ĐẤU TRANH LOẠI BỎ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN SỨ MỆNH
LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
Hiện nay,
thế giới đang bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), Kinh tế tri
thức và kinh tế số giúp cho nhiều quốc gia phát triển vượt bậc. Các thế lực thù
địch lợi dụng những biến đổi này để tuyên truyền, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân. Chính vì vậy, có quan điểm sai trái cho rằng, trước sự phát
triển của kinh tế tri thức và kinh tế số, giai cấp công nhân bị giảm sút nhiều
mặt, nên không còn vai trò lãnh đạo xã hội, vai trò ấy đã thuộc về trí thức.
Đây là quan điểm sai trái, lợi dụng sự phát
triển của khoa học công nghệ và những biến đổi lớn của xã hội để diễn dịch cho
rằng giai cấp công nhân bị giảm sút nhiều mặt, nên không thể lãnh đạo xã hội và
rồi quy nạp vai trò lãnh đạo xã hội về cho trí thức. Những luận điệu sai trái
này cho rằng trong nền kinh tế tri thức, chỉ có trí thức mới quyết định được
trình độ phát triển của đất nước. Trong bối cảnh nâng cao năng lực cạnh tranh với
các nước phát triển và khi kinh tế tri thức càng phát triển thì số lượng trí thức
càng tăng, từ đó trí thức giữ vị trí trung tâm của xã hội, lãnh đạo xã hội.
Quan điểm này được đưa ra một cách chủ quan mà không dựa trên cơ sở lý luận và
thực tiễn.
Thứ nhất, về lý luận: nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa có sự đẩy mạnh phân công lao động xã hội theo ngành
nghề, lĩnh vực, vùng miền, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn
với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số đã làm chuyển dịch cơ cấu lao động,
cơ cấu giai cấp theo hướng đa dạng và tạo ra không gian rộng mở cho sự phát triển
nhiều mặt của giai cấp công nhân với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia
công nghiệp hóa.
Vai trò của trí thức đối với sự phát triển
xã hội là quan trọng, cấp thiết, thể hiện rõ nét trong kinh tế tri thức, kinh tế
số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Với những đóng góp từ lao động của trí
thức giúp cho quá trình sản xuất vật chất của công nhân và nông dân không ngừng
nâng cao về năng xuất, chất lượng, năng lực cạnh tranh, tạo ra sự phát triển
nhanh của đất nước. Nhưng trí thức không thể lãnh đạo xã hội vì những lý do
sau:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin,
trí thức không phải là một giai cấp, mà là một lực lượng xã hội đặc biệt, có
nguồn gốc xuất thân không thuần nhất. Trí thức không đại diện cho một phương thức
sản xuất độc lập nào, phương thức sản xuất của trí thức là độc lập nghiên cứu,
sáng tạo; sản phẩm của trí thức là lý thuyết, phát minh, sáng chế, tồn tại dưới
dạng những giá trị lý thuyết tinh thần là chủ yếu. Trí thức không có hệ tư tưởng
riêng, tư tưởng của trí thức phụ thuộc hệ tư tưởng của các giai cấp thống trị
xã hội. V.I.Lênin chỉ rõ: “nếu không nhập
cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”[1]. Kể
từ khi xã hội có phân chia giai cấp, sự lãnh đạo xã hội luôn thuộc về giai cấp.
Thứ hai, về thực tiễn: lịch sử loài người
cho thấy, một giai cấp giữ vị trí thống trị xã hội bao giờ cũng phải là giai cấp
đại diện cho lực lượng sản xuất phát triển, phương thức sản xuất tiến bộ. Trong
cách mạng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi giai cấp lãnh đạo xã hội phải trung thành với
lới ích của giai cấp, dân tộc, có hệ tư tưởng tiên tiến, có Đảng Cộng sản lãnh
đạo, có đường lối lãnh đạo đúng, có mục tiêu nhân văn vì giải phóng con người;
có bản chất quốc tế và bản sắc dân tộc sâu sắc. Như vậy, trí thức không có được
một tiêu chuẩn, giá trị nào trong hệ thống các giá trị chuẩn mực nêu trên.
Từ xưa đến nay, trí thức tồn tại với tư cách
là lực lượng xã hội đặc biệt. Số lượng trí thức không đông bằng giai cấp công
nhân và nông dân, không phải là một lực lượng kinh tế, chính trị - xã hội độc lập,
không thể so với sự đông đảo của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Tuy
nhiên trí thức lại có khả năng tư vấn, phản biện, giám định về mặt kinh tế - kỹ
thuật và mặt chính trị - xã hội cho chính phủ như: tư vấn, phản biện, giám định
về nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục - đào tạo, phát triển y tế, tài
chính, ngân hàng, điều chỉnh giá xăng, giá điện, nước, chuyển giao ứng dụng
khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, điều chế vắcxin điều trị Covid -19,
v.v. Mặt khác, trí thức còn có khả năng khái quát xây dựng hệ tư tưởng cho các
giai cấp thống trị xã hội như: trí thức dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, trí thức
phong kiến, trí thức tư sản và trí thức công nhân. Trên thực tế, trí thức chỉ tồn
tại và phát triển dựa vào giai cấp công nhân hoặc nông dân, dựa trên lĩnh vực
công nghiệp, nông nghiệp, đó là môi trường để trí thức có thể áp dụng các lý
thuyết, phát minh, sáng chế, thiết kế của mình để kiểm nghiệm thực tiễn, đánh
giá tính đúng – sai, kiểm tra chân lý, qua đó mà trí thức mới có thu nhập, được
nuôi dưỡng, tồn tại và phát triển.
Qua thực tiễn hoạt động sản xuất vật chất, đấu
tranh giai cấp và thực nghiệm khoa học đã làm cho đội ngũ trí thức ngày càng nhận
rõ sứ mệnh lịch sử của của giai cấp công nhân và tìm thấy lợi ích của mình
trong cuộc đấu tranh chung, thực hiện mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội, thực hiện: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh. Chủ nghĩa xã hội là mẫu số chung, để cho công nhân, nông dân, trí thức và
các tầng lớp lao động gắn bó với nhau trong một khối liên minh thống nhất dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Vì thế, ngày càng có nhiều trí thức đi theo giai
cấp công nhân, chấp nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Hiện nay, với sự phát triển của xã hội, số
lượng người lao động được đào tạo ở trình độ, tay nghề cao ngày càng
nhiều, do nhu cầu về việc làm, thu nhập mà những người có trình độ cao đã không
ngừng tham gia vào phương thức sản xuất công nghiệp, bổ sung cho giai cấp công
nhân, kể cả chuyên gia đầu ngành, làm cho giai cấp công nhân không ngừng tăng
nhanh cả về số lượng và chất lượng. Kinh tế tri thức và kinh tế số là một trình
độ mới của lực lượng sản xuất hiện đại mà vai trò của tri thức ở một số lĩnh vực
sản xuất đã được khẳng định. Việc quan tâm phát triển kinh tế tri thức và kinh
tế số là xu thế chung hiện nay, nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế, phát triển lực lượng
sản xuất. Giai cấp công nhân Việt Nam vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội Việt
Nam thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng viên của Đảng hiện nay có sự đa dạng
về thành phần xã hội, gồm công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, v.v. Để trở
thành đảng viên, người vào Đảng phải nghiên cứu Điều lệ, giác ngộ giai cấp và tự
nguyện đi theo lập trường của giai cấp công nhân, phải phấn đấu trưởng thành, tu
dưỡng đạo đức cách mạng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên khi
được giao trọng trách, thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý, phải có bản lĩnh
chính trị, lập trường, tư tưởng vững vàng, có phong cách, đạo đức tốt, phải nêu
gương, có trí tuệ và tầm nhìn sâu rộng, có năng lực lãnh đạo, định hướng tầm
nhìn cho quần chúng.
C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong tất cả các
giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp công nhân là
giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong với
sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản thì trái lại, là sản phẩm
của bản thân nền đại công nghiệp”[2]. Do giai cấp công nhân có mối quan hệ
khách quan với phương thức sản xuất công nghiệp, nên giai cấp công nhân là lực
lượng sản xuất hàng đầu, đại diện cho lực lượng sản xuất phát triển, phương thức
sản xuất tiến bộ hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử
to lớn: "Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng
sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp
tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng"[3].
Giai cấp công nhân nước ta không ngừng phát triển về số lượng và chất lượng. Hiện
nay, giai cấp công nhân nước ta có khoảng 20,5 triệu người, có sự phát
triển nhanh về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu, lĩnh vực,
ngành nghề; trình độ tay nghề, vai trò của giai cấp công nhân càng ngày được
khẳng định. Giai cấp công nhân nước ta hiện chiếm tỷ lệ khoảng 14% dân số,
27% lực lượng lao động xã hội, nhưng hằng năm đã tạo ra trên 65% giá trị tổng sản
phẩm xã hội và hơn 70% giá trị thu ngân sách Nhà nước. Theo Tổng cục Thống kê:“
dịch Covid-19 lần thứ tư với biến chủng mới diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu
cực đến sản xuất công nghiệp...nên chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2021 chỉ
tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, tính chung
7 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,9% so với 7 tháng năm 2020
[4].
Điều đó chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta
không hề suy yếu, ngược lại giai cấp công nhân Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ vai
trò của giai cấp lãnh đạo xã hội, trở thành nền tảng chính trị đảm bảo cho sự
lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh Nhà nước.
Qua hơn 35 năm đổi mới, sự biến đổi của
giai cấp công nhân là do tác động từ nhiều yếu tố, nhất là các cuộc cách mạng công nghiệp có chu
kỳ ngày càng ngắn, yêu cầu phát triển ngày càng cao. Công nghiệp hóa diễn ra
theo kiểu rút ngắn, nhảy vọt, dựa trên cơ sở tận dụng lợi thế so sánh của quốc
gia gắn với việc ứng dụng công nghệ, đổi mới, sáng tạo, phát triển kinh tế tri
thức và kinh tế số nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững về: xã hội,
môi trường, nguồn nhân lực, hội nhập quốc tế nhanh hơn. Cho dù sự biến đổi kinh
tế, xã hội đến đâu, khoa học, công nghệ có phát triển tới mức nào, thì một thực
tế không thể phủ nhận đó là: giai cấp công nhân Việt Nam vẫn giữ nguyên sứ mệnh
lịch sử lãnh đạo xã hội, lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị
thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét