Thứ Ba, 12 tháng 7, 2022

Mối nguy hại từ việc xem nhẹ một căn bệnh nặng Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) là căn bệnh đặc biệt nguy hại, thế nhưng hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện xem nhẹ, thiếu ý thức trách nhiệm trong phòng vệ, đấu tranh. Thậm chí, nhiều nơi vẫn còn biểu hiện xô lệch và sai lệch trong nhận thức, tổ chức thực thi nhiệm vụ “đánh giặc từ bên trong” như chỉ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời. Tự cho mình là tốt, là hay? CNCN có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể). Những người rơi vào CNCN thường quan niệm và tuân theo những “triết lý” tự đúc rút; thể hiện sự bảo thủ cao độ, không hạn chế mục đích và ham muốn bản thân. Họ “phản đối” và bất chấp sự can thiệp từ bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân, dù sự can thiệp đó là của xã hội, nhà nước, hoặc bất kỳ một cộng đồng, một tập thể hay một thể chế nào khác. Họ là nhất-hơn tất cả và chỉ lao động hoặc sáng tạo vì lợi ích của riêng họ mà bất chấp bỏ qua những mối liên hệ, mối quan hệ xung quanh trong đời sống xã hội. Những dấu hiệu này đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút, chỉ rõ: CNCN là “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết; chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”. CNCN hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”-điều đó tạo ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý “tôi là nhất” của CNCN. Khác nhau là vậy, nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy... Ngược lại, CNCN thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn nhầm tưởng, thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống đúng với cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì phía sau cá tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc CNCN. Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, mực thước. Thế nhưng, đáng buồn là nhiều cán bộ tự phong cho mình sự hoàn hảo, rồi bỏ ngoài tai tất cả những góp ý chân tình, đúng đắn của tập thể, đồng đội và quần chúng. Cùng với đó, hiện nay tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng ở nhiều nơi, kể cả trong nội bộ tổ chức đảng, vẫn còn nặng biểu hiện “dĩ hòa vi quý”. Cả trong cuộc sống, công tác, cả ở hội nghị, hay những dịp đánh giá cán bộ theo định kỳ hoặc đột xuất, mọi người vẫn thường xem nhẹ việc chỉ trích và phê bình, hầu như chỉ bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, bỏ qua cho nhau những sai lệch, yếu khuyết từ nhỏ, thậm chí không nhỏ. Thành thử, đến cuối năm, cán bộ nào cũng tốt, đảng viên nào cũng hoàn thành nhiệm vụ và những yếu kém dần bị xem nhẹ, được “bỏ qua” một cách hiển nhiên theo kiểu: “Biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành không”. Đó là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tích tụ các khuyết điểm nhỏ thành sai lầm lớn rồi hình thành, kết nên CNCN ở cán bộ, đảng viên. Thực tế cho thấy, trong hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật buộc phải xử lý, trong số rất nhiều vụ đại án tham nhũng, tiêu cực, thì nguyên nhân sơ khai ban đầu đều xuất phát từ căn bệnh CNCN ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thậm chí, hiện nay căn bệnh này đang diễn tiến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng. Ấy thế nhưng, công bằng mà nói, ở nhiều nơi, việc chống CNCN chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hô hào, nặng hình thức, kết quả thiếu thực chất và chưa đạt như mong muốn. Cần nhớ rằng, CNCN là đặc biệt nguy hại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sớm chỉ rõ CNCN là một thứ gian xảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ người ta đi xuống dốc, nó là một thứ vi trùng rất độc đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm... Nó phá từ trong phá ra, là bạn đồng minh của chủ nghĩa đế quốc và thói quen truyền thống lạc hậu, nguy hiểm hơn kẻ thù bên ngoài. Tiếp cận như vậy để thấy, CNCN-một căn bệnh hết sức nguy hại, đang diễn ra phổ biến, hậu quả và hệ lụy khó lường, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi lại hồn nhiên xem nhẹ, chưa thật sự đề cao trách nhiệm và quyết tâm chính trị trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi. Biểu hiện rõ nét nhất là sức chiến đấu của tổ chức đảng còn nhiều vấn đề đáng bàn; việc thực hành nguyên tắc tự phê bình và phê bình bị xem nhẹ, thiếu thực chất. Việc không phải của mình! Vì không nhận thức rõ nguồn gốc, bản chất, mức độ nguy hại của CNCN; lại tự cho rằng bản thân mình luôn cố gắng học tập, rèn luyện nên tuyệt nhiên đã trở thành người tốt, có nhân cách hoàn thiện, nhiều cán bộ, đảng viên thường sinh ra tâm lý mặc nhiên, bàng quan, vô cảm trước vấn nạn đang hiện hữu nhãn tiền. Nhiều cán bộ, đảng viên không nhận thấy trách nhiệm bản thân mà phiến diện cho rằng việc chống CNCN là việc của cấp ủy, chính quyền, của cơ quan chức năng và những người có trách nhiệm. Ở nhiều nơi, khi CNCN xuất hiện phổ biến, gây hậu quả nghiêm trọng thì mới “phất cờ” tuyên chiến, đấu tranh theo lối thụ động, vuốt đuôi. Lại không ít cán bộ cho rằng, CNCN là bệnh của một cá nhân (cá thể) cụ thể nên rất dễ dàng nhận diện, đấu tranh, triệt tiêu được ngay... Thế nhưng, tất cả những nhận thức ấy hoặc là rơi vào sai lầm, hoặc phiến diện một chiều, hoặc mang nặng sự áp đặt chủ quan. Để làm được điều đó, đòi hỏi qua từng ngày, từng tuần, từng việc làm, hoạt động cụ thể, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ trách nhiệm “tự soi” lại mình để nghiêm khắc, kiên trì “tự sửa” như đánh răng, rửa mặt hằng ngày. Đừng một ai tự cho mình là hoàn hảo; đừng bất chấp thực hành những việc chỉ có lợi cho mình, lại có hại cho người khác hoặc tổ chức. Mỗi cán bộ, đảng viên cần biết cách "định vị lại", "cấu trúc lại" và thường xuyên điều chỉnh cách sống, cách làm theo hệ giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng. Bất cứ khi nào có chuyện khác biệt, rơi vào tình huống có vấn đề, từng người không nên cố gắng tìm những lý do bên ngoài. Đối với tổ chức, ở mọi cấp, mọi ngành cần nhất quán quyết tâm chính trị rất cao để nhận diện, đẩy lùi CNCN trong nội bộ. Tất nhiên, nhận diện CNCN không phải chuyện giản đơn, do đó, các cấp cần có chủ trương phát huy tinh thần tự giác, đề cao trách nhiệm của từng thành viên trong tập thể; đồng thời phải có cơ chế để giám sát, có chế tài để xử phạt, xử lý một cách nghiêm khắc, triệt để. Với tinh thần đó, từng cán bộ, đảng viên phải có thái độ tích cực, quyết liệt, không khoan nhượng trong nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn các dấu hiệu, biểu hiện CNCN của đồng chí, đồng nghiệp, nhất là người đứng đầu. Việc nhận diện CNCN cần được vận hành trên cả 5 thành tố: Tư tưởng, chính trị, tổ chức, đạo đức, cán bộ; nhận diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trước hết là các khu vực liên quan đến lợi ích kinh tế, tài chính, cán bộ và chính sách; trên cả phẩm chất, năng lực cán bộ, mà trước hết là khí chất, tính cách, tư cách, lối sống, cách sống của cán bộ, đảng viên. KIỀU HỒNG QUÂN LỚP CH30
Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại Trong 35 năm tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác đối ngoại. Thứ nhất, trên cơ sở đánh giá đúng tình hình quốc tế và trong nước, Đảng ta đã xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ đó có những chủ trương, chỉ đạo đúng đắn cho công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, trên tất cả các trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân. Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế, quyết định chuyển từ hội nhập kinh tế quốc tế sang hội nhập toàn diện; có Chỉ thị 32-CT/TW về tăng cường và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại đảng trong tình hình mới. Ban Bí thư cũng đã có Chỉ thị 04-CT/TW về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã thông qua Nghị quyết 06-NQ/TW về “Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị-xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”. Ban Bí thư ra Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương trong tình hình mới. Nhà nước, Quốc hội cũng đã xây dựng và ban hành Luật Điều ước quốc tế, Luật Thỏa thuận quốc tế, Luật Cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài. Chính phủ đã có nhiều Nghị định hướng dẫn, tổ chức triển khai công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Các bộ, ban, ngành, địa phương đã xây dựng nhiều đề án, chương trình hành động để thực hiện các nhiệm vụ đối ngoại và hội nhập quốc tế. Thứ hai, đối ngoại đã góp phần củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc (LHQ), trong đó có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 30 nước, bao gồm 5 nước thành viên thường trực HĐBA LHQ, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả các thành viên ASEAN. Đảng ta đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Thứ ba, hội nhập kinh tế kinh tế quốc tế có nhiều đột phá, qua đó đã mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việt Nam đã có quan hệ thương mại với trên 220 đối tác, 71 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam. Chúng ta đã tham gia và có quan hệ tốt đẹp với nhiều tổ chức, cơ chế hợp tác kinh tế-phát triển hàng đầu như: Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC). Đặc biệt, chúng ta đã tham gia 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA “thế hệ mới” như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Thứ tư, vị thế quốc tế của đất nước không ngừng được nâng cao thông qua việc nâng tầm đối ngoại đa phương và đảm nhận thành công nhiều trọng trách quốc tế quan trọng. Đến nay, Việt Nam là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã 2 lần làm Chủ tịch ASEAN (2010, 2020); làm Chủ tịch Tổ chức Liên nghị viện ASEAN (AIPO, 2002), Chủ tịch Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA) (2010, 2020), 2 lần trúng cử với số phiếu ủng hộ rất cao để trở thành Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ (nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021), 2 lần là nước chủ nhà APEC (2006 và 2017); đăng cai thành công Hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018; tổ chức tốt cuộc gặp Thượng đỉnh Mỹ-Triều lần thứ 2 (2019). Việt Nam cũng tích cực tham gia các diễn đàn đa phương chính đảng như: Cuộc gặp quốc tế các đảng cộng sản và công nhân (IMWCP), Uỷ ban thường trực Hội nghị quốc tế các chính đảng châu Á (ICAPP); tích cực thúc đẩy hợp tác qua các kênh ngoại giao nghị viện như: Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU); tham gia tích cực Diễn đàn Nhân dân ASEAN. Chúng ta tích cực tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ. Thứ năm, đối ngoại đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Chúng ta đã cơ bản xây dựng được đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng. Trên biển, chúng ta kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích chính đáng của đất nước; kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế. Thứ sáu, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đạt nhiều kết quả quan trọng, thể hiện rõ chủ trương đại đoàn kết dân tộc cũng như tình cảm, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo cho cộng đồng và phát huy mạnh mẽ nguồn lực của kiều bào. Công tác bảo hộ công dân được triển khai đồng bộ và hiệu quả. 5 năm qua, chúng ta đã triển khai công tác bảo hộ đối với trên 50.000 công dân, trên 600 vụ việc/1000 tàu/với gần 10.000 ngư dân; tổ chức gần 800 chuyến bay đưa trên 200.000 công dân về nước an toàn trong đại dịch COVID-19. Thứ bảy, 2 năm qua, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp trên thế giới và trong nước, chúng ta đã triển khai công tác ngoại giao y tế/ngoại giao vaccine rất kịp thời và hiệu quả, đến nay đã nhận được trên 151 triệu liều vaccine và nhiều trang thiết bị y tế, góp phần quan trọng cho công tác phòng, chống dịch đi đôi với phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Việt Nam cũng đã viện trợ vật tư y tế và tài chính cho trên 50 quốc gia và tổ chức quốc tế, thể hiện rõ vai trò “thành viên có trách nhiệm” trong cộng đồng quốc tế. Theo phó Thủ tướng Phạm Bình Minh: Trong 5-10 năm tới, tình hình thế giới sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp và tác động nhiều mặt đến môi trường an ninh và phát triển của đất nước ta. Trong điều kiện đó, sự lãnh đạo của Đảng, thế và lực của đất nước được củng cố sau 35 năm đổi mới tiếp tục là nền tảng vững chắc để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của công tác đối ngoại. Đại hội Đảng lần thứ XIII đã khẳng định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Đại hội XIII đã chỉ rõ cần tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, bao gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, đối ngoại của các cấp, các ngành, các địa phương. Để thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIII, cần tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm sau: (i) Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với các trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. (ii) Không ngừng đưa quan hệ với các nước đi vào chiều sâu, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đối tác quan trọng và các nước bạn bè truyền thống, trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau và phù hợp với luật pháp quốc tế. (iii) Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động, tích cực phát huy vai trò, đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương; phát huy vai trò tại ASEAN, LHQ, các cơ chế hợp tác liên nghị viện quốc tế và khu vực (như AIPA, IPU), APEC, hợp tác tiểu vùng Mekong… (iv) Phối hợp chặt chẽ đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. (v) Đẩy mạnh công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, lấy địa phương, doanh nghiệp và người dân làm trung tâm phục vụ, thu hút mạnh mẽ nguồn lực bên ngoài để phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. (vi) Đổi mới nội dung, nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại, bảo hộ công dân, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. (vii) Đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, với hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, đồng thời nâng cao chất lượng hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực xã hội, môi trường, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hoá, du lịch… Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành trong triển khai công tác hội nhập quốc tế. Không ngừng củng cố bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại./.
Nghị quyết số 04-NQ/TW chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng - chính trị, đạo đức-lối sống, và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 30-10 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ và đề ra các giải pháp khắc phục. Theo đó, Trung ương chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng - chính trị, đạo đức - lối sống, và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. 1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ hoạ theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. 3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. 5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng. 6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu. 7) Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác. 8) Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh. 9) Vướng vào "tư duy nhiệm kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích. 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống 1) Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. 2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. 3) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực. 4) Mắc bệnh "thành tích", háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, "đánh bóng" tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; "chạy thành tích", "chạy khen thưởng", "chạy danh hiệu". 5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân. 6) Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên...; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tuỳ tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động. 7) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. 8) Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. 9) Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội. 9 biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ 1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện "đa nguyên, đa đảng". 2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", phát triển "xã hội dân sự". Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. 3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. 4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. 5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hoá" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an. 6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước. 7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước. 8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học-nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ suý cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hoá, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng. 9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

THỦ ĐOẠN MỚI TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Với mục tiêu nhất quán chống phá cách mạng Việt Nam đến cùng, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng những thủ đoạn rất thâm độc, nguy hiểm. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, để thích ứng với tình hình quốc tế và Việt Nam, họ đã tiến hành những thủ đoạn đa dạng và vì thế càng nguy hiểm hơn.      

Thứ nhất, thực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường hợp tác nhiều mặt để thâm nhập, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam. Họ giảm tối đa và không đi sâu vào các vấn đề, lĩnh vực tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ với Việt Nam, nhưng thông qua mở rộng quan hệ trên các lĩnh vực để thâm nhập sâu hơn, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ tăng cường hợp tác quân sự, quốc phòng, kinh tế - thương mại, xúc tiến đầu tư có điều kiện để tác động, hướng lái, gây sức ép Việt Nam thay đổi cơ chế, chính sách, pháp luật, tạo tiền đề cho sự thay đổi chế độ chính trị. Thông qua ngoại giao để tiếp cận hỗ trợ những phần tử “có tư tưởng thân phương Tây”, từ đó tạo ra những đột biến trong “tự chuyển hóa”; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại với các hình thức giao lưu, trao đổi, tiếp xúc để quảng bá hình ảnh “ngoại giao thân thiện” kiểu phương Tây; tiếp cận sâu hơn, xâm nhập ngầm bằng các thủ đoạn tình báo để “chuyển hóa” Việt Nam, cản trở các đối tác đang và sẽ đến đầu tư ở Việt Nam. Đồng thời, tìm mọi cách làm cho Việt Nam bị mất cân bằng chiến lược trong quan hệ với các nước lớn, kích động mâu thuẫn quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng và ASEAN; tìm mọi cách phá vỡ mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào, chia rẽ quan hệ Việt Nam – Cam-pu-chia, quan hệ đối tác chiến lược Việt - Trung, Việt - Nga,… hòng cô lập Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ hai, tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối nhằm đẩy nhanh tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, họ ra sức tranh thủ lợi dụng những phần tử thoái hóa, bất mãn, định kiến với chế độ ở trong nước, ngấm ngầm nhen nhóm, tổ chức xây dựng lực lượng, tổ chức chính trị; đồng thời coi đó là lực lượng nòng cốt, có tính quyết định cho việc chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Ngoài ra, họ còn dùng nhiều thủ đoạn bỉ ổi hòng tạo ra các thế hệ thanh niên, sinh viên Việt Nam bàng quan, thờ ơ với những vấn đề thời cuộc; lãnh cảm chính trị, không quan tâm đến mục tiêu, lý tưởng của Đảng, v.v.

Thứ ba, đẩy mạnh xâm nhập, tác động, hướng lái truyền thông Việt Nam theo ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là mưu đồ “dân chủ hóa” truyền thông, tức là đưa “dân chủ” vào truyền thông của Nhà nước, thúc đẩy sự mở rộng và phát triển của hệ thống truyền thông phi chính thống. Vì lĩnh vực này quan trọng, tác động lớn đến đời sống xã hội, lại khó kiểm soát, kiểm duyệt đối với các cơ quan quản lý nhà nước, nên là một trong những mục tiêu trọng điểm để họ triệt để lợi dụng trong quá trình chống phá cách mạng nước ta.

Thứ tư, ráo riết thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo để “chuyển hóa” Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ này, họ thực hiện chính sách hai mặt: (1). Mở chiến dịch xuyên tạc, phủ nhận thành quả của nền giáo dục - đào tạo Việt Nam, cho rằng nguyên nhân sâu xa và căn bản nhất của tình trạng này là do sự sai lầm trong đường lối lãnh đạo công tác giáo dục - đào tạo của Đảng, sự yếu kém trong quản lý của Nhà nước ta. Đây là cái cớ để họ kêu gọi phải thay đổi hiện trạng nền giáo dục Việt Nam bằng con đường mới “sáng sủa Tây học”. (2). Tiếp tục ra sức quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây, coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Họ tăng cường sử dụng các thủ đoạn “câu khách” như: tổ chức các hội thảo, tọa đàm, triển lãm du học, tham quan các trường đại học danh tiếng,... nhằm thu hút sinh viên Việt Nam du học tạo ra một “thế hệ cán bộ thân phương Tây”, để sau này nắm dần các cương vị trọng yếu trong nền kinh tế - xã hội và thậm chí trong hệ thống chính trị.

Thứ năm, tiếp tục gia tăng các hoạt động nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Mục đích không có gì khác hơn của họ là làm cho lực lượng vũ trang ta mất phương hướng chính trị, từ bỏ mục tiêu chiến đấu, bị vô hiệu hóa. Đồng thời, ra sức công kích phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với lực lượng vũ trang; đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử có Quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị Quân đội, Công an,… hòng làm mất uy tín của Quân đội, Công an. Bằng những hoạt động tinh vi, xảo quyệt, chúng thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào Quân đội, Công an; triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội, những hiện tượng tiêu cực để xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, Công an làm phai nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, Công an nhân dân, v.v.

       Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” VÀ VIỆC XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ

 

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta cần quán triệt sâu sắc phương châm: gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Mục đích thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch hòng làm cho Quân đội ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, để xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ chốt các cấp. Đây là vấn đề cốt yếu nhất, là cơ sở nền tảng vững chắc đảm bảo cho Quân đội bất luận trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn phức tạp đến đâu cũng vững vàng, không bị “diễn biến, chuyển hóa”, “phi chính trị hóa”, luôn trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân, Tổ quốc XHCN.

Bên cạnh đó, cần coi trọng xây dựng về tổ chức, trước hết là tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh. Các cấp phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng, coi đó là khâu then chốt, nhằm đảm bảo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân.

Đặc biệt, trong hoạt động lãnh đạo, cấp ủy các cấp phải tăng cường sự đoàn kết, thống nhất; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; đồng thời, tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát theo phương châm: “Giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”, nhất là việc thực hiện Nghị quyết, Điều lệ Đảng, giải quyết kịp thời, minh bạch các đơn thư tố cáo, khiếu nại và xử lý nghiêm các vi phạm.

Cùng với đó, phải thực hiện tốt và gắn chặt các mặt công tác cán bộ, tổ chức, dân vận, chính sách, tư tưởng,…Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, chúng ta càng phải nêu cao cảnh giác, tăng cường các biện pháp phòng ngừa những phát sinh phức tạp về tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ. Gắn liền với đó, phải hết sức coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chống việc lộ, lọt thông tin, các hiện tượng móc nối, cài cắm, xâm nhập hoặc thẩm thấu quan điểm xấu từ bên ngoài vào Quân đội dưới mọi hình thức; phấn đấu đảm bảo tuyệt đối an toàn về an ninh, chính trị, tư tưởng của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phải thường xuyên chăm lo kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng, đoàn thể, hội đồng quân nhân. Bởi, đây là các tổ chức, cá nhân trực tiếp chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị - yếu tố quyết định chất lượng xây dựng Quân đội về chính trị.

Ngoài ra, Đảng ta cần chú trọng thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, công tác thông tin, tuyên truyền càng cần phải được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, chính xác; phải bảo đảm sự chủ động, giữ vững “trận địa thông tin”, làm chủ nguồn tin và độ tin cậy nguồn tin, nhằm tạo dư luận tốt trong xã hội nói chung và trong Quân đội nói riêng. Trong khi thông tin, tuyên truyền về những sự kiện nhạy cảm cần gắn với định hướng tư tưởng, giúp cho bộ đội và nhân dân nhận thức đúng và hiểu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước, trên cơ sở đó không bị kích động bởi những thông tin xấu độc, trái chiều.

Một vấn đề không thể thiếu của quá trình xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị đó là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Quân đội ta đã trải qua nhiều năm xây dựng và đã tiến hành tổng kết, sơ kết, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, từ đó đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm về công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội về chính trị. Mặc dù thực tiễn luôn vận động, phát triển, nhưng phần lớn những bài học kinh nghiệm đó vẫn rất quý báu, còn nguyên giá trị đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị hiện nay. Do đó, chúng ta cần tiếp tục quan tâm đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác đảng, công tác chính trị. Vì vậy, Tổng cục Chính trị, các trung tâm nghiên cứu, viện, học viện, nhà trường trong Quân đội có vai trò, trách nhiệm rất lớn trong công tác này. Nếu được quan tâm đầu tư về mọi mặt, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn sẽ góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

NHẬN DIỆN ĐÚNG VÀ THỰC HIỆN QUYẾT LIỆT, THƯỜNG XUYÊN CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”

 

Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm của các thế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá.

Đừng nhân danh tự do để bóp méo sự thật

 

Từ lâu, một số cơ quan truyền thông phương Tây, nhất là các trang tiếng Việt của những “ông lớn” như VOA, RFA, RFI, BBC... luôn nhân danh tự do, bảo vệ tự do báo chí, tự do ngôn luận để vi phạm một cách trắng trợn hoặc tinh vi, bóp méo sự thật khiến thông tin bị sai lệch, gây phương hại đến sự phát triển của quốc gia khác, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ quốc tế...

Thử điểm qua một số tiêu đề trong thời gian gần đây của Đài châu Á Tự do (RFA), một đài phát thanh tư nhân của Hoa Kỳ, xem họ thông tin gì về tình hình Việt Nam. Ví như: “Nước cộng sản Lào khủng hoảng, báo chí Việt tránh đưa tin”, “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!”...

Đây nữa, cũng là một số tiêu đề bài báo trên một cơ quan báo chí khác của Mỹ là Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ví như: “Đảng CS nhắm kỷ luật cựu Chủ tịch TP HCM Nguyễn Thành Phong”, “Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn... đảng”, “Báo chí cách mạng Việt Nam cần cởi mở hơn”, “Dân mong nhà nước mau giảm giá xăng, chớ “so sánh” nữa”...

Không riêng gì hai cơ quan báo chí kể trên, một số cơ quan báo chí ở châu Âu cũng xuất bản trang tiếng Việt với những chủ đích không hề dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất của báo chí là sự thật, nhất là việc tôn trọng sự thật khách quan. Có thể kể đến BBC tiếng Việt (Anh), RFI tiếng Việt (Pháp). Có lẽ, cũng không cần phải dẫn thêm những ví dụ về các tiêu đề lệch lạc, không đúng bản chất kiểu này nữa. Bởi chưa cần đọc những bài báo đó viết về vấn đề gì, tính chính xác đến đâu, nhưng chỉ nhìn riêng các tiêu đề đã thấy sự quy kết, chụp mũ những vấn đề chính trị quan trọng, cũng như sự dễ dãi, tùy tiện, “chợ búa” trong cách dùng từ ngữ...

Có một điểm chung nữa hết sức nguy hiểm của các cơ quan báo chí phương Tây kể trên, đó là sự phiến diện, mất cân bằng, mất công bằng trong thông tin. Điều này thể hiện thông qua việc họ chỉ nhăm nhăm vào những thông tin tiêu cực, những hạn chế, khiếm khuyết trong các lĩnh vực mà đào bới, xoáy sâu vào phản ánh. Họ coi những hiện tượng cá biệt ấy là bản chất, là sự phổ biến. Họ cố tình quên những thành quả to lớn mà Việt Nam đạt được trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, nhất là từ khi đổi mới năm 1986 đến nay. Là một nhà báo, một cơ quan báo chí, lẽ nào họ không biết các tổ chức quốc tế đánh giá khách quan, chân xác về sự phát triển vượt bậc của Việt Nam, là mức sống của người dân được nâng lên đáng kể, là các quyền tự do về ngôn luận, báo chí, tôn giáo, tín ngưỡng, nhân quyền... đều được đề cao, bảo đảm.

 

Rõ ràng, mục đích của những kẻ luôn tìm cách nhân danh tự do để bóp méo sựu thật chỉ là để phá hoại mục tiêu của đất nước mà thôi. Nhưng những điều phi lý sẽ không bao giờ có tác dụng. Xin được nhắc lại lời khẳng định nhiều lần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

Hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu của Đảng

 

   Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta, tư tưởng "Lấy dân làm gốc" - luôn là quan điểm trị quốc chủ đạo. Kế thừa tư tưởng đó và thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, trong tư tưởng chỉ đạo cũng như trong thực tiễn hành động, trong toàn bộ quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, bài học “lấy dân làm gốc”được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, khẳng định vừa là nền tảng, vừa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, Người luôn luôn đề cao vai trò làm chủ của nhân dân, quyền lực của dân, luôn tin vào khả năng và sức mạnh của dân, rằng còn dân là còn nước, được lòng dân là được tất cả.

Mục tiêu của Đảng luôn gắn liền với nguyện vọng tự do, độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ vào năm 1776 “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định “quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(5). Để hướng tới bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân, Đại hội XIII xác định “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân”(6) trên cơ sở tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc; xây dựng các cơ chế, chính sách, phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam; phát huy tối đa nhân tố con người - coi con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu phấn đấu cao cả và xuyên suốt các nhiệm kỳ Đại hội Đảng, mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đều hướng tới hiện thực hóa mục tiêu đó. Với sự nỗ lực của Đảng, sự hưởng ứng tích cực của quần chúng nhân dân, hạnh phúc ấm no của nhân dân ngày càng được hoàn thiện.

Sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu

 

Sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Vậy hãy nhìn nhận sự sụp đổ đó như thế nào?         

Đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH cụ thể không hơn, không kém. Tuyệt nhiên đó không phải là sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu ngay cận kề nước Mỹ đang tìm tòi con đường và cách thức để xây dựng CNXH theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy CNXH làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình. Không phải không có lý do, khi họ tự gọi mình là mô hình CNXH phúc lợi. Đương nhiên còn một minh chứng hiện hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát triển.         

Từ đó, không thể nói rằng mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước khác sụp đổ trong những năm cuối thế kỷ trước có nghĩa là học thuyết Mác - Lênin về CNXH là sai lầm và lỗi thời! Ngược lại, sẽ là ảo tưởng khi nghĩ rằng CNTB đang thắng thế. Thực tế đang chỉ ra rằng, chính CNTB đang đứng trước những thánh thức đầy nguy hiểm. Chính sự mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất của CNTB đang làm nảy sinh sự chia rẽ khó tránh khỏi trong các liên minh tưởng chừng bền vững của họ. Hiện tượng Brexit của nước Anh chỉ là một dấu hiệu đầu tiên và tất yếu của sự khục khặc từ chính trong lòng của nó khi CNTB ở Tây Âu mất đi đối trọng là khối các nước XHCN. Khi không còn phải đối mặt với nguy cơ từ bên ngoài thì những mâu thuẫn không thể tránh khỏi về lợi ích sẽ hiện nguyên hình, phá vỡ mối liên kết yếu ớt của các thế lực TBCN. Mặt khác, những cuộc khủng bố đã hiện diện ngay trung tâm của châu Âu, đe dọa không chỉ an ninh mà tạo nên sự bất ổn sống còn của chế độ TBCN. Vụ khủng bố ở thành phố Nice giữa đêm Quốc khánh nước Pháp làm hơn 80 người chết và vụ khủng bố bằng phương thức như thế được lặp lại ở Berlin, thủ đô nước Đức ngày 18-12-2016  làm 12 người chết, gần năm chục người bị thương, không chỉ báo hiệu mối nguy lớn về an ninh của châu Âu. Nó còn là hệ quả tất yếu cho chính sách sai lầm, vụ lợi của CNTB trong cách hành xử với các nước nghèo, các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông.         

Những luận điệu cho rằng CNXH là lỗi thời, lạc hậu vì CNXH ở Liên xô và các nước Đông Âu đã sụp đổ chỉ là những luận điệu của những người ít hiểu biết hoặc những kẻ cố tình bôi nhọ CNXH, hòng phá hoại con đường phát triển của đất nước mà thôi.

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022

Đổi mới chính sách và phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay

 


Phải có chính sách cụ thể gắn với từng dân tộc, tôn giáo, từng vùng miền, phù hợp với đặc điểm tâm lý, nét văn hóa; không nên rập khuôn máy móc. Việc di dời dân phục vụ cho các công trình của Nhà nước phải được tính toán kỹ lưỡng, không chỉ là việc chăm lo việc ăn, ở sinh hoạt mà quan trọng hơn là sản xuất, việc làm, điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe, tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. Đại hội XIII của Đảng xác định: Phân bổ các định mức chính sách phù hợp với từng vùng, từng dân tộc thiểu số. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. Phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa cũng cần phải có phương án tổng thể, cần phối hợp chặt chẽ với các chương trình, các dự án phát triển kinh tế - xã hội tạo nên sức mạnh tổng hợp và đỡ thất thoát, lãng phí. Đại hội XIII: Vận đồng đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo” đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất cao so với bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng gia tăng; trình độ phát triển giữa các vùng có cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng, tỷ lệ tái nghèo cao. Cần phải thay đổi phương thức xóa đói, giảm nghèo ở miền núi, kết hợp sự nỗ lực của mỗi hộ dựa trên thế mạnh của đồi rừng là tự cung, tự cấp, tự trang trải với đầu tư của Nhà nước vào những việc như xóa nhà tạm, cấp nước sinh hoạt và các dịch vụ khác, quan trọng hơn là đường hướng sản xuất để ổn định lâu dài. Đại hội XIII: Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững

Củng cố và nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị trong thực hiện dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay


Hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ các cấp là đại biểu của dân về ý chí, nguyện vọng và lợi ích. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của những yếu tố cấu thành hệ thống chính trị các cấp vừa là nhằm thực hiện dân chủ, quyền con người, quyền của dân tộc, tôn giáo vừa là công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Đổi mới hệ thống chính trị các cấp thực chất là nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, không phải đổi mới bản chất chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị phải nắm chắc mục đích và nguyên tắc của quá trình đổi mới; một tư tưởng bao trùm là thực hiện quyền lực của nhân dân và mang lại lợi ích cho nhân dân, cán bộ là công bộc của nhân dân. Đội ngũ cán bộ, đảng viên và công chức nhà nước là người đại diện cho nhân dân, thực thi quyền lực của nhân dân, mang lại lợi ích cho nhân dân. Đội ngũ này phải có phẩm chất và năng lực tốt, thực sự tận tụy phục vụ nhân dân. Trước hết đội ngũ này phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện khắc phục triệt để chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu quần chúng; đề cao phê bình và tự phê bình, chân thành tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, thực sự cầu tiến bộ. Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các địa phương vùng núi, vùng đồmg bào dân tộc thiểu số vừa yếu, vừa thiếu. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, có tín ngưỡng tôn giáo là nhiệm vụ cấp bách hiện nay; vừa phải có kế hoạch bổ túc, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa phải đào tạo cơ bản để đáp ứng yêu cầu cơ bản, lâu dài. Chăm lo xây dựng cơ quan, đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo tinh thông về nghiệp vụ, có trách nhiệm cao, gắn bó với đồng bào để làm hạt nhân tham mưu đắc lực cho lãnh đạo, chính quyền giải quyết những vấn đề dân tộc, tôn giáo cụ thể. 

Phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt mục tiêu cách mạng thời kỳ mới

 


Phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh ở vùng núi, biên giới, hải đảo là một đòi hỏi khách quan vì đó là những địa bàn sung yếu, phên dậu của Tổ quốc. Phát triển kinh tế - xã hội là giải pháp cơ bản, quyết định nhất, nhưng cũng là một việc làm khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải có sự tích cực vươn lên của chính đồng bào các dân tộc thiểu số và ưu tiên đặc biệt về vật chất, con người, khoa học công nghệ… của Nhà nước. Đại hội XII của Đảng xác định: Huy động phân bố, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số…Phân bổ các định mức chính sách phù hợp với từng vùng, từng dân tộc thiểu số. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. Hoàn thiện và củng cố cơ sở hạ tầng; tạo sự thông thương dễ dàng miền ngược và miền suôi, giữa các vùng núi với nhau, giữa Việt Nam với các nước láng giềng, tạo dựng hành lang cho sự phát triển. Phát huy thế mạnh của kinh tế vùng, đồi, rừng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất hướng ra thị trường, xuất khẩu; xóa bỏ các hủ tục lạc hậu như du canh, du cư, ổn định đời sống cho nhân dân; có chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân. Đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo là vấn đề có ý nghĩa hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực con em các dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ tại chỗ; mở mang hệ thống các trường tiểu học, gắn với thôn bản, tăng số lượng các trường dân tộc nội trú, thêm các trường khu vực và cả Trung ương giành tiền cho con em các dân tộc; xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên là con em các dân tộc, có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với đội ngũ này và học sinh, sinh viên. Xây dựng các đồn biên phòng, các đoàn kinh tế quốc phòng vững mạnh, làm hạt nhân cho việc phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng ở vùng núi, biên giới, hải đảo; thu hút con em các dân tộc thiểu số vào các đơn vị này; tham gia có hiệu quả các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương; cùng với địa phương xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận lòng dân vững chắc. Đấu tranh có hiệu quả với những hiện tượng xâm phạm biên giới, buôn bán ma túy, phụ nữ, trẻ em, buôn lậu; các hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan. Ma tang, cưới xin tốn kém tốn không ít tiền bạc của đồng bào; phát triển mạnh các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe của nhân dân; mở mang các điểm văn hóa xã, thôn, bản, các lễ hội văn hóa…thu hút đồng bào nâng cao nhận thức, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc.

Nâng cao nhận thức cho toàn dân về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt nam hiện nay

 


Đây là giải pháp cơ bản vừa mang tính cấp bách, vừa phải kiên trì, bền bỉ, lâu dài. Cần phải tích cực tiến hành bằng nhiều nội dung, hình thức. phương pháp phong phú làm cho nhân dân hiểu những nội dung cốt lõi về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng của các thế lực thù địch về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Tuyên truyền, giáo dục chung đồng thời, trú trọng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng bào vùng núi, biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số có tín ngưỡng, tôn giáo; những nhóm đối tượng đặc thù; những nội dung phức tạp, nhạy cảm; những thời điểm thu hút sự quan tâm của nhiều người. Kết hợp nhiều kênh thông tin cả Trung ương, địa phương và cơ sở; xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, hạt nhân nòng cốt, người có uy tín trước cộng đồng, nhất là ở cơ sở, bám sát diễn biến nhận thức, tâm lý, tình cảm của nhân dân, tuyên truyền những nội dung thiết thực, hiệu quả định hướng tư tưởng và hành động của nhân dân.

Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền giáo dục với đấu tranh chống những nhận thức tư tưởng lệch lạc; chống mọi biểu hiện vi phạm quyền con người, quyền, lợi ích của nhân dân, quyền bình đẳng, tự quyết dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; chống mọi biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan bất chấp kỷ cương, pháp luật; đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những vấn đề trên để chống phá cách mạng, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Những ngày lễ chính của Phật giáo

 


 Lễ Dâng y Kathina: là một lễ hội lớn của Phật giáo Nam tông. Hằng năm,  mỗi chùa chỉ được tồ chức Lễ Dâng y một lần vào bất cứ ngày nào trong vòng một tháng ngay sau mùa an cư kết thúc. Việc dâng y chỉ được thực hiện tại các chùa có tu sĩ nhập hạ và cúng dường đến tất cả tu sĩ.

 Lễ Vesak/Lễ Tam hợp: được Phật giáo Nam tông tồ chức vào ngày 15-4 Âm lịch kỷ niệm ngày đản sinh, ngày thành đạo và ngày nhập diệt của Đức Phật Thích Ca. Phật giáo Bắc tông tổ chức ba lễ nêu trên riêng rẽ: Lễ Đức Phật Thích Ca nhập diệt vào ngày 15-2 Âm lịch; Lễ Phật đản vào ngày 15-4 Âm lịch; Lễ Phật Thích Ca thành đạo vào ngày 8-12 Âm lịch.

Lễ Nhập hạ và Lễ Xuất hạ: Lễ Nhập hạ là ngày đầu tiên của ty an cư kiết hạ, thường diễn ra vào ngày 16-4 Ấm lịch đối vói Phật giáo Bắc tông, ngày 16-6 Âm lịch đối với Phật giáo Nam tông. Lể Xuất hạ là ngày kết thúc kỳ an cư kiết hạ, thường diễn ra vào ngày 15-7 Âm lịch đối với Phật giáo Bắc tông, ngày 15-9 Âm lịch đối với Phật giáo Nam tông.

 Lễ Vu Lan: là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo Bắc tông diễn ra vào ngày 15-7 Âm lịch hằng năm, nhằm tưởng nhớ công ơn cha mẹ, cũng như chú nguyện cho tổ tiên và người thân đã mất được vãng sinh Phật quốc. Lễ Vu Lan xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đã cứu mẹ của minh là bà Thanh Đề ra khỏi kiếp Ngạ quỷ.

 

 

 

 

Những quan điểm cơ bản của Đảng ta về nhân quyền

 


 Quyền con người là giá trị chung của nhân loại

 Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người. Mỗi quốc gia khi tham gia các công ước quốc tế về quyền con người đều phải có những cam kết nhất định về nghĩa vụ và trách nhiệm. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định quan điểm và trách nhiệm của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người mang tính toàn cầu.

Trong xã hội phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, việc bảo đảm thực hiện quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Con người sinh ra vốn dĩ đã có quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những yêu sách hợp lý. Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến yếu tố pháp luật. Mà pháp luật bao giờ cũng là pháp luật của các chế độ chính trị khác nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ bảo đảm trước hết lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Do vậy, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc, trong thực tế không thể có một thứ quyền trừu tượng siêu giai cấp.

 Quyền con người gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia

Quyền con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất. Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng, sự nghiệp giải phóng con người gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; quyền con người chỉ có được trong độc lập dân tộc. Vì vậy, không thể có cái gọi là "nhân quyền cao hơn chủ quyền", chỉ có sự thống nhất giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.

 Quyền con người gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia

Kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải quyết các vấn đề cụ thể. Quyền con người là một giá trị phổ biến được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng nhưng mang tính đặc thù với bản sắc riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo và những đặc điểm riêng khác. Đảng và Nhà nước Việt Nam thừa nhận và tán thành quan điểm về tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người. Việt Nam là một nước đa tôn giáo, đa dân tộc; có trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp. Những đặc điểm đó quy định những đặc thù riêng trong việc thực hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

 Quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, là bản chất của chế độ XHCN

Quyền con người được ghi nhận và bảo vệ bằng Hiến pháp, pháp luật

Quyền của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THÊ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG

Thực hiện chiến lược "diên biến hòa bình" ở Việt Nam, các thế lực thù địch xác định phá hoại tư tưởng là mũi nhọn, là con đường gần nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin, gây rối loạn về tư tưởng ở đủ mọi đối tượng, từ cán bộ cấp cao cho đến những người dân thường. Thủ đoạn mới chống phá chủ yếu của các thế lực thù địch được biếu hiện ở những nét cơ bản sau: Thứ nhất, chúng thúc đấy nhanh quá trình "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Chính là tìm cách tác động vào tư duy của con người, về những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực; giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến cán bộ, đảng viên. Chúng đánh vào tư tưởng bằng những việc đơn giản, mang tính thực tế với người dân như các chế độ, chính sách, việc làm cụ thế liên quan đến đời sống của nhân dân ta đế "so sánh" với các nước phương Tây; vấn đề tự do, dân chủ làm cho người dân thấy "xã hội Việt Nam đang có vấn đề", dẫn đến hoài nghi, mơ tưởng một "xã hội khác tốt đẹp hơn". Từ đó, nếu cán bộ, đảng viên không vững vàng về tư tưởng mơ một "xã hội khác tốt đẹp hơn". Từ đó, nếu cán bộ, đảng viên không vững vàng về tư tưởng dễ rơi vào bẫy "trò chơi dân chủ" của các thế lực thù địch dẫn đến "tự diễn biến”, "tự chuyến hóa" trong từng cán bộ, đảng viên. Tinh trạng đó, nếu không kịp thời phát hiện, khắc phục sẽ nhanh chóng biến đổi về chất, dẫn đến thay đổi quan điếm, tư tưởng, đạo đức, lối sống chuyến hóa sang lập trường tư tưởng phương Tây. Thứ hai, chuyển hướng từ công kích trực diện, cứng nhắc sang tác động phân hóa từ nội bộ. Trong thời gian qua, các thế lực thù địch thường cứng nhắc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, trắng trợn xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, đòi bỏ điều 4 hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam... Kết quả chúng không thực hiện được là bao; từ đó, buộc các thế lực thù địch phải điều chỉnh thủ đoạn chống phá cho phù hợp. Vì lẽ đó, một mặt chúng công nhận thế chế chính trị, tăng cường mối quan hệ với Đảng và Nhà nước ta, mặt khác chúng tiếp tục kích động làm mâu thuẫn, phân hóa nội bộ đảng, tác động làm tha hóa từng người cán bộ, đảng viên, từng bộ phận người dân, thúc đấy nhanh quá trình "tự diễn biến” phá hoại từ bên trong của chúng. Thứ ba, cách thức tác động vào các đối tượng rất tinh vi, xảo quyệt, rất nguy hiểm. Đối với cán bộ, đảng viên, thường là thổi phồng khuyết điểm, yếu kém của một số cán bộ, đảng viên; chúng khai thác có hiệu quả những phần tử cơ hội, quan liêu, tham nhũng nhằm mục đích đánh đồng với cán bộ, đảng viên tốt làm cho có sự lẫn lộn, không phân biệt được giữa người tốt và người xấu. Đối với sinh viên và đội ngũ trí thức, chúng móc nối, lôi kéo số sinh viên học tập, công tác ở nước ngoài để tập trung tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng một lớp người có tư tưởng phủ định với Chủ nghĩa Mác-Lênin; biện pháp của chúng là đấy mạnh việc tăng học bổng, liên kết đào tạo nhằm nuôi dưỡng đội ngũ này sẽ làm thay đổi chế độ ở Việt Nam trong thời gian không xa. Đối với nhà văn, nhà báo, thủ đoạn chủ yếu của chúng là làm thay đổi nhận thức, quan điểm thông qua các hình thức hợp tác, đào tạo, hội thảo khoa học, triển lãm, tham quan tiếp cận lôi kéo những nhà báo, nhà văn trẻ có tư tưởng tự do, khám phá tư tưởng tự do, phóng khoáng, dễ giao lưu. Lợi dụng luật quốc tế tự do báo chí, xúc tiến thành lập cái gọi là "Hội nhà báo tự do", kích động văn nghệ sỹ đòi tự do sáng tác, tự do công bố các tác phấm văn hóa nghệ thuật, phản đối sự kiếm duyệt của các cơ quan quản lý Nhà nước; mua giấy phép xuất bản, mua các công trình phát sóng, hợp tác sản xuất các chương trình, ban đầu chỉ là về kỹ thuật chuyên ngành ... nhằm thay đổi nhận thức, cơ sở hóa quan điểm theo tiêu chí tự do dân chủ kiểu phương Tây. Đối với các tầng lớp nhân dân, lợi dụng khả năng nhận thức của người dân có hạn, điều kiện cập nhật, tiếp cận những thông tin hạn chế chúng tác động về tư tưởng theo kiểu "Mưa dầm thấm lâu". Tạo ra "khoảng trống" trong tư tưởng người dân, dẫn tới hoài nghi về chế độ với Đảng, Nhà nước; kích động, gây rối, biểu tình nhất là vào các thời điếm như đất nước gặp khó khăn, thiên tai, lũ lụt, tham nhũng, tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc. Chúng tăng cường xuyên tạc, thổi phồng, cường điệu hóa, bóp méo sự thật, đưa ra những lời bình luận chỉ trích chính sách của Đảng và Nhà nước, đổi lỗi cho chính quyền, tập trung vào cán bộ, đảng viên tạo bức xúc, gây mất đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân- dân, gây bè phái, cục bộ. Nhân dân tin Đảng, tin cán bộ của Đảng, bởi quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước, dù gặp nhiều khó khăn, thử thách trong chiến tranh cũng như thời bình, Đảng luôn tiếp thu nghiêm túc, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cách mạng Việt Nam, một lòng một dạ gắn bó máu thịt với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh. Nhiều cán bộ, đảng viên đã anh dũng chiến đấu, hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng: "Thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân". Với quan điểm đấu tranh kiên quyết, mềm dẻo, linh hoạt, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần đề cao cảnh giác, nhận diện, đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội đang ngày đêm bịa đặt về công tác nhân sự Đại hội đảng các cấp và Đại hội XIII của Đảng

CHUYỆN ĐỨC, TÀI, VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ

Chẳng là dạo gần đây có ông cống, ông rãnh nào đó xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng ta, trong đó có nói: "mọi nước dân chủ" trên thế giới không có nước nào đề ra tiêu chuẩn tài và đức khi bầu nguyên thủ quốc gia. Nực cười! "Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó". Tài ở đây là về chuyên môn, năng lực lãnh đạo, quản lý, chỉ huy,làm việc độc lập, sáng tạo... Có khả năng đưa ra các quyết định lãnh đạo, chỉ đạo bảo đảm tính chắc thắng trong thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm đúng quan điểm, đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đức ở đây là trung thành với sự nghiệp mà Đảng, nhân dân, dân tộc đã lựa chọn; lấy lợi ích của Đảng, nhân dân là tối thượng, sãn sàng hy sinh lợi ích cá nhân, xây dựng tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, hoan thành thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vậy tại sao ông cống lại phủ nhận tiêu chí trên? Thứ nhất, ông cống đã áp đặt suy nghĩ cá nhân khi bàn luận về người cán bộ, bởi ông ta thực ra châm trước thì chỉ được 1 vế là tài, mà có tài không có đức cũng chỉ vun vén lợi ích cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi thiếu cái nhìn xa trông rộng, thiếu đoàn kết, hỏng đại cục. Thứ hai, thể hiện sự kém hiếu biết về chính trị thế giới. Các nước tư bản họ cũng có tiêu chí đề bạt nhân sự từ các đảng phái. Quá trình đề bạt nhân sự của họ chắc chắn cũng qua nhiều vòng thấm định mới ra được nhân vật đại diện cho đảng đề cử. Chứ không phải đến lúc tranh cử mới ào uôm thế hiện. Thứ ba, ở các nước tư bản, ứng cử viên của họ là đại diện cho đảng của giai cấp tư sản, đường lối tranh cử của họ thế hiện quyền của giai cấp thống trị. ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Vì vậy, chỉ có tài thôi chưa đủ mà cần phải có đức và đề cao cái đức. Nền móng của đức chính là sự sẵn sàng hy sinh lợi ích của nhân dân, dân tộc. Tóm lại, tất thảy lý do trên đều từ chữ "ngáo" mà ra, ở đây là "ngáo chính trị" nhưng lại rất thích bàn chuyện chính trị./.

VIỆT NAM SẼ LÀ ƯỚC HẠNH PHÚC CỦA NHÂN LOẠI

Trong các cuộc biểu tình ở Mỹ, nhiều người da màu đã không cầm cờ Trung Quốc mà cầm lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam để phản đối nạn kỳ thị chủng tộc ở Mỹ. Khi hỏi vì sao thì họ trả lời: "Việt Nam là biểu tượng cho tự do và bình đẳng, không phân biệt giai tầng". Người khác nói: "Đơn giản người Việt Nam không phân biệt màu da, không phân biệt chủng tộc"... hoặc là họ trả lời: "Việt Nam đã chiến thắng những áp bức, bất công của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc... Người Việt Nam không gọi những người da đen chúng tôi là "mọi rợ"... Nghĩ về những câu trả lời trên làm chúng ta nhớ lại câu nói nổi tiếng của Võ sĩ quyền anh Muhammad Ali đã từng bị chính quyền Houston (Mỹ) kết án 5 năm tù, cấm thi đấu 3 năm vì từ chối lệnh gọi nhập ngũ sang chiến trường Việt Nam năm 1967. Khi đứng trước tòa, Vị chủ tọa phiên tòa hỏi ông:" Vì sao anh chống lại nước Mỹ? Muhammad Ali đã trả lời rất hiên ngang: "Tôi không có gì bất đồng với Việt Cộng... không có người Việt Cộng nào gọi tôi là mọi đen cả. Tại sao tôi phải đi 10 ngàn dặm để thả bom lên đầu những người Việt Nam vô tội trong khi người da đen ở Louisville (Mỹ) đang bị đối xử của mỗi người. - Những người cộng sản họ đấu tranh đế 54 dân tộc luôn chung sống vui vẻ, hòa đồng, đều chung sức đồng lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không có một dân tộc nào là thượng đẳng, mọi người không phân biệt đều có khả năng, có cơ hội, có môi trường tốt nhất đế khẳng định mình. - Những người cộng sản đấu tranh đế xây dựng một đất nước có nền văn hóa được kết hợp từ những giá trị nền tảng của truyền thống và tiếp thu những tinh thúy của nhân loại đế làm giầu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc. - Những người cộng sản là những người yêu hòa bình, họ mong muốn một thế giới hòa bình, không còn chiến tranh, chết chóc. Nhưng họ cũng là những người vô cùng dũng cảm sẵn sàng chết đế giành lại hòa bình cho đất nước, quê hương của họ. Còn rất nhiều những điều tốt đẹp về những người cộng sản mà chưa thể kế hết. Nhưng tựu chung lại đó là, nếu bạn là một người cộng sản thì hãy tự hào về điều đó. Những ai chưa là cộng sản thì hãy phấn đấu vì điều đó vì lý tưởng cộng sản luôn đẹp. Hướng tới cái đẹp là quy luật tất yếu và nó là chân lý của cuộc đời mỗi con người

PHẢI LUÔN TỰ HÀO LÀ NGƯỜI CỘNG SẢN

Trên mạng xã hội, các thế lực thù địch ra rả tuyên truyền, xuyên tạc rằng Cộng sản thế nọ, thế kia. Nào là độc ác, độc tài, không có tự do ngôn luận, không có tự do dân chủ. Xin thưa, chúng chỉ là những con vẹt, những con vẹt không hơn không kém vì bản thân chúng chỉ là loài nhai lại, nhại lại chứ không hề có một chút hiếu biết nào về cộng sản cả. Để tôi nói cho mà nghe: Những người cộng sản Việt Nam, trước tiên họ đấu tranh cho một Việt Nam hòa bình, tự do và toàn vẹn lãnh thổ. Sau gần 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng đến nay họ vẫn làm tốt điều. Những người cộng sản họ không đứng ngoài dân tộc, họ chỉ là giai cấp tiên phong đoàn kết với các giai tầng khác đế xây dựng một đất nước hòa bình, dân chủ, công bằng và văn minh. Minh chứng cho điều ấy, Việt Nam hiện nay đã là một nền kinh tế phát triển năng động hấp dẫn nhất thế giới. Những người cộng sản họ đấu tranh cho một xã hội công bằng, phấn đấu không còn áp bức, bóc lột giữa người với người, giữa giai cấp này với giai cấp khác, con người sống với nhau tình nghĩa hơn, nhân văn hơn, yêu thương nhau hơn và được chia sẻ đều lợi ích theo sự đóng góp. của mỗi người. Những người cộng sản họ đấu tranh để 54 dân tộc luôn chung sống vui vẻ, hòa đồng, đều chung sức đồng lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không có một dân tộc nào là thượng đẳng, mọi người không phân biệt đều có khả năng, có cơ hội, có môi trường tốt nhất đế khẳng định mình. Những người cộng sản đấu tranh đế xây dựng một đất nước có nền văn hóa được kết hợp từ những giá trị nền tảng của truyền thống và tiếp thu những tinh thúy của nhân loại đế làm giầu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc. Những người Cộng sản là những người yêu hòa bình, họ mong muốn một thế giới hòa bình, không còn chiến tranh, chết chóc. Nhưng họ cũng là những người vô cùng dũng cảm sẵn sàng chết đế giành lại hòa bình cho đất nước, quê hương của họ. Còn rất nhiều những điều tốt đẹp về những người cộng sản mà chưa thể kế hết. Nhưng tựu chung lại đó là, nếu bạn là một người cộng sản thì hãy tự hào về điều đó. Những ai chưa là cộng sản thì hãy phấn đấu vì điều đó vì lý tưởng cộng sản luôn đẹp. Hướng tới cái đẹp là quy luật tất yếu và nó là chân lý của cuộc đời mỗi con người./.

 QUY ĐỊNH CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ KỶ LUẬT ĐẢNG VIÊN CHẠY CHỨC, CHẠY QUYỀN

Điều 30, Quyết định số 69-QÐ/TW, ngày 6/7/2022 của Bộ Chính trị đã quy định cụ thể về kỷ luật đảng viên vi phạm quy định về chống chạy chức, chạy quyền.
TOÀN VĂN QUY ĐỊNH SỐ 69/QĐ/TW VỀ KỶ LUẬT TỔ CHỨC, ĐẢNG VIÊN VI PHẠM
Thay mặt Bộ Chính trị, ngày 6/7/2022, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Quy định số 69-QÐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm
Điều 30, Quyết định số 69-QÐ/TW đã quy định cụ thể về kỷ luật đảng viên vi phạm quy định về chống chạy chức, chạy quyền.
Các trường hợp bị kỷ luật khiển trách
Khoản 1, Điều 30, Quyết định số 69-QĐ/TW quy định "đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách":
Tiếp cận, thiết lập quan hệ, tặng quà người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan để được ưu ái, ủng hộ nhằm mục đích có được vị trí công tác, chức vụ, quyền hạn.
Tác động, mua chuộc, gây sức ép với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, bổ nhiệm mình hoặc người khác vào vị trí, chức vụ có lợi cho cá nhân.
Đặt điều kiện, gây sức ép với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, đề cử, bổ nhiệm mình.
Mặc cả, đặt điều kiện, đòi hỏi không chính đáng với tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trách nhiệm để được sắp xếp vào chức vụ, vị trí công tác.
Can thiệp, tác động, gây áp lực để người khác quyết định hoặc tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết, bỏ phiếu giới thiệu nhân sự theo mục đích cá nhân.
Trì hoãn, không thực hiện hoặc chọn thời điểm có lợi với nhân sự theo ý mình để thực hiện quy trình công tác cán bộ.
Các trường hợp bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức
Trường hợp đã kỷ luật theo Khoản 1 Điều 30 mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):
Không chỉ đạo xem xét, xử lý kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội về hành vi tiêu cực trong công tác cán bộ hoặc bao che, tiếp tay cho hành vi tiêu cực này.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thao túng, bao che hành vi tiêu cực trong đánh giá cán bộ, bố trí, bổ nhiệm cán bộ, bầu cử; quyết định không đúng cho người khác có được vị trí, chức vụ, quyền lợi trái quy định.
Can thiệp, tác động trái quy định vào công tác cán bộ; bổ nhiệm, bố trí cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, theo quy định. Để cho người khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để bố trí, bổ nhiệm cán bộ.
Thiếu trách nhiệm trong việc xử lý cán bộ, đảng viên có hành vi tiêu cực trong bố trí, bổ nhiệm cán bộ hoặc không kiến nghị, xem xét xử lý theo quy định đối với hành vi tiêu cực này.
Bao che, không xử lý, không giải quyết khiếu nại, tố cáo tổ chức đảng, đảng viên có hành vi tiêu cực trong bố trí, bổ nhiệm cán bộ.
Tặng, nhận quà biếu cho người có trách nhiệm hoặc người có liên quan quyết định đến việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật.
Kỷ luật bằng hình thức khai trừ
Khoảng 3, Điều 30, Quyết định số 69-QĐ/TW quy định: "Kỷ luật bằng hình thức khai trừ trong trường hợp vi phạm Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đưa, nhận hối lộ để được bố trí, bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm, bố trí nhiều cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện gây hậu quả rất nghiêm trọng"./.