Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022
TRÍ NHỚ CỦA CỤ QUÁ ĐỈNH LUÔN
Đấu tranh, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta - có mối quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Các văn kiện của Đảng thể hiện rõ và nhất quán quan điểm, nhận định, đánh giá về giá trị, cống hiến của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, qua đó, góp phần nâng cao nhận thức chính trị và củng cố niềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo là, vững vàng kiên định và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Nhà nước đã ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó tạo cơ
sở, khuôn khổ pháp lý để ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm. Điều 4 Hiến pháp
năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã
hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng.
Trong các bộ luật, các luật có điều khoản quy định về xử lý hành vi truyền bá,
xuyên tạc tư tưởng và đường lối của Đảng, trong đó có xuyên tạc lãnh tụ Hồ Chí
Minh, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, như tại Điều 117, Điều 331 Bộ luật Hình sự,
sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 10 Luật Xuất bản năm 2012; Điều 9 Luật Báo chí
năm 2016; Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2018…
Công tác đấu tranh, phản bác những luận
điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng có sự tham gia của
cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; trong đó, đi đầu là đội ngũ cán
bộ, đảng viên. Lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh là Ban Chỉ đạo 35 Trung
ương và các cấp, nhất là ban chỉ đạo 35 của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông
tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Hội đồng Lý luận
Trung ương... cùng hệ thống các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản với hàng
trăm tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình và đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa
học, tuyên truyền viên… tạo thành mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và
hiệu quả.
Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ
chức, các bộ, ngành, địa phương trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng
ngày càng chặt chẽ với vai trò “lĩnh xướng” và sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35
Trung ương, ban chỉ đạo 35 các cấp; sự hợp tác, phối hợp giữa các bộ, ngành,
địa phương trong việc trao đổi, cung cấp, xử lý thông tin và phối hợp đấu
tranh.
Phương thức đấu tranh là vạch trần âm
mưu, thủ đoạn của các đối tượng thù địch, phản động và có hình thức, biện pháp
xử lý phù hợp tùy theo mức độ vi phạm; định hướng tuyên truyền, cung cấp đầy đủ
thông tin chính thống, quản lý tốt nguồn thông tin, ngăn chặn kịp thời các
thông tin, tài liệu sai trái; đẩy
mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại
của Chủ tịch Hồ Chí Minh; lấy những kết quả từ sự vận dụng sáng tạo và phát triển
tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng nước ta làm minh chứng sống
động, thuyết phục để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, phản động...
Với các thế lực thù địch, phản động ở
nước ngoài, chúng ta sử dụng, phối hợp các biện pháp, từ tuyên truyền, phản bác
dựa vào luật pháp Việt Nam và quốc tế, đến sử dụng biện pháp ngoại giao để ngăn
chặn từ xa, kịp thời. Đối với các tổ chức phản động lưu vong, các cơ quan chức
năng của Việt Nam đề nghị phía chính quyền nước sở tại phối hợp điều tra, ngăn
chặn. Ngoài ra, dựa theo các căn cứ pháp lý của Việt Nam, như Thông tư số
38/2016/TT-BTTTT và Luật An ninh mạng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã trao
đổi, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài (như Google, Facebook) gỡ
bỏ nhiều thông tin vi phạm. Đối với các đối tượng ở trong nước, tùy vào mức độ
vi phạm, các cơ quan chức năng có biện pháp từ giáo dục, yêu cầu gỡ bỏ, xử phạt
hành chính đến xử lý hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian
mạng, Lực lượng 47 (Bộ Quốc
phòng), các lực lượng thuộc Bộ Công an, như Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục An ninh mạng và phòng, chống
tội phạm sử dụng công nghệ cao... đã vô hiệu hóa được nhiều kế hoạch, “chiến
dịch” của các tổ chức phản động lưu vong, các chương trình truyền hình, phát
thanh tiếng Việt có nội dung bôi nhọ, xuyên tạc lãnh tụ và Đảng, Nhà nước; dựng
“tường lửa” ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa, tư tưởng xấu, độc
trên mạng. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả
của Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương
về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ
thuật (nay hợp nhất thành Ban Chỉ đạo 35 Trung ương); cơ quan thường trực, lực
lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp
đã kiên trì, kiên quyết phản bác lại các luận điệu sai trái, xuyên tạc; định
hướng tuyên truyền kịp thời, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến
hòa bình” của các thế lực thù địch.
Đồng thời, tăng cường hoạt động thông
tin đối ngoại, mở thêm phiên bản tiếng nước ngoài của Báo điện tử Đảng Cộng sản
Việt Nam, Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản…, tích cực đưa những thông tin đầy đủ,
chính thống về Việt Nam đến với bạn bè thế giới và các thế hệ người Việt Nam ở
nước ngoài.
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên
truyền, giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh đến đội ngũ cán bộ, đảng viên và các
tầng lớp nhân dân, góp phần củng cố vững chắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời
sống tinh thần xã hội. Xuất bản các bộ sách lớn như Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập), Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử (10 tập)… với hàng nghìn tư liệu,
sự kiện, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Triển khai các chương trình nghiên
cứu khoa học cấp nhà nước, tiêu biểu như Chương trình khoa học và công nghệ cấp
nhà nước KX. 02, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với 13 đề tài nhánh, cùng hàng
trăm đề tài khoa học các cấp; bên cạnh đó, hàng trăm cuốn sách, hàng nghìn bài
viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được xuất bản, đăng tải trên các phương tiện
truyền thông, qua đó, góp phần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương của
Người trong toàn xã hội, bổ sung những nguồn tư liệu quý, những luận cứ xác
đáng, thuyết phục, tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn những giá trị, tầm
vóc vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhận diện thủ đoạn của các thế lực thù địch, âm mưu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin
Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình là vấn đề mang tính quy luật của một đảng chính trị. Như mọi cuộc chiến khác, muốn giành thắng lợi, người tranh đấu phải hiểu rõ âm mưu và thủ đoạn của đối phương. Thực tế cho thấy, để đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đã sử dụng các thủ đoạn chủ yếu sau đây:
Trước hết, chúng mưu toan phủ
nhận sự tồn tại của “tư tưởng Hồ Chí Minh”, xuyên tạc rằng Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhà tư tưởng. Mặc dù giá
trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm định bằng thắng lợi của cách
mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, được thừa
nhận bởi các học giả ở trong nước và nước ngoài, nhưng các thế lực thù địch,
phản động, phần tử cơ hội chính trị vẫn rêu rao xuyên tạc rằng, “tư tưởng Hồ
Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Để chứng minh cho điều
đó, họ đưa ra các luận chứng mang tính chủ quan, khiên cưỡng, như: Xét về nội
dung, Hồ Chí Minh là người đọc nhiều, nhớ nhiều, giỏi tổng thuật chủ kiến của
người khác và không dẫn nguồn nên người ta cứ tưởng Hồ Chí Minh là người đưa ra
các quan điểm đó, nhưng thực chất thì không phải (?!). Xét về hình thức, Hồ Chí
Minh chỉ có những bức thư ngắn, những bài viết, bài nói ngắn chứ không có các
tác phẩm đồ sộ như các nhà tư tưởng khác (?!). Họ còn rêu rao rằng, trong bối
cảnh ngọn cờ Mác - Lê-nin mất “thiêng” khi chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ liên
tiếp ở các nước Đông Âu, tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam vội
vã “nhào nặn” ra cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” để “gia cố” cho nền tảng tư
tưởng đang “lung lay” của mình. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là sản
phẩm chủ quan, duy ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam với mong muốn giữ lại quyền
lãnh đạo của mình (?!).
Những luận điệu xuyên tạc này của các thế
lực thù địch hoàn toàn đối lập với sự thật lịch sử. Trên thực tế, nhờ có tư
tưởng Hồ Chí Minh - sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở Việt Nam,
cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh
không chỉ làm biến đổi số phận của dân tộc Việt Nam mà còn góp phần làm sụp đổ
chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn thế giới, thúc đẩy “bánh xe lịch sử theo
hướng tiến bộ”(12). Cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều nhà khoa
học và chính khách lớn của thời đại cũng khẳng định giá trị và tầm vóc thời đại
của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ - Gớt Hôn viết: “Đồng
chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và một nhà tư tưởng mácxít-lêninnít
vĩ đại của thế giới. Đồng chí Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng
lúc, đúng yêu cầu lịch sử với những tư tưởng và ý kiến đúng.
Chính vì vậy, đồng chí đã làm ra lịch sử”(13). Giáo sư Nhật Bản
Sing-gô Si-ba-ta đã viết một công trình có tên là “Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng”.
Việc những kẻ chống phá “quay lưng” lại với những bằng chứng hiển nhiên về sự
tồn tại và giá trị to lớn, bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, họ không
xuất phát từ lập luận khoa học, mà từ động cơ chính trị đen tối. Đây là sự cố
tình phủ nhận, “đổi trắng thay đen” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Với đặc tính “tiền hậu bất nhất” của những
kẻ chuyên “nói càn”, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính
trị còn có một giọng điệu hoàn toàn khác là về hình thức bề ngoài “giả
bộ” làm ra vẻ ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận giá trị của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin. Để “hạ bệ” chủ nghĩa Mác - Lê-nin, họ đưa ra nhiều lý
do khác nhau. Đầu tiên, họ vin vào“yếu tố thời đại”, biện bạch rằng
chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với bối cảnh của thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu
thế kỷ XX, chỉ thích hợp với văn minh công nghiệp, trong khi bây giờ nhân loại
đã ở thế kỷ XXI; trong thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, sứ mệnh của
giai cấp công nhân đã khác đi, vai trò của trí thức “lên ngôi” nên chủ nghĩa
Mác - Lê-nin trở nên lỗi thời và bị lịch sử vượt qua. Đây là cách lập luận rất
“hàm hồ”, bởi cho dù thời đại mà chúng ta đang sống rất khác với thời đại mà C.
Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin sống, nhưng những biến đổi của nó vẫn không vượt
ra ngoài những quy luật chung nhất mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin khám phá ra. Với
đặc tính “mở”, chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa
học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà chưa có một chủ nghĩa nào có
thể thay thế.
“Yếu tố địa lý” cũng là một lý do mà các thế lực thù
địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị thù địch vin vào để phủ nhận một cách
vô căn cứ chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Theo họ, chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là
sản phẩm của các nước phương Đông cũng như Việt Nam, mà là học thuyết “ngoại
lai”, “nhập ngoại” từ phương Tây nên không phù hợp với điều kiện xã hội của
Việt Nam - một xã hội phương Đông với nền kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa. Họ còn
“lu loa”: Khi chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã “chết” trên chính quê hương của C. Mác,
của V.I. Lê-nin, rộng hơn là ở cả châu lục mà nó sinh ra, nhưng những người
cộng sản Việt Nam vẫn cứ theo đuổi nó, “hà hơi tiếp sức” cho nó thì đó là tư
duy bảo thủ(?!). Có thể thấy, những kẻ đưa ra luận điệu này đã cố tình không
hiểu sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và tầm nhìn thời đại trong
lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Mặc dù chủ nghĩa Mác - Lê-nin có nguồn gốc
lý luận trực tiếp từ phương Tây, nhưng khi được bổ sung bằng “dân tộc học
phương Đông”, thì “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng ở đó”(14) (tức là
ở phương Đông), như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từng khẳng định và nỗ lực thực hiện.
Thủ đoạn được các thế lực thù địch, phản
động và phần tử cơ hội chính trị sử dụng nhiều nhất để phản bác chủ nghĩa Mác -
Lê-nin là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước
Đông Âu. Theo họ, sự sụp đổ này chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin sai
lầm từ bản chất, chứ không phải là do nó được nhận thức sai, vận dụng sai và vì
thế, khẩu hiệu “chủ nghĩa Mác - Lê-nin bách chiến, bách thắng” đã hoàn toàn mất
giá trị. Họ cố tình không hiểu rằng, tính bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin
so với các học thuyết khác là ở chỗ, nó dựa trên một thế giới quan khoa học là
phép biện chứng duy vật, và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước
Đông Âu và Liên Xô là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực có
nhiều khuyết tật và chậm được sửa chữa, chứ không phải là sự sụp đổ của một học
thuyết khoa học.
Một thủ đoạn khác được các thế lực thù
địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đưa ra để mưu toan phủ định chủ
nghĩa Mác - Lê-nin chính là sự khác biệt giữa chủ nghĩa
Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng, chủ nghĩa Mác chủ
trương đấu tranh giai cấp còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết
toàn dân tộc và là “người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa
cộng sản...”(!) Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện, họ đi đến kết
luận hàm hồ rằng: Lúc này, chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có
tư tưởng Hồ Chí Minh là “đáng giá” và vì thế, cần loại bỏ chủ nghĩa Mác -
Lê-nin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng.
Việc các thế lực thù địch, phản động và
phần tử cơ hội chính trị giả vờ “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh, đem tư tưởng Hồ
Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hoàn toàn trái với quan điểm, tư
tưởng và tình cảm của bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1927, Người đã
khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân
chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin. Người từng nói:
“Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã
nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”(15). Câu nói đó đã nói lên sự lựa chọn
tiên quyết và sự kiên trì của Người đối với chủ nghĩa Mác và sau này là toàn bộ
chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người còn nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta,
những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần
kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng
ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(16).
Khi viết Di chúc, Người gọi việc từ giã cõi đời của mình là “đi
gặp các cụ Các Mác, cụ Lê-nin”, bởi giữa các bậc vĩ nhân ấy là sự đồng điệu về
khát vọng giải phóng con người và “tình hữu ái vô sản” thiêng liêng. Thậm chí,
trong lần trả lời phỏng vấn cuối cùng vào ngày 15-7-1969, Người khẳng định:
“Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn
mạnh rằng... trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa
Mác - Lênin”(17). Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc
khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa” của V.I. Lê-nin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đều gắn bó với chủ nghĩa Mác - Lê-nin bằng tình yêu và lòng biết ơn
vô hạn.
Phải khẳng định rằng, việc “đề cao” tư
tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập tư tưởng Hồ Chí
Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin thực chất là một âm mưu đen tối, thủ
đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội
chính trị. Sự nguy hiểm của nó là ở chỗ, dễ làm cho người ta ngộ nhận, tin
theo, bởi nó “đánh vào” tình yêu lãnh tụ và tinh thần tự tôn dân tộc. Thực
chất, đây không phải là sự ca ngợi hay đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, mà chỉ là
thủ pháp “nâng lên để hạ xuống”, tìm cách cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh
khỏi ngọn nguồn lý luận chủ yếu của nó để qua đó, làm suy yếu và tiến tới phủ
định luôn cả tư tưởng Hồ Chí Minh. Thâm độc hơn, thông qua phủ nhận chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những kẻ chống phá còn muốn phủ nhận toàn
bộ cương lĩnh, đường lối của Đảng được hoạch định trên nền tảng tư tưởng đó để
đi đến mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa
bỏ chế độ hiện hành và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
ST
Văn hóa tâm linh và phòng, chống mê tín, dị đoan
Mỗi dịp lễ, Tết, những ai là con dân nước Việt đều cảm nhận rõ
ràng không khí linh thiêng của ngày Tết. Thời khắc giao thừa, thắp nén hương
thơm dâng lên bàn thờ tiên tổ, ai cũng cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con
cháu mạnh khỏe, may mắn, hạnh phúc. Những người cựu chiến binh dẫn theo con
cháu đến nghĩa trang liệt sĩ, nhớ về những đồng đội từng hy sinh cho mình được
sống, cảm thấy như đồng đội vẫn đang ở đâu đó trên những tầng mây cao vời vợi
dõi theo mình, dẫn dắt mình tránh những tai ương, vận hạn.
Đến vãn cảnh khu tưởng niệm các danh nhân, anh hùng dân tộc,
đền, miếu, chùa chiền, có ai không xúc động khi dâng hương tưởng nhớ các bậc
tiền nhân có nhiều công lao với quê hương, đất nước, khấn cầu các vị thánh thần
phù hộ cho quốc thái, dân an, gia đình và bản thân mình an khang, gặp nhiều
phúc lộc... Rõ ràng, những hoạt động tâm linh kể trên là rất phổ biến trong đời
sống hiện nay, mang lại những giá trị tinh thần cao cả, có tác dụng hướng con
người đến chân - thiện - mỹ mãnh liệt.
Tuy nhiên, cũng có không ít những hoạt động tâm linh của cán bộ,
đảng viên, thậm chí có cả những cán bộ (hoặc vợ con của cán bộ) giữ những vị
trí lãnh đạo, quản lý rất quan trọng gây phản cảm trong nhân dân. Đó là những
lễ dâng sao, giải hạn rình rang với chi phí hàng trăm triệu đồng, những buổi
“gọi hồn, thỉnh vong”, hầu đồng, yểm bùa, cầu cúng, hóa vàng mã... hoành tráng
với những niềm tin mù quáng vào số mệnh, thần thánh, ma quỷ.
Trước đây, đã có thời kỳ chúng ta cho rằng, người đảng viên với
thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không được phép tham gia hoạt động
tâm linh. Nhiều người còn cho rằng, tâm linh là “mảng tối”, là mặt tiêu cực
trong ý thức con người, nơi chưa được chân lý khoa học soi sáng; cùng với sự
phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ (KHCN) thì đời sống tâm linh sẽ ngày
càng bị thu hẹp.
Nhưng thực tế hơn 35 năm đổi mới vừa qua cho thấy, đất nước ta
càng phát triển, dân trí càng lên cao, KHCN đã và đang có những bước phát triển
rất nhanh thì đời sống tâm linh của nhân dân nói chung, của cán bộ, đảng viên
nói riêng càng phong phú, đa dạng.
Vậy, đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần
nhìn nhận vấn đề cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động tâm linh như thế nào? Có
thể thấy, dù KHCN có phát triển đến mấy thì những nỗi đau do thiên tai, nhân
tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông... vẫn xảy ra.
Thậm chí, sẽ có những người ngẫu nhiên gặp phải rất nhiều tai
ương, thiếu may mắn, “họa vô đơn chí”... Với mỗi người, khi gặp phải những nỗi
đau quá sức chịu đựng như vậy thì sự giúp đỡ, động viên của cơ quan, đơn vị,
hàng xóm, người thân là không đủ, họ cần có niềm tin vào một phép màu, một sự
cứu rỗi trong tâm hồn để vượt qua. Rõ ràng, hoạt động tâm linh mang bản tính
lịch sử tự nhiên, có tác dụng xoa dịu, bù đắp những mất mát, khổ đau; một loại
“thuốc” tinh thần đặc biệt đối với con người.
Do đó, hoạt động tâm linh là một nhu cầu văn hóa tinh thần đặc
biệt của con người, trong đó có cán bộ, đảng viên. Hơn nữa, đời sống tâm linh
còn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua
mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh, “sợi dây neo” giữ hồn cốt
dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, không thể thiếu
“sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lênin từng chỉ rõ: “Người ta
chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự
hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.
Với tinh thần đó, người đảng viên cộng sản Việt Nam không chỉ
tìm hiểu về đời sống tâm linh của dân tộc mình, mà phải thực sự tham gia một
cách tích cực vào hoạt động đó, để lọc bỏ những yếu tố mê tín, dị đoan, kế thừa
và phát triển văn hóa tâm linh trở thành giá trị cốt lõi của nền văn hóa mới,
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Các Mác từng nói rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”;
đó là một câu nói rất có giá trị khoa học. Thuốc phiện, nếu được sử dụng hợp
lý, đúng lúc, đúng chỗ, luôn là một liều thuốc quý; nhưng nếu sử dụng thái quá,
lại trở thành độc dược đối với con người.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa IX của Đảng ta khẳng
định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang
và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) quy định: “1. Nhà nước tôn
trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các
tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn
hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên,
tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần
của nhân dân”.
Như vậy, từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp
luật của Nhà nước ta đều công nhận và bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo,
cũng là thừa nhận và tạo điều kiện cho văn hóa tâm linh hoạt động và phát
triển. Về phương diện nhận thức và hành động, cán bộ, đảng viên khi tham gia
đời sống tâm linh phải xem đó là hoạt động bày tỏ tình cảm thiêng liêng, niềm
tin linh thiêng, là sự biết ơn của người đang sống đối với những người thân đã
mất, đối với danh nhân, anh hùng liệt sĩ được nhân dân suy tôn làm thánh, làm
thần, làm thành hoàng...; là sự thấu cảm về giá trị văn hóa và đạo đức của các
biểu tượng tôn giáo.
Đó là những điều tốt đẹp, cao cả mà ai cũng khát khao, trông đợi, hướng về. Đi
ngược lại mục đích tốt đẹp đó, hoạt động tâm linh, buôn thần, bán thánh... để
cầu “vinh thân, phì gia”, cầu chạy tội, cầu che mắt các cơ quan công quyền khi
làm những việc trái pháp luật, trái đạo lý... là những hành vi đáng phê phán, cần
đấu tranh, loại bỏ.
Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, chạy theo
đồng tiền là một nguy cơ lớn. Để ngăn ngừa cái xấu, cái ác, ngăn ngừa lối sống
thực dụng, Đảng, Nhà nước ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó,
tác dụng giáo dục lẽ sống hướng thiện của hoạt động văn hóa tâm linh là không
thể phủ nhận.
Đó cũng là con đường giáo dục chân-thiện-mỹ, giáo dục truyền
thống dân tộc rất hiệu quả. Niềm tin vào sự tích “con Rồng, cháu Tiên”, niềm
tin vào hồn thiêng sông núi, niềm tin vào linh khí tổ tiên... khi hòa quyện vào
niềm tin cộng sản sẽ tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn trong mỗi cán bộ, đảng
viên để thực hiện khát vọng hùng cường, thịnh vượng, đưa nước ta trở thành nước
phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng
đã đề ra.
NÉT ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CHIẾN DỊCH ĐỒNG XOÀI
LÀM ĂN KIỂU NÀY THÌ ... TOANG CẢ NÚT RỒI ...

