Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022

TRÍ NHỚ CỦA CỤ QUÁ ĐỈNH LUÔN


Chiến dịch Lam Sơn 719 của "Việt Nam Cộng Hòa" là chiến dịch quy mô lớn được thực hiện năm 1971, trong bối cảnh quân Mĩ đang rút dần khỏi Việt Nam. Chiến dịch diễn ra nhằm khảo nghiệm khả năng quy mô tác chiến độc lập của quân đội Sài Gòn, nếu sau này không còn quân Mĩ song hành.
Mục tiêu của chiến dịch là cắt đứt nguồn tiếp tế của quân giải phóng thông qua Lào. Từ đó, bóp ngạt quân giải phóng đến bờ sụp đổ.
Rất ít sĩ quan "VNCH" biết về chiến dịch này, bởi lẽ tầm quan trọng của nó đối với tương lai của "VNCH". Vì nếu chiến thắng trong chiến dịch này thì phía "VNCH" sẽ ăn được các gói viện trợ béo bỡ mà Quốc hội Mĩ thông qua. Và phía Mĩ, nhất là tổng thống Richard Nixon, cũng sẽ đỡ ngộp hơn trước phiên trả lời Quốc hội sắp tới. Có thể nói đây chính là “deadline” quan trọng bậc nhất mà cả phía Sài Gòn và Mỹ đang chạy ráo riết để kịp nộp cho Quốc hội Mĩ.
Kế hoạch được chuẩn bị hết sức tỉ mỉ và vô cùng tuyệt mật. Tuy nhiên, sự tuyệt mật đó chỉ đảm bảo đến khi cho đến khi rượu chạm môi.
Kế hoạch được phát giác và gửi về Hà Nội đầu tiên bởi điệp viên Tống Văn Trinh – người khi đó đang là nhân sự cao cấp trong sở công chánh Viên Chăn (Lào). Với tính tình hòa đồng, cởi mở, ông quen biết được rất nhiều quan chức Lào và Sài Gòn.
Đầu tháng 1/1971, khi đang chuẩn bị đón tết, ông phát hiện có nhiều xe ra vào khác thường tại đại sứ quán ngụy quyền Sài Gòn ở Viên Chăn. Sau khi trò chuyện với trung tá Bảo – tùy viên quân sự của đại sứ quán ngụy quyền Sài Gòn tại viên Chăn, ông nghe được từ ông Bảo rằng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vừa cử hàng loạt lãnh đạo cao cấp sang Lào để thảo luận về các vấn đề quan trọng. Khi nghe đến đây, điệp viên Tống Văn Trinh ngỏ ý mời các lãnh đạo cao cấp "VNCH" làm một bữa tiệc tùng vì lâu lâu mới có đồng hương sang. Nghe đến ăn nhậu là khoái, trung tá Bảo đã tổ chức bữa tiệc tại nhà riêng của mình và mời 25 quan khách Việt - Lào, gồm cả những sĩ quan cao cấp của Bộ Tổng tham mưu QLVNCH sang công tác.
Bữa tiệc có cả mâm hút thu.ốc ph.iện và chiếu bạc ăn thua bằng đô-la Mỹ. Vì sợ rượu vào sẽ nói bậy nên các ông này rước gái đi.ếm từ Thái Lan sang để vừa có tay vịn, vừa không sợ biết tiếng Việt mà để lộ thông tin. Chuyện là các ông tính xa nhưng không tính được gần, vì người phát giác thông tin về kế hoạch Lam Sơn 719 không ai khác ngoài bạn nhậu của trung tá Bảo.
Trong khi nhậu nhẹt phè phỡn, các ông bắt đầu chém gió những chuyện trời mây. Do nhậu hơi quá đà nên các ông chém gió quá tay. Các ông bắt đầu chém đến chiến dịch Lam Sơn 719 và tiết lộ rằng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu muốn chính quyền hoàng gia Lào hội quân để cùng càn quét quân Giải phóng. Nghe đến đây ông Trinh giật mình và cảm thấy đây là một tin quan trọng cần phải báo cáo ngay, nếu không sẽ lỡ thời cơ. Khi thấy nhóm sĩ quan mải chơi bời, ông Trinh đã viện cớ xin đi ngủ với lý do vì quá say không thể chơi đ.ánh b.ạc nổi với quan chức "VNCH".
Quan sát một hồi, khi thấy các con bạc đang đến cao trào không để ý xung quanh, ông Trinh lẻn đến bàn làm việc và phát hiện thấy tập hồ sơ đề chữ "tuyệt mật" ghi tên "Opération Lam Sơn 719".
Sau khi đọc chớp nhoáng và bằng trí nhớ của một điệp viên, ông đã thức đến gần sáng để phát thảo sơ qua kế hoạch Lam Sơn 719 và viết báo cáo gửi khẩn cấp về trung tâm (Cục 2) ở Hà Nội.
Nhờ vậy mà kế hoạch Lam Sơn 719 – dù được Mĩ bảo vệ tuyệt mật – đã bị lộ. Kế hoạch được bảo vệ tuyệt mật ở phía Mĩ, chứ phía "VNCH" thì say: No. Kế hoạch cứ như vậy mà bị lộ trước một tháng diễn ra, góp phần đẩy quân "VNCH" vào thất bại ê chề tại cao nguyên Trung Phần.
Dù thất bại nhưng cuộc duyệt binh ngày quân lực "VNCH" năm 1973 vẫn tuyên dương và khen thưởng các lực lượng tinh nhuệ đã “đánh thắng Cộng quân trên mặt trận cao nguyên Trung Phần trong chiến dịch Lam Sơn 179” sự ảo tưởng này ngoài dự tính ban đầu của quân Giải phóng.
Nguồn: Trắng TV
Có thể là hình ảnh về 2 người và văn bản cho biết 'TRắnGTV Trắn ĐIỆP VIÊN TỐNG VĂN CHINH NGƯỜI ĐÃ PHÁT HIỆN KẾ HOẠCH LAM SƠN 719 NGAY TRÊN BAN NHẬU VÀ GỬI VỀ HÀ NỘI 1 THÁNG TRƯỚC KHI KẾ HOẠCH DIỄN RA f trangdentv fb.com/groups/trangtvclub /trangdentv'
258
27 bình luận
30 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Đấu tranh, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta - có mối quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Các văn kiện của Đảng thể hiện rõ và nhất quán quan điểm, nhận định, đánh giá về giá trị, cống hiến của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, qua đó, góp phần nâng cao nhận thức chính trị và củng cố niềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo là, vững vàng kiên định và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

 

Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó tạo cơ sở, khuôn khổ pháp lý để ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Trong các bộ luật, các luật có điều khoản quy định về xử lý hành vi truyền bá, xuyên tạc tư tưởng và đường lối của Đảng, trong đó có xuyên tạc lãnh tụ Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, như tại Điều 117, Điều 331 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 10 Luật Xuất bản năm 2012; Điều 9 Luật Báo chí năm 2016; Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2018…

Công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; trong đó, đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh là Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và các cấp, nhất là ban chỉ đạo 35 của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Hội đồng Lý luận Trung ương... cùng hệ thống các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản với hàng trăm tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình và đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, tuyên truyền viên… tạo thành mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và hiệu quả.

Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, các bộ, ngành, địa phương trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng ngày càng chặt chẽ với vai trò “lĩnh xướng” và sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, ban chỉ đạo 35 các cấp; sự hợp tác, phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc trao đổi, cung cấp, xử lý thông tin và phối hợp đấu tranh.

Phương thức đấu tranh là vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng thù địch, phản động và có hình thức, biện pháp xử lý phù hợp tùy theo mức độ vi phạm; định hướng tuyên truyền, cung cấp đầy đủ thông tin chính thống, quản lý tốt nguồn thông tin, ngăn chặn kịp thời các thông tin, tài liệu sai trái; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh; lấy những kết quả từ sự vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng nước ta làm minh chứng sống động, thuyết phục để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, phản động...

Với các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài, chúng ta sử dụng, phối hợp các biện pháp, từ tuyên truyền, phản bác dựa vào luật pháp Việt Nam và quốc tế, đến sử dụng biện pháp ngoại giao để ngăn chặn từ xa, kịp thời. Đối với các tổ chức phản động lưu vong, các cơ quan chức năng của Việt Nam đề nghị phía chính quyền nước sở tại phối hợp điều tra, ngăn chặn. Ngoài ra, dựa theo các căn cứ pháp lý của Việt Nam, như Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT và Luật An ninh mạng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã trao đổi, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài (như Google, Facebook) gỡ bỏ nhiều thông tin vi phạm. Đối với các đối tượng ở trong nước, tùy vào mức độ vi phạm, các cơ quan chức năng có biện pháp từ giáo dục, yêu cầu gỡ bỏ, xử phạt hành chính đến xử lý hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, Lực lượng 47 (Bộ Quốc phòng), các lực lượng thuộc Bộ Công an, như Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao... đã vô hiệu hóa được nhiều kế hoạch, “chiến dịch” của các tổ chức phản động lưu vong, các chương trình truyền hình, phát thanh tiếng Việt có nội dung bôi nhọ, xuyên tạc lãnh tụ và Đảng, Nhà nước; dựng “tường lửa” ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa, tư tưởng xấu, độc trên mạng. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật (nay hợp nhất thành Ban Chỉ đạo 35 Trung ương); cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã kiên trì, kiên quyết phản bác lại các luận điệu sai trái, xuyên tạc; định hướng tuyên truyền kịp thời, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Đồng thời, tăng cường hoạt động thông tin đối ngoại, mở thêm phiên bản tiếng nước ngoài của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản…, tích cực đưa những thông tin đầy đủ, chính thống về Việt Nam đến với bạn bè thế giới và các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh đến đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, góp phần củng cố vững chắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần xã hội. Xuất bản các bộ sách lớn như Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập), Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử (10 tập)… với hàng nghìn tư liệu, sự kiện, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, tiêu biểu như Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước KX. 02, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với 13 đề tài nhánh, cùng hàng trăm đề tài khoa học các cấp; bên cạnh đó, hàng trăm cuốn sách, hàng nghìn bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được xuất bản, đăng tải trên các phương tiện truyền thông, qua đó, góp phần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương của Người trong toàn xã hội, bổ sung những nguồn tư liệu quý, những luận cứ xác đáng, thuyết phục, tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn những giá trị, tầm vóc vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Nhận diện thủ đoạn của các thế lực thù địch, âm mưu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình là vấn đề mang tính quy luật của một đảng chính trị. Như mọi cuộc chiến khác, muốn giành thắng lợi, người tranh đấu phải hiểu rõ âm mưu và thủ đoạn của đối phương. Thực tế cho thấy, để đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đã sử dụng các thủ đoạn chủ yếu sau đây:   

Trước hết, chúng mưu toan phủ nhận sự tồn tại của “tư tưởng Hồ Chí Minh”, xuyên tạc rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhà tư tưởng. Mặc dù giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm định bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, được thừa nhận bởi các học giả ở trong nước và nước ngoài, nhưng các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị vẫn rêu rao xuyên tạc rằng, “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Để chứng minh cho điều đó, họ đưa ra các luận chứng mang tính chủ quan, khiên cưỡng, như: Xét về nội dung, Hồ Chí Minh là người đọc nhiều, nhớ nhiều, giỏi tổng thuật chủ kiến của người khác và không dẫn nguồn nên người ta cứ tưởng Hồ Chí Minh là người đưa ra các quan điểm đó, nhưng thực chất thì không phải (?!). Xét về hình thức, Hồ Chí Minh chỉ có những bức thư ngắn, những bài viết, bài nói ngắn chứ không có các tác phẩm đồ sộ như các nhà tư tưởng khác (?!). Họ còn rêu rao rằng, trong bối cảnh ngọn cờ Mác - Lê-nin mất “thiêng” khi chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ liên tiếp ở các nước Đông Âu, tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam vội vã “nhào nặn” ra cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” để “gia cố” cho nền tảng tư tưởng đang “lung lay” của mình. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam với mong muốn giữ lại quyền lãnh đạo của mình (?!).

Những luận điệu xuyên tạc này của các thế lực thù địch hoàn toàn đối lập với sự thật lịch sử. Trên thực tế, nhờ có tư tưởng Hồ Chí Minh - sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ làm biến đổi số phận của dân tộc Việt Nam mà còn góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn thế giới, thúc đẩy “bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ”(12). Cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều nhà khoa học và chính khách lớn của thời đại cũng khẳng định giá trị và tầm vóc thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ - Gớt Hôn viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và một nhà tư tưởng mácxít-lêninnít vĩ đại của thế giới. Đồng chí Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu lịch sử với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vì vậy, đồng chí đã làm ra lịch sử”(13). Giáo sư Nhật Bản Sing-gô Si-ba-ta đã viết một công trình có tên là “Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng”. Việc những kẻ chống phá “quay lưng” lại với những bằng chứng hiển nhiên về sự tồn tại và giá trị to lớn, bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, họ không xuất phát từ lập luận khoa học, mà từ động cơ chính trị đen tối. Đây là sự cố tình phủ nhận, “đổi trắng thay đen” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với đặc tính “tiền hậu bất nhất” của những kẻ chuyên “nói càn”, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị còn có một giọng điệu hoàn toàn khác là về hình thức bề ngoài “giả bộ” làm ra vẻ ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Để “hạ bệ” chủ nghĩa Mác - Lê-nin, họ đưa ra nhiều lý do khác nhau. Đầu tiên, họ vin vào“yếu tố thời đại”, biện bạch rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với bối cảnh của thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với văn minh công nghiệp, trong khi bây giờ nhân loại đã ở thế kỷ XXI; trong thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, sứ mệnh của giai cấp công nhân đã khác đi, vai trò của trí thức “lên ngôi” nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin trở nên lỗi thời và bị lịch sử vượt qua. Đây là cách lập luận rất “hàm hồ”, bởi cho dù thời đại mà chúng ta đang sống rất khác với thời đại mà C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin sống, nhưng những biến đổi của nó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật chung nhất mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin khám phá ra. Với đặc tính “mở”, chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà chưa có một chủ nghĩa nào có thể thay thế.

“Yếu tố địa lý” cũng là một lý do mà các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị thù địch vin vào để phủ nhận một cách vô căn cứ chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Theo họ, chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của các nước phương Đông cũng như Việt Nam, mà là học thuyết “ngoại lai”, “nhập ngoại” từ phương Tây nên không phù hợp với điều kiện xã hội của Việt Nam - một xã hội phương Đông với nền kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa. Họ còn “lu loa”: Khi chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã “chết” trên chính quê hương của C. Mác, của V.I. Lê-nin, rộng hơn là ở cả châu lục mà nó sinh ra, nhưng những người cộng sản Việt Nam vẫn cứ theo đuổi nó, “hà hơi tiếp sức” cho nó thì đó là tư duy bảo thủ(?!). Có thể thấy, những kẻ đưa ra luận điệu này đã cố tình không hiểu sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và tầm nhìn thời đại trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Mặc dù chủ nghĩa Mác - Lê-nin có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ phương Tây, nhưng khi được bổ sung bằng “dân tộc học phương Đông”, thì “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng ở đó”(14) (tức là ở phương Đông), như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từng khẳng định và nỗ lực thực hiện.

Thủ đoạn được các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị sử dụng nhiều nhất để phản bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Theo họ, sự sụp đổ này chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin sai lầm từ bản chất, chứ không phải là do nó được nhận thức sai, vận dụng sai và vì thế, khẩu hiệu “chủ nghĩa Mác - Lê-nin bách chiến, bách thắng” đã hoàn toàn mất giá trị. Họ cố tình không hiểu rằng, tính bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin so với các học thuyết khác là ở chỗ, nó dựa trên một thế giới quan khoa học là phép biện chứng duy vật, và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực có nhiều khuyết tật và chậm được sửa chữa, chứ không phải là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học.   

Một thủ đoạn khác được các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đưa ra để mưu toan phủ định chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là sự khác biệt giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng, chủ nghĩa Mác chủ trương đấu tranh giai cấp còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và là “người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản...”(!) Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện, họ đi đến kết luận hàm hồ rằng: Lúc này, chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là “đáng giá” và vì thế, cần loại bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng.

Việc các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị giả vờ “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh, đem tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hoàn toàn trái với quan điểm, tư tưởng và tình cảm của bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1927, Người đã khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin. Người từng nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”(15). Câu nói đó đã nói lên sự lựa chọn tiên quyết và sự kiên trì của Người đối với chủ nghĩa Mác và sau này là toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người còn nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(16). Khi viết Di chúc, Người gọi việc từ giã cõi đời của mình là “đi gặp các cụ Các Mác, cụ Lê-nin”, bởi giữa các bậc vĩ nhân ấy là sự đồng điệu về khát vọng giải phóng con người và “tình hữu ái vô sản” thiêng liêng. Thậm chí, trong lần trả lời phỏng vấn cuối cùng vào ngày 15-7-1969, Người khẳng định: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”(17). Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lê-nin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gắn bó với chủ nghĩa Mác - Lê-nin bằng tình yêu và lòng biết ơn vô hạn.

Phải khẳng định rằng, việc “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin thực chất là một âm mưu đen tối, thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị. Sự nguy hiểm của nó là ở chỗ, dễ làm cho người ta ngộ nhận, tin theo, bởi nó “đánh vào” tình yêu lãnh tụ và tinh thần tự tôn dân tộc. Thực chất, đây không phải là sự ca ngợi hay đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, mà chỉ là thủ pháp “nâng lên để hạ xuống”, tìm cách cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi ngọn nguồn lý luận chủ yếu của nó để qua đó, làm suy yếu và tiến tới phủ định luôn cả tư tưởng Hồ Chí Minh. Thâm độc hơn, thông qua phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những kẻ chống phá còn muốn phủ nhận toàn bộ cương lĩnh, đường lối của Đảng được hoạch định trên nền tảng tư tưởng đó để đi đến mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ hiện hành và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

ST

Văn hóa tâm linh và phòng, chống mê tín, dị đoan

 

Mỗi dịp lễ, Tết, những ai là con dân nước Việt đều cảm nhận rõ ràng không khí linh thiêng của ngày Tết. Thời khắc giao thừa, thắp nén hương thơm dâng lên bàn thờ tiên tổ, ai cũng cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, may mắn, hạnh phúc. Những người cựu chiến binh dẫn theo con cháu đến nghĩa trang liệt sĩ, nhớ về những đồng đội từng hy sinh cho mình được sống, cảm thấy như đồng đội vẫn đang ở đâu đó trên những tầng mây cao vời vợi dõi theo mình, dẫn dắt mình tránh những tai ương, vận hạn.

Đến vãn cảnh khu tưởng niệm các danh nhân, anh hùng dân tộc, đền, miếu, chùa chiền, có ai không xúc động khi dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân có nhiều công lao với quê hương, đất nước, khấn cầu các vị thánh thần phù hộ cho quốc thái, dân an, gia đình và bản thân mình an khang, gặp nhiều phúc lộc... Rõ ràng, những hoạt động tâm linh kể trên là rất phổ biến trong đời sống hiện nay, mang lại những giá trị tinh thần cao cả, có tác dụng hướng con người đến chân - thiện - mỹ mãnh liệt.

Tuy nhiên, cũng có không ít những hoạt động tâm linh của cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả những cán bộ (hoặc vợ con của cán bộ) giữ những vị trí lãnh đạo, quản lý rất quan trọng gây phản cảm trong nhân dân. Đó là những lễ dâng sao, giải hạn rình rang với chi phí hàng trăm triệu đồng, những buổi “gọi hồn, thỉnh vong”, hầu đồng, yểm bùa, cầu cúng, hóa vàng mã... hoành tráng với những niềm tin mù quáng vào số mệnh, thần thánh, ma quỷ.

Trước đây, đã có thời kỳ chúng ta cho rằng, người đảng viên với thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không được phép tham gia hoạt động tâm linh. Nhiều người còn cho rằng, tâm linh là “mảng tối”, là mặt tiêu cực trong ý thức con người, nơi chưa được chân lý khoa học soi sáng; cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ (KHCN) thì đời sống tâm linh sẽ ngày càng bị thu hẹp.

Nhưng thực tế hơn 35 năm đổi mới vừa qua cho thấy, đất nước ta càng phát triển, dân trí càng lên cao, KHCN đã và đang có những bước phát triển rất nhanh thì đời sống tâm linh của nhân dân nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng càng phong phú, đa dạng.

Vậy, đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động tâm linh như thế nào? Có thể thấy, dù KHCN có phát triển đến mấy thì những nỗi đau do thiên tai, nhân tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông... vẫn xảy ra.

Thậm chí, sẽ có những người ngẫu nhiên gặp phải rất nhiều tai ương, thiếu may mắn, “họa vô đơn chí”... Với mỗi người, khi gặp phải những nỗi đau quá sức chịu đựng như vậy thì sự giúp đỡ, động viên của cơ quan, đơn vị, hàng xóm, người thân là không đủ, họ cần có niềm tin vào một phép màu, một sự cứu rỗi trong tâm hồn để vượt qua. Rõ ràng, hoạt động tâm linh mang bản tính lịch sử tự nhiên, có tác dụng xoa dịu, bù đắp những mất mát, khổ đau; một loại “thuốc” tinh thần đặc biệt đối với con người.

Do đó, hoạt động tâm linh là một nhu cầu văn hóa tinh thần đặc biệt của con người, trong đó có cán bộ, đảng viên. Hơn nữa, đời sống tâm linh còn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh, “sợi dây neo” giữ hồn cốt dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, không thể thiếu “sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lênin từng chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.

Với tinh thần đó, người đảng viên cộng sản Việt Nam không chỉ tìm hiểu về đời sống tâm linh của dân tộc mình, mà phải thực sự tham gia một cách tích cực vào hoạt động đó, để lọc bỏ những yếu tố mê tín, dị đoan, kế thừa và phát triển văn hóa tâm linh trở thành giá trị cốt lõi của nền văn hóa mới, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Các Mác từng nói rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”; đó là một câu nói rất có giá trị khoa học. Thuốc phiện, nếu được sử dụng hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, luôn là một liều thuốc quý; nhưng nếu sử dụng thái quá, lại trở thành độc dược đối với con người.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa IX của Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) quy định: “1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.

Như vậy, từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều công nhận và bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cũng là thừa nhận và tạo điều kiện cho văn hóa tâm linh hoạt động và phát triển. Về phương diện nhận thức và hành động, cán bộ, đảng viên khi tham gia đời sống tâm linh phải xem đó là hoạt động bày tỏ tình cảm thiêng liêng, niềm tin linh thiêng, là sự biết ơn của người đang sống đối với những người thân đã mất, đối với danh nhân, anh hùng liệt sĩ được nhân dân suy tôn làm thánh, làm thần, làm thành hoàng...; là sự thấu cảm về giá trị văn hóa và đạo đức của các biểu tượng tôn giáo.
Đó là những điều tốt đẹp, cao cả mà ai cũng khát khao, trông đợi, hướng về. Đi ngược lại mục đích tốt đẹp đó, hoạt động tâm linh, buôn thần, bán thánh... để cầu “vinh thân, phì gia”, cầu chạy tội, cầu che mắt các cơ quan công quyền khi làm những việc trái pháp luật, trái đạo lý... là những hành vi đáng phê phán, cần đấu tranh, loại bỏ.

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, chạy theo đồng tiền là một nguy cơ lớn. Để ngăn ngừa cái xấu, cái ác, ngăn ngừa lối sống thực dụng, Đảng, Nhà nước ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, tác dụng giáo dục lẽ sống hướng thiện của hoạt động văn hóa tâm linh là không thể phủ nhận.

Đó cũng là con đường giáo dục chân-thiện-mỹ, giáo dục truyền thống dân tộc rất hiệu quả. Niềm tin vào sự tích “con Rồng, cháu Tiên”, niềm tin vào hồn thiêng sông núi, niềm tin vào linh khí tổ tiên... khi hòa quyện vào niềm tin cộng sản sẽ tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn trong mỗi cán bộ, đảng viên để thực hiện khát vọng hùng cường, thịnh vượng, đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

NÉT ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CHIẾN DỊCH ĐỒNG XOÀI


Đầu tháng 5-1965, Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định mở Chiến dịch tiến công Đồng Xoài, nhằm tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực ngụy, hỗ trợ quần chúng phá “ấp chiến lược”, mở rộng vùng giải phóng, nối liền các căn cứ miền Nam với Nam Tây Nguyên, tạo điều kiện mở đường vận tải chiến lược từ miền Bắc vào Nam Bộ.
Với phương châm "đánh có chuẩn bị, chắc thắng, tiêu diệt gọn, bảo đảm bí mật, bất ngờ, đánh nhanh, giải quyết nhanh, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, tiêu diệt địch ngoài công sự là chính, kết hợp với phục kích, tập kích...", Chiến dịch tiến công Đồng Xoài đã giành thắng lợi, đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Thứ nhất, chọn địa bàn tác chiến và hướng tiến công phù hợp. Địa bàn diễn ra chiến dịch trên nhiều tỉnh ở Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Ta chọn hướng tiến công chủ yếu nằm trên địa bàn hai tỉnh Phước Long, Bình Long (nay là tỉnh Bình Phước) giáp Campuchia và một phần phía bắc tỉnh Bình Dương, nối liền với Tây Nguyên. Khu vực này phần lớn là rừng núi, đồn điền cao su rậm rạp, kín đáo với một số trục đường tiện cho ta cơ động lực lượng, trú ém quân, phục kích đánh giao thông. Địa bàn này ta có các căn cứ hậu cần xây dựng từ trước, thế trận chiến tranh nhân dân phát triển khá mạnh, quần chúng giác ngộ, một số đơn vị địa phương quen thuộc chiến trường, có kinh nghiệm tác chiến. Về địch, lực lượng ở hai tỉnh tuy đông nhưng bố trí dàn trải ở các khu vực. Tỉnh Phước Long có chi khu quân sự Phước Bình, thế đứng chân cô lập, nhiều sơ hở, xa các căn cứ lớn và đường giao thông quan trọng, địch phải dựa vào đường không để chi viện, chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu.
Thứ hai, vận dụng cách đánh sáng tạo. Để thực hiện mục đích chiến dịch, ta thực hiện “đánh điểm, diệt viện”, lấy đánh điểm chi khu quân sự địch để câu viện, diệt viện binh là chủ yếu. Cụ thể, ta đánh tiêu diệt chi khu quân sự Phước Bình và đột nhập, trụ lại một phần thị xã Phước Long để diệt viện binh trên Đường số 2 (đoạn từ Phước Bình lên Phước Long).
Để tiêu diệt lực lượng viện binh hiệu quả, ta đã xây dựng thế trận bao vây, chia cắt, bố trí, triển khai lực lượng bí mật, cơ động thuận lợi, đánh vào bên sườn, phía sau đội hình địch ra giải tỏa bằng cả đường bộ và đường không, nhằm hạn chế khả năng cơ động và hỏa lực phi pháo của địch. Thực tế, trong đợt 1 (từ ngày 10 đến 31-5-1965) ta dự đoán địch ứng cứu giải tỏa đường bộ, nhưng khi địch đổ bộ đường không, lực lượng của ta ở xa, cơ động ra không kịp, bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch. Rút kinh nghiệm, trong đợt 2 (từ ngày 9 đến 20-6-1965) ta chủ động tạo lập thế trận chiến dịch vững chắc, cơ động linh hoạt, liên tiếp thực hiện thành công hai trận then chốt chiến dịch.
Thứ ba, tổ chức, sử dụng lực lượng phù hợp. Đó là hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, đánh địch rộng khắp trên toàn bộ địa bàn chiến dịch, nhằm phân tán lực lượng địch, tạo ra ưu thế lực lượng trên hướng tiến công chủ yếu, kết hợp giữa tiêu diệt sinh lực và đẩy mạnh chiến tranh du kích phá "ấp chiến lược", mở rộng căn cứ.
Chiến dịch Đồng Xoài ta sử dụng 4 trung đoàn, trong đó 3 trung đoàn (1, 2, 3) tiến công trên hướng, khu vực chủ yếu (Đồng Xoài-Phước Long). Trung đoàn 4 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch trên hướng Đường số 20 (Long Khánh). Trong các trận tiến công mở đầu chiến dịch, đợt 1 và đợt 2 tiêu diệt chi khu (Phước Bình và Đồng Xoài), ta sử dụng Trung đoàn 2, sau đó chuyển hóa thế trận, tập trung cả 3 trung đoàn (1, 2, 3) đánh địch ra giải tỏa, tăng viện.
Thứ tư, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật. Để thực hiện thành công cách đánh chiến dịch, ta đã vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, tiến công địch trong công sự vững chắc, vận động tiến công tiêu diệt địch ứng cứu giải tỏa. Tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc, có hỏa lực mạnh, Bộ chỉ huy chiến dịch đã dự kiến đúng các hành động của địch, chuẩn bị sẵn các phương án, lực lượng và thế trận, chỉ đạo vận dụng linh hoạt cách đánh “một điểm nhiều mặt”, “một đội nhiều tổ”, bố trí lực lượng thích hợp, có trọng điểm, có hướng chủ yếu, hướng thứ yếu, hướng vu hồi bao vây, chia cắt. Đồng thời, chuẩn bị lực lượng dự bị mạnh, sẵn sàng sử dụng vào hướng chủ yếu. Vì vậy, quá trình tiến công đã phân tán được một phần hỏa lực và sự đối phó của địch ở nhiều hướng, nhiều mũi, tạo được thời cơ thuận lợi cho các đơn vị liên tục tiến công, tiêu diệt từng mục tiêu, đánh chiếm từng trận địa công sự của địch, góp phần quan trọng giành thắng lợi chung của toàn chiến dịch.
Những nét đặc sắc nghệ thuật trong Chiến dịch tiến công Đồng Xoài là cơ sở để ta tiếp tục phát triển, vận dụng sáng tạo vào các chiến dịch giai đoạn tiếp sau, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn.
QĐND
Có thể là hình ảnh về 6 người và mọi người đang đứng
33
9 bình luận
2 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

LÀM ĂN KIỂU NÀY THÌ ... TOANG CẢ NÚT RỒI ...

 

Trong lúc tình hình chính trị trong khu vực EU đang rối như nồi canh hẹ - khắp nơi, nước nào cũng thấy biểu tình ... đình công - Tại Đức , đầu tàu kinh tế của EU cũng chẳng suôn sẻ gì - hết nghiệp đoàn vận tải đình công... lại đến công nhân nghiệp đoàn hoá chất biểu tình do bị nghỉ vì nhà máy không đủ nhiên liệu để hoạt động- giờ lại đến người lao động, không biết ở đâu mà mò ra lắm thế , như kiến vỡ tổ từ khắp nơi kéo nhau về thủ đô Beclin để yêu cầu Thủ tướng Đức : “Một là ngay lập tức bãi bỏ lệnh cấm vận Nga và cam kết không hỗ trợ chính quyền Zelensky ( Ukraina) - Hai là phải chấp nhận từ chức ...”- đang trong lúc nước sôi lửa bỏng ... thì lại nghe thêm thông tin Thủ tướng Estonia cũng vừa chính thức đệ đơn từ chức... nối gót Thủ tướng Anh và Thủ tướng Bungari ...từ chức trước đó.
Biết được sắp có chuyện chẳng lành sắp xảy ra - Thủ tướng Đức Olaf Scholz yêu cầu Bộ trưởng năng lượng dưới quyền ,gọi điện ngay cho phía Nga để hỏi xem bên đó bảo trì đường ống dẫn khí gaz xong chưa ?! Nếu đã bảo dưỡng xong thì bơm ngay để giải khát thị trường... và xoa dịu sự phẫn nộ của người dân ... hòng cứu vãn tình thế .
Cuộc gọi từ Bộ trưởng năng lượng Đức đã được thực hiện ngay lập tức ... dù cho lúc đó ,theo múi thời gian ở Nga là đã hết giờ hành chính ...
Đầu dây bên kia là thứ trưởng Bộ trưởng năng lượng Nga niềm nở chào hỏi lịch sự, ông ta thông báo lại cho người đồng nghiệp Đức biết rằng :” Việc bảo trì đường ống dẫn khí gaz đã gần như hoàn tất ... nhưng ... hệ thống bơm ly tâm lại hỏng ... vì vậy ... nếu không có hệ thống bơm thay thế... chắc chưa thể bơm được gaz cho Đức - thời gian cụ thể... cũng chưa biết khi nào khắc phục được ... trừ khi phía Đức mang bơm ly tâm trước đây đem đi bảo dưỡng ... đến lắp vào ...”
Toàn bộ cuộc trao đổi qua điện thoại đã được Bộ trưởng năng lượng báo cáo đầy đủ không sót một chữ lên Thủ tướng...
Chẳng hiểu do thời tiết lạnh... hay do ánh sáng trong căn phòng- người ta thấy khuôn mặt Thủ tướng Đức lúc đó xanh hơn mức bình thường...
Bộp - ông Thủ tướng vỗ tay ... xuống mặt bàn và nói : “ Làm ăn kiểu này thì chết cả nút rồi- yêu cầu thanh toán bằng Ruble... thì đã thanh toán bằng Ruble- bây giờ đúng lúc đang cần khí đốt thì lại bày trò ra bảo dưỡng đường ống, giờ bảo dưỡng xong lại kêu máy bơm hỏng ... không hiểu họ còn muốn cái gì nữa đây ?! “
P/S: Ông TT Đức hỏi nhân viên của ông ... hay ông hỏi người Nga ?
Đố mọi người biết đấy ??? Kkk
Nguồn:St