Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2022

TỪ TÁC PHẨM “TỰ CHỈ TRÍCH” CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN VĂN CỪ SUY NGHĨ VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

 

Nhân dịp 110 năm Ngày sinh của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (9/7/1912-9/7/2022) chúng ta đọc lại tác phẩm "Tự chỉ trích", suy ngẫm, thấm thía những luận điểm về tự phê bình và phê bình, tham khảo phương pháp luận khoa học, thế giới quan và nhân sinh chính trị đúng đắn để tiếp tục công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay.
1. Trong những trang vàng lịch sử Đảng ta, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ để lại dấu ấn là một lãnh tụ xuất sắc của Đảng, một người con ưu tú của dân tộc, “tuổi trẻ tài cao”, với ước nguyện cao đẹp, xả thân vì lý tưởng cứu dân cứu nước, một tài năng chính trị lỗi lạc có tầm nhìn chiến lược linh hoạt và phương pháp cách mạng khoa học. Đồng chí là hiện thân về đạo đức cách mạng nhiệt thành, trong sáng, kiên trì học tập, thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định nguyên tắc Đảng, luôn từ thực tiễn để tiếp cận chân lý.
Trình độ lý luận chính trị vững vàng, thực tiễn đấu tranh phong phú, khả năng tập hợp, đoàn kết được cán bộ, đảng viên, quần chúng giúp đồng chí có nhiều kinh nghiệm trong việc chỉ đạo cách mạng. Năm 26 tuổi đồng chí nhận trọng trách là Tổng Bí thư của Đảng (3/1938). Đồng chí đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế với lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng của lãnh tụ nguyễn Ái Quốc, cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng giải quyết những yêu cầu đúng đắn của cách mạng Việt Nam và Đông Dương đề ra. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ có vai trò định hướng quan trọng tại Hội nghị Trung ương 6 tháng 11/1939. Trong hội nghị này, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và Trung ương Đảng đã nhanh chóng, kịp thời quyết định chuyển hướng chiến lược và phương pháp cách mạng của Đảng phù hợp với thực tiễn thời cuộc lúc đó. Trung ương đánh giá đầy đủ vấn đề dân tộc, chỉ rõ mâu thuẫn chủ yếu ở Đông Dương là mâu thuẫn giữa các dân tộc trên bán đảo này với chủ nghĩa đế quốc Pháp và bè lũ tay sai, coi nhiệm vụ tập hợp toàn dân để đấu tranh giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng.
Giữa lúc phong trào cách mạng của dân tộc đang bước vào cao trào mới thì ngày 18/1/1940, đồng chí bị địch bắt. Năm 1940, bọn đế quốc Pháp kết án tử hình đồng chí. Ngày 28/8/1941, đồng chí bị quân thù bắn ở Bà Điểm, Gò Vấp (Gia Định). Trước họng súng của kẻ thù, đồng chí vẫn giữ khí phách hiên ngang, bất khuất, kiên trung của người cộng sản luôn vì Đảng, vì Nhân dân, vì Tổ quốc.
Tuy cuộc đời dừng lại khi còn rất trẻ, đồng chí đã kịp để lại cho Đảng ta một số tác phẩm quý báu, mang tầm tư tưởng và trí tuệ, thể hiện tư duy lý luận chính trị sắc sảo, nhãn quan chính trị nhạy bén, quan điểm về tính Đảng, tính nguyên tắc rõ ràng. Trong đó “Tự chỉ trích” là một văn kiện quan trọng về tổng kết kinh nghiệm đấu tranh cách mạng thời kỳ Mặt trận Dân chủ và là “cẩm nang” trong xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận chính trị, thực hành nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng, cho đến nay vẫn còn mang ý nghĩa thời đại.
Tác phẩm “Tự chỉ trích” ra đời vào tháng 7/1939. Vào thời điểm đó, sự thắng thế của các phần tử tờ-rốt-kít dẫn đến thất bại tạm thời của Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Một số cán bộ, đảng viên dao động, tranh cãi, công kích lẫn nhau, viết bài đăng báo, với nhiều luồng tư tưởng lệch lạc về đường lối của Đảng, xuất hiện chủ nghĩa bè phái, chia rẽ trong nội bộ Đảng. Với tư cách là Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Cừ cảm thấy “không thể giữ thái độ lãnh đạm hay mù mờ”, “có trách nhiệm phải tham gia vào cuộc thảo luận”, “phải định rõ thái độ”, “có bổn phận phải phân tích xác thực hoàn cảnh”. Cùng với việc khởi xướng đấu tranh lý luận trên các mặt trận báo chí, tuyên truyền, giáo dục, đồng chí Nguyễn Văn Cừ viết tác phẩm “Tự chỉ trích” in trong tập sách Dân chúng xuất bản tháng 7/1939 với bút danh Trí Cường. Thông qua khái quát những vấn đề tư tưởng, nhận thức, tranh luận và giải đáp, giác ngộ chính trị cho đảng viên, khắc phục tình trạng bất đồng ý kiến xuất hiện trong Đảng lúc bấy giờ. Tác phẩm đã chuẩn bị về mặt lý luận và tư tưởng cho thành công của Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương tháng 11/1939.
Bằng phương pháp bút chiến, đồng chí tranh luận và giải đáp một số vấn đề đặt ra trong tư tưởng, nhận thức với mục đích: “Để thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động! Củng cố hàng ngũ để chóng thực hiện sự thống nhất các tầng lớp nhân dân”. Đồng chí kêu gọi dùng phương pháp “tự chỉ trích” để nhận diện và đấu tranh với các khuynh hướng sai lầm trong Đảng lúc bấy giờ: “Chúng ta phải chiến thắng những xu hướng sai lầm trong hàng ngũ: xu hướng “tả khuynh”, cô độc, nó muốn làm cho Đảng cô lập rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng, và xu hướng thỏa hiệp hữu khuynh lung lay trước những tình hình nghiêm trọng, nhãng quên hoặc che lấp sự tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, lăm le rời bỏ những nguyên tắc cách mệnh”.
Đồng chí cho rằng: “Đảng vì còn trẻ tuổi còn phạm nhiều khuyết điểm, nhiều sự sai lầm; điều ấy Đảng luôn luôn tự chỉ trích thành thật và mạnh dạn công nhận để sửa đổi” với thái độ “…không bi quan hoảng hốt mà cũng không đắc chí tự mãn để tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiến thủ”. Từ bản lĩnh và nhận thức đúng đắn của người cộng sản, đồng chí khẳng định: “Công khai, mạnh dạn thành thực vạch những lầm lỗi của mình và tìm những phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu thỏa hiệp không phải là làm yếu Đảng mà là làm cho Đảng được thống nhất, mạnh mẽ. Cũng không sợ “địch nhân lợi dụng, chửi rủa, vu cáo cho Đảng, không sợ nối giáo cho giặc”. Trái lại, nếu “đóng kín cửa bảo nhau”, giữ cái vỏ thống nhất mà bề trong hổ lốn một cục đầy dẫy bọn hoạt đầu, đó mới chính là để cho quân thù chửi rủa, hơn nữa, đó tỏ ra không phải là một đảng tiền phong cách mạng, mà là một đảng hoạt đầu cải lương”.
Đồng chí đặc biệt coi trọng vấn đề phương pháp trong phê bình và tự phê bình. Để thống nhất ý chí và hành động, mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận và tự chỉ trích nhưng phải có nguyên tắc. Nguyên tắc đó là “tự chỉ trích bôn sê vích”, phải biết trọng uy tín của Đảng, coi nó là cốt yếu, hiểu rõ mục đích tự chỉ trích để tự huấn luyện, làm tăng uy tín và ảnh hưởng của Đảng, để cho Đảng được càng thống nhất và củng cố, đưa phong trào phát triển lên, đưa cách mạng tới thắng lợi chứ “không phải là công kích Đảng, mạt sát Đảng, đặt danh dự cá nhân lên tất cả quyền lợi của Đảng, của cách mạng”.
Theo đồng chí, “cần thiết phải để cho sáng kiến và sự hoạt động theo sáng kiến của các đảng viên được phát triển, làm cho các đảng viên giác ngộ rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình, biết xoay phương hướng trong những hoàn cảnh khó khăn nghiêm trọng, biết tự chỉ trích đúng và kịp thời những khuyết điểm sai lầm”…
Tác phẩm là một mẫu mực về phương pháp tự phê bình và phê bình - "chìa khóa vạn năng" để củng cố và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, xây dựng đội ngũ trong sạch, vững mạnh. Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng suốt 92 năm qua, Đảng ta đã luôn sử dụng chiếc “chìa khóa” đó dưới nhiều cách gọi khác nhau: “cả quyết sửa lỗi mình”, “tự chỉ trích”, “tự soi, tự sửa”, “sửa sai để tiến lên”, “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, "tự phê bình và phê bình"... "Công khai mạnh dạn, thành thực vạch những nhầm lỗi của mình và tìm phương châm sửa đổi” “để thống nhất tư tưởng, để rèn luyện mình, để đề cao uy tín và ảnh hưởng của Đảng, nhằm làm cho Đảng ngày càng mạnh và cách mạng ngày càng phát triển” như đồng chí Nguyễn Văn Cừ từng nêu.
2. Nhân dịp 110 năm Ngày sinh của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (9/71912-9/7/2022) chúng ta đọc lại tác phẩm "Tự chỉ trích", suy ngẫm, thấm thía những luận điểm về tự phê bình và phê bình, tham khảo phương pháp luận khoa học, thế giới quan và nhân sinh chính trị đúng đắn để tiếp tục công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay. Nếu trong Đảng không thống nhất tư tưởng và hành động, mạnh dạn, quyết liệt đấu tranh để khắc phục những sai lầm, khuyết điểm thì vận mệnh của Đảng sẽ gay go. Điều đáng mừng là Đảng ta không sợ nhìn ra khuyết điểm, công khai, thành thực để sửa lỗi, tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình luôn là một nguyên tắc thiết yếu.
Trong 3 nhiệm kỳ Đại hội Đảng khóa XI, XII, XIII, với tinh thần “tự chỉ trích”, tự phê bình và phê bình quyết liệt, Trung ương đã thẳng thắn đánh giá, nhận diện tình hình, nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm, bổ sung, ban hành các chỉ thị, nghị quyết, kết luận, quy định quan trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Đảng ta đã thẳng thắn nhận diện, công khai thực trạng vấn nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực, suy thoái như nhạt phai lý tưởng cách mạng, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, giảm sút ý chí chiến đấu, đề cao chủ nghĩa cá nhân thực dụng, cơ hội, bè phái cục bộ, lợi ích nhóm, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc, công tác cán bộ, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý; vi phạm các quy định pháp luật; vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, vi phạm đạo đức, lối sống… của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền trong hệ thống chính trị làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức mạnh, uy tín và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta, làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước, của quốc gia và nhân dân, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, là cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.
Câu chuyện nóng bỏng nhất hiện nay được dư luận quan tâm là “cuộc đại phẫu”- đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong bộ phận cán bộ, đảng viên. Với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”, công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực đã triển khai kiên trì, quyết liệt có nhiều bước tiến mạnh, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vừa qua, Đảng, Nhà nước đã xử lý nghiêm minh nhiều vụ án, vụ việc, cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực, một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn, liên quan đến nhiều cán bộ cấp cao ở Trung ương và địa phương. Theo Ban Nội chính Trung ương, trong 10 năm qua, Ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Đây không phải là con số của thành tích mà là con số của tổn thất, là nỗi đau, sự nhức nhối trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Trung ương khẳng định quyết tâm, phát hiện đến đâu thì xử lý đến đó, phát hiện kịp thời, xử lý kịp thời thì đạt hiệu quả, giảm thiểu hậu quả.
Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được coi là then chốt, cốt yếu hiện nay đang được thực hiện toàn diện về tư tưởng chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ trên cả hai mặt “xây” và “chống”, phòng ngừa và xử lý. Trong đó, xây là cơ bản, lâu dài, chống là quan trọng, cấp bách. Phải xử lý cán bộ, đồng chí của mình, đó là một đau xót của tổ chức nhưng không thể không làm, mục đích là răn đe, là cảnh tỉnh, là ngăn ngừa, là thượng tôn pháp luật. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định sẽ thường xuyên sàng lọc, rà soát kịp thời và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách đảng viên với tinh thần “thà ít mà tốt”. Đồng thời, Đảng và Nhà nước cũng đang khẩn trương nhận diện những lỗ hổng và khuyết tật của cơ chế, tình trạng buông lỏng công tác quản lý, giám sát quyền lực; “dọn dẹp”, sửa đổi thể chế để theo kịp với sự phát triển và thay đổi của xã hội, tạo động lực cho phát triển, hạn chế việc sai, mắc lỗi. Trên hết, trước hết, tự phê bình và phê bình vừa như chiếc kính hiển vi soi chiếu, kịp thời phát hiện, nhận diện những biểu hiện sai trái, kịp thời sửa chữa, đấu tranh; vừa như “tấm lọc” hữu hiệu góp phần thanh lọc, ngăn ngừa nguy cơ diễn biến của những khuynh hướng sai lầm. Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp ủy, thường vụ cấp ủy, trong đó tự phê bình và phê bình được thực hiện từ Trung ương đến chi bộ là yêu cầu có tính nguyên tắc được đề cao và phải thực hiện nghiêm, thường xuyên, liên tục.
Càng đi sâu vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, chúng ta càng thấy tầm quan trọng của việc thực hành tự phê bình và phê bình trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn từ gốc, từ sớm, từ xa, không để những vi phạm nhỏ tích tụ thành những sai phạm lớn. Tuy đây là nguyên tắc căn bản đã được khẳng định qua thời gian, được yêu cầu cần tiến hành thường xuyên như một thói quen, hành xử văn hóa trong sinh hoạt đảng, nhưng trên thực tế đây vẫn là “khâu yếu trong sinh hoạt đảng”. Một thời gian dài, nguyên tắc tự phê bình và phê bình ở một số nơi bị buông lỏng, thực hiện không nghiêm, chưa thực chất, chưa thường xuyên, chưa liên tục, còn hình thức. Dẫn đến một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận thức đúng đắn, chưa nhận diện đầy đủ các biểu hiện tiêu cực, mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình… Chỉ đến khi sự việc bung bét, xuất hiện các cá nhân, tập thể vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật thì mới “vỡ lẽ” là các biểu hiện suy thoái, vi phạm đã diễn ra âm thầm, từ từ mà không được phát hiện, hoặc phát hiện mà không được đấu tranh đến nơi đến chốn.
Vũ khí phê bình, tự phê bình có lúc có nơi bị vô hiệu hóa, thậm chí có sự bao che, dung dưỡng vi phạm, có sự cấu kết, móc nối, bắt tay thỏa hiệp giữa cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất với các doanh nghiệp, tổ chức để trục lợi. Cái xấu, cái sai len lỏi trong mỗi con người, mỗi tổ chức đảng và dần được chấp nhận như một điều bình thường bởi không ai lên tiếng. Việc thể hiện quan điểm, chính kiến trở thành dị biệt, khó chấp nhận. Hệ quả của việc buông lỏng nguyên tắc này là làm tê liệt, giảm sức chiến đấu của tổ chức đảng. Chủ quan trong nhận diện tình hình, sai lệch trong nhận xét, đánh giá, lơi lỏng trong kiểm tra, giám sát, chậm trễ trong chấn chỉnh dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng, nhiều cán bộ, đảng viên, thậm chí là cán bộ cấp cao vướng vào sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật.
Tự phê bình và phê bình là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng. Đảng viên có quyền và có trách nhiệm nói lên chính kiến của mình, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình, tự soi tự sửa mình và tổ chức. Tổ chức cơ sở đảng phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, lắng nghe, tôn trọng, tạo môi trường dân chủ, cởi mở cho đảng viên lên tiếng. Phải tạo thành văn hóa thực hành tự phê bình và phê bình, tránh qua loa, hình thức, chiếu lệ, xuê xoa; tránh các biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”; cũng tránh lợi dụng kiểm điểm, phê bình để đấu đá, hạ bệ, vu khống, bôi nhọ, chỉ trích nhau với động cơ không trong sáng; thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, thờ ơ, vô cảm trước những bức xúc của nhân dân, phụ họa theo nhận thức và quan điểm sai trái, lệch lạc. Để tạo dựng được thói quen, phương pháp tự phê bình và phê bình thực chất, cá nhân, tổ chức phải có phẩm chất trí tuệ, nền tảng văn hóa, đạo đức, niềm tin và lòng trung thành, tư duy thực tiễn, thực hành trên nền tảng tư tưởng, vững vàng lý luận chính trị, các nguyên tắc rường cột của Đảng.
Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay đang thể hiện quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ và hiệu quả hơn, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực đang được đẩy lên một giai đoạn mới, cam go, phức tạp hơn. Văn bản, chỉ thị, nghị quyết, kết luận, quy định của Trung ương ban hành đến nay đã tương đối đầy đủ, bổ sung căn cứ, cơ sở để thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đi vào cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trong đó có công tác tự phê bình và phê bình được nhấn mạnh như một nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu. Nhưng để thực hành thực chất, hiệu quả phải dựa vào ý thức tự giác của mỗi đảng viên, của tổ chức cơ sở đảng, đặc biệt là sự nêu gương của người đứng đầu. Sự đồng lòng, nhất trí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của báo chí, truyền thông và toàn xã hội là sức mạnh tổng hợp để tạo nên những bước tiến quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Bài học về “thống nhất nhận thức để thống nhất hành động” đòi hỏi phải khắc phục cho được tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, đòi hỏi quyết tâm chính trị, cả hệ thống vào cuộc, hành động, triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ mới của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của nhân dân là vấn đề cấp bách, nhiệm vụ sống còn bởi liên quan đến uy tín, danh dự, sức mạnh và sự tồn vong của Đảng, sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, vũ khí hiệu năng nhất là phê bình và tự phê bình cần phải phát huy được hết công hiệu của nó. Vì thế tác phẩm Tự chỉ trích càng tỏ rõ giá trị bền vững quý giá, càng nóng bỏng tính thời sự trong thời điểm hiện nay. Tự phê bình và phê bình để đi đến thống nhất ý chí và hành động, đó là bài học của quá khứ, bài học của hiện tại và vẫn là bài học quý giá cho tương lai./.
ST

TÌNH CẢM CỦA BÁC HỒ VỚI LIỆT SĨ VÀ CHIẾN SĨ


Năm 1946, trong cuộc chiến đấu 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội, Vũ Văn Thành, một chiến sĩ tự vệ Thủ đô đã anh dũng hi sinh. Biết tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp viết lá thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng, người cha của liệt sĩ, nhằm bày tỏ sự cảm thông và chia sẻ nỗi mất mát đau thương với một người cha, một trí thức lớn của đất nước lúc bấy giờ.
Bức thư có đoạn vô cùng xúc động: “Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là cả đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột...”.
Thư Bác khiến bác sĩ Vũ Đình Tụng “nhớ đinh ninh từng lời”. Sau này, trong hồi ký, có đoạn ông viết, đại ý là chính Bác Hồ đã dạy cho ông một bài học lớn lao, biết đem tình cảm riêng của mình, của gia đình mình đặt vào trong tình cảm thiêng liêng của Tổ quốc, của dân tộc !
Xin được nói thêm: Bác sĩ Vũ Đình Tụng (1895 - 1973) quê Vụ Bản, Nam Định, một trí thức Công giáo giàu lòng yêu nước và sớm giác ngộ đi theo cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhờ đức độ, lòng yêu nước và tài năng, bác sĩ được cất nhắc vào nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy của chính quyền mới, trong đó có chức vụ Bộ trưởng Bộ Thương binh, Giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Phó chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới của nước ta... Một người cha có vị thế chính trị - xã hội như thế, mà con hi sinh oanh liệt ngoài mặt trận, điều ấy khiến chúng ta hôm nay càng bội phần cảm phục.
Với liệt sĩ thì vậy, với các chiến sĩ đang trực tiếp cầm súng ngày đêm đối mặt với quân thù, tình cảm của Bác Hồ biểu hiện ra sao? Có lần, tự đáy lòng mình, Bác thốt lên: “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn sao ngon được”. Mùa hè năm 1967, thời tiết Hà Nội nóng nực. Phòng Bác ở chủ trương không dùng điều hòa. Bác bàn với thư ký Vũ Kỳ: “Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc Hội trường Ba Đình thì chịu sao được? Chú thử lên tìm hiểu xem, rồi về báo cho Bác ?”. Khi biết các cháu của mình đến nước chè còn chưa đủ uống, lấy đâu ra nước ngọt, Bác dùng số tiền tiết kiệm (chủ yếu là nhuận bút các bài báo của Bác), tất cả còn hơn 25 ngàn đồng (lúc đó tương đương với 60 lạng vàng); và Người yêu cầu mua nước ngọt cho các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Số tiền đó chắc không đủ, Bác gợi ý thêm là địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến, thì cùng góp sức vào mà lo cho trọn vẹn.
Thời đất nước có chiến tranh, anh bộ đội trở thành nhân vật trung tâm, được mọi người nâng niu, quý trọng, dành mọi tình cảm và vật chất có thể để các anh hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang Tổ quốc giao phó. Người cán bộ lãnh đạo của Đảng, từ vị trí, trách nhiệm và điều kiện của mình, càng cần phải biết quan tâm hơn nữa tới người chiến sĩ. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đó là một trong những phẩm chất không thể thiếu ở người cán bộ cách mạng.
Tại Hội nghị kiểm thảo chiến dịch đường số 18, tháng 5/1951, Bác căn dặn các cán bộ quân đội: “Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ chưa được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa có chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt...”. Cái ăn, cái mặc, cái ở thì ai ai cũng cần. Nhưng bộ đội phải được ưu tiên trước nhất. Người cán bộ suốt đời nên nhớ điều này.
Tình thương của Bác Hồ với liệt sĩ, thương binh và với chiến sĩ là tình cảm thật sự của một người cha đối với các con yêu của mình - rộng lớn, bao dung, ân cần, chi chút, máu thịt vô cùng... Nhờ vậy, không riêng gì Bác sĩ Vũ Đình Tụng, mà hầu hết đều tự nhiên thấy mình được an ủi, thấy nỗi đau và sự hi sinh của mình, của gia đình mình trở thành bé nhỏ trong tình thương mênh mông, trong sự hi sinh cao cả của vị Chủ tịch nước và của cả dân tộc Việt Nam!
Sưu tầm.
Có thể là hình ảnh về 2 người
Thích
Bình luận
Chia sẻ

NHỮNG LẦM TƯỞNG VỀ CCCD GẮN CHIP MÀ MỌI NGƯỜI DÂN CẦN BIẾT


Hiện nay, nhiều công dân vẫn còn nhầm lần một số thông tin về thẻ CCCD gắn chip. Do đó, người dân cần biết những điều này về CCCD gắn chip để tránh gặp rắc rối trong các thủ tục hành chính.
Tất cả người dân có bắt buộc phải đi đổi sang thẻ CCCD gắn chip mới hay không?
Theo Khoản 2 Điều 4 Thông tư 06/2021/TT-BCA:
- Thẻ CCCD đã được cấp trước ngày 23/01/2021 vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định.
- Khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ CCCD gắn chip.
Theo Điều 23 Luật Căn cước công dân 2014 quy định các trường hợp công dân được cấp lại, đổi thẻ CCCD gồm:
- Thẻ CCCD được đổi trong các trường hợp sau đây:
Khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.
Thẻ bị hư hỏng không sử dụng được.
Thay đổi thông tin về họ, chữ đệm, tên; đặc điểm nhân dạng.
Xác định lại giới tính, quê quán.
Có sai sót về thông tin trên thẻ hiện tại.
Khi công dân có yêu cầu.
- Thẻ CCCD được cấp lại trong các trường hợp sau đây:
Bị mất thẻ Căn cước công dân.
Được trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam.
Như vậy, công dân đã được cấp thẻ CCCD, CMND 9 số trước ngày 23/01/2021 thì thẻ vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định. Theo đó, công dân không bắt buộc phải đổi thẻ CCCD mã vạch, CMND 9 số đang còn thời hạn sử dụng sang thẻ CCCD gắn chip.
Làm CCCD gắn chip không nhất thiết phải về nơi thường trú
Theo Thông tư 07/2016/TT-BCA, khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân chưa thu thập đầy đủ thông tin về công dân, việc cấp CCCD gắn chip hầu hết phải về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.
Tuy nhiên, nếu công dân đã được cấp CCCD hoặc CMND 12 số thì thông tin công dân đã được cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Khi đó, công dân có thể đến Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an cấp tỉnh ở bất cứ tỉnh, thành nào để làm thủ tục đổi, cấp lại thẻ CCCD. Trường hợp mới được cấp CMND 9 số hoặc chưa từng được cấp CMND/CCCD thì phải quay về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú để làm CCCD gắn chip.
Khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu CCCD đã đi vào vận hành thì công dân có thể đến bất kỳ cơ quan quản lý CCCD nào để làm thủ tục cấp CCCD.
Làm mất thẻ CCCD gắn chip sẽ dễ bị đánh cắp thông tin
Theo Bộ Công an, chip sử dụng trên thẻ CCCD tuân thủ quy định bảo mật của thế giới và Việt Nam, trên chip có thực hiện ký số, do vậy khó làm giả, bảo đảm độ tin cậy trong thực hiện các giao dịch.
Chip có khả năng lưu trữ thông tin cá nhân của công dân, cho phép xác thực bảo đảm chính xác thông tin. Qua đó, thông tin chủ thẻ được định danh một cách chính xác, giảm thiểu mọi nguy cơ về giả mạo thẻ, bảo đảm an toàn bảo mật nhất là trong các giao dịch tài chính.
Trên thực tế, chỉ những cơ quan chức năng mới được trang bị đầu đọc chip chuyên dụng để trích xuất thông tin. Do đó, nếu bị mất CCCD gắn chip thì người nhặt được cũng khó có thể đọc được thông tin của người mất mà chip trên thẻ đang lưu giữ.

THI TÌM HIỂU VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM VÀ TRIỂN LÃM "TỔ QUỐC BÊN BỜ SÓNG"


Ngày 6/7, tại Hà Nội đã diễn ra Lễ phát động Cuộc thi tìm hiểu kiến thức về biển, đảo Việt Nam năm 2022 và ra mắt Triển lãm thực tế ảo “Tổ quốc bên bờ sóng.”
Chương trình do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức.
Ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương dự và chủ trì Lễ phát động cuộc thi, ra mắt triển lãm.
Phát biểu lại buổi lễ, ông Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo Cuộc thi cho biết Cuộc thi tìm hiểu kiến thức về biển, đảo Việt Nam năm 2022 và Dự án Triển lãm thực tế ảo các tác phẩm xuất sắc đoạt giải Cuộc thi sáng tác ảnh nghệ thuật cấp quốc gia về đề tài biển, đảo quê hương năm 2021 với tên gọi “Tổ quốc bên bờ sóng” là các hoạt động thiết thực nhằm đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tuyên truyền về công tác biển, đảo theo tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.”
Cuộc thi và triển lãm góp phần nâng cao hiểu biết, nhận thức của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về biển, đảo Việt Nam và vị trí, vai trò của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; khơi dậy, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Cuộc thi mang đến một sân chơi lành mạnh, bổ ích cho tất cả công dân Việt Nam trong và ngoài nước, người nước ngoài đang công tác, sinh sống và học tập ở Việt Nam. Vòng thi tuần và bán kết được tổ chức bằng hình thức trò chơi trắc nghiệm trực tuyến với hình ảnh đồ họa bắt mắt, âm thanh sống động, thí sinh sẽ trả lời câu hỏi để mở bản đồ thông tin về một số địa danh biển, đảo Việt Nam. Không chỉ vậy, người tham gia có thể tra cứu và tìm hiểu các thông tin tham khảo liên quan đến chủ đề câu hỏi trên Internet và trực tiếp chia sẻ kết quả phần thi lên trang cá nhân, tăng tính mở của thông tin và khả năng tiếp cận với nhiều người hơn.
Tại vòng chung kết toàn quốc, Ban tổ chức sẽ lựa chọn ra 15 thí sinh xuất sắc nhất để chia thành 3 đội dự thi theo hình thức đối kháng trực tiếp trên sân khấu. Cơ cấu giải thưởng và thể lệ cuộc thi được đăng tải trên website chính thức của cuộc thi và các kênh báo chí, truyền thông khác. Cuộc thi diễn ra từ tháng 7-10/2022.
Lễ trao giải sẽ được tổ chức vào tháng 10/2022 và được truyền hình trực tiếp trên sóng truyền hình của các đài truyền hình Trung ương cùng 28 đài phát thanh, truyền hình địa phương giáp biển.
Dự án thực hiện Triển lãm thực tế ảo “Tổ quốc bên bờ sóng” được ứng dụng công nghệ 3D trưng bày 121 tác phẩm nghệ thuật, trong đó có 110 ảnh đơn và 11 ảnh bộ được lựa chọn ra từ gần 6.000 tác phẩm tham dự Cuộc thi sáng tác ảnh nghệ thuật cấp quốc gia về đề tài biển, đảo quê hương năm 2021.
Triển lãm tạo hiệu ứng không gian số hiện đại, người xem chỉ cần thao tác trên thiết bị di động thông minh bất kỳ để điều hướng di chuyển trực tuyến trong không gian thực tế ảo, hòa mình vào sự hùng vĩ của trời đất nơi bờ sóng và hiểu được cuộc sống của những chiến sỹ đảo xa đang ngày đêm bảo vệ chủ quyền dân tộc.
Ban Tuyên giáo Trung ương ra mắt các phương thức trải nghiệm Triển lãm ảo “Tổ quốc bên bờ sóng” trên website bằng máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng. Người xem cũng có thể tải ứng dụng "Tổ quốc bên bờ sóng" để thưởng thức triển lãm trên các điện thoại di động sử dụng hệ điều hành IOS và Android.
Theo TTXVN
Có thể là hình ảnh về ngoài trời
Thích
Bình luận
Chia sẻ

ĐÍCH ĐẾN CUỐI CÙNG CỦA CUỘC ĐẤU TRANH "SINH - T.Ử" VỚI G.I.Ặ.C N.Ộ.I X.Â.M


Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết chặng đường 10 năm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vừa qua đã phát đi nhiều thông điệp quan trọng, vốn được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân mong đợi.
Trước hết đó là cam kết chính trị của Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng với quyết tâm cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn, quyết liệt và bài bản hơn, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, mặc dù phía trước còn rất nhiều khó khăn, thách thức.
Từ thực tế, hiện đang xảy ra câu chuyện thiếu thuốc trong các bệnh viện do không dám tổ chức đấu thầu; tình trạng ách tắc hàng nghìn hồ sơ đất đai từ đầu năm đến nay tại TP.HCM và nhiều tỉnh, thành phía Nam.
Lý do, cơ quan thuế cho rằng giá khai thuế thấp hơn so với giá giao dịch thông thường, yêu cầu người dân, doanh nghiệp phải giải trình, cam kết kê khai đúng giao dịch thực tế hoặc điều chỉnh giá trên hợp đồng công chứng và hồ sơ nộp thuế... Điều này cho thấy trong cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý đang xuất hiện tâm lý làm việc “cầm chừng”, “né tránh”, “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”…
Virus “trì trệ” cũng tác hại không kém gì tham nhũng. Nhưng không vì thế mà cuộc chiến chống “giặc nội xâm” chùng xuống; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức, kinh nghiệm.
Tổng Bí thư đã khẳng định rõ: Những ai nhụt chí, không dám làm thì dẹp sang một bên để người khác làm. Việc Trung ương quyết định lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh là tiếng còi tiếp tục thúc đẩy sự chuyển động của cả hệ thống chính trị, nhằm tạo chuyển biến rõ nét hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở.
Cùng với đó là quyết tâm đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, đảm bảo thật sự dân chủ, công khai, minh bạch, chống chạy chức, chạy quyền để lựa chọn được đúng người, nhất là người đứng đầu đủ năng lực, uy tín, bản lĩnh “liêm”, “sạch”.
Xét đến cùng, cơ quan, tổ chức mất sức chiến đấu, không dám phê bình, nên các tín hiệu cảnh báo không được kích hoạt, cán bộ vi phạm cứ thế “trượt dài”, rồi vi phạm nhỏ tích tụ lâu thành sai phạm lớn, sai phạm của cá nhân thành sai phạm của tập thể, thậm chí lan ra cả hệ thống, có nguyên nhân quan trọng do người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, độc đoán chuyên quyền.
Thực tế vừa qua cho thấy, đằng sau những vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, kéo dài đều có sự dung túng, tiếp tay, bao che, thậm chí là đồng phạm của cán bộ, công chức.
Vì làm tốt công tác cán bộ để chọn đúng người, giao đúng việc, thường xuyên kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn có ý nghĩa quyết định đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết không bố trí vào cơ quan lãnh đạo các cấp những người có biểu hiện tham nhũng, tiêu cực.
Nếu đâu đó còn câu chuyện "Chân mình còn lấm bê bê, Lại cầm bó đuốc đi rê chân người" thì câu trả lời cho kết quả phòng, chống tham nhũng có lẽ ai cũng biết.
Và trên hết, đó là thông điệp của niềm tin. Hàng nghìn vụ án, bị cáo phạm tội tham nhũng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, hàng trăm cán bộ cấp cao bị xử lý, hàng nghìn tỷ đồng tham nhũng được thu hồi,… nhưng thành công lớn nhất trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ được tăng cường.
Con số 93% người dân được hỏi bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là động lực lớn để các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng tiêu cực yên tâm thực thi nhiệm vụ.
Niềm tin của nhân dân là thước đo hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Sức mạnh của nhân dân là vô địch, mất niềm tin của dân là mất tất cả. Tăng cường và củng cố hơn nữa niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ là sứ mệnh thiêng liêng và là đích đến cuối cùng của cuộc đấu tranh “sinh - t.ử” với g.i.ặ.c n.ộ.i x.â.m.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'CHỐNG THAM NHỮNG: LÒNG DÂN ỦNG HỘ, PHẢI LÀM TIẾP KHÔNG DỪNG LAI Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng'
1