Thứ Ba, 12 tháng 7, 2022
THỦ ĐOẠN MỚI TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Với
mục tiêu nhất quán chống phá cách mạng Việt Nam đến cùng, hòng xóa bỏ vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở
nước ta, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng những thủ đoạn rất thâm độc,
nguy hiểm. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, để thích ứng với tình hình quốc tế
và Việt Nam, họ đã tiến hành những thủ đoạn đa dạng và vì thế càng nguy hiểm
hơn.
Thứ nhất, thực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại
theo hướng tăng cường hợp tác nhiều mặt để thâm nhập, thúc đẩy quá trình “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam. Họ giảm tối đa và không đi sâu vào các vấn
đề, lĩnh vực tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ với Việt Nam, nhưng thông qua mở
rộng quan hệ trên các lĩnh vực để thâm nhập sâu hơn, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ tăng cường hợp tác quân sự, quốc phòng,
kinh tế - thương mại, xúc tiến đầu tư có điều kiện để tác động, hướng lái, gây
sức ép Việt Nam thay đổi cơ chế, chính sách, pháp luật, tạo tiền đề cho sự thay
đổi chế độ chính trị. Thông qua ngoại giao để tiếp cận hỗ trợ những phần tử “có
tư tưởng thân phương Tây”, từ đó tạo ra những đột biến trong “tự chuyển hóa”; đẩy
mạnh hoạt động đối ngoại với các hình thức giao lưu, trao đổi, tiếp xúc để quảng
bá hình ảnh “ngoại giao thân thiện” kiểu phương Tây; tiếp cận sâu hơn, xâm nhập
ngầm bằng các thủ đoạn tình báo để “chuyển hóa” Việt Nam, cản trở các đối tác
đang và sẽ đến đầu tư ở Việt Nam. Đồng thời, tìm mọi cách làm cho Việt Nam bị mất
cân bằng chiến lược trong quan hệ với các nước lớn, kích động mâu thuẫn quan hệ
giữa Việt Nam với các nước láng giềng và ASEAN; tìm mọi cách phá vỡ mối quan hệ
đặc biệt Việt - Lào, chia rẽ quan hệ Việt Nam – Cam-pu-chia, quan hệ đối tác
chiến lược Việt - Trung, Việt - Nga,… hòng cô lập Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ hai, tăng cường hoạt động xâm nhập,
móc nối nhằm đẩy nhanh tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,
họ ra sức tranh thủ lợi dụng những phần tử thoái hóa, bất mãn, định kiến với chế
độ ở trong nước, ngấm ngầm nhen nhóm, tổ chức xây dựng lực lượng, tổ chức chính
trị; đồng thời coi đó là lực lượng nòng cốt, có tính quyết định cho việc chuyển
hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Ngoài ra, họ còn dùng nhiều thủ đoạn bỉ ổi
hòng tạo ra các thế hệ thanh niên, sinh viên Việt Nam bàng quan, thờ ơ với những
vấn đề thời cuộc; lãnh cảm chính trị, không quan tâm đến mục tiêu, lý tưởng của
Đảng, v.v.
Thứ ba,
đẩy mạnh xâm nhập, tác động, hướng lái
truyền thông Việt Nam theo ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là mưu
đồ “dân chủ hóa” truyền thông, tức là đưa “dân chủ” vào truyền thông của Nhà nước,
thúc đẩy sự mở rộng và phát triển của hệ thống truyền thông phi chính thống. Vì
lĩnh vực này quan trọng, tác động lớn đến đời sống xã hội, lại khó kiểm soát,
kiểm duyệt đối với các cơ quan quản lý nhà nước, nên là một trong những mục
tiêu trọng điểm để họ triệt để lợi dụng trong quá trình chống phá cách mạng nước
ta.
Thứ tư,
ráo riết thực hiện “diễn biến hòa bình”
trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo để “chuyển hóa” Việt Nam. Để thực hiện mưu
đồ này, họ thực hiện chính sách hai mặt: (1). Mở chiến dịch xuyên tạc, phủ nhận
thành quả của nền giáo dục - đào tạo Việt Nam, cho rằng nguyên nhân sâu xa và
căn bản nhất của tình trạng này là do sự sai lầm trong đường lối lãnh đạo công
tác giáo dục - đào tạo của Đảng, sự yếu kém trong quản lý của Nhà nước ta. Đây
là cái cớ để họ kêu gọi phải thay đổi hiện trạng nền giáo dục Việt Nam bằng con
đường mới “sáng sủa Tây học”. (2). Tiếp tục ra sức quảng bá, tô vẽ, khuếch
trương nền giáo dục phương Tây, coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất
để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của
đất nước”. Họ tăng cường sử dụng các thủ đoạn “câu khách” như: tổ chức các hội
thảo, tọa đàm, triển lãm du học, tham quan các trường đại học danh tiếng,... nhằm
thu hút sinh viên Việt Nam du học tạo ra một “thế hệ cán bộ thân phương Tây”, để
sau này nắm dần các cương vị trọng yếu trong nền kinh tế - xã hội và thậm chí
trong hệ thống chính trị.
Thứ năm,
tiếp tục gia tăng các hoạt động nhằm “phi
chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Mục đích không có gì khác hơn của họ là làm
cho lực lượng vũ trang ta mất phương hướng chính trị, từ bỏ mục tiêu chiến đấu,
bị vô hiệu hóa. Đồng thời, ra sức công kích phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh
đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với lực lượng vũ trang; đòi xóa bỏ hoạt
động công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ
chính trị các cấp trong Quân đội. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử có Quân đội
tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị Quân đội, Công
an,… hòng làm mất uy tín của Quân đội, Công an. Bằng những hoạt động tinh vi, xảo
quyệt, chúng thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào Quân đội,
Công an; triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội, những
hiện tượng tiêu cực để xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội,
Công an làm phai nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, Công an nhân dân, v.v.
Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn
toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực
thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện
tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không
ngừng tăng lên. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh
xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả.
Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc
chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.
CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” VÀ VIỆC XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ
Trong giai đoạn hiện nay,
Đảng ta cần quán triệt sâu sắc phương châm: gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ
với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Mục đích
thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch hòng làm cho
Quân đội ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý
tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng
dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, để xây
dựng lực lượng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị thì vấn đề quan trọng
hàng đầu là phải tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính
trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán
bộ chủ chốt các cấp. Đây là vấn đề cốt yếu nhất, là cơ sở nền tảng vững chắc đảm
bảo cho Quân đội bất luận trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn phức tạp đến đâu
cũng vững vàng, không bị “diễn biến, chuyển hóa”, “phi chính trị hóa”, luôn
trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân, Tổ quốc XHCN.
Bên cạnh đó, cần
coi trọng xây dựng về tổ chức, trước hết là tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững
mạnh. Các cấp phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng, coi đó là
khâu then chốt, nhằm đảm bảo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực
tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân.
Đặc biệt, trong hoạt động
lãnh đạo, cấp ủy các cấp phải tăng cường sự đoàn kết, thống nhất; chấp hành
nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, đi đôi với phân công cá
nhân phụ trách; đồng thời, tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất
lượng công tác kiểm tra, giám sát theo phương châm: “Giám sát phải mở rộng,
kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”, nhất là việc thực hiện Nghị quyết, Điều
lệ Đảng, giải quyết kịp thời, minh bạch các đơn thư tố cáo, khiếu nại và xử lý
nghiêm các vi phạm.
Cùng với đó, phải
thực hiện tốt và gắn chặt các mặt công tác cán bộ, tổ chức, dân vận, chính
sách, tư tưởng,…Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động
chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội,
chúng ta càng phải nêu cao cảnh giác, tăng cường các biện pháp phòng ngừa những
phát sinh phức tạp về tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ. Gắn liền với đó, phải hết
sức coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chống việc lộ, lọt thông tin,
các hiện tượng móc nối, cài cắm, xâm nhập hoặc thẩm thấu quan điểm xấu từ bên
ngoài vào Quân đội dưới mọi hình thức; phấn đấu đảm bảo tuyệt đối an toàn về an
ninh, chính trị, tư tưởng của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.
Để xây dựng quân đội vững
mạnh về chính trị, phải thường xuyên chăm lo kiện toàn và nâng cao hiệu
quả hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp
và các tổ chức quần chúng, đoàn thể, hội đồng quân nhân. Bởi,
đây là các tổ chức, cá nhân trực tiếp chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động
công tác đảng, công tác chính trị - yếu tố quyết định chất lượng xây dựng Quân
đội về chính trị.
Ngoài ra, Đảng ta cần chú
trọng thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng
cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, công tác thông tin, tuyên truyền
càng cần phải được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, chính xác; phải bảo đảm sự chủ động,
giữ vững “trận địa thông tin”, làm chủ nguồn tin và độ tin cậy nguồn tin, nhằm
tạo dư luận tốt trong xã hội nói chung và trong Quân đội nói riêng. Trong khi
thông tin, tuyên truyền về những sự kiện nhạy cảm cần gắn với định hướng tư tưởng,
giúp cho bộ đội và nhân dân nhận thức đúng và hiểu rõ quan điểm của Đảng, Nhà
nước, trên cơ sở đó không bị kích động bởi những thông tin xấu độc, trái chiều.
Một vấn đề không thể thiếu
của quá trình xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị đó là công
tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Quân đội ta đã trải qua nhiều năm
xây dựng và đã tiến hành tổng kết, sơ kết, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học,
từ đó đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm về công tác đảng, công tác chính trị,
xây dựng Quân đội về chính trị. Mặc dù thực tiễn luôn vận động, phát triển,
nhưng phần lớn những bài học kinh nghiệm đó vẫn rất quý báu, còn nguyên giá trị
đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị hiện nay. Do đó,
chúng ta cần tiếp tục quan tâm đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết
thực tiễn về công tác đảng, công tác chính trị. Vì vậy, Tổng cục Chính trị, các
trung tâm nghiên cứu, viện, học viện, nhà trường trong Quân đội có vai trò,
trách nhiệm rất lớn trong công tác này. Nếu được quan tâm đầu tư về mọi mặt,
công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn sẽ góp phần thiết thực vào việc
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân
đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.
NHẬN DIỆN ĐÚNG VÀ THỰC HIỆN QUYẾT LIỆT, THƯỜNG XUYÊN CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”
Trước
những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm của các thế lực thù địch, đòi hỏi
chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống
“diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình”
của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải
pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:
Thứ
nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm
mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống
chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực,
thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động,
kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp
cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những
thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định
hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân
dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của
Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Thứ
hai, cấp
uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng
nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị
cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản,
then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định
hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên.
Thứ
ba, cần
quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”;
xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục
đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công
an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp,
lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối
cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần
phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị
trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo
an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.
Thứ
tư, xây
dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến
hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ
chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng
lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin
bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên,
thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn
đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên
gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan
tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng
quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối
lập.
Thứ
năm, phát
huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh
phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính
nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí
trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết,
nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán
các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời
tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà
bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng
nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước;
đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền
tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững
phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn
biến hoà bình”.
Thứ
sáu, trong
đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu,
tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch,
cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn
nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong
đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức,
kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa
bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã
hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính
hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán
bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản
lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát
huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống,
tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng,
để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống
phá.
Đừng nhân danh tự do để bóp méo sự thật
Từ lâu, một số cơ quan truyền thông phương Tây,
nhất là các trang tiếng Việt của những “ông lớn” như VOA, RFA, RFI, BBC... luôn
nhân danh tự do, bảo vệ tự do báo chí, tự do ngôn luận để vi phạm một cách trắng
trợn hoặc tinh vi, bóp méo sự thật khiến thông tin bị sai lệch, gây phương hại
đến sự phát triển của quốc gia khác, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ quốc tế...
Thử điểm qua một số tiêu đề trong thời gian gần
đây của Đài châu Á Tự do (RFA), một đài phát thanh tư nhân của Hoa Kỳ, xem họ
thông tin gì về tình hình Việt Nam. Ví như: “Nước cộng sản Lào khủng hoảng, báo
chí Việt tránh đưa tin”, “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!”...
Đây nữa, cũng là một số tiêu đề bài báo trên một
cơ quan báo chí khác của Mỹ là Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ví như: “Đảng CS nhắm
kỷ luật cựu Chủ tịch TP HCM Nguyễn Thành Phong”, “Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã
hội hóa và ơn... đảng”, “Báo chí cách mạng Việt Nam cần cởi mở hơn”, “Dân mong
nhà nước mau giảm giá xăng, chớ “so sánh” nữa”...
Không riêng gì hai cơ quan báo chí kể trên, một
số cơ quan báo chí ở châu Âu cũng xuất bản trang tiếng Việt với những chủ đích
không hề dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất của báo chí là sự thật, nhất là việc
tôn trọng sự thật khách quan. Có thể kể đến BBC tiếng Việt (Anh), RFI tiếng Việt
(Pháp). Có lẽ, cũng không cần phải dẫn thêm những ví dụ về các tiêu đề lệch lạc,
không đúng bản chất kiểu này nữa. Bởi chưa cần đọc những bài báo đó viết về vấn
đề gì, tính chính xác đến đâu, nhưng chỉ nhìn riêng các tiêu đề đã thấy sự quy
kết, chụp mũ những vấn đề chính trị quan trọng, cũng như sự dễ dãi, tùy tiện,
“chợ búa” trong cách dùng từ ngữ...
Có một điểm chung nữa hết sức nguy hiểm của các
cơ quan báo chí phương Tây kể trên, đó là sự phiến diện, mất cân bằng, mất công
bằng trong thông tin. Điều này thể hiện thông qua việc họ chỉ nhăm nhăm vào những
thông tin tiêu cực, những hạn chế, khiếm khuyết trong các lĩnh vực mà đào bới,
xoáy sâu vào phản ánh. Họ coi những hiện tượng cá biệt ấy là bản chất, là sự phổ
biến. Họ cố tình quên những thành quả to lớn mà Việt Nam đạt được trong suốt
chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, nhất là từ khi đổi mới năm 1986 đến
nay. Là một nhà báo, một cơ quan báo chí, lẽ nào họ không biết các tổ chức quốc
tế đánh giá khách quan, chân xác về sự phát triển vượt bậc của Việt Nam, là mức
sống của người dân được nâng lên đáng kể, là các quyền tự do về ngôn luận, báo
chí, tôn giáo, tín ngưỡng, nhân quyền... đều được đề cao, bảo đảm.
Rõ ràng, mục đích của những kẻ luôn tìm cách
nhân danh tự do để bóp méo sựu thật chỉ là để phá hoại mục tiêu của đất nước mà
thôi. Nhưng những điều phi lý sẽ không bao giờ có tác dụng. Xin được nhắc lại lời
khẳng định nhiều lần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, rằng: “Đất nước ta chưa
bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.
Hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu của Đảng
Trong
suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta, tư tưởng "Lấy
dân làm gốc" - luôn là quan điểm trị quốc chủ đạo. Kế thừa tư tưởng đó và
thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần
chúng nhân dân trong lịch sử, trong tư tưởng chỉ đạo cũng như trong thực tiễn
hành động, trong toàn bộ quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, bài học “lấy
dân làm gốc”được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, khẳng
định vừa là nền tảng, vừa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, Người luôn luôn đề cao vai
trò làm chủ của nhân dân, quyền lực của dân, luôn tin vào khả năng và sức mạnh
của dân, rằng còn dân là còn nước, được lòng dân là được tất cả.
Mục tiêu của Đảng luôn gắn liền với nguyện vọng
tự do, độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước
Mỹ vào năm 1776 “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định
“quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung
tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ
trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền lợi
và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục
tiêu phấn đấu”(5). Để hướng tới bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân, Đại hội XIII
xác định “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội,
an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của
nhân dân”(6) trên cơ sở tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự
hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và
khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc; xây dựng các cơ chế, chính
sách, phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam; phát
huy tối đa nhân tố con người - coi con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực
chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy hạnh phúc của
Nhân dân là mục tiêu phấn đấu cao cả và xuyên suốt các nhiệm kỳ Đại hội Đảng, mọi
chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đều hướng tới hiện thực
hóa mục tiêu đó. Với sự nỗ lực của Đảng, sự hưởng ứng tích cực của quần chúng
nhân dân, hạnh phúc ấm no của nhân dân ngày càng được hoàn thiện.
Sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu
Sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là
một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại
tiến bộ. Vậy hãy nhìn nhận sự sụp đổ đó như thế nào?
Đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH cụ thể
không hơn, không kém. Tuyệt nhiên đó không phải là sụp đổ của một học thuyết
khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến
bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm
hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu ngay cận kề nước Mỹ đang tìm tòi con đường
và cách thức để xây dựng CNXH theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi
một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy CNXH làm mục
đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình. Không phải không có lý
do, khi họ tự gọi mình là mô hình CNXH phúc lợi. Đương nhiên còn một minh chứng
hiện hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam
đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát triển.
Từ đó, không thể nói rằng mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước
khác sụp đổ trong những năm cuối thế kỷ trước có nghĩa là học thuyết Mác -
Lênin về CNXH là sai lầm và lỗi thời! Ngược lại, sẽ là ảo tưởng khi nghĩ rằng
CNTB đang thắng thế. Thực tế đang chỉ ra rằng, chính CNTB đang đứng trước những
thánh thức đầy nguy hiểm. Chính sự mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất của
CNTB đang làm nảy sinh sự chia rẽ khó tránh khỏi trong các liên minh tưởng chừng
bền vững của họ. Hiện tượng Brexit của nước Anh chỉ là một dấu hiệu đầu tiên và
tất yếu của sự khục khặc từ chính trong lòng của nó khi CNTB ở Tây Âu mất đi đối
trọng là khối các nước XHCN. Khi không còn phải đối mặt với nguy cơ từ bên
ngoài thì những mâu thuẫn không thể tránh khỏi về lợi ích sẽ hiện nguyên hình,
phá vỡ mối liên kết yếu ớt của các thế lực TBCN. Mặt khác, những cuộc khủng bố
đã hiện diện ngay trung tâm của châu Âu, đe dọa không chỉ an ninh mà tạo nên sự
bất ổn sống còn của chế độ TBCN. Vụ khủng bố ở thành phố Nice giữa đêm Quốc
khánh nước Pháp làm hơn 80 người chết và vụ khủng bố bằng phương thức như thế
được lặp lại ở Berlin, thủ đô nước Đức ngày 18-12-2016 làm 12 người chết,
gần năm chục người bị thương, không chỉ báo hiệu mối nguy lớn về an ninh của
châu Âu. Nó còn là hệ quả tất yếu cho chính sách sai lầm, vụ lợi của CNTB trong
cách hành xử với các nước nghèo, các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông.
Những luận điệu cho rằng CNXH là lỗi thời, lạc hậu vì CNXH ở
Liên xô và các nước Đông Âu đã sụp đổ chỉ là những luận điệu của những người ít
hiểu biết hoặc những kẻ cố tình bôi nhọ CNXH, hòng phá hoại con đường phát triển
của đất nước mà thôi.
Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022
Đổi mới chính sách và phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay
Phải có chính sách cụ thể gắn với từng dân tộc, tôn giáo,
từng vùng miền, phù hợp với đặc điểm tâm lý, nét văn hóa; không nên rập khuôn
máy móc. Việc di dời dân phục vụ cho các công trình của Nhà nước phải được tính
toán kỹ lưỡng, không chỉ là việc chăm lo việc ăn, ở sinh hoạt mà quan trọng hơn
là sản xuất, việc làm, điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe, tín ngưỡng, tôn
giáo của đồng bào. Đại hội XIII của Đảng xác định: Phân bổ các định mức chính
sách phù hợp với từng vùng, từng dân tộc thiểu số. Có cơ chế thúc đẩy tính tích
cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh
tế- xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. Phương thức giải quyết vấn
đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa cũng
cần phải có phương án tổng thể, cần phối hợp chặt chẽ với các chương trình, các
dự án phát triển kinh tế - xã hội tạo nên sức mạnh tổng hợp và đỡ thất thoát,
lãng phí. Đại hội XIII: Vận đồng đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo,
chức sắc tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo” đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất cao so
với bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn
và ngày càng gia tăng; trình độ phát triển giữa các vùng có cách biệt lớn và có
xu hướng mở rộng, tỷ lệ tái nghèo cao. Cần phải thay đổi phương thức xóa đói,
giảm nghèo ở miền núi, kết hợp sự nỗ lực của mỗi hộ dựa trên thế mạnh của đồi
rừng là tự cung, tự cấp, tự trang trải với đầu tư của Nhà nước vào những việc
như xóa nhà tạm, cấp nước sinh hoạt và các dịch vụ khác, quan trọng hơn là
đường hướng sản xuất để ổn định lâu dài. Đại hội XIII: Có cơ chế thúc
đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số
phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững
Củng cố và nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị trong thực hiện dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay
Hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ các cấp là đại biểu của dân về ý chí, nguyện vọng và lợi ích. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của những yếu tố cấu thành hệ thống chính trị các cấp vừa là nhằm thực hiện dân chủ, quyền con người, quyền của dân tộc, tôn giáo vừa là công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Đổi mới hệ thống chính trị các cấp thực chất là nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, không phải đổi mới bản chất chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị phải nắm chắc mục đích và nguyên tắc của quá trình đổi mới; một tư tưởng bao trùm là thực hiện quyền lực của nhân dân và mang lại lợi ích cho nhân dân, cán bộ là công bộc của nhân dân. Đội ngũ cán bộ, đảng viên và công chức nhà nước là người đại diện cho nhân dân, thực thi quyền lực của nhân dân, mang lại lợi ích cho nhân dân. Đội ngũ này phải có phẩm chất và năng lực tốt, thực sự tận tụy phục vụ nhân dân. Trước hết đội ngũ này phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện khắc phục triệt để chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu quần chúng; đề cao phê bình và tự phê bình, chân thành tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, thực sự cầu tiến bộ. Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các địa phương vùng núi, vùng đồmg bào dân tộc thiểu số vừa yếu, vừa thiếu. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, có tín ngưỡng tôn giáo là nhiệm vụ cấp bách hiện nay; vừa phải có kế hoạch bổ túc, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa phải đào tạo cơ bản để đáp ứng yêu cầu cơ bản, lâu dài. Chăm lo xây dựng cơ quan, đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo tinh thông về nghiệp vụ, có trách nhiệm cao, gắn bó với đồng bào để làm hạt nhân tham mưu đắc lực cho lãnh đạo, chính quyền giải quyết những vấn đề dân tộc, tôn giáo cụ thể.
Phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt mục tiêu cách mạng thời kỳ mới
Phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với quốc
phòng, an ninh ở vùng núi, biên giới, hải đảo là một đòi hỏi khách quan vì đó
là những địa bàn sung yếu, phên dậu của Tổ quốc. Phát triển kinh tế - xã hội là
giải pháp cơ bản, quyết định nhất, nhưng cũng là một việc làm khó khăn, phức
tạp đòi hỏi phải có sự tích cực vươn lên của chính đồng bào các dân tộc thiểu
số và ưu tiên đặc biệt về vật chất, con người, khoa học công nghệ… của Nhà
nước. Đại hội XII của Đảng xác định: Huy động phân bố, sử dụng, quản lý
hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh
tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số…Phân bổ các định
mức chính sách phù hợp với từng vùng, từng dân tộc thiểu số. Có cơ chế thúc đẩy
tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát
triển kinh tế- xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. Hoàn thiện và
củng cố cơ sở hạ tầng; tạo sự thông thương dễ dàng miền ngược và miền suôi,
giữa các vùng núi với nhau, giữa Việt Nam với các nước láng giềng, tạo dựng
hành lang cho sự phát triển. Phát huy thế mạnh của kinh tế vùng, đồi, rừng,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất hướng ra thị trường, xuất khẩu; xóa bỏ các
hủ tục lạc hậu như du canh, du cư, ổn định đời sống cho nhân dân; có chính sách
ưu đãi để thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế Nhà nước,
kinh tế tư nhân. Đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo là vấn đề có ý nghĩa
hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn
nhân lực con em các dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ tại chỗ; mở mang
hệ thống các trường tiểu học, gắn với thôn bản, tăng số lượng các trường dân
tộc nội trú, thêm các trường khu vực và cả Trung ương giành tiền cho con em các
dân tộc; xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên là con em các dân tộc, có chính
sách ưu đãi đặc biệt đối với đội ngũ này và học sinh, sinh viên. Xây dựng các
đồn biên phòng, các đoàn kinh tế quốc phòng vững mạnh, làm hạt nhân cho việc
phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng ở vùng núi, biên giới, hải đảo;
thu hút con em các dân tộc thiểu số vào các đơn vị này; tham gia có hiệu quả
các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương; cùng với địa
phương xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận lòng dân vững chắc. Đấu tranh có
hiệu quả với những hiện tượng xâm phạm biên giới, buôn bán ma túy, phụ nữ, trẻ
em, buôn lậu; các hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan. Ma tang, cưới xin tốn kém
tốn không ít tiền bạc của đồng bào; phát triển mạnh các dịch vụ y tế chăm sóc
sức khỏe của nhân dân; mở mang các điểm văn hóa xã, thôn, bản, các lễ hội văn
hóa…thu hút đồng bào nâng cao nhận thức, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa các
dân tộc.
Nâng cao nhận thức cho toàn dân về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt nam hiện nay
Đây là giải pháp cơ bản vừa mang tính cấp bách, vừa phải
kiên trì, bền bỉ, lâu dài. Cần phải tích cực tiến hành bằng nhiều nội dung,
hình thức. phương pháp phong phú làm cho nhân dân hiểu những nội dung cốt lõi
về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong giải quyết vấn đề dân
tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng của các
thế lực thù địch về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Tuyên
truyền, giáo dục chung đồng thời, trú trọng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên;
đồng bào vùng núi, biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số có tín ngưỡng,
tôn giáo; những nhóm đối tượng đặc thù; những nội dung phức tạp, nhạy cảm;
những thời điểm thu hút sự quan tâm của nhiều người. Kết hợp nhiều kênh thông
tin cả Trung ương, địa phương và cơ sở; xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên
truyền viên, hạt nhân nòng cốt, người có uy tín trước cộng đồng, nhất là ở cơ
sở, bám sát diễn biến nhận thức, tâm lý, tình cảm của nhân dân, tuyên truyền
những nội dung thiết thực, hiệu quả định hướng tư tưởng và hành động của nhân
dân.
Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền giáo dục với đấu tranh
chống những nhận thức tư tưởng lệch lạc; chống mọi biểu hiện vi phạm quyền con
người, quyền, lợi ích của nhân dân, quyền bình đẳng, tự quyết dân tộc, quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo; chống mọi biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực
đoan bất chấp kỷ cương, pháp luật; đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ
đoạn lợi dụng những vấn đề trên để chống phá cách mạng, gây mất an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội.
Những ngày lễ chính của Phật giáo
Lễ Dâng y Kathina:
là một lễ hội lớn của Phật giáo Nam tông. Hằng năm, mỗi chùa chỉ được tồ chức Lễ Dâng y một lần
vào bất cứ ngày nào trong vòng một tháng ngay sau mùa an cư kết thúc. Việc dâng
y chỉ được thực hiện tại các chùa có tu sĩ nhập hạ và cúng dường đến tất cả tu
sĩ.
Lễ Vesak/Lễ Tam
hợp: được Phật giáo Nam tông tồ chức vào ngày 15-4 Âm lịch kỷ
niệm ngày đản sinh, ngày thành đạo và ngày nhập diệt của Đức Phật Thích Ca.
Phật giáo Bắc tông tổ chức ba lễ nêu trên riêng rẽ: Lễ Đức Phật Thích Ca nhập
diệt vào ngày 15-2 Âm lịch; Lễ Phật đản vào ngày 15-4 Âm lịch; Lễ Phật Thích Ca
thành đạo vào ngày 8-12 Âm lịch.
Lễ Nhập hạ và Lễ Xuất hạ: Lễ Nhập hạ là ngày đầu tiên của ty an cư kiết hạ,
thường diễn ra vào ngày 16-4 Ấm lịch đối vói Phật giáo Bắc tông, ngày 16-6 Âm
lịch đối với Phật giáo Nam tông. Lể Xuất hạ là ngày kết thúc kỳ an cư kiết hạ,
thường diễn ra vào ngày 15-7 Âm lịch đối với Phật giáo Bắc tông, ngày 15-9 Âm
lịch đối với Phật giáo Nam tông.
Lễ Vu Lan:
là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo Bắc tông diễn ra vào ngày 15-7
Âm lịch hằng năm, nhằm tưởng nhớ công ơn cha mẹ, cũng như chú nguyện cho tổ
tiên và người thân đã mất được vãng sinh Phật quốc. Lễ Vu Lan xuất phát từ sự
tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đã cứu mẹ của minh là bà Thanh Đề ra khỏi kiếp Ngạ
quỷ.
Những quan điểm cơ bản của Đảng ta về nhân quyền
Quyền con người là giá trị
chung của nhân loại
Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người. Mỗi quốc gia khi tham gia các
công ước quốc tế về quyền con người đều phải có những cam kết nhất định về nghĩa
vụ và trách nhiệm. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định quan
điểm và trách nhiệm của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con
người mang tính toàn cầu.
Trong xã hội phân chia giai cấp đối
kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc
Trong xã
hội có đối kháng giai cấp, việc bảo đảm thực hiện quyền con người mang tính
giai cấp sâu sắc. Con người sinh ra vốn dĩ đã có
quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những yêu sách hợp
lý. Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến yếu tố pháp
luật. Mà pháp luật bao giờ cũng là pháp luật của các chế độ chính trị khác
nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ bảo đảm trước hết lợi ích
của giai cấp thống trị xã hội. Do vậy, quyền con người mang tính giai cấp sâu
sắc, trong thực tế không thể có một thứ quyền trừu tượng siêu giai cấp.
Quyền con người gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc
gia
Quyền con
người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất. Đảng và Nhà nước Việt
Nam cho rằng, sự
nghiệp giải phóng con người gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội; quyền con người chỉ có được trong độc lập
dân tộc. Vì vậy, không thể có cái gọi là "nhân quyền cao hơn chủ
quyền", chỉ có sự thống nhất giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.
Quyền con người gắn liền với lịch sử, truyền
thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia
Kết hợp
tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải quyết
các vấn đề cụ thể. Quyền con người là một giá trị
phổ biến được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng nhưng mang tính đặc thù
với bản sắc riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mang sắc
thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc,
tôn giáo và những đặc điểm riêng khác.
Đảng và Nhà nước Việt Nam thừa nhận và tán thành quan điểm về tính phổ biến và tính đặc thù của
quyền con người. Việt Nam là một nước đa tôn giáo, đa dân tộc; có trình độ phát
triển kinh tế - xã hội còn thấp. Những đặc điểm đó quy định những đặc thù riêng
trong việc thực hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.
Quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển
xã hội, là bản chất của chế độ XHCN
Quyền con người được ghi nhận và bảo
vệ bằng Hiến pháp, pháp luật
Quyền của mỗi cá nhân không tách rời
nghĩa vụ và trách nhiệm công dân
ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THÊ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG
CHUYỆN ĐỨC, TÀI, VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ
VIỆT NAM SẼ LÀ ƯỚC HẠNH PHÚC CỦA NHÂN LOẠI
PHẢI LUÔN TỰ HÀO LÀ NGƯỜI CỘNG SẢN
QUY ĐỊNH CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ KỶ LUẬT ĐẢNG VIÊN CHẠY CHỨC, CHẠY QUYỀN
