyền chủ yếu như: quyền phát triển; quyền được sống trong hòa bình; quyền được sống trong môi trường trong sạch; quyền được thông tin. Trên thực tế quyền con người thế hệ thứ ba đã có trong chương trình nghị sự của Liên hợp quốc từ năm 1952. Tuy nhiên phải đến thập niên 70 (thế kỷ XX), quyền này mới có vai trò nổi bật trong những hội nghị quốc tế quan trọng và được ghi nhận trong một số văn bản của Liên hợp quốc, như: Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa (1960); Tuyên bố về quyền của các dân tộc được sống trong hòa bình (1986); tuyên bố về quyền phát triển (1986); Tuyên bố Viên và chương trình hành động (1993);v.v…

Thế hệ quyền thứ hai của quyền con người

 


Quyền con người thế hệ thứ hai là quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Chúng là kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân, người lao động cho mục tiêu công bằng về kinh tế, xã hội tại nhiều nước tư bản phát triển ở thế kỷ XIX như Anh, Đức, Pháp. Đầu thế kỷ XX, với sự ra đời của nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới – nước Nga Xô viết (1917) và sự hình thành tổ chức lao động quốc tế (ILO,1919), thì quyền con người thế hệ thứ hai có vai trò nổi bật trong các văn bản quốc tế và quốc gia. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai tiếp tục được ghi nhận trong các Công ước của ILO, trong UDHR (1948), ICESCR (1966) và trong một số hiến chương, Điều ước quốc tế, khu vực. Quyền thế hệ thứ hai thường được gọi là “Quyền con người tích cực” nhằm xác định vai trò chủ động của nhà nước trong việc tạo ra môi trường công bằng, thuận lợi để mọi người, mọi công dân có quyền làm việc, tiếp cận hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, được hưởng phúc lợi xã hội và tham gia vào đời sống văn hóa v.v…

Thế hệ quyền thứ nhất của quyền con người

 


Nội dung quyền con người thế hệ thứ nhất là quyền tự do cá nhân trên lĩnh vực dân sự, chính trị. Các quyền này đã được ghi nhận trong các văn kiện quan trọng như: Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776); Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789); UDHR (1948); ICCPR (1966) cũng như trong một số Hiến chương, Điều ước quốc tế và khu vực.

Đặc điểm quyền con người thế hệ thứ nhất là xác định nguyên tắc bảo vệ cá nhân, các công dân trước quyền lực chính trị của nhà nước. Vì vậy ngay từ khi được thừa nhận, nó đã trở thành tiêu chí về tính hợp pháp của một chế độ chính trị. Theo ý nghĩa của nó, quyền con người thế hệ thứ nhất mang tính cơ bản và thiết yếu đối với phẩm giá con người và cho phép các công dân chống lại sự lạm quyền của cơ quan nhà nước. Chính vì vậy các quyền này đòi hỏi nhà nước không chỉ tồn tại như một bộ máy cai trị, có trách nhiệm bảo đảm an ninh xã hội, mà còn có nghĩa vụ thừa nhận, tôn trọng phẩm giá các quyền bình đẳng bất di, bất dịch của mọi người, mọi công dân.

Quyền con người được phân loại theo lĩnh vực


Quyền con người có hai nhóm chính với các lĩnh vực khác nhau: Nhóm các quyền dân sự, chính trị bao gồm: quyền sống, quyền không bị tra tấn, hạ nhục; quyền không bị bắt làm nô lệ; quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền bình đẳng trước tòa án; quyền tự do đi lại, lựa chọn nơi cư trú; quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; quyền tự do ngôn luận; quyền bầu cử và tham gia các công việc nhà nước, xã hội. Nhóm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa bao gồm: quyền làm việc quyền được thành lập và gia nhập công đoàn; quyền được hưởng an sinh xã hội; quyền có mức sống thích đáng; quyền đạt tới một tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất có thể; quyền được giáo dục; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa; quyền có nơi ở thích đáng; quyền được tiếp cận với nước v.v…

Giữa hai nhóm quyền nêu trên có sự phân biệt nhất định. Chẳng hạn các quyền dân sự, chính trị đòi hỏi nghĩa vụ “thực hiện ngay” thì các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa bổ sung thêm nghĩa vụ “thực hiện từng bước”. Về cơ bản các quyền dân sự, chính trị đòi hỏi nhà nước giảm sự can thiệp vào sự hưởng thụ quyền; trong khi đó quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đòi hỏi nghĩa vụ hỗ trợ tích cực và hơn nữa, nó gắn liền với sự vận hành của kinh tế thị trường, thừa nhận vai trò của kinh tế tư nhân trong việc cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ thiết yếu. Trong tình trạng khẩn cấp, xung đột, thảm họa, thiên tai, môi trường…thì một số quyền dân sự, chính trị có thể bị hạn chế, còn các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa lại đòi hỏi nhà nước không được giảm bớt nghĩa vụ của mình, mà phải chủ động nhằm ngăn ngừa sự vi phạm các quyền này như: tình trạng bỏ đói, cự tuyệt chăm sóc y tế, cố ý cản trở hàng cứu trợ, chiếm đoạt tài sản, hủy hoại các công trình văn hóa… 

Quyền con người được phân loại theo chủ thể


Chủ thể quyền con người bao gồm: các các nhân và các nhóm xã hội. Với tư cách cá nhân, tất cả mọi người, tất cả các công dân đều được hưởng quyền con người phổ biến. Ngày nay, bảo vệ quyền cá nhân đã trở thành nội dung chủ yếu trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Các nhóm xã hội cũng có tư cách là chủ thể của quyền con người, quyền của họ là quan niệm là các quyền chung của một nhóm hay của một tập thể có một số đặc điểm riêng biệt, đặc thù. Chẳng hạn quyền của nhóm người thiểu số là quyền của các thành viên trong một nhóm với những đặc điểm khác biệt về dân tộc, tôn giáo, hay ngôn ngữ. Tự bản thân họ hay trong cộng đồng với các thành viên khác của nhóm họ có quyền được hưởng nền văn hóa riêng của mình, được thực hiện quyền tôn giáo riêng của mình, hay sử dụng ngôn gữ riêng của mình. Quyền của nhóm được thể hiện dưới hình thức tập thể và bao hàm cả hình thức cá nhân. Riêng đối với quyền tự quyết dân tộc chỉ được thực hiện dưới hình thức tập thể, vì chủ thể của quyền này là “các dân tộc”. Việc bảo vệ quyền tự quyết dân tộc có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiện thực hóa quyền của các cá nhân. Đó chính là lý do mà Liên hợp quốc đã đưa quyền này vào một điều khoản riêng và đặt nó đứng trước tất cả các quyền khác trong cả hai công ước: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, 1966) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, 1966) 

Các tỉnh ĐBSCL đồng loạt ghi nhận F0 từ dòng người hồi hương

 Các tỉnh Đồng Tháp, TP Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang, Sóc Trăng, Cà Mau... ghi nhận nhiều ca mắc Covid-19 mới là công dân trở về từ vùng có dịch.

Các tỉnh ĐBSCL đồng loạt ghi nhận F0 từ dòng người hồi hương - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Dòng người hồi hương về các tỉnh ĐBSCL (Ảnh: CTV)

 Cụ thể, ngày 3/10, Cần Thơ ghi nhận 34 ca mắc Covid-19 mới, nâng tổng số ca nhiễm lên 5.790 ca.  Trong đó 6/14 ca ở khu cách ly trở về từ vùng dịch, 19 ca ở khu phong tỏa, một ca qua xét nghiệm sàng lọc cộng đồng (ca này cũng trở về từ vùng dịch).

Trong ngày, Cần Thơ có 65 bệnh nhân Covid-19 được điều trị khỏi, nâng tổng số bệnh nhân được điều trị thành công lên 4.867 trường hợp.

Theo báo cáo của Tiểu ban, Thông tin tuyên truyền, trong ngày 3/10, tỉnh Đồng Tháp có 35 ca dương tính (tăng 29 ca so ngày hôm qua). Trong đó có 33 về từ vùng dịch, một ca trong các cơ sở cách ly y tế, một ca trong cộng đồng.

Tổng số ca dương tính là 8.346 ca đã điều trị khỏi, 7.805 ca; số ca tử vong 214 trường hợp.

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo phòng chống dịch tỉnh, tính từ ngày 1/3 đến trưa 3/10, tỉnh An Giang đã tiếp nhận hơn 17.700 người dân từ các tỉnh Đông Nam Bộ về quê tự phát, địa phương đã đón về cách ly là 6.346 người; số đang sàng lọc, phân loại là 11.576 người; qua sàng lọc có 30 người dương tính với SARS-CoV-2 và đã được cách ly điều trị riêng.

Ngày 3/10, tỉnh Hậu Giang ghi nhận 4 ca mắc mới trong đó có 2 ca là người dân hồi hương về từ vùng dịch. Tính từ đầu đợt dịch (ngày 08/7) đến nay tỉnh Hậu Giang đã ghi nhận tổng số 565 ca mắc, hiện đã điều trị khỏi 483 ca.

Theo thông tin từ sở chỉ huy phòng chống dịch Covid-19 tỉnh Cà Mau, trong 2 ngày qua số lượng công dân Cà Mau tự phát về quê từ các tỉnh, thành phố phía Nam như TPHCM, Bình Dương... rất lớn, với trên 6.000 người.

Kết quả xét nghiệm ngày đầu tiên cho hơn 1.000 người thì có 25 người dương tính với SARS-Cov-2.

Tại Bến Tre, ngày 3/10, tỉnh có 4 ca mắc Covid-19, trong đó có 3 ca là công dân hồi hương.

Ngày 3/10, Sóc Trăng ghi nhận 19 trường hợp mắc Covid-19, trong số này có 6 người về từ vùng dịch.

Hoàng Tùng

Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của quyền con người


Quyền con người, quyền công dân có phạm vi rộng, bao trùm lĩnh vực: chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa. Các quyền trong mỗi lĩnh vực là khác nhau, song chúng đều có mối quan hệ tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Việc thực thi các quyền kinh tế cấp bách không thể bỏ qua hay vi phạm quyền dân sự, chính trị, quyền xã hội, văn hóa. Quyền thoát khỏi đói nghèo, quyền có mức sống thích đáng gắn bó chặt chẽ với quyền tự do ngôn luận, báo chí và tham gia quản lý nhà nước, xã hội. Quyền về việc làm, thu nhập có mối liên hệ không thể tách rời với quyền được giáo dục, chăm sóc sức khỏe. 

Nâng cao sức mạnh nội sinh cho đất nước bằng nhân lực có kỹ năng nghề

  Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Lê Tấn Dũng nhấn mạnh, nội lực và sức mạnh nội sinh của đất nước có thể được nâng cao chính bằng sức mạnh của kỹ năng và năng lực hành nghề ở nguồn nhân lực.

Phóng viên Dân trí có cuộc phỏng vấn Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Lê Tấn Dũng về vấn đề phát triển kỹ năng lao động nhằm nâng cao nội lực, sức mạnh nội sinh cho phát triển đất nước nhân ngày Kỹ năng lao động Việt Nam 4/10.

Nâng cao sức mạnh nội sinh cho đất nước bằng nhân lực có kỹ năng nghề - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Lê Tấn Dũng.

Kỹ năng lao động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa

Xin Thứ trưởng cho biết sự cần thiết của kỹ năng lao động trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt là trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19?

- Kỹ năng lao động luôn có vai trò rất quan trọng, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhất là trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của công nghệ, số hóa, tự động hóa, toàn cầu hóa đã tác động sâu sắc đến mô hình phát triển của các quốc gia, thúc đẩy nhu cầu nâng cao kỹ năng lao động trên toàn thế giới.

Ngay trong bối cảnh dịch bệnh Covid -19 diễn biến phức tạp, tác động nặng nề lên nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, Bộ LĐ-TB&XH đã phối hợp với các Bộ, ngành tham mưu Quốc hội và Chính phủ có nhiều chính sách và ưu tiên nguồn lực để hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động.

Trong đó có chính sách hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại nhằm nâng cao kỹ năng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phục hồi sản xuất, tạo việc làm cho người lao động, chống đứt gãy chuỗi cung ứng lao động và thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như: Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 (gói hỗ trợ 26.000 tỷ đồng) và Nghị quyết 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 (gói hỗ trợ 38.000 tỷ đồng) về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; Quyết định số 1446/QĐ-TTg ngày 30/8/2021 Phê duyệt Chương trình "Đào tạo, đào tạo lại nâng cao kỹ năng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư". Trước đó ngày 28/5/2020 Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 24/CT-TTg về đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng năng lực cạnh tranh quốc gia trong tình hình mới...

Nhân dịp ngày Kỹ năng lao động Việt Nam 04/10 năm nay, Chủ tịch nước có thư gửi tới toàn thể người lao động và các cơ quan, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp trong cả nước để biểu dương và tri ân những đóng góp lớn lao cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian qua. Đồng thời, Chủ tịch nước kêu gọi chúng ta còn cần nỗ lực hơn nữa để cùng chung tay vượt qua đại dịch Covid-19 và đồng hành nâng tầm kỹ năng lao động, để đất nước ta chiến thắng dịch bệnh và phát triển thịnh vượng trong thời gian tới.

Xin Thứ trưởng cho biết tình hình nhân lực có kỹ năng nghề của Việt Nam hiện nay và quan điểm, định hướng về phát triển nhân lực có kỹ năng trong thời gian tới?

- Trong những năm qua, việc đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn bị nhân lực có kỹ năng nghề được Đảng, Nhà nước rất quan tâm và đã có nhiều chuyển biến tích cực về nhận thức, quy mô tuyển sinh, chất lượng và hiệu quả đào tạo.

Hệ thống các quy định pháp luật về giáo dục nghề nghiệp (GDNN) từng bước được hoàn thiện; mạng lưới cơ sở GDNN phát triển rộng khắp, đa dạng về loại hình và trình độ đào tạo; chất lượng được tăng cường. Xuất hiện ngày càng nhiều mô hình đào tạo chất lượng cao, đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đánh giá về tình hình phát triển GDNN giai đoạn vừa qua, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhận định GDNN có nhiều chuyển biến, qua đó đóng góp tích cực vào xây dựng con người, phát triển nguồn nhân lực… Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì quy mô, cơ cấu và chất lượng nhân lực có kỹ năng nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhân lực trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia gần 100 triệu dân, 55 triệu lao động đang trong giai đoạn dân số vàng, nhất là trong bối cảnh do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, xu hướng tự động hóa, điện tử hóa, số hóa, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.

Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn sẽ quyết định tới nhu cầu về số lượng, cơ cấu, chất lượng nhân lực cho thị trường lao động. Đảng ta xác định một trong những nội dung đột phá chiến lược là tiếp tục phát triển toàn diện nguồn nhân lực; chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao; đẩy nhanh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, trọng tâm là hiện đại hóa và thay đổi phương thức giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học và GDNN.

Nâng cao sức mạnh nội sinh cho đất nước bằng nhân lực có kỹ năng nghề - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Lực lượng lao động có chất lượng kỹ năng là nguồn tài nguyên vô giá quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. (Ảnh minh họa).

Chuyển từ đào tạo một lần sang học tập thường xuyên, học tập suốt đời

Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang thực hiện chỉ đạo của Chính phủ xây dựng Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp và Đề án "Nâng tầm kỹ năng lao động Việt Nam", xin Thứ trưởng cho biết thêm về những quan điểm, định hướng phát triển lực lượng lao động có kỹ năng trong đó?

- Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp và Đề án "Nâng tầm kỹ năng lao động Việt Nam có một số quan điểm, định hướng phát triển lực lượng lao động có kỹ năng là:

Lực lượng lao động có chất lượng, kỹ năng và hiệu quả cao là nguồn tài nguyên vô giá, là nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh hiện nay, khi đại dịch Covid-19 đang diễn biến và thế giới cũng đã xác định sống chung với covid-19 thì vai trò Nâng tầm kỹ năng lao động là một chiến lược cần ưu tiên để nhanh chóng khôi phục lại thị trường lao động, đảm bảo chuỗi cung ứng lao động không bị đứt gãy và chuẩn bị cho công cuộc phục hồi nền kinh tế sau Covid-19.

Các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan ưu tiên nguồn lực, cơ chế chính sách và hành động quyết liệt để đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, tay nghề cao, phổ cập nghề cho thanh niên.

Phát triển kỹ năng lao động là quá trình được hình thành trong học tập, lao động và cuộc sống. Do vậy, thay vì tư duy đào tạo một lần để làm việc suốt đời, chúng ta cần thay đổi chuyển từ đào tạo một lần sang học tập thường xuyên, học tập suốt đời để không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp. Đào tạo, đào tạo lại để thích ứng với thế giới việc làm đang đổi thay là hết sức quan trọng. Mọi người lao động phải không ngừng học tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, liên tục sáng tạo để cải thiện năng suất và nâng cao hiệu quả lao động trong công việc.

Một vấn đề hết sức quan trọng, đó là nâng tầm kỹ năng lao động, không phải là nhiệm vụ riêng của một ai, mà là của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội. Cộng đồng doanh nghiệp và người sử dụng lao động cũng cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để triển khai kịp thời, hiệu quả các chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động, đặc biệt là chính sách hỗ trợ đào tạo duy trì việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.

Với sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự đồng hành của các cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động và nhất là phát huy phẩm chất quý báu của người Việt Nam luôn có ý chí khắc phục khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động và sản xuất sẽ nâng tầm kỹ năng lao động, đóng góp thiết thực, hiệu quả để đất nước ta chiến thắng dịch bệnh và phát triển thịnh vượng trong thời gian tới.

Xin trân trọng cám ơn Thứ trưởng!

Lệ Thu

Hà Nội cần làm gì để vừa bảo vệ thành quả chống dịch vừa phục hồi kinh tế?

 Sau chuỗi tháng ngày nỗ lực đẩy lùi làn sóng dịch Covid-19, Hà Nội cần làm gì để vừa bảo vệ vững chắc thành quả đã đạt được mà vẫn thích ứng an toàn, linh hoạt… với dịch bệnh để phục hồi kinh tế?

Kiểm soát được dịch bệnh là tiền đề để Hà Nội phục hồi kinh tế, phấn đấu thực hiện thành công "mục tiêu kép".

Góp phần vào thành công này, ngoài vào cuộc quyết liệt, nỗ lực của Thành ủy, UBND TP và các sở, ngành, địa phương thì Hà Nội còn có rất nhiều yếu tố khác và đặc biệt là sự chung sức, đồng lòng từ người dân thủ đô trong công cuộc phòng, chống dịch của thành phố.

PGS.TS Trần Đắc Phu - Nguyên Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng, Cố vấn cao cấp Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam - đã có cuộc trao đổi với PV Dân trí về vấn đề này.

Hà Nội cần làm gì để vừa bảo vệ thành quả chống dịch vừa phục hồi kinh tế? - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Kiểm soát được dịch bệnh là tiền đề để Hà Nội phục hồi kinh tế, phấn đấu thực hiện thành công "mục tiêu kép" (Ảnh: Đỗ Quân).

Nhiều quyết sách chống dịch đưa ra được nhân dân tin tưởng

Là Cố vấn Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam, PGS.TS Trần Đắc Phu có đánh giá chung như thế nào về chiến lược chống dịch và các biện pháp mà Hà Nội đã thực hiện trong 4 đợt giãn cách xã hội vừa qua?

- Tôi cho rằng các biện pháp và cách làm của Hà Nội trong 4 đợt giãn cách xã hội là đúng, trúng, kịp thời và tính đến thời điểm hiện tại, có thể khẳng định thành phố đã thành công trong việc kiểm soát dịch bệnh trên địa bàn.

Góp phần vào thành công này, ngoài vào cuộc quyết liệt, nỗ lực của Thành ủy, UBND TP và các sở, ngành, địa phương thì Hà Nội còn có rất nhiều yếu tố khác.

Cụ thể, thành phố có hệ thống truy vết các ca bệnh, truy vết ổ dịch rất hiệu quả; có đội ngũ cán bộ cơ sở tốt; có tổ Covid-19 cộng đồng, chốt tự quản phòng dịch hoạt động hiệu quả; sớm thành lập tổ xét nghiệm cộng đồng… và đặc biệt là ý thức, sự đồng lòng của người dân sinh sống trên địa bàn đối với các biện pháp phòng, chống dịch của thành phố.

Ngoài quyết định giãn cách xã hội toàn thành phố, Hà Nội cũng đã đưa ra một quyết định khác mà tôi đánh giá là đúng thời điểm. Đó là Công điện số 14/CĐ-CTUBND ban hành ngày 12/7.

Theo đó, từ 0h ngày 13/7, Hà Nội yêu cầu dừng tất cả hoạt động kinh doanh dịch vụ không thiết yếu để phục vụ công tác phòng, chống dịch, cụ thể là: Nhà hàng, cơ sở dịch vụ ăn, uống tại chỗ (chỉ cho phép bán hàng mang về); dừng các cửa hàng cắt tóc, gội đầu; dừng hoạt động vui chơi, tập thể dục, tụ tập đông người tại công viên, vườn hoa và các địa điểm công cộng…

Hà Nội cần làm gì để vừa bảo vệ thành quả chống dịch vừa phục hồi kinh tế? - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Chuyên gia đánh giá, Công điện số 14/CĐ-CTUBND được Chủ tịch Hà Nội Chu Ngọc Anh ban hành vào ngày 12/7 là quyết sách đúng thời điểm (Ảnh: Mạnh Quân).

Điều này cho thấy, thành phố đã đoán trước được tình hình dịch bệnh trên địa bàn ở thời điểm đó là rất khó lường, diễn biến rất phức tạp nên lập tức dừng các hoạt động có nguy cơ khiến dịch lây lan. Bên cạnh đó, Hà Nội cũng đã ban hành các chỉ thị mang tính đặc thù, phù hợp với đặc điểm của thành phố để phòng, chống dịch hiệu quả.

Ngoài ra, công tác xét nghiệm đối với các nhóm nguy cơ cao, khu vực nguy cơ cao, đặc biệt là việc xét nghiệm miễn phí tất cả các trường hợp ho, sốt trên địa bàn thông qua khai báo y tế của người dân hằng ngày… cũng được Hà Nội thực hiện bài bản. Hà Nội cũng đã tổ chức thành công chiến dịch tiêm chủng cho toàn dân.

Chính những quyết sách, biện pháp này đã tạo niềm tin cho người dân chung sức, đồng lòng trong công tác phòng chống dịch của thành phố, góp phần đẩy lùi làn sóng dịch thứ 4.

- Thành phố đã có nhiều yếu tố thuận lợi, nhiều quyết định được đánh giá kịp thời, quyết liệt nhưng vẫn phải giãn cách xã hội trong thời gian 60 ngày. Ông lý giải sao về điều này?

- Về điều này, chúng ta cần nhìn nhận một cách toàn diện, toàn cảnh để có thể lý giải được vì sao. Cụ thể, ở thời điểm Hà Nội quyết định giãn cách xã hội toàn thành phố, dịch bệnh và các ca mắc trong cộng đồng đã xuất hiện ở rất nhiều quận, huyện, thị xã.

Hà Nội cần làm gì để vừa bảo vệ thành quả chống dịch vừa phục hồi kinh tế? - 3

Nhấn để phóng to ảnh

PGS.TS Trần Đắc Phu - cố vấn Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam, đánh giá các biện pháp và cách làm của Hà Nội trong 4 đợt giãn cách xã hội là đúng, trúng, kịp thời... (Ảnh tư liệu).

Trong khi đó, Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; có mật độ di chuyển lớn, là đầu mối giao thông trọng điểm quốc gia… và trên thực tế, Hà Nội không thể "đóng cứng", vẫn phải có giao thương, vận chuyển hàng hóa.

Về góc độ chuyên môn y tế, chúng ta phải giãn cách đủ thời gian thì mới kiểm soát được dịch bệnh. Vì vậy, thời gian giãn cách đối với Hà Nội vừa qua là hợp lý và cũng phù hợp với kết quả xét nghiệm đánh giá nguy cơ.

Dễ dàng nhìn thấy, trước thời gian giãn cách, nhiều ổ dịch tại cộng đồng ở tất cả các quận, huyện còn ở thời điểm hiện tại chỉ còn rất ít ca F0 cộng đồng, đặc biệt là số lượng ổ dịch đã giảm đi rất nhiều và chỉ có ở một vài quận, huyện thuộc vùng nguy cơ.

Đương đầu nguy cơ và "bài toán" thích ứng an toàn với dịch

- Hà Nội đang từng bước nới lỏng các biện pháp phòng, chống dịch để khôi phục phát triển kinh tế, xã hội. Vậy trong thời gian tới, ông nhận định thành phố sẽ đối mặt với thách thức, nguy cơ nào?

- Địa bàn càng phức tạp, mật độ giao thông, sự giao lưu càng lớn thì càng nhiều nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Trên thực tế, khi các tỉnh, thành phố có dịch thì Hà Nội cũng sẽ có dịch.

Tuy nhiên, Bộ Y tế đang xây dựng hướng dẫn "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19" và như vậy trong thời gian tới, Hà Nội cũng không thể duy trì mãi 22 chốt liên ngành ở cửa ngõ để kiểm soát người ra vào thành phố.

Khi các chốt được tháo dỡ, thành phố sẽ phải đương đầu với nguy cơ nhiều hơn vì vậy càng cần có các biện pháp kiểm soát dịch hiệu quả hơn. Khi đó, Hà Nội càng mở cửa thì nguy cơ dịch xâm nhập vào càng cao nhưng không mở cửa thì nền kinh tế khó phục hồi.

Chính vì vậy, càng mở cửa, Hà Nội càng phải tăng cường kiểm soát, khống chế rủi ro. Điều này đồng nghĩa với việc thành phố sẽ phải thích ứng an toàn, linh hoạt và kiểm soát dịch hiệu quả chứ không phải buông xuôi, không kiểm soát.

Hà Nội cần làm gì để vừa bảo vệ thành quả chống dịch vừa phục hồi kinh tế? - 4

Nhấn để phóng to ảnh

Nếu không dỡ bỏ 22 chốt liên ngành nơi cửa ngõ, PGS.TS Phu nhận định điều này sẽ khiến nền kinh tế của Hà Nội khó phục hồi. Tuy nhiên, khi các chốt được dỡ bỏ thì nguy cơ dịch xâm nhập vào thành phố sẽ rất cao (Ảnh: Mạnh Quân).

- Theo ông, để dịch bệnh không bùng phát khi thành phố mở cửa, nới lỏng phòng, chống dịch thì Hà Nội cần thực hiện những biện pháp nào?

- Tôi cho rằng, để kiểm soát được tình hình dịch bệnh thì Hà Nội cần thực hiện đồng bộ rất nhiều các biện pháp.

Cụ thể, thành phố cần duy trì công tác xét nghiệm đối tượng nguy cơ (đặc biệt duy trì xét nghiệm các trường hợp ho, sốt trên địa bàn hằng ngày), vùng nguy cơ, truy vết thần tốc các trường hợp liên quan khi F0 xuất hiện trong cộng đồng. Khi ổ dịch xuất hiện cần phong tỏa theo tinh thần "nguy cơ đến đâu, phong tỏa đến đó", phong tỏa gọn nhất có thể để vẫn kiểm soát dịch hiệu quả mà tránh làm ảnh hưởng đến kinh tế-xã hội.

Thành phố cũng cần phải nhanh chóng triển khai các phương án kinh doanh, sản xuất an toàn cho từng ngành nghề, từng lĩnh vực, từng địa bàn kết hợp với 5K. Đặc biệt, Hà Nội cần ứng dụng công nghệ thông tin vào phục vụ phòng, chống dịch hiệu quả hơn nữa.

Bên cạnh đó, công tác tiêm chủng cần tiếp tục được duy trì để sớm tạo miễn dịch cộng đồng. Hà Nội cũng cần tính đến việc tiêm vắc xin phòng Covid-19 cho các đối tượng là người địa phương khác trở lại làm việc, học tập… khi thành phố mở cửa, bước vào trạng thái "bình thường mới".

Một yếu tố khách quan khác cũng sẽ góp phần giúp Hà Nội kiểm soát được dịch bệnh, đó là sự tham gia, phối hợp của người dân đối với các quy định phòng chống dịch mà thành phố đưa ra. Trách nhiệm và ý thức thực hiện 5K, bảo vệ vùng xanh an toàn, bảo vệ thành quả sau những tháng ngày giãn cách của người dân trong công cuộc phòng chống dịch là vô cùng quan trọng.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nguyễn Trường - Thế Kha