Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022

BẢN LĨNH VIỆT NAM


Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Lavrov đã bị Mỹ và nhiều nước phương Tây tẩy chay tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) diễn ra trong 2 ngày 7-8/7 tại Indonesia.
Ông Lavrov đã rời Indonesia trước khi hội nghị kết thúc. Trước đó, ông cũng nhiều lần rời phòng họp khi ngoại trưởng Mỹ, Đức, Ucraina… phát biểu công kích Nga về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến đang diễn ra tại Ucraina. Ngoại trưởng các nước thành viên G7 đã không có mặt trong bữa tiệc tối ngày 7/7 để phản đối sự có mặt của Nga. Trước khi hội nghị bắt đầu, một số nước cũng kêu gọi loại Nga ra khỏi Nhóm G20, nhưng không thành.
Diễn ra trong bối cảnh mâu thuẫn giữa Nga với Mỹ và các nước đồng minh liên qaun đến cuộc chiến vẫn đang diễn ra quyết liệt tại Ucraina và phương Tây vẫn đang gia tăng các biện pháp trừng phạt toàn diện đối với Nga, việc ông Lavrov bị tẩy chay và cô lập tại Hội nghị G20 là điều có thể hoàn toàn nhìn thấy trước.
Việt Nam tất nhiên cũng hiểu rõ điều này, nhưng ngay trước khi Hội nghị G20 khai mạc Việt Nam vẫn chủ động và trân trọng đón tiếp ông Lavrov sang thăm trong hai ngày 5-6/7. Tại Việt Nam, ông Lavrov được Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, Thủ tướng Phạm Minh Chính và đặc biệt được đích thân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đón tiếp. Chuyến thăm của ông Lavrov tới Hà Nội được thông tin đầy đủ trên các phương tiện truyền thông đại chúng của Việt Nam.
Trên MXH, có rất nhiều những bình luận trái chiều về chuyến thăm Việt Nam của ông Lavrov, đại loại như: “Gặp Nga lúc này là hỏng rồi”, “Ông Lavrov đến Việt Nam nước tôi vào lúc này làm gì? Đất nước tôi đang bình yên, còn Nga đang bị cả thế giới quay lưng. Ông cần gì ở chúng tôi lúc này?”, “Tiếp thế này là đồng lõa với tội phạm”, “Lạ nhỉ, Ngoại trưởng của một nước đang đi xâm lược lại được lãnh đạo Việt Nam đón tiếp trọng thị?”…
Có thể nói, việc ông Lavrov sang thăm Việt Nam và được lãnh đạo Việt Nam đón tiếp chân tình cũng như việc Việt Nam bỏ phiếu trắng và phiếu chống đối với một số nghị quyết của LHQ lên án Nga cách đây vài tháng đã gây nên sự chú ý đặc biệt, thậm chí khó hiểu trong dư luận. Một số đối tượng chống đối, cơ hội lợi dụng những việc này để xuyên tạc đường lối, quan điểm, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Chúng cho rằng, chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại cân bằng quan hệ với các nước lớn của Việt Nam là “đường lối trung dung”, là “di dây nguy hiểm”.
Quan điểm, thái độ của mình đối với vấn đề Nga đưa quân vào Ucraina và những vấn đề liên quan đã được Bộ Ngoại giao và lãnh đạo Việt Nam nói rõ nhiều lần tại các diễn đàn quốc tế và cuộc gặp cấp cao. Việt Nam lên án chính trị cường quyền, phản đối các nước lớn sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế; trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược quyết liệt, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương LHQ. Ngay tại buổi tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Nga Lavrov, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Liên bang Nga, đồng thời nói rõ quan điểm của Việt Nam về sự cần thiết giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng đối thoại và các biện pháp hòa bình.
Trên MXH, rất nhiều người bày tỏ thái độ đồng tình đối với việc Việt Nam tiếp đón ông Lavrov tại thời điểm nhạy cảm này, ủng hộ đường lối đối ngoại nhất quán, rõ ràng của Việt Nam, đánh giá cao bản lĩnh của lãnh đạo Việt Nam. “Việc này là bình thường trong quan hệ ngoại giao thôi”, “Thích tiếp ai là quyền của Việt Nam”, “Nga là người bạn tốt của Việt Nam. Việt Nam đã từng đón tiếp các cựu thù như Mỹ, Pháp, tại sao lại không đón tiếp một người bạn tốt như Nga”, “Chơi với ai là quyền của Việt Nam. Đảng và Nhà nước Việt Nam rất sáng suốt.”, “Cứ lợi ích quốc gia là trên hết, sợ gì bố con thằng nào”…
Trong suốt những năm qua, đặc biệt là trong bối cảnh các chuyển dịch địa chính trị, địa kinh tế và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đang tạo ra những thay đổi bước ngoặt trong cục diện thế giới với nhiều nhân tố khó dự báo, Việt Nam vẫn kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy với các nước trên thế giới, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việt Nam luôn “giương cao ngọn cờ hòa bình, kiểm soát bất đồng, tìm kiếm các giải pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, bảo đảm lợi ích quốc gia”.
Bản lĩnh vững vàng, cách xử lí khôn khéo, linh hoạt những vấn đề và các mối quan hệ chiến lược phức tạp trên cơ sở đường lối đối ngoại nhất quán đã mang lại cho Việt Nam một vai trò và vị thế quốc tế ngày càng vững mạnh như hiện nay./.

 


KHÔNG CÓ CHUYỆN 20 NĂM "NỘI CHIẾN" Ở VIỆT NAM

 

Trong thời gian qua, trên các trang mạng xã hội nổi lên vấn đề ca sỹ Khánh Ly trở về Việt Nam sau hơn 40 năm, Khánh Ly đã thể hiện ca khúc Gia tài của Mẹ - Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn với đoạn “Hai mươi năm nội chiến từng ngày”.

Vậy có phải Việt Nam xảy ra nội chiến trong vòng 20 năm? Hay đây là hành động xuyên tạc lịch sử một cách kín đáo, vờ như là vô tình nhằm vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1975? Chúng ta cần nhận thức và hiểu rõ bản chất của vấn đề này.

TRƯỚC TIÊN, cần khẳng định ngay rằng cuộc chiến tranh 1954 – 1975 tại Việt Nam là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam với bên chiến thắng là dân tộc Việt Nam, bên thua cuộc là Đế quốc Mỹ và tay sai, cụ thể ở đây là Chính quyền “Việt Nam Cộng hòa” do Mỹ dựng lên. Luận điệu cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “cuộc nội chiến” mà bên thắng cuộc là “miền Bắc”, còn bên thua cuộc là “miền Nam” chỉ là lý sự cùn của các thế lực thù địch, một nhóm đối tượng chống cộng nào đó còn cay cú, ôm hận vì không còn được tận hưởng danh phận của kẻ làm tay sai, hạ thấp ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4/1975 và ngụy biện cho quãng đời làm tay sai cho Mỹ.

Trên thực tế, Mỹ đã có những động thái can thiệp vào nội bộ Việt Nam từ những năm 50 của thế kỷ XX. Trong suốt 21 năm tham chiến tại Việt Nam, nguồn viện trợ của Mỹ đóng vai trò vô cùng to lớn cho nhiệm vụ duy trì cuộc chiến. Theo thống kê, số viện trợ của Mỹ cho chính quyền ngụy Sài Gòn trong 21 năm là 26 tỷ đôla, con số cao nhất của viện trợ Mỹ mà không có bất cứ nước nào khác trên thế giới nhận được kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ II. Nước Mỹ đã phải huy động tới 70% biên chế lục quân, 60% số lính thủy đánh bộ, 40% biên chế hải quân và 60% biên chế không quân, cùng với 22.000 xí nghiệp trên đất Mỹ. Số quân Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam có lúc cao nhất đã lên đến hơn nửa triệu người; còn số thanh niên Mỹ trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã lên tới 6,5 triệu lượt người.

Những con số trên cho thấy đây không phải là cuộc chiến của những người Việt Nam với nhau. Nhiều học giả phương Tây và chính khách Hoa Kỳ cũng thừa nhận đây là cuộc chiến của người Mỹ xâm lược Việt Nam và người Việt Nam chống lại sự xâm lược của người Mỹ.

THỨ HAI, về bản chất của chế độ “Việt Nam Cộng hòa”: Năm 1954, Ngô Đình Diệm được Mỹ đưa về miền Nam làm Thủ tướng của Quốc trưởng Bảo Đại. Một năm sau đó, Diệm làm cái gọi là “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại và lập nên “Việt Nam Cộng hòa”. Tuy nhiên, khác với nền tảng và tính tự chủ của một quốc gia độc lập, thực tế cho thấy, đô la, vũ khí, cố vấn Mỹ là yếu tố nền móng cho việc xây dựng và củng cố chính quyền “Việt Nam Cộng hoà” do Mỹ dựng lên. Đó chính là nguồn sống của chính quyền “Việt Nam Cộng hoà”, không có những nguồn sống ấy, thì chính quyền này không thể tồn tại được. Minh chứng rõ nhất là việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam sau hiệp định Paris năm 1973, các nguồn viện trợ dần bị cắt bỏ và chỉ sau đó 02 năm, chính quyền “Việt Nam Cộng hoà” sụp đổ sau chiến thắng 30/4/1975.

THỨ BA, nếu chỉ là cuộc chiến nội bộ của người Việt Nam thì nhân dân khắp thế giới và kể cả người dân Mỹ đã không có hành động phản chiến quyết liệt. Trong suốt cuộc chiến, có hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam, hơn 50 nước có phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam, hơn 160 triệu người ở nhiều nước ghi tên tình nguyện sang Việt Nam đánh Mỹ, 83 cơ quan đại diện Mỹ ở các nước bị nhân dân đập phá… Tại Mỹ, có nhiều công dân Mỹ tự thiêu để phản đối cuộc chiến, trong đó có nhân vật nổi tiếng là Norman Morison; hơn 200 tổ chức chống chiến tranh xâm lược trên khắp các bang; 16/27 triệu thanh niên Mỹ tới tuổi quân dịch đã chống lệnh quân dịch; 75.000 người Mỹ bỏ ra nước ngoài vì không chịu nhập ngũ và đấu tranh phản chiến…

Qua vụ việc của ca sỹ Khánh Ly, chúng ta có thể thấy nghệ thuật là một nét đẹp, một phạm trù không thể thiếu trong tất cả các mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, sử dụng nghệ thuật không đúng cách, sử dụng nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử là một hành động phải lên án, đi ngược lại sự phát triển của xã hội. Thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần phải có sự kiểm duyệt chặt chẽ về nội dung của các tác phẩm nghệ thuật trước khi phát hành cũng như trình diễn trước công chúng cũng như có chế tài xử phạt mạnh tay đối với hành vi sử dụng nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Về phía ca sỹ Khánh ly, một người từng đứng giữa “Little Sài Gòn” tuyên bố “không bao giờ về Việt Nam kiếm tiền rồi lương tâm chống cộng luôn chảy trong máu tôi”… Giờ ở cái tuổi trên bảy mươi, được Đảng, Nhà nước tạo điều kiện trở về quê hương nên tập trung hát những ca khúc đúng nghĩa nghệ thuật và đừng đụng chạm gì đến lịch sử theo kiểu phiến diện vì đây là Việt Nam, là nơi lịch sử được giữ gìn, là nơi mà người Việt Nam đoàn kết đánh ngoại bang chứ KHÔNG BAO GIỜ LÀ NỘI CHIẾN!

Xây dựng Luật phòng thủ dân sự vì cuộc sống bình yên của nhân dân

Dự thảo Luật Phòng thủ dân sự (PTDS) đang được các cơ quan chức năng triển khai, hoàn thiện, lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Đây là bộ luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động PTDS, bảo đảm cuộc sống bình yên cho nhân dân. 

LỊCH SỬ TRỞ THÀNH MÔN HỌC "BẮT BUỘC": CẤP TỐC SỬA CHƯƠNG TRÌNH TRONG 1 THÁNG


Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Hữu Độ vừa ký ban hành kế hoạch về việc thực hiện môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, trong đó nêu rõ phần nội dung bắt buộc.
Theo đó, Bộ GD-ĐT xây dựng, lựa chọn, điều chỉnh, thẩm định chương trình Lịch sử cấp THPT phần bắt buộc với thời lượng 52 tiết/năm học (lớp 10, lớp 11, lớp 12) để dạy cho tất cả học sinh.
Cùng đó, biên soạn, thẩm định tài liệu tập huấn thực hiện chương trình Lịch sử bắt buộc; Tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán các Sở GD-ĐT về hướng dẫn thực hiện chương trình Lịch sử phần bắt buộc 52 tiết đối với lớp 10, lớp 11, lớp 12.
Bộ GD-ĐT yêu cầu Vụ Giáo dục Trung học thành lập Ban phát triển chương trình Lịch sử cấp THPT và thực hiện nhiệm vụ xây dựng, rà soát, điều chỉnh chương trình Lịch sử cấp THPT; biên soạn tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình. Thời gian hoàn thành các việc này trước ngày 25/8/2022.
Ngoài ra, thành lập và tổ chức thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình Lịch sử cấp THPT phần bắt buộc đối với lớp 10, lớp 11, lớp 12. Thời gian hoàn thành trước ngày 15/8/2022.
Bộ GD-ĐT cũng yêu cầu các Sở GD-ĐT triển khai tập huấn đại trà về tổ chức dạy học chương trình Lịch sử cấp THPT phần bắt buộc cho cán bộ quản lý, giáo viên để nâng sự phù hợp với điều kiện địa phương.
Như vậy, Lịch sử từ môn học lựa chọn theo thiết kế ở cấp THPT chương trình giáo dục phổ thông mới, giờ đây trở thành môn học vừa có phần bắt buộc, vừa có phần lựa chọn.
Ngoài 52 tiết bắt buộc/năm ở cấp THPT mà tất cả các học sinh đều phải học, Lịch sử cũng nằm trong nhóm môn học lựa chọn (học sinh nào có mong muốn học thêm) ở cụm môn Khoa học xã hội (gồm Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Kinh tế và Pháp luật).
Ở phần nội dung tự chọn này, các chuyên đề, chủ đề của môn Lịch sử cấp THPT là những nội dung chuyên sâu, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các nội dung cơ bản ở cấp THCS.
Trao đổi với VietNamNet, một hiệu trưởng ở Hà Nội cho hay, thời lượng 52 tiết Lịch sử bắt buộc/năm học không ít hơn nhiều so với chương trình cũ.
-------------------
Nguồn: vietnamnet
Có thể là hình ảnh về văn bản
26
14 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

CUỘC CHIẾN BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC: VỊ XUYÊN NGÀY GIỖ TRẬN 12/7/1984, NỖI ĐAU KHÔNG THỂ NÀO NGUÔI NGOAI.

 

Gần 600 người lính thuộc Sư đoàn 356 đã anh dũng hi sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tại mặt trận Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang vào ngày 12/07/1984.

Rạng sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc ồ ạt xua quân xâm lược tuyến biên giới phía Bắc nước ta mở màn cho cuộc chiến 30 ngày trên địa bàn các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn (nay là tỉnh Lào Cai và Yên Bái), Lai Châu, Hà Tuyên (nay là tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang), Quảng Ninh và những xung đột kéo dài suốt 10 năm sau đó.

Như vậy, sau ngày 17/02/1979, cả 7 tỉnh biên giới phía Bắc đều có chiến tranh, nhưng thời điểm ác liệt nhất là giai đoạn 1984-1989 trên mặt trận Vị Xuyên. Nhiều sư đoàn và các đơn vị chủ lực của Quân khu, Bộ Quốc phòng và các đơn vị bộ đội, nhân dân tỉnh Hà Tuyên (Hà Giang và Tuyên Quang) đã trực tiếp tham gia chiến đấu.

Thiếu tướng Sùng Thìn Cò, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 2 cho biết: Có những trận đánh, chúng ta hy sinh cũng khá nhiều, như trận đánh ngày 12/07/1984 với mật danh MB84. Riêng Sư đoàn 356 đã có tới gần 600 chiến sỹ hy sinh chỉ trong một ngày. Ngày 12/07 vì thế được coi là ngày “Giỗ trận” Vị Xuyên.

Mặt trận Vị Xuyên từ năm 1979 – 1989 đã có 16 Sư đoàn, 4 Lữ đoàn và nhiều Trung đoàn của Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia chiến đấu.

Suốt một dải từ Điểm cao 1509, qua Bình độ 1200 + 1000 đến các Điểm cao 772, 685, ngã ba Thanh Thủy (Hà Giang)… đã diễn ra hàng nghìn trận đánh ác liệt với những cái tên nghe qua đã dựng tóc gáy như: Thung lũng Gọi Hồn, lò vôi Thế Kỷ, đồi Thịt Băm, thác Âm Phủ,… để nói về những ngọn núi, thung lũng bao quanh Thanh Thủy.

Những cao điểm từng là nơi diễn ra các trận đánh ác liệt trên mặt trận Vị Xuyên nhìn từ Đài hương 468.

Biết bao chiến sỹ đã anh dũng hy sinh để giữ vững từng tấc đất biên cương của Tổ quốc, hài cốt của nhiều chiến sỹ vẫn còn nằm lại dưới thung lũng sâu, trong khe đá chưa quy tập được. "Sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử" đã trở thành phương châm sống và chiến đấu của người lính Vị Xuyên năm xưa.

Năm 2016, vào ngày "Giỗ trận" của Sư đoàn 356, trước đài hương đồng đội, nhạc sỹ Trương Quý Hải đã xúc động cất lên những giai điệu "Về đây đồng đội ơi" tưởng nhớ những người lính đã ngã xuống, mãi mãi ở tuổi đôi mươi. Đến nay, sáng tác này của nhạc sỹ Trương Quý Hải, cũng là một cựu chiến binh thuộc Sư đoàn 356 năm nào, đã trở thành một bài ca bất hủ để tưởng nhớ những liệt sỹ anh dũng hy sinh trên mặt trận biên giới phía Bắc giai đoạn 1979-1989. Lời ca và giai điệu bài hát mỗi khi cất lên như chạm vào cảm xúc nghẹn ngào của tất cả mọi người dân đất Việt.

Như lời nhạc sĩ từng kể lại, là người trực tiếp tẩm liệm cho cả trăm liệt sĩ trong những ngày tháng khốc liệt đó, cho đến hôm nay, hình ảnh những người lính trẻ măng với những nụ cười hồn nhiên, hàng ngày vẫn vui đùa với trẻ nhỏ, bỗng chốc ngã xuống trước làn đạn địch vẫn không thể nào phai trong tâm trí anh.

Nhạc sĩ viết bài hát “Về đây đồng đội ơi” chỉ trong một ngày ngập tràn cảm xúc cùng anh em đồng đội tính chuyện lập cây hương ở cao điểm 468 tưởng nhớ những người bạn đã hy sinh. Bài hát như tiếng gọi thiết tha tới những người bạn chung chiến hào đã mãi ra đi trong cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ quốc.

Giờ đây, Đài hương tại cao điểm 468, xã Thanh Thủy, một địa chỉ văn hóa, du lịch tâm linh không chỉ của tỉnh Hà Giang mà còn của cả nước, là nơi để các đồng đội và nhân dân cả nước đến thắp hương tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống tại mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang.

Các liệt sỹ hy sinh trên mặt trận Vị Xuyên thuộc 32 tỉnh, thành từ Bình Trị Thiên (nay là các tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) trở ra. Nhắc đến Vị Xuyên, không thể không nhắc đến nghĩa trang liệt sỹ Vị Xuyên, nơi yên nghỉ của gần 1.800 người trong tổng số hơn 4.000 người đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất biên cương. Trong số đó, có tới hơn 200 ngôi mộ liệt sỹ “chưa biết tên”, và cả ngôi mộ tập thể của các liệt sỹ hy sinh tại hang Sập mới được quy tập về đây.

Trong một chuyến công tác lên Nhà tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ mặt trận Vị Xuyên, PV Infonet đã được bà Lê Thị Thế (Phú Thọ), mẹ của liệt sỹ Trần Trung Thực, kể lại: “Khi lên đến mặt trận Hà Tuyên, con trai tôi có gửi thư về dặn mẹ đừng gửi thư nữa, con không có hòm thư đâu, trong thư nó bảo: "Mẹ yêu quý của con, con tạm biệt mẹ. Các em con còn bé nhỏ quá không làm gì được đỡ đần cho mẹ. Các em đừng khóc, đừng quấy mẹ nữa, anh về sẽ mua kẹo cho các em". Nó viết thư về, các em nó cứ khóc nức nở.

Liệt sỹ Trần Trung Thực nhập ngũ năm 1980 sau khi vừa học xong cấp 3, thuộc Trung đoàn 149, Sư đoàn 356 và hy sinh năm 1985. Đến nay gia đình vẫn chưa tìm được hài cốt liệt sỹ Thực.

Chiến tranh bảo vệ biên giới đã lùi xa, nhưng ký ức về nó vẫn không hề phai nhạt trong tâm trí người Việt cũng như những chiến sỹ đã dành trọn tuổi thanh xuân để giữ gìn từng tấc đất của Tổ quốc. Ông Hoàng Thế Cương (Hà Giang), nguyên Phó trưởng ban Tác chiến, Sư đoàn 356 kể:

“Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ về những người đồng đội đã anh dũng hy sinh. Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Ninh là người đã có lời thề khắc trên báng súng: “Sống bám đá, chết hóa đá thành bất tử”. Anh là Trung đội trưởng chỉ huy đơn vị rất anh dũng, dù bị thương nhiều lần nhưng vẫn bám trụ đến cùng và chỉ huy các chiến sỹ nhiều lần ngăn chặn cuộc tiến công của quân địch. Sau đó anh được anh em đồng đội đưa về hang Suối Cụt và hy sinh đúng vào đêm 29 Tết Nguyên đán năm 1985, sau trận đánh trên cao điểm 685.

Nhiều đồng đội xung phong nhập ngũ khi tuổi đời còn rất trẻ, đa số ở độ tuổi 17-19. Trong ba lô của những đồng chí ấy, những kỷ vật để lại chủ yếu là những kỷ niệm về người mẹ, về gia đình và trường lớp, chứ không hề có những tấm hình của người bạn gái nơi hậu phương.”

Nhắc đến những ngày ác liệt đó, bà Trần Thị Thủy (Hải Phòng), Y tá Tiểu đoàn Quân y, Sư đoàn 314, vẫn không giấu nổi niềm tự hào xen lẫn xúc động:“Ước mơ của tôi cũng trở thành hiện thực khi tôi được nhập ngũ năm 1980 và được cử đi học ngành quân y, lúc đó đã 22 tuổi nhưng tôi chỉ có 34 kg. Sau đó, tôi được phục vụ mặt trận Vị Xuyên với nhiệm vụ chăm sóc, cứu chữa cho anh em thương, bệnh binh.

Tôi vẫn nhớ những kỷ niệm đi xin gạo về nấu cháo cho anh em thương binh, những người tuy tuổi đời còn rất trẻ nhưng râu tóc họ để rất dài do không có điều kiện cắt, và cũng không có nước để tắm gội. Kỷ niệm không thể quên được là khi anh em thương binh được chuyển xuống, chúng tôi coi nhau như những người thân thiết, coi nhau như tất cả cùng chung một quê, nên chỉ gọi nhau với một cái tên “Quê”, cứ thế gọi “Quê ơi ăn đi”, “Quê ơi cố gắng giành lại sự sống nhé”.

Có những người đã ra đi và nằm rải rác ở khắp các cánh rừng, ở những rìa hang, khe đá mà chưa từng một lần được đồng đội thắp hương. Bây giờ có được nhà tưởng niệm để anh em về sinh hoạt là tôi cảm thấy phần nào bớt nguôi ngoai đi sự xót xa, tôi cũng cảm nhận được rằng đồng đội của mình đỡ tủi hờn”.

Bức ảnh chụp hai người lính thông tin Đặng Ngọc Thu (Hà Nội) và Phạm Xuân Thanh (Yên Bái) bên bờ sông Lô (Hà Giang) năm 1984. Sau 32 năm bặt tin, hai người đồng đội đã tìm gặp lại nhau vào năm 2016. Ảnh: Phạm Xuân Thanh.

Là chiến sỹ từng cầm súng chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc giai đoạn 1979-1989, Thiếu tướng Sùng Thìn Cò, Phó Tư lệnh Quân khu 2, cho biết, tại các điểm cao thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, nơi xảy ra những trận chiến ác liệt tại mặt trận Vị Xuyên năm xưa, do điều kiện chiến tranh, bom mìn, hiện nay chưa thể quy tập hết liệt sỹ về các địa phương.

“Còn khoảng 2.500 liệt sỹ đang nằm tại đây, hàng ngày chúng ta đứng dưới nhìn lên đỉnh núi, biết rằng các đồng chí đang nằm đó nhưng chưa thể đưa về. Đã hơn 30 năm qua, thân nhân gia đình các liệt sỹ có người còn, người mất, các cụ chỉ mong ước trước khi nhắm mắt còn được thấy con mình trở về nhà”,Thiếu tướng Sùng Thìn Cò nói.

Nguồn: Tổng hợp

RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT ĐẶC BIỆT TINH NHUỆ CỦA BỘ ĐỘI ĐẶC CÔNG VIỆT NAM

 

Trong các cuộc kháng chiến, bộ đội đặc công đã khẳng định sự trưởng thành, lớn mạnh không ngừng và khả năng chiến đấu xuất sắc của mình. Truyền thống quý báu đó đang được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đặc công hôm nay kế thừa, phát huy.

Binh chủng Đặc công là một binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ra đời từ sự kế thừa, phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc: “Lấy ít đánh nhiều, lấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông”.

Trong buổi lễ thành lập Binh chủng Đặc công, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải có cố gắng đặc biệt. Các chiến sĩ đặc công được tin tưởng đặc biệt... Mưu trí phải đặc biệt linh hoạt. Kỹ thuật phải đặc biệt huấn luyện thuần thục. Lập trường chính trị phải đặc biệt vững chắc... Kỷ luật phải đặc biệt nghiêm minh... Bất kỳ nhiệm vụ gì, bất kỳ nhiệm vụ đặc biệt nào cũng phải hoàn thành và hoàn thành cho tốt...”. Bằng một loạt chữ “đặc biệt”, Bác Hồ đã khái quát một cách toàn diện, sâu sắc về phẩm chất, văn hóa riêng có của bộ đội đặc công, đồng thời chỉ ra nguồn gốc, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, cách đánh cùng những yêu cầu về xây dựng, chiến đấu của bộ đội đặc công.

Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ bộ đội đặc công bằng trí thông minh, tinh thần quả cảm, đoàn kết, sáng tạo, không quản ngại gian khổ, hy sinh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, khẳng định được vị trí, vai trò là lực lượng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của QĐND Việt Nam. BCĐC vinh dự được Đảng, Nhà nước hai lần phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và 16 chữ vàng truyền thống: “Đặc biệt tinh nhuệ-Anh dũng tuyệt vời-Mưu trí táo bạo- Đánh hiểm thắng lớn”, đó là bản sắc của đặc công Việt Nam.

Binh chủng Đặc công là binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ. Sức mạnh của bộ đội đặc công là sức mạnh tổng hợp từ bản lĩnh, ý chí, quyết tâm; từ cách đánh đặc công-nghệ thuật tác chiến “bí mật, bất ngờ, luồn sâu, đánh hiểm”, “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn”, tổ chức lực lượng, vũ khí trang bị... Do đó, để tạo ra sức mạnh, làm nên chiến thắng của bộ đội đặc công, một trong những yếu tố rất quan trọng để tạo nên sức mạnh chính trị tinh thần. Để xây dựng sức mạnh chính trị tinh thần trước, trong và sau trận đánh, cần thực hiện tốt các nội dung, biện pháp. Đó là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm cho cán bộ, chiến sỹ. Phát huy vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, chỉ huy, các tổ chức quần chúng trong đơn vị. Tăng cường tổ chức các phong trào thi đua nhằm xây dựng sức mạnh chính trị tinh thần cho cán bộ, chiến sỹ, sẵn sàng đánh thắng kẻ địch trong mọi tình huống. Thường xuyên bồi dưỡng tư tưởng, củng cố niềm tin, rèn luyện ý chí chiến đấu cho bộ đội.

Trong điều kiện hiện nay, có ý kiến cho rằng bản lĩnh của bộ đội đặc công đang phần nào bị mai một, do ít được cọ xát thực tế. Có thể khẳng định, ý kiến trên là không đúng. Vì bản lĩnh của bộ đội đặc công thời chiến cũng như thời bình đều phải trải qua huấn luyện, rèn luyện, có thể nói là khổ luyện, công tác và chiến đấu trong môi trường mang tính đặc thù. Xuất phát từ cách đánh-nghệ thuật tác chiến, tổ chức xây dựng lực lượng, vũ khí trang bị, địa bàn hoạt động, đối tượng tác chiến, nên trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) luôn mang tính đặc thù, đòi hỏi phải có sự khổ luyện đặc biệt để bảo đảm cho mỗi cán bộ, chiến sỹ đặc công phải đạt được yêu cầu: Lập trường chính trị phải đặc biệt vững chắc, mưu trí phải đặc biệt linh hoạt, kỹ-chiến thuật phải huấn luyện đặc biệt thuần thục, kỷ luật phải đặc biệt nghiêm minh... Theo đó, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh chủng Đặc công thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện, khả năng SSCĐ cho cán bộ, chiến sỹ ; bám sát phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, theo hướng đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế, sát đối tượng tác chiến, phù hợp cách đánh đặc công và vũ khí có trong biên chế. Cùng với đó, kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật với diễn tập hiệp đồng chiến đấu, xử lý các tình huống nhằm nâng cao khả năng cơ động SSCĐ trên các địa hình, trong mọi điều kiện thời tiết.

Trong đó, xác định, trọng tâm của công tác huấn luyện, SSCĐ là nâng cao chất lượng huấn luyện võ thuật, bắn súng, nhảy dù. Nhất là lực lượng chống khủng bố, bảo đảm phải đặc biệt thuần thục mọi kỹ năng. Trong huấn luyện, Đảng ủy, Bộ tư lệnh binh chủng hết sức coi trọng việc nghiên cứu, phát triển nghệ thuật tác chiến đặc công, phát huy trí tuệ của mọi trong nghiên cứu, cải tiến, sáng chế mô hình học cụ, vũ khí, trang bị kỹ thuật phục vụ cho huấn luyện, SSCĐ. Đồng thời tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng mua sắm một số vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, đặc chủng, phù hợp cách đánh, đáp ứng yêu cầu tác chiến của bộ đội đặc công trong tình hình mới. Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp trong huấn luyện, đến nay, cán bộ, chiến đấu viên, chiến sĩ của binh chủng đều có bản lĩnh vững vàng, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật điêu luyện, tinh nhuệ, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống, bảo đảm luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu “đặc biệt tinh nhuệ” của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Đồng thời kết hợp tuyên truyền giáo dục lịch sử, truyền thống, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu là nội dung, biện pháp cơ bản nhất để xây dựng niềm tin, ý chí, hành động, tạo sự vững chắc thường xuyên về tư tưởng cho bộ đội. Với hơn 2.000 trận đánh lớn, nhỏ trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lịch sử bộ đội đặc công để lại nhiều kinh nghiệm quý báu trong chiến đấu. Những bài học kinh nghiệm trong các trận đánh, đặc biệt là vận dụng các hình thức chiến thuật với cách đánh bí mật tập kích, phá hủy bí mật cùng với những thủ đoạn luồn sâu, thọc sâu được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo thực sự là những kinh nghiệm quý báu để các thế hệ đặc công sau này nghiên cứu, học tập.

Trong thời gian qua, các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong binh chủng có nhiều đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục truyền thống, bảo đảm linh hoạt, sáng tạo, sát đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị, phù hợp từng đối tượng. Các đơn vị cũng chủ động lồng ghép nội dung giáo dục truyền thống trong các buổi sinh hoạt, học tập, trong từng bài giảng chính trị, gắn công tác giáo dục truyền thống với các cuộc vận động của đất nước, quân đội, các phong trào thi đua, thi tìm hiểu và các hoạt động của đơn vị với nhiều mô hình, cách làm linh hoạt, sáng tạo như: “Mỗi tối một câu hỏi, một đáp án chính trị bổ ích”; “Mỗi tuần kể một câu chuyện lịch sử”; “Chiến lệ đặc công-nỗi ám ảnh của giặc thù”... Qua đó góp phần hình thành, bồi đắp lý tưởng, niềm tin, nâng cao bản lĩnh chính trị cho bộ đội.

Kết hợp cũng với vận dụng nhiều hình thức giáo dục truyền thống phong phú, đa dạng, tạo sự hấp dẫn như: Tọa đàm, tham quan nhà truyền thống, khu di tích lịch sử, nghe nhân chứng lịch sử kể chuyện chiến đấu... Kết hợp lồng ghép nội dung giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào về các thế hệ cán bộ, chiến sỹ đặc công trong chiến đấu cho bộ đội; thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa-văn nghệ với đơn vị kết nghĩa, kết hợp tuyên truyền lịch sử bằng hình thức sân khấu hóa, tạo nhịp cầu nối liền quá khứ và hiện tại, giúp bộ đội dễ tiếp nhận, ghi nhớ.

Là một trong những đơn vị được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ tiên phong thực hiện nhiệm vụ chống khủng bố, tác chiến bảo vệ chủ quyền biển, đảo, cứu hộ-cứu nạn... xây dựng Binh chủng Đặc công  “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại”, huấn luyện giỏi, SSCĐ cao và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

Để giữ vững, phát huy nét truyền thống “đặc biệt tinh nhuệ”, “xuất quỷ nhập thần”, người chiến sĩ đặc công hiện nay yêu cầu đặt ra cho mỗi cán bộ, chiến sỹ đặc công phải không ngừng ra sức phấn đấu rèn luyện về mọi mặt. Trước hết, phải rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và ý thức tổ chức kỷ luật của mỗi cán bộ, chiến sỹ đặc công phải thật “tinh nhuệ về chính trị”, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, bất luận trong mọi điều kiện, hoàn cảnh không để bị động, bất ngờ, mất cảnh giác, sa ngã, nắm vững âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, “phi chính trị hóa” quân đội và đấu tranh ngăn chặn nhận thức sai trái, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi tổ chức, con người, nâng cao năng lực, phương pháp tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm nêu gương; có dũng khí đấu tranh tự phê bình và phê bình... Qua đó bảo đảm cho các tổ chức đảng không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu trong mọi tình huống.

Bên cạnh đó, từng cán bộ, chiến sỹ phải chủ động rèn luyện nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật bảo đảm thật thuần thục, điêu luyện, tinh nhuệ, đúng như lời huấn thị của Bác Hồ lúc sinh thời: “Mưu trí phải đặc biệt linh hoạt. Kỹ thuật phải đặc biệt huấn luyện thuần thục”. Tăng cường rèn luyện huấn luyện đêm, dã ngoại dài ngày trong điều kiện khắc nghiệt, nâng cao khả năng cơ động, sinh tồn, sức chịu đựng (cả về trình độ kỹ thuật, chiến thuật, võ thuật, bắn súng, nhảy dù của chiến đấu viên); làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có; tích cực nghiên cứu, cải tiến mô hình học cụ, phát triển những vũ khí, trang bị mới bảo đảm đủ, đồng bộ, kịp thời cho các nhiệm vụ.

Cùng với đó, rèn luyện tính kỷ luật và tác phong chính quy, nhất là kỷ luật trong huấn luyện, chiến đấu, kỷ luật dân vận; thường xuyên xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ, tình thương yêu đồng chí, đồng đội, đoàn kết quân dân trong tất cả các hoạt động và trên mọi địa bàn công tác.

ST tổng hợp

CHỈ CÓ QUỐC GIA VÀ DÂN TỘC LÀ TRƯỜNG TỒN

 

Sáng sớm đi làm gặp trời lúc mưa, lúc nắng. Sáng ra đã thay đổi thất thường. Mặc rồi lại cởi, cởi rồi lại mặc. Nghĩ cũng lạ. Thời nay nhiều lúc cũng vậy, khác hẳn với thời xưa. Những mối quan hệ cũng kiểu lạ lạ. Nhưng cũng hay.

Rồi cả Việt Nam bây giờ cũng đã đổi khác, chẳng phải là Cộng Sản như thời xa xưa. Đó là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Thử hỏi có chủ nghĩa Cộng Sản nào lại tôn trọng quyền tư hữu, cho phép tự do làm ăn, mua bán, và tự do du lịch, rong chơi bất cứ thành phố nào, vùng quê nào. Nhiều lúc nghĩ mãi vẫn thật sự lạ lạ vì ở thời điểm này mà còn có những người Việt Nam hải ngoại chống Cộng một cách điên cuồng đến vậy.

Vẫn biết chẳng có cái gì là trường cửu cả. Chủ nghĩa hay chế độ luôn luôn biến đổi, nay còn, mai mất. Chỉ có quốc gia và dân tộc là trường tồn. Và chủ nghĩa hay chế độ nào cũng vậy, chẳng phải là tuyệt đối tốt. Được cái này thì mất cái nọ. Bởi thế, chủ nghĩa hay chế độ càng ngày càng cứ biến đổi mãi vô tận để có hiệu quả tốt đẹp hơn nữa.

Đất nước VN có hơn 96 triệu dân, có quan hệ ngoại giao với hầu hết mọi quốc gia trên toàn thế giới và là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Việt Nam bây giờ đã đổi khác, chẳng phải là Cộng Sản như thời xa xưa. Đó là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Ngay ở Mỹ cũng vậy. Chế độ Tư Bản cũng dần dần thay đổi, tiến gần với chủ nghĩa Xã Hội hơn, chẳng còn 100% là Tư Bản nữa. Những trợ cấp xã hội như welfare, supplemental security income, footstamps, obama care, medicaid, medicare, phát học bổng cho giới nghèo… tất cả đang đi đến gần với chủ nghĩa Xã Hội.

Thống kê cho biết những quốc gia có người dân hạnh phúc nhất là những quốc gia được tổ chức quản trị theo lối chủ nghĩa Xã Hội, bao gồm những quốc gia nằm ở Bắc Âu như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Sỹ…

Các ông bà cuồng Trump bây giờ lại ngày đêm cứ ra rả ghép đảng Dân Chủ với Cộng Sản, trong khi truyền thông Mỹ chẳng còn nhắc đến Cộng Sản với nỗi khiếp sợ như họ.

Còn nhớ, năm 2016, TT Barack Obama của đảng Dân Chủ là vị TT thứ 3 của Hoa Kỳ đến thăm VN, đã giúp thiết lập mối liên hệ giữa hai quốc gia vững mạnh hơn bằng cách công khai bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí giết người (lethal weapons), cho phép VN mua các vũ khí này để hiện đại hóa quân sự. Đó là một quyết định có tính chiến thuật để giúp quốc gia VN có khả năng đối phó với Trung.... (À mà thôi).

Nói gần nói xa không bằng nói thẳng, Việt Nam giờ đã khác, không phải tuyệt đối tốt, chỉ là tương đối thôi, nhưng cái tương đối đó cũng đủ cho chúng ta cảm thấy hài lòng, mãn nguyện xen lẫn tự hào khi được sinh ra, mang dòng máu đỏ da vàng và có hai chữ Việt Nam trong phần quốc tịch.

Nhưng kẻ chống cộng cực đoạn phải hiểu rằng, cả cộng sản và tư bản đều ngày một đổi thay, cộng sản ngày càng hoàn thiện hơn còn tư bản cũng dần thay đổi để tiến gần hơn đến với cộng sản, tiến gần hơn đến với xã hội chủ nghĩa.

Những thành quả vĩ đại mà chúng ta đang thấy đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, với tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam - một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo, luôn luôn vượt khó để tiến lên.

Đúng như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Những người cộng sản và dân tộc Việt Nam được rèn luyện theo tấm gương của Hồ Chí Minh phải là những con người từ trong khó khăn nhìn thấy nhân tố của phát triển, từ trong vấp váp rút được bài học để tiến lên, từ trong gian nguy tìm ra lối thoát và con đường giành thắng lợi…”./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 12/7


“Người ta luôn luôn cần không khí để sống. Người cách mạng và đoàn thể cách mạng cần phê bình và tự phê bình thiết tha như người ta cần không khí.”
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Phê bình”, đăng trên Báo Nhân dân, số 16, ngày 12 tháng 7 năm 1951. Bối cảnh lúc này, Đảng ta củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời mở rộng đoàn kết quốc tế để đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công. Hồ Chí Minh khẳng định phê bình và tự phê bình là một vấn đề có tính nguyên tắc, là quy luật tồn tại và phát triển là công cụ sắc bén để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức đoàn thể cách mạng.
Lời dạy của Bác đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức đảng và đảng viên trong thực hiện tự phê bình và phê bình, giúp cho mỗi đảng viên và tổ chức đảng kịp thời nhận rõ những ưu điểm để phát huy; những hạn chế, khuyết điểm để khắc phục, bảo đảm cho Đảng ta thực sự là một đảng cách mạng chân chính, luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật để có chủ trương, đường lối đúng đắn lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, chấp hành nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng Đảng, Quân ủy Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân đã ban hành đồng bộ các chỉ thị, nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình, coi đó là quy luật phát triển, là vũ khí sắc bén để giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị; vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'