Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022
BẢN LĨNH VIỆT NAM
KHÔNG CÓ CHUYỆN 20 NĂM "NỘI CHIẾN" Ở VIỆT NAM
Trong thời gian qua, trên các trang mạng xã hội nổi lên vấn đề ca sỹ
Khánh Ly trở về Việt Nam sau hơn 40 năm, Khánh Ly đã thể hiện ca khúc Gia tài
của Mẹ - Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn với đoạn “Hai mươi năm nội chiến từng ngày”.
Vậy có phải Việt Nam xảy ra nội chiến trong vòng 20 năm? Hay đây là hành
động xuyên tạc lịch sử một cách kín đáo, vờ như là vô tình nhằm vào cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1975?
Chúng ta cần nhận thức và hiểu rõ bản chất của vấn đề này.
TRƯỚC TIÊN, cần khẳng định ngay rằng cuộc chiến tranh 1954 – 1975 tại
Việt Nam là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam với bên
chiến thắng là dân tộc Việt Nam, bên thua cuộc là Đế quốc Mỹ và tay sai, cụ thể
ở đây là Chính quyền “Việt Nam Cộng hòa” do Mỹ dựng lên. Luận điệu cuộc chiến
tranh ở Việt Nam là “cuộc nội chiến” mà bên thắng cuộc là “miền Bắc”, còn bên
thua cuộc là “miền Nam” chỉ là lý sự cùn của các thế lực thù địch, một nhóm đối
tượng chống cộng nào đó còn cay cú, ôm hận vì không còn được tận hưởng danh
phận của kẻ làm tay sai, hạ thấp ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4/1975
và ngụy biện cho quãng đời làm tay sai cho Mỹ.
Trên thực tế, Mỹ đã có những động thái can thiệp vào nội bộ Việt Nam từ
những năm 50 của thế kỷ XX. Trong suốt 21 năm tham chiến tại Việt Nam, nguồn
viện trợ của Mỹ đóng vai trò vô cùng to lớn cho nhiệm vụ duy trì cuộc chiến.
Theo thống kê, số viện trợ của Mỹ cho chính quyền ngụy Sài Gòn trong 21 năm là
26 tỷ đôla, con số cao nhất của viện trợ Mỹ mà không có bất cứ nước nào khác
trên thế giới nhận được kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ II. Nước Mỹ đã
phải huy động tới 70% biên chế lục quân, 60% số lính thủy đánh bộ, 40% biên chế
hải quân và 60% biên chế không quân, cùng với 22.000 xí nghiệp trên đất Mỹ. Số
quân Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam có lúc cao nhất đã lên đến hơn nửa triệu
người; còn số thanh niên Mỹ trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã
lên tới 6,5 triệu lượt người.
Những con số trên cho thấy đây không phải là cuộc chiến của những người
Việt Nam với nhau. Nhiều học giả phương Tây và chính khách Hoa Kỳ cũng thừa
nhận đây là cuộc chiến của người Mỹ xâm lược Việt Nam và người Việt Nam chống
lại sự xâm lược của người Mỹ.
THỨ HAI, về bản chất của chế độ “Việt Nam Cộng hòa”: Năm 1954, Ngô Đình
Diệm được Mỹ đưa về miền Nam làm Thủ tướng của Quốc trưởng Bảo Đại. Một năm sau
đó, Diệm làm cái gọi là “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại và lập nên “Việt
Nam Cộng hòa”. Tuy nhiên, khác với nền tảng và tính tự chủ của một quốc gia độc
lập, thực tế cho thấy, đô la, vũ khí, cố vấn Mỹ là yếu tố nền móng cho việc xây
dựng và củng cố chính quyền “Việt Nam Cộng hoà” do Mỹ dựng lên. Đó chính là
nguồn sống của chính quyền “Việt Nam Cộng hoà”, không có những nguồn sống ấy,
thì chính quyền này không thể tồn tại được. Minh chứng rõ nhất là việc Mỹ rút
quân khỏi Việt Nam sau hiệp định Paris năm 1973, các nguồn viện trợ dần bị cắt
bỏ và chỉ sau đó 02 năm, chính quyền “Việt Nam Cộng hoà” sụp đổ sau chiến thắng
30/4/1975.
THỨ BA, nếu chỉ là cuộc chiến nội bộ của người Việt Nam thì nhân dân
khắp thế giới và kể cả người dân Mỹ đã không có hành động phản chiến quyết
liệt. Trong suốt cuộc chiến, có hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết
ủng hộ Việt Nam, hơn 50 nước có phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam, hơn 160
triệu người ở nhiều nước ghi tên tình nguyện sang Việt Nam đánh Mỹ, 83 cơ quan
đại diện Mỹ ở các nước bị nhân dân đập phá… Tại Mỹ, có nhiều công dân Mỹ tự
thiêu để phản đối cuộc chiến, trong đó có nhân vật nổi tiếng là Norman Morison;
hơn 200 tổ chức chống chiến tranh xâm lược trên khắp các bang; 16/27 triệu
thanh niên Mỹ tới tuổi quân dịch đã chống lệnh quân dịch; 75.000 người Mỹ bỏ ra
nước ngoài vì không chịu nhập ngũ và đấu tranh phản chiến…
Qua vụ việc của ca sỹ Khánh Ly, chúng ta có thể thấy nghệ thuật là một
nét đẹp, một phạm trù không thể thiếu trong tất cả các mặt của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, sử dụng nghệ thuật không đúng cách, sử dụng nghệ thuật để xuyên tạc
lịch sử là một hành động phải lên án, đi ngược lại sự phát triển của xã hội.
Thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần phải có sự kiểm duyệt chặt chẽ về nội dung
của các tác phẩm nghệ thuật trước khi phát hành cũng như trình diễn trước công
chúng cũng như có chế tài xử phạt mạnh tay đối với hành vi sử dụng nghệ thuật
để xuyên tạc lịch sử, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Về phía ca sỹ Khánh ly, một người từng đứng giữa “Little Sài Gòn” tuyên
bố “không bao giờ về Việt Nam kiếm tiền rồi lương tâm chống cộng luôn chảy
trong máu tôi”… Giờ ở cái tuổi trên bảy mươi, được Đảng, Nhà nước tạo điều kiện
trở về quê hương nên tập trung hát những ca khúc đúng nghĩa nghệ thuật và đừng
đụng chạm gì đến lịch sử theo kiểu phiến diện vì đây là Việt Nam, là nơi lịch
sử được giữ gìn, là nơi mà người Việt Nam đoàn kết đánh ngoại bang chứ KHÔNG
BAO GIỜ LÀ NỘI CHIẾN!
Xây dựng Luật phòng thủ dân sự vì cuộc sống bình yên của nhân dân
Dự thảo Luật Phòng thủ dân sự (PTDS) đang được các cơ quan chức năng triển khai, hoàn thiện, lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Đây là bộ luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động PTDS, bảo đảm cuộc sống bình yên cho nhân dân.
LỊCH SỬ TRỞ THÀNH MÔN HỌC "BẮT BUỘC": CẤP TỐC SỬA CHƯƠNG TRÌNH TRONG 1 THÁNG
CUỘC CHIẾN BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC: VỊ XUYÊN NGÀY GIỖ TRẬN 12/7/1984, NỖI ĐAU KHÔNG THỂ NÀO NGUÔI NGOAI.
Gần 600 người lính thuộc Sư đoàn 356 đã anh dũng hi sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tại mặt trận Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang vào ngày 12/07/1984.
Rạng
sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc ồ ạt xua quân xâm lược tuyến biên giới phía Bắc
nước ta mở màn cho cuộc chiến 30 ngày trên địa bàn các tỉnh: Cao Bằng, Lạng
Sơn, Hoàng Liên Sơn (nay là tỉnh Lào Cai và Yên Bái), Lai Châu, Hà Tuyên (nay
là tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang), Quảng Ninh và những xung đột kéo dài suốt 10
năm sau đó.
Như
vậy, sau ngày 17/02/1979, cả 7 tỉnh biên giới phía Bắc đều có chiến tranh,
nhưng thời điểm ác liệt nhất là giai đoạn 1984-1989 trên mặt trận Vị Xuyên.
Nhiều sư đoàn và các đơn vị chủ lực của Quân khu, Bộ Quốc phòng và các đơn vị
bộ đội, nhân dân tỉnh Hà Tuyên (Hà Giang và Tuyên Quang) đã trực tiếp tham gia
chiến đấu.
Thiếu
tướng Sùng Thìn Cò, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 2 cho biết: Có những trận đánh,
chúng ta hy sinh cũng khá nhiều, như trận đánh ngày 12/07/1984 với mật danh
MB84. Riêng Sư đoàn 356 đã có tới gần 600 chiến sỹ hy sinh chỉ trong một ngày.
Ngày 12/07 vì thế được coi là ngày “Giỗ trận” Vị Xuyên.
Mặt
trận Vị Xuyên từ năm 1979 – 1989 đã có 16 Sư đoàn, 4 Lữ đoàn và nhiều Trung
đoàn của Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia chiến đấu.
Suốt
một dải từ Điểm cao 1509, qua Bình độ 1200 + 1000 đến các Điểm cao 772, 685,
ngã ba Thanh Thủy (Hà Giang)… đã diễn ra hàng nghìn trận đánh ác liệt với những
cái tên nghe qua đã dựng tóc gáy như: Thung lũng Gọi Hồn, lò vôi Thế Kỷ, đồi
Thịt Băm, thác Âm Phủ,… để nói về những ngọn núi, thung lũng bao quanh Thanh
Thủy.
Những
cao điểm từng là nơi diễn ra các trận đánh ác liệt trên mặt trận Vị Xuyên nhìn
từ Đài hương 468.
Biết
bao chiến sỹ đã anh dũng hy sinh để giữ vững từng tấc đất biên cương của Tổ
quốc, hài cốt của nhiều chiến sỹ vẫn còn nằm lại dưới thung lũng sâu, trong khe
đá chưa quy tập được. "Sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử" đã trở
thành phương châm sống và chiến đấu của người lính Vị Xuyên năm xưa.
Năm
2016, vào ngày "Giỗ trận" của Sư đoàn 356, trước đài hương đồng đội,
nhạc sỹ Trương Quý Hải đã xúc động cất lên những giai điệu "Về đây đồng
đội ơi" tưởng nhớ những người lính đã ngã xuống, mãi mãi ở tuổi đôi mươi.
Đến nay, sáng tác này của nhạc sỹ Trương Quý Hải, cũng là một cựu chiến binh
thuộc Sư đoàn 356 năm nào, đã trở thành một bài ca bất hủ để tưởng nhớ những
liệt sỹ anh dũng hy sinh trên mặt trận biên giới phía Bắc giai đoạn 1979-1989.
Lời ca và giai điệu bài hát mỗi khi cất lên như chạm vào cảm xúc nghẹn ngào của
tất cả mọi người dân đất Việt.
Như
lời nhạc sĩ từng kể lại, là người trực tiếp tẩm liệm cho cả trăm liệt sĩ trong
những ngày tháng khốc liệt đó, cho đến hôm nay, hình ảnh những người lính trẻ
măng với những nụ cười hồn nhiên, hàng ngày vẫn vui đùa với trẻ nhỏ, bỗng chốc
ngã xuống trước làn đạn địch vẫn không thể nào phai trong tâm trí anh.
Nhạc
sĩ viết bài hát “Về đây đồng đội ơi” chỉ trong một ngày ngập tràn cảm xúc cùng
anh em đồng đội tính chuyện lập cây hương ở cao điểm 468 tưởng nhớ những người
bạn đã hy sinh. Bài hát như tiếng gọi thiết tha tới những người bạn chung chiến
hào đã mãi ra đi trong cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ
quốc.
Giờ
đây, Đài hương tại cao điểm 468, xã Thanh Thủy, một địa chỉ văn hóa, du lịch
tâm linh không chỉ của tỉnh Hà Giang mà còn của cả nước, là nơi để các đồng đội
và nhân dân cả nước đến thắp hương tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống
tại mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang.
Các
liệt sỹ hy sinh trên mặt trận Vị Xuyên thuộc 32 tỉnh, thành từ Bình Trị Thiên
(nay là các tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) trở ra. Nhắc đến Vị
Xuyên, không thể không nhắc đến nghĩa trang liệt sỹ Vị Xuyên, nơi yên nghỉ của
gần 1.800 người trong tổng số hơn 4.000 người đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc
đất biên cương. Trong số đó, có tới hơn 200 ngôi mộ liệt sỹ “chưa biết tên”, và
cả ngôi mộ tập thể của các liệt sỹ hy sinh tại hang Sập mới được quy tập về
đây.
Trong
một chuyến công tác lên Nhà tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ mặt trận Vị Xuyên,
PV Infonet đã được bà Lê Thị Thế (Phú Thọ), mẹ của liệt sỹ Trần Trung Thực, kể
lại: “Khi lên đến mặt trận Hà Tuyên, con trai tôi có gửi thư về dặn mẹ đừng gửi
thư nữa, con không có hòm thư đâu, trong thư nó bảo: "Mẹ yêu quý của con,
con tạm biệt mẹ. Các em con còn bé nhỏ quá không làm gì được đỡ đần cho mẹ. Các
em đừng khóc, đừng quấy mẹ nữa, anh về sẽ mua kẹo cho các em". Nó viết thư
về, các em nó cứ khóc nức nở.
Liệt
sỹ Trần Trung Thực nhập ngũ năm 1980 sau khi vừa học xong cấp 3, thuộc Trung
đoàn 149, Sư đoàn 356 và hy sinh năm 1985. Đến nay gia đình vẫn chưa tìm được
hài cốt liệt sỹ Thực.
Chiến
tranh bảo vệ biên giới đã lùi xa, nhưng ký ức về nó vẫn không hề phai nhạt
trong tâm trí người Việt cũng như những chiến sỹ đã dành trọn tuổi thanh xuân
để giữ gìn từng tấc đất của Tổ quốc. Ông Hoàng Thế Cương (Hà Giang), nguyên Phó
trưởng ban Tác chiến, Sư đoàn 356 kể:
“Cho
đến bây giờ tôi vẫn nhớ về những người đồng đội đã anh dũng hy sinh. Anh hùng
liệt sỹ Nguyễn Viết Ninh là người đã có lời thề khắc trên báng súng: “Sống bám
đá, chết hóa đá thành bất tử”. Anh là Trung đội trưởng chỉ huy đơn vị rất anh
dũng, dù bị thương nhiều lần nhưng vẫn bám trụ đến cùng và chỉ huy các chiến sỹ
nhiều lần ngăn chặn cuộc tiến công của quân địch. Sau đó anh được anh em đồng
đội đưa về hang Suối Cụt và hy sinh đúng vào đêm 29 Tết Nguyên đán năm 1985, sau
trận đánh trên cao điểm 685.
Nhiều
đồng đội xung phong nhập ngũ khi tuổi đời còn rất trẻ, đa số ở độ tuổi 17-19.
Trong ba lô của những đồng chí ấy, những kỷ vật để lại chủ yếu là những kỷ niệm
về người mẹ, về gia đình và trường lớp, chứ không hề có những tấm hình của
người bạn gái nơi hậu phương.”
Nhắc
đến những ngày ác liệt đó, bà Trần Thị Thủy (Hải Phòng), Y tá Tiểu đoàn Quân y,
Sư đoàn 314, vẫn không giấu nổi niềm tự hào xen lẫn xúc động:“Ước mơ của tôi
cũng trở thành hiện thực khi tôi được nhập ngũ năm 1980 và được cử đi học ngành
quân y, lúc đó đã 22 tuổi nhưng tôi chỉ có 34 kg. Sau đó, tôi được phục vụ mặt
trận Vị Xuyên với nhiệm vụ chăm sóc, cứu chữa cho anh em thương, bệnh binh.
Tôi
vẫn nhớ những kỷ niệm đi xin gạo về nấu cháo cho anh em thương binh, những
người tuy tuổi đời còn rất trẻ nhưng râu tóc họ để rất dài do không có điều
kiện cắt, và cũng không có nước để tắm gội. Kỷ niệm không thể quên được là khi
anh em thương binh được chuyển xuống, chúng tôi coi nhau như những người thân
thiết, coi nhau như tất cả cùng chung một quê, nên chỉ gọi nhau với một cái tên
“Quê”, cứ thế gọi “Quê ơi ăn đi”, “Quê ơi cố gắng giành lại sự sống nhé”.
Có
những người đã ra đi và nằm rải rác ở khắp các cánh rừng, ở những rìa hang, khe
đá mà chưa từng một lần được đồng đội thắp hương. Bây giờ có được nhà tưởng
niệm để anh em về sinh hoạt là tôi cảm thấy phần nào bớt nguôi ngoai đi sự xót
xa, tôi cũng cảm nhận được rằng đồng đội của mình đỡ tủi hờn”.
Bức
ảnh chụp hai người lính thông tin Đặng Ngọc Thu (Hà Nội) và Phạm Xuân Thanh
(Yên Bái) bên bờ sông Lô (Hà Giang) năm 1984. Sau 32 năm bặt tin, hai người
đồng đội đã tìm gặp lại nhau vào năm 2016. Ảnh: Phạm Xuân Thanh.
Là
chiến sỹ từng cầm súng chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc giai đoạn 1979-1989,
Thiếu tướng Sùng Thìn Cò, Phó Tư lệnh Quân khu 2, cho biết, tại các điểm cao
thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, nơi xảy ra những trận chiến
ác liệt tại mặt trận Vị Xuyên năm xưa, do điều kiện chiến tranh, bom mìn, hiện
nay chưa thể quy tập hết liệt sỹ về các địa phương.
“Còn
khoảng 2.500 liệt sỹ đang nằm tại đây, hàng ngày chúng ta đứng dưới nhìn lên
đỉnh núi, biết rằng các đồng chí đang nằm đó nhưng chưa thể đưa về. Đã hơn 30
năm qua, thân nhân gia đình các liệt sỹ có người còn, người mất, các cụ chỉ
mong ước trước khi nhắm mắt còn được thấy con mình trở về nhà”,Thiếu tướng Sùng
Thìn Cò nói.
Nguồn:
Tổng hợp
RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT ĐẶC BIỆT TINH NHUỆ CỦA BỘ ĐỘI ĐẶC CÔNG VIỆT NAM
Trong
các cuộc kháng chiến, bộ đội đặc công đã khẳng định sự trưởng thành, lớn mạnh
không ngừng và khả năng chiến đấu xuất sắc của mình. Truyền thống quý báu đó
đang được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đặc công hôm nay kế thừa, phát huy.
Binh
chủng Đặc công là một binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội Nhân
dân Việt Nam, ra đời từ sự kế thừa, phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự độc
đáo của dân tộc: “Lấy ít đánh nhiều, lấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng cao
thắng số lượng đông”.
Trong
buổi lễ thành lập Binh chủng Đặc công, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “Đặc công
tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải có cố gắng đặc biệt.
Các chiến sĩ đặc công được tin tưởng đặc biệt... Mưu trí phải đặc biệt linh
hoạt. Kỹ thuật phải đặc biệt huấn luyện thuần thục. Lập trường chính trị phải
đặc biệt vững chắc... Kỷ luật phải đặc biệt nghiêm minh... Bất kỳ nhiệm vụ gì,
bất kỳ nhiệm vụ đặc biệt nào cũng phải hoàn thành và hoàn thành cho tốt...”.
Bằng một loạt chữ “đặc biệt”, Bác Hồ đã khái quát một cách toàn diện, sâu sắc
về phẩm chất, văn hóa riêng có của bộ đội đặc công, đồng thời chỉ ra nguồn gốc,
vị trí, chức năng, nhiệm vụ, cách đánh cùng những yêu cầu về xây dựng, chiến
đấu của bộ đội đặc công.
Trải
qua hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ bộ đội đặc
công bằng trí thông minh, tinh thần quả cảm, đoàn kết, sáng tạo, không quản
ngại gian khổ, hy sinh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, khẳng định được vị
trí, vai trò là lực lượng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của QĐND Việt Nam. BCĐC
vinh dự được Đảng, Nhà nước hai lần phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân
và 16 chữ vàng truyền thống: “Đặc biệt tinh nhuệ-Anh dũng tuyệt vời-Mưu trí táo
bạo- Đánh hiểm thắng lớn”, đó là bản sắc của đặc công Việt Nam.
Binh
chủng Đặc công là binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ. Sức mạnh của bộ đội
đặc công là sức mạnh tổng hợp từ bản lĩnh, ý chí, quyết tâm; từ cách đánh đặc
công-nghệ thuật tác chiến “bí mật, bất ngờ, luồn sâu, đánh hiểm”, “lấy ít địch
nhiều, lấy nhỏ thắng lớn”, tổ chức lực lượng, vũ khí trang bị... Do đó, để tạo
ra sức mạnh, làm nên chiến thắng của bộ đội đặc công, một trong những yếu tố
rất quan trọng để tạo nên sức mạnh chính trị tinh thần. Để xây dựng sức mạnh
chính trị tinh thần trước, trong và sau trận đánh, cần thực hiện tốt các nội
dung, biện pháp. Đó là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng
ý chí quyết tâm cho cán bộ, chiến sỹ. Phát huy vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu
của cấp ủy, chỉ huy, các tổ chức quần chúng trong đơn vị. Tăng cường tổ chức
các phong trào thi đua nhằm xây dựng sức mạnh chính trị tinh thần cho cán bộ,
chiến sỹ, sẵn sàng đánh thắng kẻ địch trong mọi tình huống. Thường xuyên bồi
dưỡng tư tưởng, củng cố niềm tin, rèn luyện ý chí chiến đấu cho bộ đội.
Trong
điều kiện hiện nay, có ý kiến cho rằng bản lĩnh của bộ đội đặc công đang phần
nào bị mai một, do ít được cọ xát thực tế. Có thể khẳng định, ý kiến trên là
không đúng. Vì bản lĩnh của bộ đội đặc công thời chiến cũng như thời bình đều
phải trải qua huấn luyện, rèn luyện, có thể nói là khổ luyện, công tác và chiến
đấu trong môi trường mang tính đặc thù. Xuất phát từ cách đánh-nghệ thuật tác
chiến, tổ chức xây dựng lực lượng, vũ khí trang bị, địa bàn hoạt động, đối
tượng tác chiến, nên trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) luôn
mang tính đặc thù, đòi hỏi phải có sự khổ luyện đặc biệt để bảo đảm cho mỗi cán
bộ, chiến sỹ đặc công phải đạt được yêu cầu: Lập trường chính trị phải đặc biệt
vững chắc, mưu trí phải đặc biệt linh hoạt, kỹ-chiến thuật phải huấn luyện đặc
biệt thuần thục, kỷ luật phải đặc biệt nghiêm minh... Theo đó, Đảng ủy, Bộ tư
lệnh Binh chủng Đặc công thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị chú trọng
nâng cao chất lượng huấn luyện, khả năng SSCĐ cho cán bộ, chiến sỹ ; bám sát
phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, theo hướng đồng bộ, chuyên sâu,
sát thực tế, sát đối tượng tác chiến, phù hợp cách đánh đặc công và vũ khí có
trong biên chế. Cùng với đó, kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện kỹ thuật, chiến
thuật với diễn tập hiệp đồng chiến đấu, xử lý các tình huống nhằm nâng cao khả
năng cơ động SSCĐ trên các địa hình, trong mọi điều kiện thời tiết.
Trong
đó, xác định, trọng tâm của công tác huấn luyện, SSCĐ là nâng cao chất lượng
huấn luyện võ thuật, bắn súng, nhảy dù. Nhất là lực lượng chống khủng bố, bảo
đảm phải đặc biệt thuần thục mọi kỹ năng. Trong huấn luyện, Đảng ủy, Bộ tư lệnh
binh chủng hết sức coi trọng việc nghiên cứu, phát triển nghệ thuật tác chiến
đặc công, phát huy trí tuệ của mọi trong nghiên cứu, cải tiến, sáng chế mô hình
học cụ, vũ khí, trang bị kỹ thuật phục vụ cho huấn luyện, SSCĐ. Đồng thời tham
mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng mua sắm một số vũ khí, trang
bị kỹ thuật mới, đặc chủng, phù hợp cách đánh, đáp ứng yêu cầu tác chiến của bộ
đội đặc công trong tình hình mới. Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp trong
huấn luyện, đến nay, cán bộ, chiến đấu viên, chiến sĩ của binh chủng đều có bản
lĩnh vững vàng, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật điêu luyện, tinh nhuệ, ý chí
quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống,
bảo đảm luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu “đặc biệt tinh nhuệ”
của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Đồng
thời kết hợp tuyên truyền giáo dục lịch sử, truyền thống, truyền thụ kinh
nghiệm chiến đấu là nội dung, biện pháp cơ bản nhất để xây dựng niềm tin, ý
chí, hành động, tạo sự vững chắc thường xuyên về tư tưởng cho bộ đội. Với hơn
2.000 trận đánh lớn, nhỏ trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc, lịch sử bộ đội đặc công để lại nhiều kinh nghiệm quý báu trong chiến đấu.
Những bài học kinh nghiệm trong các trận đánh, đặc biệt là vận dụng các hình
thức chiến thuật với cách đánh bí mật tập kích, phá hủy bí mật cùng với những
thủ đoạn luồn sâu, thọc sâu được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo thực sự
là những kinh nghiệm quý báu để các thế hệ đặc công sau này nghiên cứu, học
tập.
Trong
thời gian qua, các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong binh chủng có nhiều đổi
mới hình thức, phương pháp giáo dục truyền thống, bảo đảm linh hoạt, sáng tạo,
sát đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị, phù hợp từng đối tượng. Các đơn vị cũng chủ
động lồng ghép nội dung giáo dục truyền thống trong các buổi sinh hoạt, học
tập, trong từng bài giảng chính trị, gắn công tác giáo dục truyền thống với các
cuộc vận động của đất nước, quân đội, các phong trào thi đua, thi tìm hiểu và
các hoạt động của đơn vị với nhiều mô hình, cách làm linh hoạt, sáng tạo như:
“Mỗi tối một câu hỏi, một đáp án chính trị bổ ích”; “Mỗi tuần kể một câu chuyện
lịch sử”; “Chiến lệ đặc công-nỗi ám ảnh của giặc thù”... Qua đó góp phần hình
thành, bồi đắp lý tưởng, niềm tin, nâng cao bản lĩnh chính trị cho bộ đội.
Kết
hợp cũng với vận dụng nhiều hình thức giáo dục truyền thống phong phú, đa dạng,
tạo sự hấp dẫn như: Tọa đàm, tham quan nhà truyền thống, khu di tích lịch sử,
nghe nhân chứng lịch sử kể chuyện chiến đấu... Kết hợp lồng ghép nội dung giáo
dục lòng yêu nước, niềm tự hào về các thế hệ cán bộ, chiến sỹ đặc công trong
chiến đấu cho bộ đội; thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa-văn
nghệ với đơn vị kết nghĩa, kết hợp tuyên truyền lịch sử bằng hình thức sân khấu
hóa, tạo nhịp cầu nối liền quá khứ và hiện tại, giúp bộ đội dễ tiếp nhận, ghi
nhớ.
Là
một trong những đơn vị được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ tiên phong thực hiện
nhiệm vụ chống khủng bố, tác chiến bảo vệ chủ quyền biển, đảo, cứu hộ-cứu
nạn... xây dựng Binh chủng Đặc công “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên
hiện đại”, huấn luyện giỏi, SSCĐ cao và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình
huống.
Để
giữ vững, phát huy nét truyền thống “đặc biệt tinh nhuệ”, “xuất quỷ nhập thần”,
người chiến sĩ đặc công hiện nay yêu cầu đặt ra cho mỗi cán bộ, chiến sỹ đặc
công phải không ngừng ra sức phấn đấu rèn luyện về mọi mặt. Trước hết, phải rèn
luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp,
tác phong công tác và ý thức tổ chức kỷ luật của mỗi cán bộ, chiến sỹ đặc công
phải thật “tinh nhuệ về chính trị”, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc
và Nhân dân; chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, bất luận trong
mọi điều kiện, hoàn cảnh không để bị động, bất ngờ, mất cảnh giác, sa ngã, nắm
vững âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến
hòa bình”, bạo loạn lật đổ, “phi chính trị hóa” quân đội và đấu tranh ngăn chặn
nhận thức sai trái, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi tổ
chức, con người, nâng cao năng lực, phương pháp tác phong công tác, ý thức tổ
chức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm nêu gương; có dũng khí đấu tranh
tự phê bình và phê bình... Qua đó bảo đảm cho các tổ chức đảng không ngừng nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu trong mọi tình huống.
Bên
cạnh đó, từng cán bộ, chiến sỹ phải chủ động rèn luyện nâng cao trình độ kỹ
thuật, chiến thuật bảo đảm thật thuần thục, điêu luyện, tinh nhuệ, đúng như lời
huấn thị của Bác Hồ lúc sinh thời: “Mưu trí phải đặc biệt linh hoạt. Kỹ thuật
phải đặc biệt huấn luyện thuần thục”. Tăng cường rèn luyện huấn luyện đêm, dã
ngoại dài ngày trong điều kiện khắc nghiệt, nâng cao khả năng cơ động, sinh
tồn, sức chịu đựng (cả về trình độ kỹ thuật, chiến thuật, võ thuật, bắn súng,
nhảy dù của chiến đấu viên); làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện
có; tích cực nghiên cứu, cải tiến mô hình học cụ, phát triển những vũ khí,
trang bị mới bảo đảm đủ, đồng bộ, kịp thời cho các nhiệm vụ.
Cùng
với đó, rèn luyện tính kỷ luật và tác phong chính quy, nhất là kỷ luật trong
huấn luyện, chiến đấu, kỷ luật dân vận; thường xuyên xây dựng tinh thần đoàn
kết nội bộ, tình thương yêu đồng chí, đồng đội, đoàn kết quân dân trong tất cả
các hoạt động và trên mọi địa bàn công tác.
ST tổng hợp
CHỈ CÓ QUỐC GIA VÀ DÂN TỘC LÀ TRƯỜNG TỒN
Sáng sớm đi làm gặp trời
lúc mưa, lúc nắng. Sáng ra đã thay đổi thất thường. Mặc rồi lại cởi, cởi rồi
lại mặc. Nghĩ cũng lạ. Thời nay nhiều lúc cũng vậy, khác hẳn với thời xưa.
Những mối quan hệ cũng kiểu lạ lạ. Nhưng cũng hay.
Rồi cả Việt Nam bây giờ
cũng đã đổi khác, chẳng phải là Cộng Sản như thời xa xưa. Đó là Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam. Thử hỏi có chủ nghĩa Cộng Sản nào lại tôn trọng quyền tư
hữu, cho phép tự do làm ăn, mua bán, và tự do du lịch, rong chơi bất cứ thành
phố nào, vùng quê nào. Nhiều lúc nghĩ mãi vẫn thật sự lạ lạ vì ở thời điểm này
mà còn có những người Việt Nam hải ngoại chống Cộng một cách điên cuồng đến
vậy.
Vẫn biết chẳng có cái gì
là trường cửu cả. Chủ nghĩa hay chế độ luôn luôn biến đổi, nay còn, mai mất.
Chỉ có quốc gia và dân tộc là trường tồn. Và chủ nghĩa hay chế độ nào cũng vậy,
chẳng phải là tuyệt đối tốt. Được cái này thì mất cái nọ. Bởi thế, chủ nghĩa
hay chế độ càng ngày càng cứ biến đổi mãi vô tận để có hiệu quả tốt đẹp hơn
nữa.
Đất nước VN có hơn 96
triệu dân, có quan hệ ngoại giao với hầu hết mọi quốc gia trên toàn thế giới và
là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Việt Nam bây giờ đã đổi khác, chẳng phải là
Cộng Sản như thời xa xưa. Đó là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Ngay ở Mỹ cũng vậy. Chế
độ Tư Bản cũng dần dần thay đổi, tiến gần với chủ nghĩa Xã Hội hơn, chẳng còn
100% là Tư Bản nữa. Những trợ cấp xã hội như welfare, supplemental security
income, footstamps, obama care, medicaid, medicare, phát học bổng cho giới
nghèo… tất cả đang đi đến gần với chủ nghĩa Xã Hội.
Thống kê cho biết những
quốc gia có người dân hạnh phúc nhất là những quốc gia được tổ chức quản trị
theo lối chủ nghĩa Xã Hội, bao gồm những quốc gia nằm ở Bắc Âu như Thụy Điển,
Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Sỹ…
Các ông bà cuồng Trump
bây giờ lại ngày đêm cứ ra rả ghép đảng Dân Chủ với Cộng Sản, trong khi truyền
thông Mỹ chẳng còn nhắc đến Cộng Sản với nỗi khiếp sợ như họ.
Còn nhớ, năm 2016, TT
Barack Obama của đảng Dân Chủ là vị TT thứ 3 của Hoa Kỳ đến thăm VN, đã giúp
thiết lập mối liên hệ giữa hai quốc gia vững mạnh hơn bằng cách công khai bãi
bỏ lệnh cấm vận vũ khí giết người (lethal weapons), cho phép VN mua các vũ khí
này để hiện đại hóa quân sự. Đó là một quyết định có tính chiến thuật để giúp
quốc gia VN có khả năng đối phó với Trung.... (À mà thôi).
Nói gần nói xa không bằng
nói thẳng, Việt Nam giờ đã khác, không phải tuyệt đối tốt, chỉ là tương đối
thôi, nhưng cái tương đối đó cũng đủ cho chúng ta cảm thấy hài lòng, mãn nguyện
xen lẫn tự hào khi được sinh ra, mang dòng máu đỏ da vàng và có hai chữ Việt
Nam trong phần quốc tịch.
Nhưng kẻ chống cộng cực
đoạn phải hiểu rằng, cả cộng sản và tư bản đều ngày một đổi thay, cộng sản ngày
càng hoàn thiện hơn còn tư bản cũng dần thay đổi để tiến gần hơn đến với cộng
sản, tiến gần hơn đến với xã hội chủ nghĩa.
Những thành quả vĩ đại mà
chúng ta đang thấy đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, với tư tưởng
Hồ Chí Minh, chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam - một dân tộc anh hùng, thông
minh và sáng tạo, luôn luôn vượt khó để tiến lên.
Đúng như lời cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã nói: “Những người cộng sản và dân tộc Việt Nam được rèn luyện
theo tấm gương của Hồ Chí Minh phải là những con người từ trong khó khăn nhìn
thấy nhân tố của phát triển, từ trong vấp váp rút được bài học để tiến lên, từ
trong gian nguy tìm ra lối thoát và con đường giành thắng lợi…”./.


