Thứ Ba, 4 tháng 1, 2022

 

Kiên quyết đấu tranh với biểu hiện suy thoái

 về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã thành công tốt đẹp. Một vấn đề được dư luận rất quan tâm là tại Hội nghị lần này Trung ương khẳng định quyết tâm tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với trọng tâm là ngăn chặn, đẩy lùi, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hành vi tham nhũng, tiêu cực và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm.

Chất lượng đội ngũ đảng viên luôn được chú trọng

Đúng như Ban Chấp hành Trung ương khẳng định, trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, xác định đây là nhiệm vụ then chốt. Cùng với tập trung nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, Đảng ta thường xuyên chú trọng công tác quản lý, giáo dục và rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Muốn cho Đảng mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng, đòi hỏi đảng viên phải có chất lượng”. Đúng vậy, Đảng ta được tổ chức rất chặt chẽ ví như một cơ thể sống, các đảng viên của Đảng là những “tế bào” của cơ thể ấy. Muốn cho cơ thể Đảng khỏe mạnh, cường tráng thì các đảng viên - những “tế bào” của Đảng phải thực sự khỏe mạnh.

Mục tiêu mà Đảng ta hướng tới là xây dựng đội ngũ CB, ĐV thật sự tiên phong, gương mẫu, gần dân, sâu sát cơ sở, có trách nhiệm cao với nhiệm vụ, có phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành các công việc được giao, vững vàng bản lĩnh trước mọi khó khăn, thử thách… Để thực hiện mục tiêu ấy, Đảng ta có nhiều chủ trương, giải pháp thiết thực. Công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên được Đảng ta nhấn sâu, làm rõ trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định. Quán triệt và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, từng tổ chức cơ sở đảng đã cụ thể hóa thành các kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với thực tiễn và nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương mình nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CB, ĐV.

Nhìn tổng thể cơ bản đội ngũ CB, ĐV của Đảng luôn vững vàng bản lĩnh; tiên phong gương mẫu đi đầu trong hoạt động thực tiễn; năng động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách và công việc được giao; tác phong, lối sống trong sạch, lành mạnh, nhân văn; thực sự là chiến sĩ đi đầu phấn đấu, cống hiến vì lợi ích của mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội; tích cực góp phần tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên.

Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tại Hội nghị: “Bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân…”, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình. Đội ngũ CB, ĐV của Đảng là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển lớn mạnh và việc thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng.

Một bộ phận không nhỏ đảng viên suy thoái

Bên cạnh đại đa số CB, ĐV vẫn giữ gìn được phẩm chất đạo đức cách mạng; vị trí, vai trò và uy tín lãnh đạo, có một bộ phận không nhỏ CB, ĐV suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Thực tế ấy không phải bây giờ Đảng ta mới nhận thấy. Nguy cơ tha hóa của CB, ĐV đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo và chỉ ra ngay sau khi nước nhà giành được độc lập.

Những năm gần đây, do tác động bởi nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan tình trạng suy thoái trong một bộ phận không nhỏ CB, ĐV diễn biến ngày càng phức tạp. Từ chỗ trước Đại hội XI, Đảng ta chỉ đánh giá “một bộ phận”, nhưng đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Đảng ta chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…”. Trong văn kiện Đại hội XII, Đảng ta một lần nữa chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”.

Trong văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục chỉ ra rằng: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa… việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”. Đảng ta nhận định rõ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ CB, ĐV đã tác động làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ.

Nhằm kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng ấy, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, trong đó có Quy định về những điều đảng viên không được làm. Tuy nhiên, việc quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định ấy của các tổ chức đảng và đảng viên chưa nghiêm, nhiều nơi buông lỏng...

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa XIII nhận thấy nội dung của các nghị quyết, chỉ thị, quy định đã ban hành đến nay cơ bản vẫn còn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, giáo dục và rèn luyện đội ngũ CB, ĐV. Nhưng thực tiễn luôn biến đổi, vận động không ngừng. Trước yêu cầu mới của tình hình nhiệm vụ, Ban Chấp hành Trung ương nhận thấy cần thiết phải bổ sung, hoàn thiện thêm một số nội dung quan trọng về rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của CB, ĐV.

Việc bổ sung, hoàn thiện này không ngoài mục đích góp phần ngăn ngừa, khắc phục một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn những biểu hiện suy thoái, tiêu cực của CB, ĐV; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

Cùng với đó Đảng ta cũng nhận thấy, có một số nội dung qua thực tiễn chưa đầy đủ, rõ ràng, có nội dung khó áp dụng, gây khó khăn khi phải xem xét vi phạm của CB, ĐV; có nội dung quy định của Đảng và Nhà nước đã thay đổi, do đó cần phải được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới.

Để các “tế bào” của Đảng luôn khỏe mạnh

Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên luôn là một yêu cầu nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, cấp bách thuộc về công tác xây dựng Đảng. Đối với mỗi tổ chức cơ sở đảng, đặc biệt là tại các chi bộ - nơi đảng viên trực tiếp sinh hoạt và thực hiện nhiệm vụ thì công tác càng phải được nhấn mạnh. Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả cao nhất Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp.

Tuy nhiên, đi vào cụ thể trước hết chúng ta cần đổi mới nội dung, phương pháp phân tích, đánh giá chất lượng đảng viên. Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện, phát triển, sàng lọc đảng viên phải được tăng cường. Đối với những người vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng, những điều đảng viên không được làm và pháp luật Nhà nước, cần kiên quyết đưa ra khỏi Đảng.

Mặt khác, trong mọi hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng cần phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; đề cao trách nhiệm của người chủ trì lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, đơn vị, địa phương. Cấp uỷ các cấp phải xây dựng và thường xuyên bổ sung quy chế lãnh đạo và quy chế làm việc, thực hiện nghiêm Quy chế chất vấn trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm cho mọi đảng viên đều được thực hiện quyền tham gia vào các công việc của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát được nhận thức đầy đủ và thực hiện nghiêm túc, góp phần phát hiện và khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha, ngăn chặn kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bộ máy Đảng, Nhà nước.

Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm, có hiệu quả cụ thể hơn nữa Quy định về những điều đảng viên không được làm mà Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII mới bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện; kiên quyết khắc phục cho được những hạn chế, bất cập, thiếu sót trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và công tác quản lý, giáo dục nâng cao chất lượng đội ngũ CB, ĐV nói riêng trong tình hình mới. ST

 ĐẤU TRANH LOẠI BỎ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN SỨ MỆNH 

LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

    

Hiện nay, thế giới đang bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), Kinh tế tri thức và kinh tế số giúp cho nhiều quốc gia phát triển vượt bậc. Các thế lực thù địch lợi dụng những biến đổi này để tuyên truyền, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chính vì vậy, có quan điểm sai trái cho rằng, trước sự phát triển của kinh tế tri thức và kinh tế số, giai cấp công nhân bị giảm sút nhiều mặt, nên không còn vai trò lãnh đạo xã hội, vai trò ấy đã thuộc về trí thức.

   Đây là quan điểm sai trái, lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ và những biến đổi lớn của xã hội để diễn dịch cho rằng giai cấp công nhân bị giảm sút nhiều mặt, nên không thể lãnh đạo xã hội và rồi quy nạp vai trò lãnh đạo xã hội về cho trí thức. Những luận điệu sai trái này cho rằng trong nền kinh tế tri thức, chỉ có trí thức mới quyết định được trình độ phát triển của đất nước. Trong bối cảnh nâng cao năng lực cạnh tranh với các nước phát triển và khi kinh tế tri thức càng phát triển thì số lượng trí thức càng tăng, từ đó trí thức giữ vị trí trung tâm của xã hội, lãnh đạo xã hội. Quan điểm này được đưa ra một cách chủ quan mà không dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn.

   Thứ nhất, về lý luận: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự đẩy mạnh phân công lao động xã hội theo ngành nghề, lĩnh vực, vùng miền, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số đã làm chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu giai cấp theo hướng đa dạng và tạo ra không gian rộng mở cho sự phát triển nhiều mặt của giai cấp công nhân với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia công nghiệp hóa.

   Vai trò của trí thức đối với sự phát triển xã hội là quan trọng, cấp thiết, thể hiện rõ nét trong kinh tế tri thức, kinh tế số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Với những đóng góp từ lao động của trí thức giúp cho quá trình sản xuất vật chất của công nhân và nông dân không ngừng nâng cao về năng xuất, chất lượng, năng lực cạnh tranh, tạo ra sự phát triển nhanh của đất nước. Nhưng trí thức không thể lãnh đạo xã hội vì những lý do sau:

   Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trí thức không phải là một giai cấp, mà là một lực lượng xã hội đặc biệt, có nguồn gốc xuất thân không thuần nhất. Trí thức không đại diện cho một phương thức sản xuất độc lập nào, phương thức sản xuất của trí thức là độc lập nghiên cứu, sáng tạo; sản phẩm của trí thức là lý thuyết, phát minh, sáng chế, tồn tại dưới dạng những giá trị lý thuyết tinh thần là chủ yếu. Trí thức không có hệ tư tưởng riêng, tư tưởng của trí thức phụ thuộc hệ tư tưởng của các giai cấp thống trị xã hội. V.I.Lênin chỉ rõ: “nếu không  nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”[1]. Kể từ khi xã hội có phân chia giai cấp, sự lãnh đạo xã hội luôn thuộc về giai cấp.

   Thứ hai, về thực tiễn: lịch sử loài người cho thấy, một giai cấp giữ vị trí thống trị xã hội bao giờ cũng phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất phát triển, phương thức sản xuất tiến bộ. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi giai cấp lãnh đạo xã hội phải trung thành với lới ích của giai cấp, dân tộc, có hệ tư tưởng tiên tiến, có Đảng Cộng sản lãnh đạo, có đường lối lãnh đạo đúng, có mục tiêu nhân văn vì giải phóng con người; có bản chất quốc tế và bản sắc dân tộc sâu sắc. Như vậy, trí thức không có được một tiêu chuẩn, giá trị nào trong hệ thống các giá trị chuẩn mực nêu trên.

   Từ xưa đến nay, trí thức tồn tại với tư cách là lực lượng xã hội đặc biệt. Số lượng trí thức không đông bằng giai cấp công nhân và nông dân, không phải là một lực lượng kinh tế, chính trị - xã hội độc lập, không thể so với sự đông đảo của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Tuy nhiên trí thức lại có khả năng tư vấn, phản biện, giám định về mặt kinh tế - kỹ thuật và mặt chính trị - xã hội cho chính phủ như: tư vấn, phản biện, giám định về nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục - đào tạo, phát triển y tế, tài chính, ngân hàng, điều chỉnh giá xăng, giá điện, nước, chuyển giao ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, điều chế vắcxin điều trị Covid -19, v.v. Mặt khác, trí thức còn có khả năng khái quát xây dựng hệ tư tưởng cho các giai cấp thống trị xã hội như: trí thức dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, trí thức phong kiến, trí thức tư sản và trí thức công nhân. Trên thực tế, trí thức chỉ tồn tại và phát triển dựa vào giai cấp công nhân hoặc nông dân, dựa trên lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, đó là môi trường để trí thức có thể áp dụng các lý thuyết, phát minh, sáng chế, thiết kế của mình để kiểm nghiệm thực tiễn, đánh giá tính đúng – sai, kiểm tra chân lý, qua đó mà trí thức mới có thu nhập, được nuôi dưỡng, tồn tại và phát triển.

   Qua thực tiễn hoạt động sản xuất vật chất, đấu tranh giai cấp và thực nghiệm khoa học đã làm cho đội ngũ trí thức ngày càng nhận rõ sứ mệnh lịch sử của của giai cấp công nhân và tìm thấy lợi ích của mình trong cuộc đấu tranh chung, thực hiện mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chủ nghĩa xã hội là mẫu số chung, để cho công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp lao động gắn bó với nhau trong một khối liên minh thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Vì thế, ngày càng có nhiều trí thức đi theo giai cấp công nhân, chấp nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Hiện nay, với sự phát triển của xã hội, số lượng người  lao động được  đào tạo ở trình độ, tay nghề cao ngày càng nhiều, do nhu cầu về việc làm, thu nhập mà những người có trình độ cao đã không ngừng tham gia vào phương thức sản xuất công nghiệp, bổ sung cho giai cấp công nhân, kể cả chuyên gia đầu ngành, làm cho giai cấp công nhân không ngừng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Kinh tế tri thức và kinh tế số là một trình độ mới của lực lượng sản xuất hiện đại mà vai trò của tri thức ở một số lĩnh vực sản xuất đã được khẳng định. Việc quan tâm phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số là xu thế chung hiện nay, nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất. Giai cấp công nhân Việt Nam vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội Việt Nam thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng viên của Đảng hiện nay có sự đa dạng về thành phần xã hội, gồm công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, v.v. Để trở thành đảng viên, người vào Đảng phải nghiên cứu Điều lệ, giác ngộ giai cấp và tự nguyện đi theo lập trường của giai cấp công nhân, phải phấn đấu trưởng thành, tu dưỡng đạo đức cách mạng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên khi được giao trọng trách, thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý, phải có bản lĩnh chính trị, lập trường, tư tưởng vững vàng, có phong cách, đạo đức tốt, phải nêu gương, có trí tuệ và tầm nhìn sâu rộng, có năng lực lãnh đạo, định hướng tầm nhìn cho quần chúng.

   C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản thì trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”[2]. Do giai cấp công nhân có mối quan hệ khách quan với phương thức sản xuất công nghiệp, nên giai cấp công nhân là lực lượng sản xuất hàng đầu, đại diện cho lực lượng sản xuất phát triển, phương thức sản xuất tiến bộ hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

   Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: "Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng"[3]. Giai cấp công nhân nước ta không ngừng phát triển về số lượng và chất lượng. Hiện nay, giai cấp công nhân nước ta có khoảng 20,5 triệu người, có sự phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu, lĩnh vực, ngành nghề; trình độ tay nghề, vai trò của giai cấp công nhân càng ngày được khẳng định. Giai cấp công nhân nước ta hiện chiếm tỷ lệ khoảng 14% dân số, 27% lực lượng lao động xã hội, nhưng hằng năm đã tạo ra trên 65% giá trị tổng sản phẩm xã hội và hơn 70% giá trị thu ngân sách Nhà nước. Theo Tổng cục Thống kê:“ dịch Covid-19 lần thứ tư với biến chủng mới diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất công nghiệp...nên chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2021 chỉ tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 7 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,9% so với 7 tháng năm 2020 [4].

    Điều đó chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta không hề suy yếu, ngược lại giai cấp công nhân Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ vai trò của giai cấp lãnh đạo xã hội, trở thành nền tảng chính trị đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh Nhà nước.

    Qua hơn 35 năm đổi mới, sự biến đổi của giai cấp công nhân là do tác động từ nhiều yếu tố,  nhất là các cuộc cách mạng công nghiệp có chu kỳ ngày càng ngắn, yêu cầu phát triển ngày càng cao. Công nghiệp hóa diễn ra theo kiểu rút ngắn, nhảy vọt, dựa trên cơ sở tận dụng lợi thế so sánh của quốc gia gắn với việc ứng dụng công nghệ, đổi mới, sáng tạo, phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững về: xã hội, môi trường, nguồn nhân lực, hội nhập quốc tế nhanh hơn. Cho dù sự biến đổi kinh tế, xã hội đến đâu, khoa học, công nghệ có phát triển tới mức nào, thì một thực tế không thể phủ nhận đó là: giai cấp công nhân Việt Nam vẫn giữ nguyên sứ mệnh lịch sử lãnh đạo xã hội, lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Do vậy, quan điểm cho rằng, trước sự phát triển của kinh tế tri thức và kinh tế số giai cấp công nhân đã bị phân hóa, bị suy giảm về nhiều mặt không còn vai trò lãnh đạo xã hội, vai trò lãnh đạo ấy đã chuyển sang trí thức, là quan điểm sai trái, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn, đó là chủ ý thổi phồng vai trò của trí thức, kích động đội ngũ trí thức, khơi dậy tham vọng quyền lực, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo xã hội của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam./. ST

 

Việt Nam thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa không chấp nhận đa nguyên, đa đảng    

Bước ngoặt của cách mạng Việt Nam được đánh dấu từ khi có Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhận thức rõ về vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc, bác bỏ nhằm lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng.

     Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đưa ra rất nhiều luận điệu xuyên tạc của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm chống Đảng, Nhà nước ta như: “Muốn Việt Nam thực sự dân chủ và phát triển cần thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ”, “không có dân chủ trong chế độ một Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền”... Đó là những luận điệu phản khoa học nhằm  “tấn công trực diện”, thường xuyên vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Mục đích của các thế lực thù địch là thông qua hoạt động phá hoại tư tưởng để tác động, nhằm thay đổi nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân, kể cả cán bộ, đảng viên vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào tính tất yếu về sự ra đời và lãnh đạo cách mạng của Đảng, từ đó lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào con đường chống lại Đảng, hình thành nên các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập tại Việt Nam, tiến tới thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng.

      Có thể thấy rằng, đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm, bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó cổ súy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Việc nhận diện đầy đủ và đấu tranh phản bác, thuyết phục, vạch rõ những điểm giả dối, phản cách mạng, phản khoa học trong luận điệu “đa nguyên, đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” là vô cùng quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Để đấu tranh, phê phán luận điệu sai trái đó chúng ta cần nắm rõ các luận cứ sau:

      Thứ nhất, Việt Nam hiện nay không cần thiết phải thực hiện đa nguyên chính trị đa đảng đối lập.

      Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của toàn thể nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật lịch sử đặc thù của Việt Nam, giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

 Giai đoạn từ 1930-1945, lịch sử Việt Nam chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản chứ không có bất kỳ tổ chức, đảng phái chính trị nào lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là do sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của  Đảng Cộng sản Việt Nam.

      Đến năm 1946, do bối cảnh tình hình chính trị lúc đó, tại Việt Nam ngoài Đảng Cộng sản, xuất hiện thêm hai đảng khác là Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng  Minh Hội. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản, còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng” không hề đứng về lợi ích dân tộc. Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sự xuất hiện và rút lui của hai đảng Việt Cách và Việt Quốc cho thấy, chỉ có Đảng Cộng sản là được nhân dân và lịch sử Việt Nam lựa chọn, còn những đảng phái không đứng về nhân dân đã bị  lịch sử dào thải. Thời kỳ sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sau đó tuyên bố tự giải thể vì đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình. Thật vậy, Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử và nhân dân Việt Nam đã phủ định chế độ đó.

      Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cao cả được lịch sử giao phó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân đánh thắng mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của thực dân Pháp với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ nevơ (năm 1954), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thu non sông về một mối vào ngày 30/4/1975. Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (từ 1986 đến nay) đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Ngay từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiên phong, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, trung thành với lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đây là sự lựa chọn của lịch sử

      Thực tế đã khẳng định: Ở Việt Nam, không có lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

     Thứ hai, Dân chủ, phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng và đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với sẽ có dân chủ và phát triển.

     Dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và mỗi nền dân chủ gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định, tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa trong từng giai đoạn. Mỗi nước có những đặc thù về trình độ phát triển về kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa khác nhau, do đó có nền dân chủ khác nhau. Chính những điều kiện đó quy định dân chủ không phải là do cơ chế đa nguyên, đa đảng hay một đảng. Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn.

      Thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với việc sẽ có dân chủ, với việc sẽ đưa đất nước phát triển. Thực tiễn, nhiều nước đã chứng minh rằng, có những nước đa đảng nhưng vẫn thuộc loại nghèo nhất trên thế giới. Tuy nhiên, cũng có những nước chỉ một đảng lãnh đạo nhưng vẫn là nước rất phát triển với đời sống nhân dân sung túc. Điều đó có nghĩa là đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho sự phát triển. Vấn đề quan trọng nằm ở chỗ không phải là đa đảng hay một đảng lãnh đạo mà quan trọng nhất đó là tính chính danh, là đường lối lãnh đạo đúng đắn của đảng cầm quyền.

     Hơn nữa, trong xã hội hiện đại, tương ứng với mỗi mô hình kinh tế, xã hội, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc họ sẽ lựa chọn thể chế chính trị phù hợp với quốc gia dân tộc đó như: ở các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, điển hình là nước Mỹ, mặc dù là quốc gia đa đảng, nhưng thực sự chỉ có hai đảng luân phiên cầm quyền là Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ; Chế độ chính trị của Trung Quốc theo mô hình nhất nguyên, đa đảng do Đảng Cộng sản Trung Quốc duy nhất cầm quyền; hay Singapo là nước phát triển ở khu vực Đông Nam Á, nhưng trên thực tế Đảng hành động nhân dân (PAP) cầm quyền trong suốt 60 năm qua. Với cơ cấu tổ chức: Tổng bí thư đảng luôn giữ chức thủ tướng, ban chấp hành trung ương Đảng cũng là thành viên nội các. Các “đảng đối lập” luôn chỉ dành được số ghế không quá 06 trong các kỳ bầu cử thành viên nghị viện vào quốc hội. Trên thực tế, Singapor vẫn là một đảng lãnh đạo từ khi lập quốc.

      Như vậy, mức độ dân chủ hay không dân chủ của chế độ chính trị một quốc gia không phụ thuộc vào số lượng các đảng chính trị, không phụ thuộc vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, mà nó phụ thuộc vào bản chất của chính đảng cầm quyền: Đảng cầm quyền đó đại diện cho quyền và lợi ích của ai và phục vụ, bảo vệ quyền và lợi ích cho số đông hay số ít trong xã hội. Cho nên, ở quốc gia nhất nguyên, một đảng, nhưng nếu đảng cầm quyền đó đại diện cho quyền và lợi ích của đa số người dân, phục vụ và bảo vệ cho số đông thì quốc gia đó vẫn dân chủ hơn các quốc gia dù đa nguyên, đa đảng mà ở đó các đảng không đại diện và bảo vệ quyền lợi cho đông đảo người dân trong xã hội.

     Và như đã khẳng định, tại Việt Nam hiện nay, với đường lối lãnh đạo sáng suốt, Đảng Cộng sản Việt Nam đang đưa đất nước ngày càng phát triển, người dân cả nước đều được hưởng thành quả của sự nghiệp đổi mới, dân chủ vẫn đang được mở rộng và nhân quyền của người dân luôn được đảm bảo. Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là một trong những minh chứng điển hình cho vấn đề Việt Nam có dân chủ và nhân quyền.

      Thứ ba, Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao thực hành dân chủ.  

      Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngày càng tốt hơn. Dân chủ đã được Bộ Chính trị cụ thể hóa bằng Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã , phường, thị trấn. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhận thức về dân chủ và thực hành dân chủ của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân ngày càng được nâng lên. Quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” được thực hiện tốt hơn.

      Thực hành dân chủ ngày càng tốt hơn. Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế được mở rộng. Các chủ thể kinh tế được tự do sản xuất, kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm, được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, kinh doanh. Đây là thành tựu lớn nhất, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế. Dân chủ trong lĩnh vực chính trị được thực hiện tốt hơn và có những bước tiến nổi bật. Các tổ chức trong hệ thống chính trị đã và đang tiếp tục được đổi mới về tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động. Các hình thức thực hiện dân chủ (dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp) ngày càng được coi trọng. Dân chủ trong lĩnh vực văn hóa và xã hội có những kết quả quan trọng; Công tác đối thoại, tiếp công dân, đơn khiếu nại, tố cáo và những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của người dân, doanh nghiệp được tăng cường hơn trước; đặc biệt, dân chủ trong hoạt động lý luận khoa học đã có bước tiến, tạo điều kiện cho các nhà khoa học tranh luận, thảo luận và phát huy năng lực sáng tạo của mình, đóng góp tích cực vào việc xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

       Thứ tư, xã hội ổn định bền vững và sự tăng trưởng, an sinh xã hội được đảm bảo – đây là vấn đề cốt lõi của bất kỳ quốc gia nào.

      Việt Nam hiện nay, dưới vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đang đáp ứng tốt vấn đề này. Với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam có điều kiện để giữ vững ổn định chính trị, được đánh giá là một trong những nước có sự ổn định chính trị cao trên thế giới. Đây là một điểm sáng và là yếu tố quan trọng trong việc thu hút nguồn đầu tư nước ngoài. Việt Nam hiếm khi xảy ra bất ổn chính trị hay khủng bố, bạo loạn đường phố, đây là điều thường xảy ra ở quốc gia đa đảng do sự cạnh tranh quyền lực.

      Chính trị luôn ổn định, an ninh giữ vững, đời sống nhân dân ngày càng được  nâng cao, trong những năm qua tỷ lệ hộ nghèo  đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 và tiếp tục xuống dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008.

      Đến nay, khoảng 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Khoảng 70% dân số nước ta sử dụng Internet. Năm 2019, chỉ số phát triển con người của Việt Nam thuộc nhóm cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển, vị thế đất nước ngày càng được nâng lên trên trường quốc tế.

      Thực tế hiện nay, nhiều nước trên thế giới hiện nay đang phải đối mặt với sự bất ổn nghiêm trọng về chính trị do sự cạnh tranh quyền lực giữa các đảng phái, từ đó dẫn tới kinh tế suy giảm, đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn, người dân không được thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình. Đây là bài học đã từng diễn ra ở nhiều quốc gia như Thái Lan, U-crai-na, Ai Cập...

      Với những luận cứ nêu trên, chúng ta hoàn toàn khẳng định rằng Việt Nam thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa không cần đa nguyên, đa đảng. Và với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, của nhân dân dưới sự lãnh đạo sáng suốt tài tình Đảng Cộng sản Việt Nam, chắc chắn đất nước chúng ta tiếp tục phát triển nhanh, bền vững trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. ST


 

Về chủ nghĩa dân túy và đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện của nó

ở Việt Nam hiện nay

    

Chủ nghĩa dân túy là hiện tượng phức tạp, được chú ý nhiều trong đời sống chính trị trên thế giới hiện nay. Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù nó chưa trở thành trào lưu điển hình và chưa chi phối đời sống chính trị - xã hội nhưng đã xuất hiện và có nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời.

Tư tưởng dân túy có từ xa xưa trong lịch sử, nhưng đến các thế kỷ XVII, XVIII và XIX mới phát triển mạnh mẽ trong các phong trào nông dân, thể hiện sự ủng hộ hoặc nhân danh nông dân, tìm mọi cách chống lại sự phát triển của sở hữu lớn tư bản chủ nghĩa, chống lại giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng tư sản, hướng đến những phong trào đấu tranh mang tính không tưởng (không lấy chính sự phát triển hiện tại của những quan hệ kinh tế và xã hội, như cách nói của V.I. Lê-nin, làm tiêu chuẩn cho lý luận của mình, như ở các nước phương Tây, nhất là ở Anh, Mỹ, Pháp và sau đó ở Nga,...).

Chủ nghĩa dân túy, theo F. Phu-ku-y-a-ma, là thuật ngữ được sử dụng rất lỏng lẻo, nhằm mô tả một loạt các hiện tượng không nhất thiết dung hợp với nhau. Chủ nghĩa dân túy có các đặc điểm chính là: (1)- Là chế độ chính trị theo đuổi những chính sách được dân chúng ủng hộ trong một giai đoạn ngắn; (2)- Là việc lấy một số nhóm sắc tộc hoặc chủng tộc được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho tính chính danh của chế độ; (3)- Là phong cách của các nhà lãnh đạo, cầm quyền tự xưng là người đại diện trực tiếp của nhân dân, hướng niềm hy vọng (và cả sự phản kháng) của người dân vào những hành động tức thời.

Còn theo Rô-nan F. Inh-gơ-hát (Ronald F. Inglehart) và N. Pi-pa No-rít (N. Pippa Norris), chủ nghĩa dân túy hiện nay có ba yếu tố chủ yếu: (1)- Sự minh triết của nhân dân với tư cách số đông người; (2)- Sự ưa thích các nhà lãnh đạo độc đoán; (3)- Đề cao tinh thần bài ngoại, ưu tiên người bản địa.

Ngày nay, thậm chí đã xuất hiện những hình thức biểu hiện của chủ nghĩa dân túy mới, như chủ nghĩa dân tộc dân túy (populist nationalism), chủ nghĩa dân túy mới (neo-populism), với những thủ đoạn chính trị mang tính chất mị dân của một số giới chính trị tác động vào quan điểm, tâm lý của đám đông người dân (cử tri) để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm lôi kéo, tranh thủ quần chúng, giúp nhiều nhà dân túy giành được quyền lực, tạo ra những thay đổi lớn về tương quan lực lượng có lợi cho mình trên chính trường và làm thay đổi chính sách.

Với tính cách là phong trào chính trị, phong trào dân túy thường nhấn mạnh đến đặc điểm văn hóa, tình cảm tự phát và nhất là lợi ích thường nhật, trước mắt của người dân. Các hoạt động của phong trào dân túy thường được diễn ra: Thứ nhất, thông qua các cuộc gặp gỡ trực tiếp, tìm hiểu và “lắng nghe”, “chia sẻ” ý kiến, nguyện vọng của số đông trong một nhóm dân cư bị thiệt thòi nhất định, hoặc các cuộc họp của dân chúng, trưng cầu dân ý hay các hình thức dân chủ trực tiếp, trong khi lại ít hoặc không cần quan tâm đến nguyện vọng, lợi ích chung của toàn xã hội; tập trung chú ý vào các quyền và lợi ích nhiều hơn là trách nhiệm và nghĩa vụ của các nhóm dân cư này. Thứ hai, thông qua hoạt động nghị trường ở các cơ quan dân cử với các tranh luận nghị sự, các sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các cuộc mít-tinh, biểu tình,... Thứ ba, thông qua cá nhân các nhà dân túy - những người được “hâm mộ” với những phong cách chính trị có khả năng tạo “hình ảnh lớn” và “ấn tượng mạnh”, có các hình thức và thủ thuật “hùng biện chính trị” khi nêu chiến lược hay sách lược “đấu tranh” mang tính chất mị dân, nhằm lôi kéo, tranh thủ quần chúng để đạt được mục đích của họ.

Từ những năm đầu thế kỷ XXI và nhất là từ năm 2016 trở lại đây, chủ nghĩa dân túy mới trỗi dậy ở nhiều nước với việc nhiều nhà dân túy giành được các vị trí lãnh đạo, gây ra những thay đổi trên chính trường quốc gia và quốc tế. Chủ nghĩa dân túy thường phát triển khi người dân trong xã hội phải đối mặt với những khó khăn do suy thoái hay khủng hoảng về kinh tế, bất ổn về xã hội, an ninh, môi trường, dịch bệnh và trước sự lúng túng, bị động, thất bại của các đảng cầm quyền, chính quyền... Do vậy, dù với nội dung hay hình thức nào, về bản chất, chủ nghĩa dân túy cũng vẫn là một loại tư tưởng tiểu tư sản, duy tâm, phản khoa học, không tưởng, mị dân và thậm chí phản động. Có thể nói, chủ nghĩa dân túy là những thủ pháp, thủ thuật của giới hoạt động chính trị nhằm lôi kéo sự chú ý của người dân, thông qua nghệ thuật diễn thuyết với nội dung mơ hồ, khó thực hiện trong thực tế, nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó có tính chất ngắn hạn, nhất thời của người dân, nhất là của giới bình dân. Đặc điểm chung của chủ nghĩa dân túy là tách rời phát ngôn với hành động, chỉ làm thỏa mãn nhu cầu trước mắt của dân chúng hoặc một bộ phận dân chúng, nhanh chóng thay đổi quan điểm và không nhất quán một nguyên tắc nào.

Hiện nay, chủ nghĩa dân túy đang có nguy cơ ảnh hưởng sâu và tiêu cực tới Việt Nam, mặc dù ở Việt Nam chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, mà mới chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng, không thành hệ thống lý luận và chỉ biểu hiện ở phát ngôn, hành động của một số người-người của công chúng. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam dù chưa điển hình và chưa trở thành trào lưu chi phối đời sống chính trị - xã hội, nhưng đã xuất hiện nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực. Mức độ và phạm vi ảnh hưởng tiêu cực của các quan điểm, tư tưởng và hành động của chủ nghĩa dân túy đang có nguy cơ tăng lên trong đời sống xã hội, có khả năng lan rộng và thấm sâu - trở thành mảnh đất màu mỡ cho những kẻ cơ hội, mị dân lợi dụng - nên rất cần nhận diện và đấu tranh phòng ngừa, xử lý kịp thời, có hiệu quả.

Từ thực tế, có thể thấy những nhóm biểu hiện chủ yếu và bước đầu của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:

Thứ nhất, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tôn thờ và chạy theo những lợi ích trước mắt, thực dụng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân - những biểu hiện manh nha của chủ nghĩa dân túy. Một số phần tử phản động và cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; “tầm thường hóa” lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ xúy mọi người chỉ theo đuôi thực tiễn, xem thường lý luận, làm cho mọi người không quan tâm và mất niềm tin, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phủ nhận chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và khả năng đổi mới, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự sáng tạo của nhân dân trong công cuộc đổi mới đất nước.

Thứ hai, những phát ngôn và hành động của những phần tử cơ hội chính trị, nhất là những phát ngôn, những bài viết mang tính mị dân trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các diễn đàn, các trang mạng xã hội,... thể hiện dưới dạng những thủ đoạn và nội dung như sau: (1)- Có những phát ngôn và hành động trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước (đòi tự do, dân chủ không giới hạn, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa,...); (2)- Lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước, âm mưu đẩy đất nước vào bất ổn, phá vỡ môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước; (3)- Lạm dụng các quyền tự do, dân chủ để đưa ra những đòi hỏi phi lý, những chương trình hành động có tính mị dân, không đúng chính sách, pháp luật, thiếu tính khả thi, xa rời thực tế; tranh thủ dư luận xã hội với dụng ý xấu, động cơ không lành mạnh, từ đó gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ; (4)- Lợi dụng tình hình đời sống và sản xuất còn có khó khăn, yếu kém để kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, gây mất ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội; (5)- Sử dụng công nghệ thông tin hiện đại để bịa đặt, tung tin thất thiệt, gây hoang mang trong dư luận xã hội; lợi dụng, thổi phồng những khó khăn, hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trong lãnh đạo và quản lý, làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước; xuyên tạc lịch sử. Lập các trang điện tử để đăng tin, bài với dụng ý xuyên tạc, bịa đặt, phản ánh sai lệch tình hình đất nước; công kích, làm mất uy tín của cán bộ lãnh đạo, kích động tâm lý bất mãn, phản đối; (6)- Có những lời nói, việc làm “tạo tiếng vang”, sáo rỗng, không thực tế, thiếu trách nhiệm, lấy lòng đám đông, tạo cảm xúc, lợi dụng, kích động phản ứng của người dân trước những vấn đề bức xúc nhất định của xã hội với những dụng ý, động cơ thiếu trong sáng và vì lợi ích riêng; tạo tâm lý hoài nghi, bất mãn, dao động trên một số diễn đàn và nhất là trên các trang mạng xã hội; kêu gọi biểu tình, cổ vũ tụ tập đông người với những “khẩu hiệu” “bất tuân dân sự” gây sốc, làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ ba, xuất hiện những người cơ hội dưới dạng “theo đuôi quần chúng”, “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm nhất định nhân danh “quần chúng” mà bỏ qua các nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; “lấy lòng quần chúng” để giành chức quyền, mưu lợi ích riêng; bám giữ “tư duy tiểu nông”, “tiểu tư sản” trong một số trí thức và người dân, gây bất mãn với Đảng, Nhà nước và chế độ; hô hào những người còn ngộ nhận, tự phát, bất mãn, vi phạm pháp luật, làm công cụ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, xuất hiện một số cán bộ, đảng viên có quan điểm, lời nói, hành động không đúng với chủ trương, đường lối, nguyên tắc của Đảng, không đúng quy định pháp lý, thiếu tính khả thi, vượt quá giới hạn thẩm quyền; hứa suông, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, nói một đường, làm một nẻo; cơ hội, lợi dụng, tranh thủ phiếu bầu của những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, thoái hóa, biến chất; “tư duy nhiệm kỳ”, đề cao lợi ích trước mắt, cục bộ, địa phương; đưa ra những tuyên bố “gây sốc” trong cộng đồng nhằm mị dân, lấy lòng đám đông trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội, đề cao những lợi ích trước mắt của một bộ phận nhân dân; nhân danh “mối quan hệ trực tiếp với nhân dân”, “ý muốn của số đông”, “đại diện cho nhân dân”, hướng hành động của người dân vào việc làm phức tạp thêm những hạn chế, bất cập của chính quyền, kích động họ có những hành động tự phát, tức thời chống đối chính quyền, gây mất ổn định chính trị, xã hội và thiệt hại cho đất nước; tác động vào tâm lý đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào, lôi kéo, tranh thủ dư luận và đông đảo người dân; lợi dụng niềm tin của người dân để phục vụ mục đích cá nhân.

Một số ví dụ về biểu hiện tại Việt Nam: Khi thông tin ông Nguyễn Đức Chung bị khởi tố được đăng tải trên các phương tiện truyền thông chính thống có một bộ phận không nhỏ người dân dành những lời có cánh cho ông về những thành tựu trong thời kỳ ông là Chủ tịch Hà Nội, với dẫn chứng đưa ra là chương trình 1 triệu cây xanh cho Hà Nội, phố đi bộ Hồ Gươm, mời dàn nhạc giao hưởng London đến trình diễn vv…Trong trường hợp này, chúng ta có thể nói thẳng đây là nhiệm vụ của Chủ tịch Hà Nội, còn khi lợi dụng cảm xúc nhân dân, điều đó có nghĩa là người cán bộ, quan chức không vì dân mà thực ra họ chỉ vì mình.

Hay như đối tượng Phạm Thị Đoan Trang thường xuyên cấu kết với các phần tử chống đối, phản động trong và ngoài nước; các hội, nhóm chống đối sử dụng chiêu trò “phản biện xã hội” để thể hiện chính kiến trước những sự kiện chính trị – xã hội của đất nước, các vấn đề đang được xã hội quan tâm nhưng thực chất là lợi dụng để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kích động, cổ súy các hành vi chống đối, biểu tình, vi phạm pháp luật nhằm chống Đảng, Nhà nước.

Rồi đến kẻ núp bóng “vì tù nhân lương tâm” để chống phá, kích động-đối tượng Nguyễn Thúy Hạnh. Trên facebook cá nhân, Nguyễn Thúy Hạnh đưa rất nhiều thông tin hoạt động “từ thiện” dành tặng cho “tù nhân lương tâm” và người thân trong gia đình những kẻ bị bắt về tội danh tuyên truyền chống nhà nước đã bị tòa án các cấp xử phạt và đang thụ án. Hạnh còn viết bài trên facebook về các sự việc tiêu cực để quy chụp, vu khống, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các địa phương; viết bài biện hộ cho Việt Tân.

Các vị linh mục Ðặng Hữu Nam, Nguyễn Ðình Thục ở Giáo phận Vinh, Nguyễn Ngọc Nam Phong ở Giáo xứ Thái Hà, Nguyễn Duy Tân ở Giáo phận Xuân Lộc,… không chỉ tham gia tổ chức, kích động, cản trở giao thông và gây rối trật tự công cộng, đưa ra các đòi hỏi không chính đáng, nằm ngoài quy định của luật pháp Việt Nam mà còn lên mạng phát ngôn bừa bãi, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới.

Và một số nhân vật thuộc người của công chúng có những phát ngôn phản cảm, mị dân, phản ánh không đúng tình hình dịch bệnh và chủ trương chống dịch của Đảng và Nhà nước ta gây hoang mang dư luận vừa qua đã bị cơ quan chức năng mời làm việc.

Nguyên nhân làm xuất hiện những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay là do: Một là, ảnh hưởng của những nhân tố quốc tế, như mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, thông tin mạng toàn cầu; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng nhanh, thông tin giả tràn lan, làm cho người dân hiểu không đủ, không rõ, không kịp nhiều vấn đề, dễ hoang mang, bị thông tin giả chi phối, dẫn dắt; sự lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc và chống phá, can thiệp của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Hai là, ảnh hưởng của những nhân tố trong nước, như những hạn chế, khó khăn trong phát triển đất nước; sự gia tăng tình trạng phân hóa giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội, dịch bệnh ... Ba là, công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin chưa thật sự đầy đủ, chính xác và kịp thời, trong khi trình độ văn hóa, pháp luật và trình độ dân trí nói chung trong xã hội chưa cao, nhận thức của người dân vẫn còn những hạn chế, nhất là chưa phân biệt rõ giữa dân chủ và dân túy.

Nếu không đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay thì hậu quả của nó sẽ vô cùng nguy hiểm: Làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân; gây mất ổn định chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến việc xây dựng môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước; làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ của Việt Nam với các đối tác.

Để phòng ngừa và ngăn chặn những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, cần tạo sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những tác hại của chủ nghĩa dân túy, đồng thời chỉ ra những biểu hiện cụ thể của nó. Theo đó, cần:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận biết được những nguy cơ, biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa dân túy; kịp thời nhận diện và cảnh giác với những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam; định hướng thông tin đúng đắn trên báo chí, tạo hiệu ứng truyền thông tích cực, liên tục nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy.

Thứ hai, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, phòng, chống có hiệu quả tình trạng tham nhũng, tiêu cực; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, toàn tâm, toàn lực phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, thực hiện đúng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm”, “việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”, để củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thứ ba, kiên định phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập, chủ quyền trong quá trình hội nhập quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông, nâng cao khả năng định hướng dư luận xã hội của báo chí, truyền thông.

Thứ tư, phát hiện, xử lý nghiêm và khắc phục kịp thời những biểu hiện và hậu quả của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam./ST

 

Nhận diện vấn đề suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ đến “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” dẫn đến “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam hiện nay

    

         Trong bối cảnh thời sự hiện nay, việc các lực lượng thù địch trong nước và ngoài nước luôn tìm cách ngăn cản, phá hoại cuộc cách mạng của nhân dân ta bằng âm mưu “diễn biến hoà bình” đang tìm mọi cơ hội khoét sâu và lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự “tự diễn biễn”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ Đảng ta hiện nay. Thực tế điều đó đã và đang diễn ra thậm chí ngày càng nhanh chóng và nguy hiểm, có tác động lớn, liên quan đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ, sự phát triển bền vững của đất nước. Chính vì vậy, việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới luôn là vấn đề quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

         Thực  tiễn hiện nay đòi hỏi mỗi chúng ta cần có cách đánh giá nhìn nhận đúng đắn, thẳng thắn chỉ rõ mối quan hệ từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ rất dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ và từ sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ đến “diễn biến hoà bình” sẽ là một bước chuyển rất nhanh chóng và nguy hiểm.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng ta đã nhận định, vẫn còn “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”.

            Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu trên một số mặt mà Nghị quyết đề ra. Tại Đại hội XII, Đảng ta chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn…”. Chứng tỏ rằng việc nhận diện và đấu tranh phòng, chống những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” càng trở nên cấp thiết hơn.

            1. Nhận diện những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ:

          Thứ nhất, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ tuy xảy ra ở một bộ phận cán bộ, nhưng hiện nay nó đang có những diễn biến, biểu hiện vô cùng phức tạp. Nghiêm trọng nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, phủ nhận thành quả của cách mạng, mơ hồ, hoài nghi về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về khả năng lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Chính phủ. Từ đó tỏ ra bất mãn với chế độ, luôn có tư tưởng đi ngược lại với quan điểm Đảng, ủng hộ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, sẵn sàng từ bỏ con đường Chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã chọn, làm phương hại đến lợi ích của Đảng, của dân tộc, thậm chí nói xấu, bôi nhọ những gì thuộc về đất nước mình và luôn ca tụng, tung hô một cách cực đoan những gì thuộc về đất nước khác, nhất là phương Tây. Có thể nói đây là một biểu hiện quan trọng của sự xuống cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị và trong giai đoạn hiện nay, biểu hiện này đang có xu hướng gia tăng, không dễ ngăn chặn, đẩy lùi.

Tất cả những nhận thức và hành động trên của một bộ phận cán bộ đã làm ảnh hưởng lớn tới uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đây là mức độ nguy hiểm cao của sự xuống cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị.

           Thứ hai, những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống: Bên cạnh sự xuống cấp của một bộ phận cán bộ về tư tưởng chính trị thì sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của đội ngũ này cũng đã và đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng và phạm vi. Trong đó “tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước”. Cá biệt, có những vụ tham nhũng, lãng phí gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát lớn tài sản của Nhà nước, gây bức xúc dư luận, làm giảm niềm tin của quần chúng vào vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Không chỉ có tình trạng tham nhũng, hối lộ, một số cán bộ lãnh đạo quản lý lợi dụng chức, quyền để mưu lợi cá nhân, lo thu vén cho cá nhân, gia đình dẫn đến coi nhẹ lợi ích tập thể, cộng đồng. Bệnh cơ hội, tư duy nhiệm kỳ, chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng, “một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nắm giữ khối lượng tài sản, nguồn vốn lớn của tập thể, của Nhà nước; đó là môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý lợi dụng chi tiêu công, dùng tài sản công phục vụ mục đích cá nhân; có lối sống hưởng lạc, xa hoa, lãng phí không quan tâm đến đời sống còn khó khăn của nhân dân dẫn đến thói quan liêu, xa dân, lãnh đạm, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc và yêu cầu, đòi hỏi chính đáng của nhân dân, thậm chí đi ngược tâm tư, quyền lợi của nhân dân, gây bức xúc trong nhân dân, làm tổn hại thanh danh và uy tín của Đảng, làm giảm niềm tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cũng như sự lựa chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội.

           Như vậy tình trạng xuống cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ ở nước ta hiện nay đã trở nên rất nghiêm trọng, với nhiều những biểu hiện khác nhau, phạm vi biểu hiện ở nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành, thậm chí có biểu hiện còn trở thành “quốc nạn”.

         2. Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ tất yếu sẽ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

         Cụm từ “tự diễn biến” lần đầu được chính thức ghi trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá X (7/2007) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới và cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” được nhắc đến trong một số văn kiện của Đảng từ đó đến nay. Mới đây Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư (khóa XII) đã ra Nghị quyết về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Điều đó khẳng định việc tiếp tục kiên trì, kiên quyết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng đối với thứ “giặc nội xâm” này.

          Từ việc nhận diện những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, có thể nói bước chuyển dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ là một quá trình tất yếu. Quá trình này diễn ra vô cùng nhanh chóng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khoá XII rằng: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc kết cấu với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”. Quá trình này sẽ diễn ra nhanh hơn, nguy hiểm hơn khi nhiễm phải những luận điệu sai trái, những biện pháp dụ dỗ, mua chuộc, kích động của các thế lực thù địch, các đối tượng cơ hội chính trị, các phần tử bất mãn.

         Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã chỉ ra biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” mà biểu hiện rõ nhất ở quan điểm, tư tưởng phản bác, phủ nhận những vấn đề chính trị cốt tử của Đảng và thể chế chính trị - xã hội ở nước ta, từ chủ nghĩa Mác – Lênin đến các nguyên tắc tổ chức của Đảng; nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa; nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật, chính sách dân tộc, tôn giáo, đường lối đại đoàn kết dân tộc,… Chính từ những “quan điểm, tư tưởng phản bác” (biểu hiện) đó cuối cùng sẽ đưa tới những hành động sai trái như: đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; nói, viết, làm trái quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bất mãn, chống đối chính quyền; đặc biệt trong giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay nhiều đối tượng đã lợi dụng các phương tiện truyền thông nhất là mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ, truyền bá tư tưởng phản động,…

          Hiện nay để phát hiện ngay được những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ là rất khó bởi vốn nó tự diễn ra trong đầu óc con người nhưng cũng không phải là không thể phát hiện được. Bởi những người mang tư tưởng sai lệch trước sau gì cũng sẽ thể hiện ra những hành vi sai trái và đó chính là cơ sở để nhận diện, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý. Hơn nữa như đã phân tích, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là bước tiếp theo của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống nên nếu mỗi cán bộ tự giác rèn luyện, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi được tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tức là sẽ ngăn chặn được “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Đồng thời, nếu không kịp thời nhận diện và kiên quyết đấu tranh với tất cả những biểu hiện, hành động trên thì nguy cơ dẫn đến vấn đề “diễn biến hoà bình” là rất lớn.

           3.  Vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ dễ dấn đến vấn đề  “diễn biến hoà bình”.

          Ở Việt Nam hiện nay,  sự chống phá của các thế lực thù địch với âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” đang ra sức thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, nhằm chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm mất uy tín của cán bộ, đảng viên, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng với nhiều cách thức ngày càng tinh vi, khó nhận diện. Chẳng hạn, chúng lợi dụng những sự kiện lớn của đất nước và một số vụ việc (gần đây nhất là các sự kiện giàn khoan 981 hay giàn khoan Hải dương địa chất 8 của Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam, sự kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, hay các vụ án liên quan đến tham nhũng, vấn đề nước sạch, môi trường… để nói xấu, bôi nhọ, đả kích nhằm kích động tinh thần, kích động biểu tình, tung tin thất thiệt, gây hoang mang dư luận. Điều đó đã làm cho một số cán bộ, đảng viên không đủ tỉnh táo, lập trường không vững vàng, không biết cách chọn lọc thông tin, nhận thức không đầy đủ, đúng đắn đã dễ dàng “bị phần tử xấu lợi dụng lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có những tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”, có những bình luận, suy diễn, công khai cổ suý cho những nhận định sai trái, thiếu khách quan về một số sự kiện có liên quan đến lịch sử cách mạng, hoặc một số cá nhân lãnh đạo với dụng ý xấu và vô tình trở thành công cụ tiếp tay cho âm mưu của chúng. Trong số đó có cả cán bộ đã từng cống hiến lâu năm cho cách mạng, cán bộ có vị trí xã hội, cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, hoặc có những bất mãn cá nhân bị các thế lực xấu ở trong và ngoài nước tâng bốc, lôi kéo, nhồi nhét những tư tưởng xuyên tạc. Họ đã trở thành những người đi ngược lại với dân tộc, phản bội Tổ quốc, tiếp tay cho địch phát tán tài liệu, truyền bá những quan điểm sai trái với chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

           Nhìn nhận thẳng thắn những vấn đề trên, ta thấy rằng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay có quan hệ chặt chẽ   với “diễn biến hòa bình”. “Diễn biến hòa bình” đang lợi dụng khoét sâu, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đến lượt nó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lại thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, trong đó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhân tố bên trong quan trọng nhất. Nếu nhìn tổng thể thì có thể thấy âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng chuyển hoá chế độ ta bằng “diễn biến hoà bình” là hết sức nguy hiểm, trong đó nguy hiểm nhất là khai thác những mầm mống và khả năng “tự diễn biến” để chuyển hoá ta cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đạo đức, lối sống.

           Trên co sở nhân thức rõ mối liên quan mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau giữa các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên;  biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; âm mưu “diễn biến hoà bình” của kẻ thù hiện với những bước đi nguy hiểm, khó lường, yêu cầu việc nhận diện, đấu tranh phòng chống các biểu hiện trên cần phải phối hợp và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong đó, đặc biệt chú trọng các giải pháp trong công tác cán bộ, bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ví tác hại của loại giặc “nội xâm” này chẳng khác nào như cỏ dại đối với lúa; muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không thì dù cày bừa có kỹ, bón phân nhiều thì lúa vẫn xấu vì bị cỏ át đi. Đúng như vậy, hiện nay chúng ta đang chứng kiến một cuộc chiến đấu chống giặc “nội xâm” được diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt nhưng lại rất sâu sắc, không ồn ào, thể hiện trong mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi đơn vị, mỗi địa phương, đến tất cả mọi lĩnh vực rộng lớn của đời sống xã hội. Ngay từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và bốn hệ thống giải pháp; tập trung xây dựng và chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, đảng viên với tinh thần kiên quyết và triệt để, nhất là vấn đề giám sát, kiểm soát quyền lực.

            Như vậy, vấn đề suy thoái và biểu hiện của suy thoái không ở đâu xa, nó đang nằm ngay trong các cơ quan, đơn vị, trong mỗi đảng viên, mỗi cán bộ chúng ta. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải xác định rõ lý tưởng cách mạng, kiên trì với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nước ta, luôn rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, đấu tranh với những cám dỗ, thói hư tật xấu, đấu tranh mạnh mẽ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm được điều đó, sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ đồng thời làm thất bại những mưu đồ lợi dụng vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để dẫn đến vấn đề “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng nước ta và sự phát triển của đất nước của các thế lực thù địch trong và ngoài nước hiện nay./. ST

 

 

Không thể xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam hiện nay

Trong những năm qua, dân chủ, nhân quyền luôn là một trong những vấn đề được các thế lực thù địch lợi dụng để gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam. Sự chống phá diễn ra cả ở trong và ngoài nước với nhiều bộ mặt. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do dân chủ nhưng kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng những quyền này để chống phá, gây mất ổn định.

Âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng nhân quyền để chống phá Việt Nam

Dân chủ, nhân quyền luôn là một trong những vấn đề chiến lược được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hòng đưa nước ta đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong. Trong đó, chúng đã tập trung vào một số hoạt động chủ yếu sau:

Một là, vu cáo, xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, ra sức tuyên truyền, cổ súy cho dân chủ tư sản phương Tây

Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta; cho rằng chế độ xã hội ở Việt Nam là độc tài, chuyên chính. Chúng lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót của ta trong thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc những vấn đề bức xúc trong nhân dân để lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ANCT-TTXH. Chúng ra sức tuyên truyền, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản, tuyệt đối hóa tính toàn cầu, tính phổ cập của quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia”, tuyệt đối hóa các giá trị phổ quát về quyền con người theo mô hình của phương Tây; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người; đàn áp “những người bất đồng chính kiến”.v.v..Từ chỗ cho rằng, quyền con người là tuyệt đối, bất biến, các thế lực thù địch đã giải thích nhân quyền là tự do thực hiện quyền mà không bị cấm đoán, không bị giới hạn nhằm cổ xuý hoạt động lợi dụng nhân quyền vi phạm pháp luật nước ta. Các thế lực thù địch còn lợi dụng những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm thổi phồng, bóp méo tình hình thực tế để xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, vu cáo Nhà nước vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc, tôn giáo hòng kích động quần chúng, tín đồ gây rối ANCT-TTXH, tạo cớ để bên ngoài can thiệp.

Hai là, dùng dân chủ, nhân quyền làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp vào nội bộ nước ta

Hoa Kỳ và các nước đồng minh luôn gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam; đòi nước ta phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, cải cách dân chủ, pháp luật theo kiểu phương Tây. Thông qua các buổi điều trần, họp báo, hội thảo của Quốc hội Mỹ, các nước Châu Âu để gây sức ép buộc Việt Nam phải có những “tiến bộ cụ thể về nhân quyền, tôn giáo”. Thông qua các diễn đàn công khai như hội thảo, hội nghị khoa học, các buổi tiếp xúc, đối thoại với các cơ quan chức năng của Việt Nam yêu cầu ta phải đưa ra các lộ trình thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, thành lập Tòa án Hiến pháp ở nước ta. Họ còn gửi thư, bản kiến nghị tới Liên hiệp quốc, Quốc hội, Chính phủ các nước, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta để phản đối việc chính quyền bắt giữ, xét xử một số đối tượng chống đối trong nước, đòi trả tự do cho các “tù nhân lương tâm”. Lợi dụng việc chính quyền đấu tranh, xử lý số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị vi phạm pháp luật, chúng đã tạo cớ, vu cáo chính quyền vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người “bất đồng chính kiến” và những người “yêu nước”, kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Các thế lực bên ngoài còn thông qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài triển khai các dự án hỗ trợ cải cách tư pháp để tìm cách hướng lái, can thiệp vào quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật của Việt Nam và gây sức ép, đặt điều kiện đòi ta mở rộng các quyền và tự do cơ bản của công dân theo tiêu chí của họ, tạo hành lang hoạt động cho số chống đối chính trị, các tổ chức “xã hội dân sự” trong nước.

 Ba là, dùng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để thúc đẩy, hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập với Nhà nước

 

Đây là một trong những hoạt động chủ yếu của các thế lực thù địch nhằm “diễn biến hòa bình” với nước ta. Chúng cho rằng việc tồn tại nhiều đảng phái chính trị lãnh đạo xã hội là tiêu chí duy nhất của dân chủ; đồng thời xuyên tạc rằng, chế độ độc đảng ở Việt Nam là trở ngại lớn nhất trong quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam nên xóa bỏ chế độ độc đảng. Chúng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận lịch sử dân tộc ta, cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; từng bước làm mất lòng tin cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thông qua đó, chúng tập hợp lực lượng hình thành các tổ chức dưới danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, “yêu nước” như: “Hội phụ nữ nhân quyền”,“Nhóm công dân tự do”, “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”.v..v..Chúng ra sức tuyên truyền về vai trò của các tổ chức dân sự trong xã hội, qua đó hòng thúc đẩy sự ra đời của các khuynh hướng dân chủ cực đoan, phát triển “xã hội dân sự”, hình thành các tổ chức chính trị, hội nhóm bất hợp pháp. Chúng tìm cách móc nối, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện tha hóa, biến chất, số cấp tiến là lãnh đạo các cơ quan, ban ngành để mua chuộc, lôi kéo tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá từ bên trong. Chúng còn tuyên truyền, vận động số người có trình độ thấp, số biểu hiện cơ hội, bất mãn ký tên vào kiến nghị, tuyên bố…nhằm đưa ra yêu sách “dân chủ, nhân quyền”,“bảo vệ chủ quyền”…mục đích là thêu dệt, bóp méo tình hình thực tế ở trong nước, qua đó tập hợp lực lượng hình thành các hội nhóm chống chính quyền, như: Tuyên bố 72 ra “bản kiến nghị sửa đổi” Hiến pháp theo mô hình dân chủ đa nguyên, v..v..Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết hỗ trợ kinh phí, chỉ đạo đường lối đối với số trong nước phục hồi tổ chức, kích động tư tưởng ly khai, tự trị để lừa mị, lôi kéo, tập hợp quần chúng tổ chức biểu tình, bạo loạn; hình thành các hội nhóm, tổ chức chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước.

Bốn là, tác động Quốc hội Mỹ, EU và các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế ban hành văn bản xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

Các thế lực thù địch tác động Quốc hội Mỹ, EU và các nước phương Tây thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên.v..v..với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo nhằm làm cho cộng đồng quốc tế hiểu không đúng tình hình trong nước; điển hình như: Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Mỹ, Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới hàng năm của Anh, Úc, Nghị quyết của Nghị viện Châu Âu..v..v..Trong đó, chỉ riêng Hạ viện Mỹ hàng năm đã liên tục thông qua nhiều Dự luật, Nghị quyết về tình hình nhân quyền tại Việt Nam như: Dự luật HR 1587 (năm 2004), HR 3096 (năm 2007), HR 1410 (năm 2012), HR 1897 (năm 2013), Nghị quyết H.Res.484.v..v…Các báo cáo thường niên của các tổ chức quốc tế như: Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Nhà Tự do (FH), Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ), Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI)… mặc dù phải thừa nhận Việt Nam có “chuyển biến tích cực” về dân chủ, nhân quyền nhưng vẫn xuyên tạc tình hình thực tế trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm dân chủ, nhân quyền. Ngoài ra, các thế lực bên ngoài còn tác động các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ, Anh, Đức…tổ chức các buổi điều trần, hội thảo nhằm xuyên tạc, vu cáo hoặc thổi phồng các sự kiện thực tế trong nước để rêu rao Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, dân tộc hòng hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Đặc biệt, chúng còn tìm cách thông qua các chính khách cực đoan như: Z.Lofgren, C.Smith…tác động Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách “các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo” (CPC) để áp dụng các biện pháp “trừng phạt” đối với nước ta.

Thực tiễn chứng minh mọi âm mưu đều vô nghĩa

Khoản 1 Điều 14 Chương II Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ: “Ở nước CHXHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Và trên thực tế, kể từ khi thành lập nước đến nay, vấn đề dân chủ, nhân quyền luôn được quan tâm, chú trọng, lan tỏa sâu rộng trong cuộc sống. Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ cùng nhân dân Việt Nam luôn nỗ lực để nhân quyền được bảo đảm, ngày càng phát triển. Những thành tựu mọi mặt về nhân quyền Việt Nam đã đạt được không chỉ cho thấy kết quả của nỗ lực này, mà còn trực tiếp khẳng định, chứng minh sự ưu việt của chế độ xã hội.

 

 

 

Thời gian qua, dù phát triển kinh tế không đạt mục tiêu như kế hoạch đặt ra do ảnh hưởng đại dịch Covid-19 và tình hình thiên tai, bão lụt tại các địa phương thì ở Việt Nam, quyền được sống, quyền ăn, mặc, ở, quyền tham gia các hoạt động chính trị, văn hóa, giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, tự do kinh doanh, quyền tự do ứng cử, quyền thể hiện quan điểm xã hội, quyền của mọi tầng lớp, thành phần, người dân vẫn luôn được bảo đảm. Từ một nước nghèo và lạc hậu, phải khắc phục hậu quả của chiến tranh, bị cấm vận trong nhiều năm, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã vượt mọi khó khăn và trở ngại, tự lực phát triển để trở thành một trong những nước đã thực hiện thành công trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, trở thành một nước đang phát triển với 70% dân số có cuộc sống ổn định.

 

Bên cạnh rất nhiều chương trình, kế hoạch tập trung xây dựng xã hội học tập, phát triển hệ thống giáo dục, hệ thống y tế, đường sá, lưới điện quốc gia trên cả nước, phát triển văn hóa nghệ thuật,… được Chính phủ triển khai rộng khắp trong nhiều năm, thì thời gian qua, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo cuộc sống người nghèo, người yếu thế, các đối tượng chính sách… càng được tập trung đẩy mạnh. Đây là một chủ trương lớn, một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của phát triển bền vững, là chương trình mang tầm quốc gia, thể hiện tính nhân văn của chế độ xã hội và truyền thống tương thân tương ái tốt đẹp của dân tộc. Dù ngân sách còn nhiều khó khăn song Quốc hội, Chính phủ đã tăng nguồn lực đầu tư cho giảm nghèo gấp hai lần so với giai đoạn trước, liên tục chỉ đạo nhằm thực hiện đầy đủ chính sách giảm nghèo, nỗ lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững theo hướng toàn diện, đa chiều và hạn chế tái nghèo; tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo dễ dàng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là tại các địa bàn nông thôn, miền núi, hải đảo, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo.

Để bảo đảm cho mọi người Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ quyền con người, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó nổi lên là các quyền về chính trị, dân sự. Các luật này đều tuân thủ nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phù hợp quy định của Hiến pháp năm 2013, bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân,… trong đó nổi lên là Luật Báo chí; Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; Luật Tiếp cận thông tin; Luật An ninh mạng… Các bộ luật này có vai trò quan trọng trong từng lĩnh vực cụ thể của quyền con người. Đó là cơ sở bảo đảm để báo chí Việt Nam đồng hành cùng dân tộc, phát triển lành mạnh, phát huy tính tích cực xã hội trong sự đa dạng, phong phú, xứng đáng với vai trò kênh truyền tải hiệu quả mọi quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi đầu trong biểu dương và cổ vũ cái tích cực, lên án và phê phán cái tiêu cực, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, trau dồi giá trị chân – thiện – mỹ trong nhân dân, đồng thời đấu tranh ngăn chặn luận điệu sai trái, thù địch… Đó là cơ sở bảo đảm bảo vệ môi trường an ninh trên internet, xây dựng in-tơ-nét trở thành môi trường an toàn, lành mạnh để mọi người Việt Nam giao lưu, học hỏi, trao đổi, tiếp thu tri thức, giải trí,… một cách hữu ích, có trách nhiệm. Đó là cơ sở để các năm qua, mọi người Việt Nam đều được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào; công dân – tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”; rất nhiều cơ sở thờ tự, nhà thờ, nhà chùa được xây mới, xây dựng lại; chức sắc, nhà tu hành, người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp đã tăng lên nhằm đáp ứng nhu cầu trong đời sống tinh thần và tâm linh của nhân dân; các tôn giáo có quyền và được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện mở trường, cơ sở đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, tham gia các hoạt động xã hội; các lễ hội tôn giáo đã được tổ chức long trọng, trang nghiêm.

 

Trong hơn một năm qua, đại dịch Covid-19 đã khiến cả thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Nhưng không như một số nước “tự do” khác đã để dịch bệnh lây lan không thể kiểm soát, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ Việt Nam, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, Nhân dân Việt Nam đã đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành đã “chiến đấu” dũng cảm, kiên cường nhất để chiến thắng đại dịch này. “Không để ai bị bỏ lại phía sau” – tinh thần này đã và sẽ tiếp tục là phương châm hành động để các cấp, ngành tiếp tục thực hiện những biện pháp mạnh mẽ, toàn diện để bảo vệ tính mạng Nhân dân; các gói an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được nhanh chóng quyết định và triển khai một cách thiết thực, hiệu quả để kịp thời giúp đỡ, hỗ trợ những người khó khăn nhất trong lúc dịch bệnh – điều đó thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta, đồng thời chính là minh chứng hùng hồn, bác bỏ mọi lời xuyên tạc, vu cáo của các tổ chức theo dõi nhân quyền đối với Việt Nam. Đặc biệt từ đầu năm 2020 đến nay, việc Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam quyết tâm bằng mọi biện pháp bảo vệ tính mạng con người trước đại dịch Covid-19, chính là một sự khẳng định rõ ràng về  thành tựu, chủ trương nhất quán, toàn diện và đúng đắn này. Gói an sinh xã hội gần 62.000 tỷ đồng khắc phục hậu quả của đại dịch Covid-19, 11.500 tấn gạo hỗ trợ khẩn cấp và hàng nghìn tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương để cứu trợ đồng bào miền trung khắc phục hậu quả “lũ chồng lũ, bão chồng bão” là nỗ lực rất lớn, kịp thời, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất tác động của đại dịch Covid-19 và bão lụt, giúp mọi người được hưởng quyền sống, quyền được chăm sóc y tế, quyền mưu sinh, và tiếp tục làm sáng tỏ tinh thần coi lợi ích nhân dân là mục tiêu hàng đầu. Không có ý nghĩa nào khác, các thành tựu đó là kết quả từ nỗ lực hành động vì nhân quyền, vì con người của Đảng, Nhà nước Việt Nam, không ai có thể xuyên tạc, phủ nhận.

Có thể khẳng định rằng, những thành tựu cơ bản trong bảo đảm và phát triển quyền con người ở Việt Nam nêu trên là kết quả từ chính sách nhất quán luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực và nghĩa vụ quốc tế. Những giọng điệu lạc lõng xuyên tạc, bóp méo phản ánh không đúng về tình hình nhân quyền tại Việt Nam của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội là nhằm dụng ý xấu hòng phá hoại sự ổn định và kìm hãm sự phát triển của đất nước Việt Nam.Thế nhưng “vải thưa không che nổi mắt thánh”, những ghi nhận, đánh giá của cộng đồng quốc tế và thực tiễn sinh động trên đất nước Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đối với Việt Nam. ST