Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 12/7
Vạch trần luận điệu lừa bịp 'Quân đội phải trung lập về chính trị'
Đấu tranh vạch trần sự lừa bịp của luận điểm 'Quân đội phải trung
lập về chính trị' và tăng cường các biện pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về
chính trị là hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình xây dựng
Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
LUẬN ĐIỆU
CŨ RÍCH
“Quân đội
phải trung lập về chính trị” là luận điểm đã có từ lâu, mà các đảng chính trị
đối lập ở những nước đi theo chế độ đa đảng thường sử dụng để hạn chế quân đội
“can dự” vào những tranh giành chính trị của các đảng phái. Ngay từ năm 1905,
V.I.Lênin đã chỉ rõ: “... những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về
tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài
chính trị v.v. là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính
đồng tình một chút nào”.
Trong những thập niên cuối
của thế kỷ XX, khi thấy rằng phương thức chống phá chủ nghĩa xã hội bằng biện
pháp gây chiến tranh xâm lược không hiệu quả, chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh
chống phá bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”. Một trong các thủ đoạn mà họ sử
dụng là đưa khẩu hiệu “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị” vào
các nước xã hội chủ nghĩa, nơi chỉ có một đảng (Đảng Cộng sản) lãnh đạo, nhằm
thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang cách mạng, mà thực chất là
nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vô hiệu hóa vai trò của
quân đội là công cụ bạo lực của Đảng, của Nhà nước trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn này đã được họ áp dụng thành công ở
Liên Xô trước đây; khi những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô
tự rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin,
mắc những sai lầm rất nghiêm trọng, như: tự xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng
Cộng sản đối với quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô bị “phi chính trị hóa” và
bị vô hiệu hóa.
Đối với
nước ta, từ nhận định rằng, hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm chắc quân
đội, chưa thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội,
chưa thể xóa bỏ được chế độ xã hội chủ nghĩa, nên các thế lực thù địch với cách
mạng nước ta ráo riết thực hiện chiêu bài “quân đội phải duy trì tính trung lập
về chính trị”. Họ hy vọng rằng, một khi quân đội đã bị mê hoặc bởi khẩu hiệu
đó, đội ngũ cán bộ quân đội đã dao động, mất phương hướng chính trị, họ sẽ ra
tay lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam theo đúng kịch bản “không đánh mà thắng”(!).
Năm 2013,
lợi dụng việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức xin ý kiến nhân dân vào bản Dự
thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, các thế lực chống phá con đường xây dựng chủ nghĩa
xã hội xem đây là thời cơ để công khai đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Họ đưa
ra nhiều luận điểm, như: “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị”,
“quân đội phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không cần trung thành
với bất kỳ tổ chức nào”, mà áp dụng cụ thể vào Việt Nam là “không phải trung
thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”, v.v.. Đáng tiếc là, không ít người đã vào
hùa với chúng, mà không tỉnh táo tự vấn mình rằng: tại sao những đề xuất về
“quân đội phải trung lập về chính trị” lại được VOA, BBC, RFA, RFI... cùng
những kẻ phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng ở hải ngoại
tung hô, cổ vũ nhiệt thành đến vậy (?). Khi bị chỉ trích những đề xuất đó là
biểu hiện của sự “suy thoái về tư tưởng chính trị”, những người cổ xúy cho tư
tưởng này vội “lấp liếm” rằng: “chúng tôi chỉ yêu cầu quân đội trung lập về
chính trị, chứ đâu có đòi phi chính trị hóa quân đội”(?).
Sự ngụy
biện đó không đánh lừa được công luận; bởi xét về bản chất, yêu cầu “quân đội
phải trung lập về chính trị” chỉ là một phiên bản của quan điểm đòi “phi chính
trị hóa quân đội”. Nói đến “trung lập về chính trị”, nghĩa là “đứng giữa các
lực lượng chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “không can dự vào chính trị”...;
trong khi đó, Quân đội nhân dân Việt Nam đang được xây dựng theo phương hướng
“cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, lấy xây dựng vững mạnh
về chính trị làm cơ sở, nền tảng để xây dựng vững mạnh toàn diện. Hơn nữa, bản
thân Quân đội nhân dân Việt Nam đang là lực lượng chính trị, đặt dưới sự lãnh
đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng Cộng sản Việt Nam, tức là đang
“không đứng ngoài chính trị”; thì đòi hỏi “quân đội phải trung lập về chính
trị” thực chất là đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam.
Để thực
hiện mưu đồ đòi “quân đội phải trung lập về chính trị”, các thế lực thù địch sử
dụng mọi biện pháp, cả về lý luận, tư tưởng lẫn hành động thực tiễn.
Trên lĩnh
vực lý luận, tư tưởng, họ thường lập luận rằng: quân đội là của nhà nước, nên
chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ
chính đảng nào; hoặc: hoạt động của quân đội chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ
quốc gia và phục vụ nhân dân, nên chỉ phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân
chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, v.v. Nghe thoáng qua, không
ít người ngộ nhận sự có lý của lập luận này, mà không hiểu rằng: đây là thủ
đoạn lừa bịp, nhằm chuyển lập trường chính trị của quân đội cách mạng sang lập
trường của bọn cơ hội chính trị, của giai cấp tư sản.
Trong hành
động thực tiễn, những người cổ xúy cho tư tưởng “quân đội phải trung lập về
chính trị” yêu cầu một khi có biến động chính trị, thì quân đội hãy án binh,
bất động, không đứng về phe nào. Đối với những nước đi theo chế độ xã hội chủ
nghĩa, chỉ có một Đảng Cộng sản lãnh đạo như nước ta, họ đòi xóa bỏ nguyên tắc
“Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội”; hạ thấp, đi đến đòi xóa bỏ hoạt động công
tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị
(nhất là chế độ chính ủy, chính trị viên) trong quân đội - một trong những yếu
tố riêng có của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo cho Đảng Cộng
sản giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Họ xuyên tạc các sự kiện chính trị
trong lịch sử có quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài đơn vị
quân đội và một bộ phận quân nhân trong quá trình làm nhiệm vụ; bôi nhọ đời tư
của các tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang... hòng qua đây, làm cho quân
đội mất uy tín trong nhân dân, hạ thấp vị thế của quân đội trong xã hội..., từ
đó mà vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền
cách mạng.
Đối với
Việt Nam, để thực hiện mục tiêu nhất quán là xóa bỏ thành quả cách mạng và lái
con đường phát triển của đất nước sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, trong nhiều
năm qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh các chiến dịch vận động đòi thực hiện
chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và lôgic tất yếu của tiến trình đó,
nếu được thực hiện, sẽ là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ công khai đòi bỏ quy định sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; bỏ quy định “lực lượng vũ trang
nhân dân phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” đã được ghi trong Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lợi dụng tình cảm của nhân dân ta
với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, họ cố tình lờ đi hoàn cảnh lịch sử của sự
kiện ngày 26/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Trường Võ bị Lục quân Trần
Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) lá cờ “Trung với nước, hiếu với
dân”, để xuyên tạc tư tưởng nhất quán của Người về vai trò lãnh đạo của Đảng
đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, bằng lý lẽ: “Cụ Hồ không yêu cầu quân đội
phải trung thành với Đảng” (!). Đáng tiếc rằng, một bộ phận nhân dân, kể cả một
số cán bộ, đảng viên ta đã dao động trước những lý lẽ này.
KHÔNG CÓ QUÂN ĐỘI CỦA QUỐC
GIA NÀO “TRUNG LẬP VỀ CHÍNH TRỊ” HAY “ĐỨNG NGOÀI CHÍNH TRỊ”
Cần khẳng
định ngay rằng, mục tiêu hướng tới của những thủ đoạn nói trên là thúc đẩy sự
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội, làm cho Quân đội nhân
dân Việt Nam xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến
chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là chỗ dựa vững
chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa. Những thủ đoạn đó thật tinh vi và thâm hiểm, nhưng sai cả về lý
luận và thực tiễn.
Từ góc độ
lý luận, trước hết, cần bắt đầu từ luận điểm “Chiến tranh là sự kế tục của
chính trị”, mà quân đội xuất hiện để đáp ứng nhu cầu của chiến tranh (tiến công
hoặc phòng ngự). Đây là luận điểm được Clau-dơ-vit (1780-1831) - nhà lý luận
quân sự tư sản nổi tiếng của nước Phổ đã khái quát. Luận điểm này được thừa
nhận rộng rãi trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn khoa học quân sự vô sản, nên
không thể bác bỏ. Chính V.I.Lênin cũng đánh giá cao luận điểm này. Một khi đã
thừa nhận “chiến tranh là sự kế tục của chính trị”, thì tất yếu phải thừa nhận:
không bao giờ và không ở đâu có thứ quân đội “trung lập về chính trị”, hoặc
“không dính đến chính trị”, bởi bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng có mục tiêu
chính trị, phản ảnh lập trường chính trị của các bên tham chiến; và quân đội
của các bên tham chiến đều được lực lượng chính trị cầm quyền tổ chức, giáo dục
để thực hiện mục tiêu chính trị đó của cuộc chiến tranh.
Thứ
hai, quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức và
nuôi dưỡng nó; bởi quân đội là một thành phần của nhà nước, là công cụ bạo lực
vũ trang của nhà nước để bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có
được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực.
Lịch sử
xuất hiện quân đội gắn liền với sự ra đời của nhà nước; mà nhà nước là sản phẩm
tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ nhà nước nào cũng có tính chất
giai cấp. Ngày nay, ở các nước theo thể chế chính trị tư bản, với chế độ đa
đảng, mặc dù có hiện tượng các đảng phái thay nhau cầm quyền, nhưng thực chất
họ vẫn duy trì sự nhất nguyên về chính trị. Đó là thứ chính trị của giai cấp tư
sản, bởi đảng chính trị nào cầm quyền cũng chỉ là sự đại diện cho các nhóm và
tầng lớp khác nhau của giai cấp tư sản; nên chính phủ do các đảng chính trị cầm
quyền chi phối vẫn đều phục tùng quyền lợi và bảo vệ lợi ích cơ bản của giai
cấp tư sản là chủ yếu, mặc dù vẫn phải thực thi chức năng công quyền - một
trong hai chức năng cơ bản (chức năng giai cấp và chức năng công quyền) của bất
cứ nhà nước nào. Theo đó, với tư cách là các cơ quan chức năng của nhà nước,
quân đội được lập ra để bảo vệ thể chế chính trị của giai cấp cầm quyền, không
thể không mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức, quản lý và nuôi dưỡng
nó. Những người cổ súy cho quan điểm “quân đội phải trung lập về chính trị” đã
không hiểu, hay cố tình không hiểu rằng: nói đến “chính trị” của một tổ chức,
một lực lượng, là nói đến tính giai cấp mà tổ chức, lực lượng đó quán triệt và
thực hiện trong thực tiễn xây dựng về mặt tư tưởng, tổ chức và thực thi chức
năng, nhiệm vụ của mình.
Với tư
cách là một bộ phận của nhà nước, quân đội của bất cứ xã hội nào cũng đều phụ
thuộc vào đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền; đồng thời, các lực lượng
chính trị cầm quyền bao giờ cũng tìm mọi cách để nắm chắc quân đội thông qua
nhiều biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách. Do vậy, ngay từ
khi xuất hiện, quân đội đã “thấm đẫm” thứ chính trị của nhà nước và giai cấp
nắm giữ quyền lực trong xã hội; không có và không thể có thứ quân đội “trung
lập về chính trị”, hay “đứng ngoài chính trị” như giai cấp tư sản thường tuyên
truyền, nhằm che giấu bản chất giai cấp của quân đội các nước tư bản.
Phê phán
sự che giấu bản chất giai cấp của quân đội tư sản. V.I.Lênin đã thẳng thừng
vạch rõ: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ
giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong
thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”. Công khai
bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang cách mạng, V.I.Lênin đề ra
nguyên tắc xây dựng Hồng quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Vận dụng
sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm
1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
- đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông” và trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta,
Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội
nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”; do đó, “Phải tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị
để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”.
Từ góc độ thực tiễn của thế
giới cũng cho thấy, từ trước đến nay không có quân đội của quốc gia nào “trung
lập về chính trị” hay “đứng ngoài chính trị”; bởi đây là công cụ bạo lực vũ
trang bảo vệ thể chế chính trị của lực lượng chính trị thắng thế cầm quyền duy
trì. Không khó để nhận thấy sự tham chính của quân đội nhiều nước, khi người ta
vẫn chứng kiến các vụ đảo chính quân sự ở nước này, nước khác, nhất là ở châu
Á, châu Phi trong những năm gần đây. Ở các nước Mỹ, Anh, Pháp... quân đội không
chỉ được dùng vào nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc, mà còn
được dùng vào các hoạt động xâm lược, lật đổ, can thiệp quân sự vào các quốc
gia có chủ quyền khác, nhằm mục tiêu chính trị là dựng lên ở đây các chính phủ
thân phương Tây; thực chất là để phục vụ đường lối đối nội và đối ngoại của các
đảng chính trị cầm quyền, mà suy cho cùng là phục vụ lợi ích của các thế lực tư
bản độc quyền đứng đằng sau các chính phủ đương nhiệm. Chỉ tính từ năm 1990 đến
nay, quân đội Mỹ đã liên tục can dự vào đời sống chính trị của các nước và các
khu vực, kể cả tiến hành chiến tranh, như: ở vùng Vịnh Pec-xích năm 1991, Nam
Tư năm 1999, Áp-ga-ni-xtan năm 2001, I-rắc năm 2003, Li Bi năm 2011, v.v.
Nhìn vào
thực tiễn lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chống lại
ách nô dịch của thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ cũng thấy rất rõ
quân đội các nước này không bao giờ “trung lập về chính trị”, nhất là khi các
quân nhân của họ được giáo dục “sứ mệnh” đến Việt Nam để “ngăn chặn làn sóng
chủ nghĩa cộng sản lan ra toàn khu vực Đông Nam Á” (!).
Cũng cần
thấy rằng, ở các nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, bất cứ đảng chính
trị nào khi cầm quyền cũng tìm mọi cách để nắm quân đội; bởi khi nắm được quân
đội, thì việc duy trì quyền lực của đảng đó sẽ thuận lợi hơn. Tuy vậy, khi mà
sự tranh giành quyền lực giữa các đảng chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng
hoảng chính trị, thì thường xuất hiện lời kêu gọi “quân đội trung lập về chính
trị”, nhưng trong thực tế, các đảng đều tìm sự hậu thuẫn từ quân đội.
Thực tiễn lịch sử của cách
mạng Việt Nam cũng chứng minh: Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong
trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức,
lãnh đạo và giáo dục để giành và giữ chính quyền cách mạng; nên bản thân nó đã
là một lực lượng chính trị.
78 năm xây
dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chứng minh rõ
một thực tiễn lịch sử: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành
tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Điều đó được thể hiện trước hết ở sự
thống nhất về mục tiêu chiến đấu của Quân đội với mục tiêu chính trị của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì thế,
trái với sự hô hào “quân đội phải trung lập về chính trị”, Đảng và Nhà nước ta
luôn chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao
chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chiến
đấu thắng lợi. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết phải
chăm lo xây dựng Quân đội vững về chính trị. Người căn dặn: “Một quân đội văn
hay võ giỏi, là một quân đội vô địch” và “Muốn cho quân đội ta quyết chiến
quyết thắng hơn nữa thì phải săn sóc đời sống vật chất của họ, nâng cao trình
độ chiến thuật và kỹ thuật của họ, nhất là giáo dục chính trị, làm cho có lập
trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh
đạo”. Trong lần về thăm Trường Chính trị trung cấp quân đội (nay là Học viện
Chính trị) ngày 25/10/1951, Người nhắc nhở các học viên: “Phải cố gắng học tập
về mọi mặt chính trị, quân sự. Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có
chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”.
Xây dựng Quân đội vững mạnh
về chính trị, mà cốt lõi là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chăm lo xây dựng
bản chất giai cấp công nhân gắn liền với xây dựng tính nhân dân và tính dân tộc
của Quân đội ta là một bài học thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam và của
Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây
dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản ở một nước có nền kinh tế chậm phát
triển. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn
của bài học đó. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân đã được tổ chức theo mô hình có chi bộ Đảng lãnh đạo; bên cạnh người
đội trưởng, có một cán bộ chính trị chuyên làm công tác chính trị theo đường
lối của Đảng.
Nhờ chăm
lo xây dựng vững mạnh về chính trị, mà trước hết là giữ vững sự lãnh đạo của
Đảng, Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong mọi giai
đoạn cách mạng, xứng đáng với lời tuyên dương (năm 1964) của Bác: “Quân đội ta
trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của
Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng
vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Đấu tranh vạch trần sự lừa
bịp của luận điểm “Quân đội phải trung lập về chính trị” và tăng cường các biện
pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ
với nhau trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
dưới sự lãnh đạo của Đảng, trước hết là sự nỗ lực của bản thân cán bộ, chiến sĩ
Quân đội ta./.
St
Lá bài “nhân quyền” trong thời đại số
Nêu gương đạo đứNêu gương đạo đức cách mạng - "ngọn lửa" thiêu rụi lối sống ích kỷ, thực dụng
Lối sống thực dụng bắt đầu hình thành từ trong tư tưởng, nhận thức, đến một giai đoạn nhất định, nó sẽ được thể hiện thông qua hành động của chủ thể. Từ chỗ cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng, của dân tộc, khi bị tác động bởi lối sống thực dụng nếu không có sự trui rèn đạo đức, lối sống, con người bắt đầu xuất hiện những tư tưởng đắn đo giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa cống hiến và hưởng thụ, từng bước tạo ra sự chuyển hóa từ bên trong, khiến cho người mang lối sống này không còn là chính họ của ngày hôm qua.
Chúng ta rất quen thuộc với câu nói: “Đảng viên đi trước, làng
nước theo sau”. Đây là lời nói dân gian nhưng trong đó chứa đựng tình cảm, sự
tin tưởng của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên và thể hiện trách nhiệm của
cán bộ, đảng viên đối với nhân dân. Muốn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ
của mình và góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, cán bộ, đảng
viên phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là về đạo đức, lối sống.
Cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng thì lối sống thực
dụng sẽ không có cơ hội phát sinh, phát triển. Bởi vì, đạo đức cách mạng là
gốc, là nền tảng, là thước đo phẩm chất của người cách mạng, theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.
Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Đạo
đức cách mạng là bài thuốc hữu hiệu, đặc trị “vi trùng độc hại”-lối sống thực
dụng. Để diệt tận gốc “vi trùng độc hại” này, phương thức tối ưu nhất đó là cán
bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách
mạng, tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng: Đảng không phải là nơi để
thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ
giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai
cấp.
Điều quan trọng nhất là cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng
đầu các cấp nói phải đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức. Đây là hành động cơ
bản thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực tế trong
Đảng ta hiện nay, có không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói
và làm có những khoảng cách, thậm chí trái ngược nhau. Không ít quan chức tự
cho mình cái quyền được nói “làm những điều tôi nói, không được nói điều tôi
làm”, thậm chí có người rất hay "lên mặt" rao giảng, dạy dỗ người
khác bằng những từ đại ngôn, hoa mỹ, nhưng hành động, việc làm lại trái những
nguyên tắc của Đảng, thậm chí còn làm ô danh Đảng. Người cán bộ, đảng viên giữ
cương vị lãnh đạo, quản lý, chỉ huy muốn thu phục quần chúng, muốn quần chúng
tin theo phải thực sự mẫu mực về phương pháp, tác phong làm việc, lời nói gắn
liền với việc làm, hành động cụ thể, mang lại ích nước, lợi dân.
Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của chúng ta là độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy, các thế hệ
cha ông ta đã không tiếc xương máu hy sinh để giành và giữ vững nền độc lập dân
tộc, tạo cơ sở, tiền đề xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta được sống trong hòa
bình, có cơ hội phát triển toàn diện, những thành tựu to lớn của đất nước hôm
nay đã được viết bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu
nước, của lớp lớp cán bộ, đảng viên kiên trung với lối sống cao đẹp, một lòng
một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, rèn luyện và nâng cao đạo
đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm mọi việc để góp phần
cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là lương tâm, bổn phận, trách nhiệm,
nghĩa vụ của thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay.
TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN VÀ TRẬN ĐÁNH KHIẾN THÁI LAN KHIẾP SỢ...🌹🌹❤️
Sau chiến thắng Đường 9 – Nam Lào, mùa khô năm 1971 – 1972, Tổng hành dinh Quân Giải phóng Miền Nam và Bộ chỉ huy Quân đội giải phóng nhân dân Lào quyết định mở chiến dịch lớn ở chiến trường Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng, Lào, có mật danh là chiến dịch “Z” với mục đích, là tiêu diệt gọn một bộ phận sinh lực địch đang lấn chiếm Cánh đồng Chum; phá vỡ tuyến phòng thủ của địch, giành và giữ dân, giải phóng Cánh đồng Chum.
Tháng 7/1971, lợi dụng mùa mưa, Mỹ và chính phủ Lào thân Mỹ mở cuộc hành quân lấn chiếm Cánh đồng Chum. Mưu đồ của Mỹ và đồng minh vẫn là muốn chiếm đóng lâu dài địa bàn chiến lược này, dự định đánh chiếm lại sân bay, từ đó bung ra chiếm lại Cánh đồng Chum, rồi tiến theo đường 7 đánh ra biên giới Việt – Lào. Khác với lần trước, lần này Mỹ tăng cường thêm lực lượng quân đội đánh thuê Thái Lan.
Lực lượng địch gồm: 30 tiểu đoàn bộ binh (18 tiểu đoàn Vàng Pao, 4 tiểu đoàn quân đội Hoàng gia Lào, 8 tiểu đoàn Thái Lan), 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội máy bay T-28, 1 trung đội xe bọc thép… dưới sự chi viện tối đa của không quân Mỹ, kể cả B-52 và F-111.
Tại chỉ huy sở chiến dịch, ngoài các cán bộ chủ chốt BTL 959 (Đại tá Vũ Lập làm Tư lệnh, Đại tá Huỳnh Đắc Hương làm Chính ủy), Bộ Quốc phòng tăng cường một Đại tá xuất sắc của quân đội là đồng chí Nguyễn Hữu An làm Phó Tư lệnh. Chiến dịch sắp mở màn, Bộ cử Thiếu tướng Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn sang làm phái viên trực tiếp chỉ đạo chiến dịch (vị Tướng này được cấp dưới đặt cho biệt danh “Tướng Chiến Thắng” hay “Giucốp Việt Nam”, thường chỉ huy các chiến dịch lớn). Ông có đặc điểm là rất nghiêm khắc, nóng tính và quyết đoán. Về trận chiến trên Cánh đồng Chum năm 1971, báo Bangkok sau này đưa tin: “Tướng Tấn đột ngột xuất hiện trực tiếp chỉ huy chiến dịch sau những loạt đại pháo 130 ly khiếp đảm cùng những “con báo khạc lửa” (xe tăng) thẳng tiến như không có gì cản trở”.
Lực lượng Quân Giải phóng: Trước chiến dịch “Z”, địa bàn Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng có các đơn vị quân tình nguyện: f316, e866 và d42, d25, d26 …Vào chiến dịch, trên tăng cường thêm f312, Lữ 335, một tiểu đoàn pháo mặt đất, một tiểu đoàn pháo cao xạ, một tiểu đoàn tank-thiết giáp, 2 tiểu đoàn đặc công và một số đơn vị kỹ thuật. Lực lượng vũ trang Cách mạng Lào có 9 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội pháo binh và 3 đại đội vũ trang địa phương. Chiến dịch được ấn định vào giáp tết năm Nhâm Tý (1972). Sau khi nghe báo cáo tình hình địch – ta, Tướng Lê Trọng Tấn phán một câu xanh rờn: “Đánh trận này, ba đời sau Thái Lan còn sợ!”.
Quả nhiên, sự thật diễn ra đúng như ông Lê Trọng Tấn nói. Đúng giờ G, các trận địa pháo lớn đồng loạt gầm vang, hỏa tiễn H72, cối 82, 120 ly, pháo 130 ly sau đó là ĐKZ, B40, B41 diệt hỏa điểm còn lại rồi ĐH10 mở cửa, xe tăng gầm rú, dẫn bộ binh tràn lên. Nhưng quá trình chiến dịch, không phải mọi chuyện đều suôn sẻ. Sự cố ở Phu Tôn xảy ra ngay lúc quân ta tấn công, mới thấy vị tướng Tổng tham mưu phó không hổ danh “Tướng Chiến thắng”…
Trung đoàn 165 (f312) do trung tá Nguyễn Chuông chỉ huy dứt điểm Phu Thanêng (Phu Tâng) do một tiểu đoàn quân Thái Lan đóng giữ. Trung đoàn 141 đánh trung tâm chỉ huy của quân Thái Lan ở Phu Tôn. Ông Trung tá trung đoàn trưởng bị địch lừa, nằng nặc đòi xe tăng trong lúc xe đang bị sa lầy. Trên trời, OV-10 thả đèn và bắn trọng liên như mưa quanh điểm cao. Hỏa lực địch trong căn cứ vẫn bắn ra….nhưng trước sức tấn công dũng mãnh, quả cảm của Quân Giải phóng chỉ sau 5 ngày giao chiến, quân Thái, quân Mẹo bị các lực lượng của ta đánh cho tơi tả, chạy dài!
Khi đó ở hang chỉ huy Phu Nhu, không khí cực kỳ căng thẳng. Bộ Tư lệnh, cán bộ các cục, các trưởng phòng của Mặt trận 959 và phái viên của Bộ đều có mặt, chăm chú nhìn vị Tướng. Ông Lê Trọng Tấn mặt đỏ phừng phừng, đi quanh bàn, khi thì chăm chú nhìn vào tấm bản đồ treo trên vách đá, lúc quay qua chăm chú ngó sa bàn, rồi nhìn ai đó trong số “bá quan văn võ”. Bất chợt, ông dừng lại, chộp tổ hợp máy điện thoại gọi xuống e141 rồi nói như quát:
– Tài đâu, lệnh cho bộ đội xung phong ngay. Địch chạy hết rồi. Hình như ông Tài nói gì đó làm vị Tướng phật ý. Ông Tấn quát tiếp:
– Mày không lên, tao cách cổ bây giờ!
Bộ đội xông lên. Đúng là chỉ còn mấy thằng bắn súng máy nghi binh!
Nhưng địch chạy đường nào về hang ổ Long Chẹng? Nghe dưới báo cáo, đường phía Bắc vào khu vực Cửa Rừng có nhiều đèn pháo sáng, còn đường phía Nam chỉ có lưa thưa. Tư lệnh Vũ Lập, các Phó tư lệnh: Nam Hà, Hà Thế Hùng, Tham mưu trưởng Dũng Mã, Trưởng phòng tác chiến Huỳnh Lê…đều phân vân. Đa số phán đoán địch chạy hướng Bắc, có người đề nghị chia đôi pháo, bắn đạn chụp cho chắc ăn. Ông Lê Trọng Tấn lừ lừ nhìn mọi người… Bỗng nhiên ra lệnh: Tập trung hỏa lực chần dọc theo con đường phía Nam (nơi ít đèn dù hơn). Không ai dám nói ra nhưng nửa tin nửa ngờ, vì nếu phán đoán sai thì phần lớn quân địch ở Phu Tôn và Cánh đồng Chum sẽ chạy thoát và như vậy không thực hiện được mục tiêu “đánh tiêu diệt” của chiến dịch.
Ngay hôm sau, ông Lê Trọng Tấn cho người đi kiểm tra. Đúng như ông Thiếu tướng dự đoán, dọc con đường phía Nam, quân Thái chết như rạ, người toàn đổ về phía Tây. Bấy giờ tôi mới hiểu vì sao bộ đội ta đặt cho ông nhiều mỹ từ nổi bật như thế. Một lần nữa, câu nói của cổ nhân lại vang lên bên tai tôi: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”!
Sau này Đại úy Tư Đương, phóng viên báo Quân đội Nhân dân và tôi, Thiếu úy, phóng viên báo CSMT đã phỏng vấn một tù binh, nguyên tiểu đoàn trưởng quê ở A-dút-thai-da, Thái Lan (chỉ huy lá chắn thép Phu Thanêng). Tôi hỏi hắn: “Anh thấy đối thủ của anh thế nào?”. Hắn rùng mình, mắt thất thần, nói lí nhí câu tiếng Lào: “Thạ hản Việt sulốp kềng thi xút!” (Bộ đội Việt đánh quá giỏi!")
NƯỚC ĐỨC RUNG CHUYỂN!
Tại thủ đô Berlin của CHLB Đức, nhiều đoàn người bi.ểu tì.nh khắp nơi đổ về mỗi lúc một đông trước sự bất lực hoàn toàn của cảnh sát. Người bi.ểu tì.nh mang theo rất nhiều cờ Nga, cờ đỏ búa liềm của Liên Xô, cờ Đức và hát vang những bài hát từ thời Liên Xô.
Người bi.ểu tì.nh hô vang khẩu hiệu đòi Tổng thống Đức từ chức, hoặc ngay lập tức dỡ bỏ mọi lệnh cấm vận chống Nga và chấm dứt ủng hộ chính quyền Ukraine!
Nhận diện đúng và các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”
Trước
những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn
chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà
bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế
quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang
tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:
Thứ
nhất, cần xác
định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực
thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của
Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh
phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”,
lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao
cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù
địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo
dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ
nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà
nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân
dân.
Thứ
hai, cấp uỷ, chính
quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng
cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho
cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản,
then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò
định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối
với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững
mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị
động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định
đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm
vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc
tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác
kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi.
Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất
lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người,
đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy
hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong
việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa
và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.
Có thể
thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù
địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại
về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó, phải nâng cao bản
lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất
yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ
đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai
trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là
mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.
Thứ
ba, cần quán
triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”;
xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục
đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công
an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp,
lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối
cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó,
cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính
trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm
bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân
dân.
Thứ
tư, xây dựng tổ
chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa
bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ
chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng
lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin
bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên,
thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn
đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên
gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan
tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng
quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối
lập.
Để thực
hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng
trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục,
phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính
trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên
và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm,
không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.
Thứ
năm, phát huy
mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng,
chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân
dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong
việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất
trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các
quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời
tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà
bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng
nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất
nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên
truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu
của “diễn biến hoà bình”.
Thứ
sáu, trong đấu
tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập
trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch,
cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng
“miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc.
Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có
kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn
biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên
mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang
tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội
ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận
thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để
mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên
phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông
tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của
nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn
"đất" để xuyên tạc, chống phá
11.7
Một số giải pháp cần bảo vệ tư tưởng, lý luận Hồ Chí Minh
Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, đồng thời để khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp:
Thứ nhất, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của
Đảng, nâng cao nhận thức của người đứng đầu cấp ủy ở các cấp, các ngành về tầm
quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên trì thực hiện
có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày
25-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng,
đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã đề
ra.
Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, ý thức chính trị của cán bộ, đảng viên
và nhân dân, hình thành ý thức tự giác, thúc đẩy hành động tích cực trong việc
bảo vệ, đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục
tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ ba, nhận diện và phân loại từng đối tượng, trên cơ sở xem xét ở nhiều mặt như động cơ, vai trò, nội dung các luận
điệu, mức độ tác động… để đưa ra biện pháp đấu tranh thích hợp và có hiệu quả;
tránh tình trạng hoặc xử lý thiếu kiên quyết, không triệt để hoặc cực đoan, tạo
cớ cho các thế lực thù địch chống phá.
Thứ tư, tăng cường các giải pháp về kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn,
sàng lọc, làm loãng, quản lý thông tin nhằm chủ động ngăn chặn sự lan truyền
những luận điệu sai trái, thù địch và các trang mạng xấu, độc; xây dựng hệ bài
viết có nội dung đấu tranh sắc bén và giàu tính chiến đấu, từng bước giành thế
chủ động trên không gian mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, sắp xếp, kiện
toàn bộ máy chỉ đạo, nhóm chuyên gia, lực lượng nòng cốt (từ Trung ương đến địa
phương), đổi mới mô hình và phương thức hoạt động; đặc biệt, hoàn thiện cơ chế
phối hợp giữa các lực lượng, các cấp, các ban, ngành và phát huy hơn nữa vai
trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công
tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ năm, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc, phản động phải đi liền
với việc khẳng định và phát triển các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh; với việc
rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh
tổng kết thực tiễn, chú trọng nghiên cứu, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những vấn đề lớn về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
lịch sử của đất nước ta qua hơn 35 năm đổi mới dưới sự soi sáng của tư tưởng Hồ
Chí Minh là minh chứng đanh thép, sống động và thuyết phục nhất để phản bác
những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, đồng thời khẳng định giá trị,
tính đúng đắn, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là
nền tảng tư tưởng mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
10.7
Nhận diện âm mưu ngoan cố, thâm độc của các thế lực thù địch, phản động
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách
mạng, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã
để lại cho chúng ta một sự nghiệp chính trị cao cả, một di sản tư tưởng lý luận
đồ sộ, vô giá và trở thành một biểu tượng văn hóa của dân tộc. Đảng Cộng sản
Việt Nam khẳng định, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
nền tảng tư tưởng của Đảng và đã kiên trì vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người
vào công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử.
Với dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam,
các thế lực thù địch, phản động không từ thủ đoạn thâm độc nào, điên cuồng
xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Dã tâm đó bắt đầu từ sớm, được thực
hiện bởi chủ nghĩa thực dân câu kết với chủ nghĩa chống cộng, âm mưu thủ tiêu
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng dập tắt phong trào đấu tranh
cách mạng của nhân dân ta. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản
động chống Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được gia tăng, gắn liền với những
hoạt động nhằm lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ và xóa bỏ nền độc lập
mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng mới giành được. Trong hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế lực thù địch, phản động tập
trung xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta trong lãnh đạo
cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, sau đó từ năm 1954 thực hiện
hai nhiệm vụ chiến lược là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất nước nhà.
Khi cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng văn hóa, tinh thần của dân tộc, là nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng, nhất là khi Việt Nam tiến
hành công cuộc đổi mới, trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và
các nước Đông Âu sụp đổ, thì các thế lực thù địch, phản động càng điên cuồng
tìm mọi cách chống phá với nhiều thủ đoạn thâm độc, phương thức tinh vi, xảo
quyệt hơn. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào, từ bóp méo sự thật lịch sử, bôi
nhọ nhân cách và phẩm giá, đến đánh giá phiến diện, sai trái; thậm chí, nguy
hiểm hơn, chúng còn ca tụng một cách cực đoan, hòng tách rời tư tưởng Hồ Chí
Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và với Đảng Cộng sản Việt Nam…
Tất cả những âm mưu và thủ đoạn thâm độc
đó của các thế lực thù địch, phản động đều nhằm phủ nhận giá trị và cống hiến
to lớn từ cuộc đời và sự nghiệp của Người đối với dân tộc, từ đó phá hoại nền
tảng tư tưởng của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Bác
Hồ; mưu đồ gây ra những bất ổn chính trị, tạo cớ cho sự can thiệp từ bên ngoài
để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong
chiến lược chống cộng, chiến lược “diễn biến hòa bình”, các nước đế quốc và các
thế lực phản động rắp tâm tìm mọi cách “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh, bài bác,
phủ nhận tư tưởng của Người, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, âm mưu
“lật đổ” trên lĩnh vực tư tưởng, mở đường cho cuộc lật đổ về chính trị.
Phương thức hoạt động chủ yếu hiện nay
của các thế lực phản động quốc tế là tiến hành chiêu dụ, cấp tiền, o bế các tổ
chức phản động lưu vong, lập nhiều quỹ với danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ
thiện” để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng sử dụng nhiều công
cụ, phương tiện, hình thức tuyên truyền từ bên ngoài tác động vào bên trong,
nhất là qua các trang thông tin quốc tế có
xu hướng cực hữu chính trị, chống cộng, các phương tiện truyền thông xã hội,
các đài phát thanh, kênh truyền hình… của một số đối tượng phản động, lưu vong,
tổ chức phi chính phủ ở một số nước phương Tây.
Bên cạnh đó, ở trong nước, một số đối
tượng cơ hội, bất mãn chính trị được hậu thuẫn của tổ chức phản động nước
ngoài, cũng ráo riết thực hiện hành vi tuyên truyền xuyên tạc thân thế và sự
nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng nhiều chiêu trò, nhất là sử dụng
kỹ thuật, công nghệ chỉnh sửa, cắt ghép tư liệu lịch sử, tranh ảnh, phim tư
liệu… để xuyên tạc, ngụy tạo những câu chuyện hoang đường, không có thật về
Người. Thâm độc hơn, chúng cố tình “lập lờ đánh lận con đen”, đan cài thật -
giả lẫn lộn, hòng làm vấy bẩn, bóp méo, xuyên tạc bản chất mác-xít, tính cách
mạng, khoa học, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh.
10.7
Kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin của các thế lực thù địch
Lâu nay, để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” - “cuộc chiến tranh không khói súng”, “khâu đột phá” mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị thường sử dụng là tấn công trên mặt trận tư tưởng. Việc đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một thủ đoạn nhằm phủ định đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động bạo loạn lật đổ để thay đổi thể chế chính trị hiện hành ở nước ta. Chừng nào chưa đạt được mục đích của mình, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị sẽ còn chống phá bằng các hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta phải mài sắc vũ khí lý luận để đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị nói chung và âm mưu, thủ đoạn đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói riêng. Theo đó, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức cho
toàn Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, về động cơ đen tối của các thế lực thù địch, phản động và
phần tử cơ hội chính trị khi phủ nhận mối quan hệ này. Cần làm cho cán bộ, đảng
viên và nhân dân hiểu rõ rằng, mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh là mối quan hệ giữa cội nguồn và phát triển, giữa cái chung
và cái đặc thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là hai”. Vì thế, không thể
tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cũng không
thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin và ngược
lại. Cho dù tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo, nhưng lại thống nhất
với chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng giải phóng con
người... Việc các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị mưu
toan tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cố tình lờ đi
mối quan hệ biện chứng giữa hai hệ thống tư tưởng, lý luận này không phải là do
chưa có đủ thông tin hay chưa có phương pháp nghiên cứu phù hợp, mà là sự chủ ý
xuyên tạc, bịa đặt và lừa bịp nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng lý
luận chính trị để cán bộ, đảng viên hiểu rõ nội dung, bản chất khoa học, cách
mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những
năm tháng đất nước bị chia cắt, kẻ thù đế quốc từng dùng “trăm phương ngàn kế”
để ly gián nhân dân miền Nam với Bác Hồ, với Đảng, với miền Bắc xã hội chủ
nghĩa nhưng đều bị thất bại trước ý chí sắt đá của nhân dân ta: “Dù ai nói ngả,
nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân/ Dù ai rào giậu, ngăn sân/ Lòng
ta vẫn vững là dân Bác Hồ”. Lúc này cũng vậy, nếu cán bộ và nhân dân đều thấu
hiểu, thấu cảm giá trị đích thực, sức sống thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh thì mọi sự xuyên tạc sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, cần
tập trung thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí
thư, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu,
vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình
hình mới”. Làm tốt công tác giáo dục lý luận chính trị, đẩy lùi căn bệnh lười
học lý luận chính trị ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, tích cực bồi đắp tri
thức khoa học cho cán bộ, đảng viên và nhân dân chính là tạo “vắc-xin” phòng,
chống sự xâm nhập của các luồng thông tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, thù
địch.
Ba là, xây dựng đội quân tinh nhuệ tác chiến
mặt trận tư tưởng lý luận là các chuyên gia giỏi, am hiểu về lý
luận chính trị để đấu tranh trực diện với những âm mưu, thủ đoạn, những luận
điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các chuyên gia khi tham gia vào trận
chiến trên mặt trận đấu tranh tư tưởng phải có thái độ vừa mạnh mẽ, điềm tĩnh,
vừa kiên quyết, kiên trì; mọi lập luận đưa ra phải đạt tới mức tinh thông, sắc
bén về lý luận, phong phú, sinh động về thực tiễn. Theo đó, cần thường xuyên và
kịp thời cung cấp thông tin cho lực lượng này và tổ chức các buổi tọa đàm, trao
đổi kinh nghiệm với các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt về đấu tranh trên
không gian mạng để họ trở thành những chiến sĩ thực thụ trên mặt trận đấu tranh
tư tưởng.
Bốn là, kiên định và tăng cường hơn nữa việc vận
dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào
thực tiễn đất nước để thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước, làm cho nhân dân có
cuộc sống ấm no, hạnh phúc và không ngừng nâng cao vị thế của đất nước trên
trường quốc tế. Đây thực chất là giải pháp dùng thực tiễn để bảo vệ lý luận,
bảo vệ chân lý, bởi thực tiễn là nơi kiểm nghiệm mọi lý luận, mọi chân lý một
cách xác thực nhất. Chúng ta phải “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên
tắc xây dựng Đảng… Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý
nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của
Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(18).
Việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta chính là minh chứng
hùng hồn nhất cho sức sống, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác -
Lê-nin trong thời đại ngày nay. Ngược lại, mỗi hành vi sai trái của từng cá
nhân cán bộ, đảng viên hay tổ chức đảng vô hình trung đều là sự “tiếp tay” cho
kẻ thù trong việc tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, việc tăng
cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn chặt với công cuộc xây dựng,
chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh./.
11.7
Mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin không bao giờ bị tách rời
Một trong những thủ đoạn thâm độc mà các thế lực thù địch, phản động và
phần tử cơ hội chính trị thường sử dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ
là tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xuyên tạc nền tảng
tư tưởng của Đảng, tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của
Đảng, thay đổi chế độ hiện hành trên đất nước ta. Do đó, nhận diện, bóc trần
thủ đoạn này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng hiện nay.
Có thể khẳng định, giữa tư tưởng Hồ Chí
Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin có mối quan hệ biện chứng, được thể hiện trên 3
phương diện chính sau đây:
Thứ nhất, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là cội
nguồn lý luận cơ bản hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, bằng
sự nhạy cảm chính trị và khảo sát kỹ lưỡng thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin - chân lý lớn của thời đại. Chủ nghĩa
Mác - Lê-nin cung cấp cho Người nhân sinh quan cách mạng, thế giới quan, phương
pháp luận khoa học và các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên cơ sở đó, Người tổng kết kiến thức, tổng kết
lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn để hình thành nên “một phương lược cứu quốc
đầy đủ nhất”(1).
Tuyên bố đi theo “chủ nghĩa Mã Khắc Tư và
Lênin”(2), Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã trở thành một nhà tư
tưởng mác-xít sáng tạo. Nếu chủ nghĩa Mác - Lê-nin lấy giai cấp công nhân làm
vũ khí “vật chất”, giai cấp công nhân lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm “vũ khí
tinh thần”, thì Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm “vũ
khí không gì thay thế được”(3) cho nhận thức và hành động của
mình. Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Người sẽ không thể vượt khỏi những
hạn chế của những sĩ phu Việt Nam yêu nước thời trước; tư tưởng của Người không
thể mang đầy đủ đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn; con đường cứu nước mà
Người vạch ra không thể trở thành con đường “bách chiến, bách thắng” như trên
thực tế đã diễn ra. Có thể nói, dù tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành dưới sự
tác động của nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan,
cả tiền đề lịch sử và tiền đề tư tưởng, hội tụ truyền thống văn hóa dân tộc và
tinh hoa văn hóa nhân loại, nhưng quan trọng nhất, quyết định nhất vẫn là chủ
nghĩa Mác - Lê-nin.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế
thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh cụ
thể của Việt Nam.
Tin và đi theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin
nhưng thấu hiểu đặc tính “mở” của hệ thống lý luận ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh
không tiếp thu theo lối giáo điều, sách vở, không bị trói buộc trong cái “vỏ”
ngôn từ mà nắm lấy “cái thần”, cái “linh hồn sống” của chủ nghĩa Mác - Lê-nin
là phép duy vật biện chứng. Nắm vững nguyên tắc thực tiễn của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, Người nhận thức rõ sự khác biệt giữa xã hội Việt Nam và xã
hội phương Tây nên đã khẳng định: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một
triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu
là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”(4). Sau này, Người nói rõ
hơn: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin không phải nhắc như con vẹt “Vô sản thế giới
liên hiệp lại” mà phải thống nhất chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng
Việt Nam. Nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam là nói đến chủ trương, chính
sách của Đảng... Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải ở đâu người ta cũng làm cộng
sản, cũng làm Xôviết”(5).
Chủ tịch Hồ Chí Minh ít khi nói đến các
khái niệm, phạm trù hay quy luật của triết học Mác - Lê-nin, nhưng Người vận
dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam một cách rất linh hoạt và từ chính thực tiễn đó, Người rút ra nhiều
kết luận mang tầm chân lý nhưng lại rất dễ hiểu để bổ sung, làm giàu cho chủ
nghĩa Mác - Lê-nin. Với tư duy sáng tạo, Người đã phát triển chủ nghĩa Mác -
Lê-nin trên một loạt vấn đề căn cốt của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải
phóng dân tộc cho đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bằng cách đó, tư tưởng Hồ Chí
Minh trở thành dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong một thời đại mới
và không gian mới. Sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Người đã làm cho học
thuyết Mác - Lê-nin được “Việt Nam hóa”, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt
Nam. Người cũng giúp dân tộc ta thoát khỏi tâm lý thụ động để phát huy truyền
thống tự lực, tự cường và nhờ đó, cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi
vĩ đại. Người đã để lại bài học lớn: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “kim chỉ nam”
cho hành động cách mạng nhưng không phải là khuôn mẫu, là “linh đan kê sẵn”;
nếu biến lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin thành “kinh thánh” và công thức sáo
mòn thì tức là đã gạt bỏ nó ra khỏi thực tiễn không ngừng biến đổi. Vì thế,
người trung thành nhất phải là người sáng tạo nhất.
Thứ ba, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là
hai bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trước khi thành lập Đảng, khi viết tác
phẩm “Đường Cách mệnh”, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu tác phẩm bằng câu nói
của V.I. Lê-nin: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào
cách mạng”(6); “chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng
dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(7).
Trong Cương lĩnh thành lập Đảng (tháng 2-1930), dù không trực tiếp tuyên bố
Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, nhưng Người đã đề ra chủ
trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản”(8) và khẳng định, điều kiện tiên quyết để gia nhập
Đảng là phải “tin theo chủ nghĩa cộng sản”(9). Theo đó, Đảng đi theo
lý tưởng cộng sản, đi theo con đường mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã vạch ra. Đến
Hội nghị Trung ương lần 1 (tháng 10-1930), Luận cương chính trị của Đảng tuyên
bố: “Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin
làm gốc”(10).
Tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991), trong
bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở các nước Đông Âu và Liên Xô, Đảng ta
vẫn khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đảng lấy tập trung dân chủ làm nguyên
tắc tổ chức cơ bản”(11). Sự bổ sung “tư tưởng Hồ Chí Minh” vào nền
tảng tư tưởng của Đảng tại Đại hội VII hoàn toàn phù hợp với thực tế đã diễn ra
từ năm 1930 và với tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhân dân dành cho Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Nền tảng tư tưởng của Đảng được tạo thành bởi chủ nghĩa Mác -
Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là “thể thống nhất liền khối”, luôn hiện hữu và
quyện chặt trong nhau, không thể tách rời.
ST
