Thứ Ba, 12 tháng 7, 2022

Họ Còn Nhớ Hay Đã Quên?

 

“Có thực sự là cuộc chiến ấy đã diễn ra? Có thực sự là Khmer Đỏ có thật? Có thực sự là Việt Nam đã giúp đỡ Campuchia chống lại Khmer Đỏ không?” - bình luận của một người dân Campuchia trên fanpage của Thủ tướng Hun Sen vào ngày 20/06 nhân dịp 45 năm Ngày lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ.
Bình luận này nhận được rất nhiều lượt yêu thích và tranh luận nhưng nhanh chóng bị xóa đi ít lâu sau đó. Những câu hỏi trên gợi ra một vấn đề, rằng một bộ phận người Campuchia sau này nghĩ gì về cuộc diệt chủng Khmer Đỏ? Liệu họ, những người kế thừa lịch sử của một thế hệ điêu tàn, có lãng quên và sao nhãng cuộc chiến ấy không?
Hai phần ba người dân Campuchia ở vào độ tuổi dưới 30, độ tuổi trung bình của đất nước này là 26 - thuộc nhóm trẻ nhất châu Á. Họ được sinh ra sau “thời đại diệt chủng” diễn ra ở những năm 70 của thế kỷ trước. Giai đoạn ấy, chế độ Khmer Đỏ đã tiêu diệt ¼ dân số của quốc gia này. Độ tuổi quá trẻ nói lên điều gì? Có thể, họ sẽ không hình dung ra tội ác của Khmer Đỏ ngay cả khi đứng giữa Tuol Sleng, Choeung Ek hay Anlong Veng. Và chính vì không hình dung được, nên họ có một cái nhìn hời hợt. trống trải về sự kiện này. Rồi, họ hoài nghi, họ lãng quên. Đó chính xác là những gì đã, đang và sẽ diễn ra…
Ngày 23/05/2022, Trung tâm Tư liệu Campuchia (DC-CAM) tổ chức một ngày tưởng nhớ cho các nạn nhân Khmer Đỏ tại Takeo và Kampong Cham. Đáng buồn rằng, phần lớn những người tham gia buổi hôm ấy là những người già, trung niên và thiếu vắng những người trẻ. Giám đốc DC-CAM Youk Chhang cho biết buổi lễ nhằm giúp người trẻ tìm hiểu về những hành động tàn bạo của Khmer Đỏ, đồng thời xoa dịu nỗi đau của những người sống sót.
“Lịch sử đen tối của Khmer Đỏ đối mặt với nguy cơ bị lãng quên trong những năm qua. Điều đó cần được ngăn chặn và cần được các thế hệ mai sau ghi nhớ để tình trạng bạo lực không bao giờ lặp lại ” - ông Youk Chhang bình luận.
“Thế hệ trẻ, họ không biết về chiến tranh, và ngay cả tôi, một người thuộc thế hệ đó, nhưng tôi cũng không biết nhiều về nó” - Kao Kea, 58 tuổi trả lời phỏng vấn The New York Times. Bà nói thêm: “Có lẽ chúng ta nên nhớ. Bởi vì nếu chúng ta không làm vậy, điều gì sẽ ngăn chúng ta phạm phải những sai lầm tương tự một lần nữa?”.
Nhiều người trẻ Campuchia và Việt Nam không biết rằng, trong những giờ phút khó khăn nhất từ 1977 - 1979, có tới hàng trăm ngàn người Campuchia vượt biên tị nạn ở Việt Nam. Những người này sau đó trở về sau khi kết thúc chiến tranh, trở thành một phần của “những người Campuchia mới” và họ trực tiếp tham gia tái thiết đất nước Campuchia. Họ cần biết rằng, Khmer Đỏ đã tấn công vào lãnh thổ Việt Nam khiến nửa triệu người mất nhà cửa và hơn 100.000 ha đất nông nghiệp phải bỏ hoang vì giao tranh.
Việt Nam là quốc gia duy nhất bấy giờ giúp Campuchia khôi phục lại hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng hành chính, các trường học mở cửa trở lại, các ngôi chùa Phật giáo trở lại hoạt động, các thành phố được tái thiết. Tháng 06/1980, Việt Nam viện trợ không hoàn lại 180.000 tấn lương thực cho Campuchia - con số viện trợ lớn nhất mà Việt Nam dành cho một quốc gia khác và cũng là con số viện trợ lớn nhất mà Campuchia được nhận cho đến thời điểm hiện tại. Cần biết rằng vào những năm đó, Việt Nam vẫn còn rất nghèo đói vì phải chống Trung Quốc ở phía Bắc và chiến đấu chống Khmer Đỏ ở phía Tây Nam, vừa phải lo khắc phục hậu quả chiến trong trong nước… Đó dường như là tất cả những gì người ta gọi là nhân đạo trên thế giới này.
Liên Hợp Quốc tiếp nhận toàn bộ Campuchia sau khi Việt Nam Việt Nam rời đi vào cuối tháng 9/1989. Các quốc gia được LHQ tiếp nhận thường chỉ còn lại đống đổ nát, nạn đói, bệnh dịch, nhưng Campuchia lại không rơi vào tình cảnh ấy. Nhưng, nhiều người trẻ Campuchia dường như nghĩ rằng chính LHQ mới là đối tượng chính giúp Campuchia tái thiết đất nước… Điều đó là sai!
Chuyên trang Modern Diplomacy bình luận: “Nhiều người Campuchia thậm chí còn không biết rằng Việt Nam là quốc gia duy nhất đã giải cứu họ khỏi những khó khăn của chế độ diệt chủng”.
SD Pradhan, Chủ tịch Ủy ban tình báo, Phó cố vấn an ninh quốc gia, Chủ nhiệm Đội đặc nhiệm tình báo Ấn Độ từng bình luận rằng: “Cuộc chiến tại Campuchia là cuộc chiến mà phần đông thế giới văn minh muốn quên vì họ đã tiếp tay đó những điều sai trái tại đó. Những người lãnh đạo Khmer Đỏ đã được đưa ra ánh sáng, nhưng những gì Việt Nam đã làm được vẫn chưa được nhìn nhận đúng mực”.
Giáo sư Pankaj Jha của Đại học Delhi viết: “Việt Nam chưa bao giờ được nhìn nhận, tôn vinh theo đúng những gì mà quốc gia này đã cống hiến”.
Lãng quên cũng là một tội ác. Tội ác này không gây ra thương tổn trực tiếp cho những người khác, nhưng chúng gây ra thương tổn cho lịch sử. Và lãng quên chính là điểm bắt đầu cho những tội ác khác dần hình thành và len lỏi. Nhưng, “vấn nạn” lãng quên không chỉ diễn ra với nhiều người trẻ Campuchia và còn diễn ra âm thầm trong tâm trí một bộ phận giới trẻ Việt Nam...
Cho đến một ngày nào đó trong tương lai, liệu lịch sử đúng đắn còn chỗ đứng hay không? Liệu có một ngày sự lãng quên biến sự thực thành dối trá hay không? Điều đó, phải chăng đang đến thật gần ngay lúc này./.
vubao5-st

2

 Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam mở sổ tang tưởng niệm cựu Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo từ 9h đến 17h15 trong hai ngày 11 và 12/7 tại trụ sở Đại sứ quán ở số 27 phố Liễu Giai, quận Ba Đình, Hà Nội.

Cựu Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo đã qua đời vào lúc 17h03 (giờ địa phương) ngày 8/7 sau khi bị b.ắn từ phía sau trong lúc vận động tranh cử cho một ứng cử viên của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền ở thành phố Nara, phía Tây Nhật Bản, vào trưa cùng ngày.
Ngày 8/7, được tin cựu Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo từ trần, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam gửi điện chia buồn tới Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do, Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio.
Trong điện, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gửi lời chia buồn sâu sắc nhất tới Chính phủ, nhân dân Nhật Bản và gia quyến Ngài cựu Thủ tướng Abe Shinzo, bày tỏ trân trọng tình cảm đặc biệt và sự ủng hộ, hỗ trợ quý báu mà Ngài Abe dành cho đất nước và con người Việt Nam cũng như quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản.
Cùng ngày, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn cũng đã gửi điện chia buồn tới Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Hayashi Yoshimasa.
Ông Abe, 67 tuổi, là Thủ tướng nắm quyền trong thời gian dài nhất ở Nhật Bản, lần đầu nhậm chức năm 2006, nắm quyền trong một năm và tái đắc cử vào năm 2012-2020.
Cựu Thủ tướng Abe Shinzo là người có đóng góp to lớn vào việc phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, thịnh vượng, hợp tác và phát triển ở khu vực và quốc tế. Trong thời gian hoạt động chính trị, Thủ tướng Abe đã nhiều lần tới Việt Nam. Riêng trên cương vị Thủ tướng Nhật Bản, ông đã thăm Việt Nam tổng cộng 4 lần (tháng 11/2006, tháng 1/2013, tháng 1/2017 và tháng 11/2017).
Một số hình ảnh Thủ tướng Phạm Minh Chính ghi sổ tang tưởng niệm cựu Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo dưới phần comment
Báo Điện tử Chính phủ
vubao4-st
Có thể là hình ảnh về 11 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH GHI SỔ TANG TƯƠNG NIỆM CỰU THỦ TƯỚNG NHẬT BẢN ABE SHINZO fb.com/ttxltt'
2

TÁC GIẢ CÂU NÓI NỔI TIẾNG "HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA"

 

Cách đây 537 năm (1484-2021), trên tấm bia Tiến sĩ đầu tiên dựng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám ghi lại lịch sử khoa thi năm 1442 có khắc ghi những dòng chữ: "...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...".
Người soạn ra những câu nổi tiếng đó là vị Tiến sĩ triều Lê tên là Thân Nhân Trung.
Thân Nhân Trung (1419-1499), người xã Yên Ninh, huyện Yên Dũng (nay là thôn Yên Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư, Chưởng Hàn lâm viện kiêm Đông các đại học sĩ, Nhập nội phụ chính,Tế tửu Quốc Tử giám; được vua Lê Thánh Tông vời vào hoàng cung dạy học cho các hoàng tử, nhà thơ tài năng trong hội Tao Đàn Nhị thập bát tú và được vua Lê Thánh Tông phong là Phó Đô Nguyên suý.
Thân Nhân Trung được triều đình tin dùng trong việc tuyển chọn nhân tài và đào tạo nhân tài cùng các công việc quan trọng khác trong triều. Các kỳ thi hương, thi hội ông đều có đóng góp tích cực, việc xem xét bài vở của các thí sinh, vua đều giao cho Thân Nhân Trung xem xét đọc duyệt để trình lên. Uy tín và vai trò của Thân Nhân Trung càng được đề cao vào năm 1493, khi ông được giữ chức Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám. Với trọng trách này, Thân Nhân Trung lại càng phải tăng thêm trách nhiệm chăm lo vun trồng cho sự nghiệp nhân tài của đất nước.
Thân Nhân Trung không chỉ là một vị quan đại triều có uy tín về đức độ và tài năng mà ông còn là nhà giáo dục mẫu mực của thời đại. Ông là tấm gương sáng về tinh thần hiếu học để gia đình, con cháu và quê hương noi theo.
Câu nói: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia” của Thân Nhân Trung không chỉ dừng lại trong xã hội thời Lê mà câu nói ấy đối với chúng ta vẫn còn nguyên giá trị, khi giáo dục đang trở thành quốc sách hàng đầu, khi văn hoá, khoa học và đội ngũ trí thức đang giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp kiến quốc đất nước hôm nay./.
vubao3-st
Có thể là hình ảnh về ngoài trời và văn bản cho biết 'HIỀN TALLA NGUYEN KHÍ QUỐC GIA TÁC GIẢ CÂU NÓI NỔ”I TIẾNG "HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC Mai HoaMai GIA"'
3

TRÍ NHỚ SIÊU ĐẲNG

 

Chiến dịch Lam Sơn 719 của Việt Nam Cộng Hòa là chiến dịch quy mô lớn được thực hiện năm 1971, trong bối cảnh quân Mỹ đang rút dần khỏi Việt Nam. Chiến dịch diễn ra nhằm khảo nghiệm khả năng quy mô tác chiến độc lập của quân đội Sài Gòn, nếu sau này không còn quân Mỹ song hành.
Mục tiêu của chiến dịch là cắt đứt nguồn tiếp tế của quân giải phóng thông qua Lào. Từ đó, bóp ngạt quân giải phóng đến bờ sụp đổ. Rất ít sĩ quan VNCH biết về chiến dịch này, bởi lẽ tầm quan trọng của nó đối với tương lai của VNCH. Vì nếu chiến thắng trong chiến dịch này thì phía VNCH sẽ ăn được các gói viện trợ béo bỡ mà Quốc hội Mỹ thông qua. Và phía Mỹ, nhất là tổng thống Richard Nixon, cũng sẽ đỡ ngộp hơn trước phiên trả lời Quốc hội sắp tới. Có thể nói đây chính là “deadline” quan trọng bậc nhất mà cả phía Sài Gòn và Mỹ đang chạy ráo riết để kịp nộp cho Quốc hội Mỹ.
Kế hoạch được chuẩn bị hết sức tỉ mỉ và vô cùng tuyệt mật. Tuy nhiên, sự tuyệt mật đó chỉ đảm bảo đến khi cho đến khi rượu chạm môi. Kế hoạch được phát giác và gửi về Hà Nội đầu tiên bởi điệp viên Tống Văn Trinh.
Đồng chí Tống Văn Trinh sinh năm 1928, quê gốc ở Châu Đốc, An Giang, tham gia cách mạng từ năm 1945, là đảng viên Cộng sản năm 1948. Năm 1959, đồng chí được Cục Tình báo Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cử sang hoạt động bên Lào. Thời gian sau, Tống Văn Trinh vào làm việc ở Sở Công chính ngụy quyền Lào tại Thủ đô Viêng Chăn. Với bản chất cởi mở dễ gần, Tống Văn Trinh nhanh chóng chiếm được cảm tình của ngụy quyền Lào - Việt ở Viêng Chăn.
Đầu tháng 1/1971, chuẩn bị đón Tết Tân Hợi, Tống Văn Trinh thấy có nhiều xe của đại sứ quán chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chạy trên đại lộ Lane Xang ở Viêng Chăn. Một lần đến chuyện trò thân mật với Trung tá Bảo, tùy viên quân sự đại sứ quán chính quyền Sài Gòn, anh được Trung tá Bảo cho biết: "Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vừa cử một số cán bộ cao cấp ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn sang Lào đàm phán một số vấn đề quan trọng giữa hai nước". Tống Văn Trinh liền ngỏ ý: "Nhân dịp chuẩn bị đón Tết, chẳng mấy khi có đồng hương từ Sài Gòn sang, ta nên có một bữa tiệc chiêu đãi thịnh soạn".
- "Đắc-co", trước hết, với danh nghĩa tùy viên quân sự, tôi mời 7 sĩ quan cao cấp quân đội Nguyễn Cao Kỳ vừa sang đến dự tiệc tại ngay phòng tùy viên. Bữa tiệc rượu liên hoan được tổ chức tại nhà riêng của Trung tá Bảo, đồng thời cũng là nơi làm việc của phòng tùy viên quân sự, trên đường đi Thát Luông.
Trong cuộc gặp mặt này, Trung tá Bảo đã mời nhiều quan khách cao cấp của cả hai nước Việt - Lào, đã gọi từ Băng Cốc một số thiếu nữ Thái gốc Hoa xinh đẹp về Viêng Chăn phục vụ. Trong lúc say sưa, chúng đã tiết lộ nhiều tin quân sự bí mật. Một tên nói:
- Tướng Uylơ, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân, sau khi đi thị sát chiến trường Đông Dương đã xin tăng quân viễn chinh ở Việt Nam, Lào, Campuchia lên thêm gần 30 vạn nữa. Vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon nhắc Tổng thống Thiệu về việc từ năm 1966, Việt Cộng đã đưa từ Bắc vào Nam qua đường Trường Sơn trên đất Lào trên 63.000 người, 400.000 tấn vũ khí... Cần cử đại diện sang Lào đàm phán, phối hợp tổ chức một cuộc hành quân tìm diệt, phá hủy các cơ sở của Cộng sản Việt - Lào và cắt đứt đường vận chuyển của Bắc Việt đưa quân, vũ khí, lương thực vào miền Nam...
Thấy một sĩ quan ngụy nhìn về phía mình, Tống Văn Trinh đã vin cớ quá say, xin được đi nghỉ. Trung tá Bảo bố trí cho anh vào phòng trong của mình nằm ngủ. Qua khe cửa, Tống Văn Trinh thấy bọn ngụy đang say sưa nằm kề bên các cô gái Thái, vừa hút thuốc phiện, vừa bàn nhiều chuyện đại sự.
Nằm trong phòng Trung tá Bảo, Tống Văn Trinh thấy trên mặt bàn một tập hồ sơ ghi đậm dòng chữ: "Opération Lam Sơn 719", phía dưới có hai chữ "Tuyệt mật". Anh nhanh chóng đọc vội, nhớ thật kỹ nội dung tập hồ sơ nói về mục tiêu cuộc hành quân của ngụy quyền Lào - Việt ở đường 9 - Nam Lào với đầy đủ các địa điểm nhảy dù từ Khe Sanh đến Tchépone, ngày giờ bắt đầu và từng giai đoạn hành quân, các lực lượng ngụy Lào, Việt chiến đấu và các đơn vị quân viễn chinh Mỹ yểm trợ. Trên tường là một tấm bản đồ quân sự Mỹ ghi tỉ mỉ từng địa điểm, thời gian, từng đơn vị tham gia chiến đấu. Với trí nhớ siêu đẳng của một điệp viên, sau khi đã điểm lại đầy đủ những điều ghi nhận, Trinh mở cửa ra phòng ngoài. Trung tá Bảo niềm nở:
- Nằm đây, các em gái Thái tiêm cho mấy viên a phiến giải sầu đã. Tống Văn Trinh vin cớ quá say, xin về nhà nghỉ. Về nhà, ông đã thức đến sáng, viết và gửi báo cáo về cuộc "Hành quân Lam Sơn 719" của địch do Trung tướng ngụy quyền Sài Gòn Hoàng Xuân Lãm chỉ huy.
Nhờ vậy mà kế hoạch Lam Sơn 719 – dù được Mĩ bảo vệ tuyệt mật – đã bị lộ. Kế hoạch được bảo vệ tuyệt mật ở phía Mĩ, chứ phía VNCH thì say và No. Kế hoạch cứ như vậy mà bị lộ trước một tháng diễn ra, góp phần đẩy quân VNCH vào thất bại ê chề tại cao nguyên Trung Phần.
Dù thất bại nhưng cuộc duyệt binh ngày quân lực VNCH năm 1973 vẫn tuyên dương và khen thưởng các lực lượng tinh nhuệ đã “đánh thắng Cộng quân trên mặt trận cao nguyên Trung Phần trong chiến dịch Lam Sơn 719” sự ảo tưởng này ngoài dự tính ban đầu của quân Giải phóng.
vubao2-st

KHÔNG QUA ĐƯỢC MẮT DÂN


Trong công tác xây dựng Đảng nói chung, trong phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (TNLPTC) nói riêng, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định để phát huy vai trò của Nhân dân. Ban Bí thư cũng đã có Quyết định hướng dẫn tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực hiện tốt vai trò giám sát của Nhân dân. Thể hiện ở chưa thực hiện đúng các quy định về công khai, minh bạch; hoặc có thực hiện nhưng hình thức, đối phó. Hình thức công khai cũng chưa phù hợp, người dân khó tiếp cận, rất ít người biết.
Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận: “Hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả”.
Sinh thời, Bác Hồ đã dạy “Không có gì mà Nhân dân không biết và không có gì qua mắt được Nhân dân. Chúng ta phải biến hàng vạn, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, làm cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu không có chỗ ẩn nấp”.
Do đó, cần đề cao hơn nữa vai trò của Nhân dân trong phòng chống TNLPTC. Thể hiện ở việc xây dựng cơ chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân tham gia giám sát, đóng góp ý kiến khi xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách; trong đánh giá, đề bạt bổ nhiệm; trong giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, giám sát biến động tài sản; giám sát về đạo đức, lối sống, chấp hành pháp luật... của cán bộ, đảng viên.
Thực tế là không biết thì không thể giám sát. Việc của Đảng cũng là việc của Dân. Cho nên công khai, minh bạch thật sự, tránh công khai hình thức, đối phó sẽ giúp Nhân dân được biết, được bàn, được giám sát. Từ đó Đảng sẽ có thêm “những ngọn đèn pha”, để TNLPTC, suy thoái biến chất “không còn chỗ ẩn nấp”.
vubao1-st
1

Giải pháp đấu tranh ngăn ngừa chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa dân túy trên thế giới đã trở thành trào lưu điển hình chi phối đời sống chính trị - xã hội ở nhiều nước, nhưng ở Việt Nam mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động của một số người. Tuy nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh ngăn ngừa kịp thời. Để những biểu hiện đó không phát triển, trở thành “vi rút độc” gây ô nhiễm đời sống chính trị đất nước; những người mang nó không chuyển hẳn sang phía bên kia, chống lại Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc và phương pháp luận quan trọng. Để đấu tranh ngăn ngừa, phải thực hiện tổng thể nhiều giải pháp, trước hết, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau: Một là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận diện đúng những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay; thấy rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của nó đến đời sống tinh thần xã hội, đến nền tảng tư tưởng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy đảng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, v.v. Qua đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những “tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái”1. Trên cơ sở đó, tạo sự vững vàng và nhạy bén về chính trị; sự “miễn dịch” cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” và khả năng đấu tranh ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và tác động của những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. Theo đó, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến chi bộ về đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, hiệu quả hơn theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quan tâm hơn nữa đến vấn đề đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy; khắc phục mọi biểu hiện xem nhẹ, buông lỏng vấn đề này; bổ sung, hoàn thiện chủ trương, quan điểm nhằm tăng hiệu quả đấu tranh. Đồng thời, có cơ chế, chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, triệt tiêu mầm mống nảy sinh, phát triển suy thoái, tham nhũng và tiêu cực; phát hiện từ sớm, từ đầu những biểu hiện dân túy, gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, “phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”2. Khắc phục mọi biểu hiện hình thức, cá nhân chủ nghĩa, “mị dân”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”. Ba là, chủ động đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với đấu tranh khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đây vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản, vừa là biện pháp quan trọng trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay. Theo đó, các cấp ủy đảng cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội”3, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phê phán mạnh mẽ tính chất mị dân, lừa phỉnh của những người có biểu hiện dân túy, gắn với việc làm rõ quan điểm lấy dân làm gốc, tất cả vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân của Đảng. Thực hiện tốt phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”, để phê phán những biểu hiện chủ nghĩa dân túy và phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Bốn là, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt, tạo cơ sở ngăn ngừa, loại trừ những biểu hiện chủ nghĩa dân túy từ cơ sở. Cấp ủy các cấp cần nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng; duy trì nghiêm quy định, quy chế phát ngôn; kiên quyết phòng, chống mọi biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán quan điểm dân túy, kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ. Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, kiên định, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. TMT 11.7
Mối nguy hại từ việc xem nhẹ một căn bệnh nặng Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) là căn bệnh đặc biệt nguy hại, thế nhưng hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện xem nhẹ, thiếu ý thức trách nhiệm trong phòng vệ, đấu tranh. Thậm chí, nhiều nơi vẫn còn biểu hiện xô lệch và sai lệch trong nhận thức, tổ chức thực thi nhiệm vụ “đánh giặc từ bên trong” như chỉ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời. Tự cho mình là tốt, là hay? CNCN có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể). Những người rơi vào CNCN thường quan niệm và tuân theo những “triết lý” tự đúc rút; thể hiện sự bảo thủ cao độ, không hạn chế mục đích và ham muốn bản thân. Họ “phản đối” và bất chấp sự can thiệp từ bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân, dù sự can thiệp đó là của xã hội, nhà nước, hoặc bất kỳ một cộng đồng, một tập thể hay một thể chế nào khác. Họ là nhất-hơn tất cả và chỉ lao động hoặc sáng tạo vì lợi ích của riêng họ mà bất chấp bỏ qua những mối liên hệ, mối quan hệ xung quanh trong đời sống xã hội. Những dấu hiệu này đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút, chỉ rõ: CNCN là “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết; chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”. CNCN hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”-điều đó tạo ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý “tôi là nhất” của CNCN. Khác nhau là vậy, nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy... Ngược lại, CNCN thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn nhầm tưởng, thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống đúng với cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì phía sau cá tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc CNCN. Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, mực thước. Thế nhưng, đáng buồn là nhiều cán bộ tự phong cho mình sự hoàn hảo, rồi bỏ ngoài tai tất cả những góp ý chân tình, đúng đắn của tập thể, đồng đội và quần chúng. Cùng với đó, hiện nay tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng ở nhiều nơi, kể cả trong nội bộ tổ chức đảng, vẫn còn nặng biểu hiện “dĩ hòa vi quý”. Cả trong cuộc sống, công tác, cả ở hội nghị, hay những dịp đánh giá cán bộ theo định kỳ hoặc đột xuất, mọi người vẫn thường xem nhẹ việc chỉ trích và phê bình, hầu như chỉ bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, bỏ qua cho nhau những sai lệch, yếu khuyết từ nhỏ, thậm chí không nhỏ. Thành thử, đến cuối năm, cán bộ nào cũng tốt, đảng viên nào cũng hoàn thành nhiệm vụ và những yếu kém dần bị xem nhẹ, được “bỏ qua” một cách hiển nhiên theo kiểu: “Biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành không”. Đó là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tích tụ các khuyết điểm nhỏ thành sai lầm lớn rồi hình thành, kết nên CNCN ở cán bộ, đảng viên. Thực tế cho thấy, trong hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật buộc phải xử lý, trong số rất nhiều vụ đại án tham nhũng, tiêu cực, thì nguyên nhân sơ khai ban đầu đều xuất phát từ căn bệnh CNCN ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thậm chí, hiện nay căn bệnh này đang diễn tiến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng. Ấy thế nhưng, công bằng mà nói, ở nhiều nơi, việc chống CNCN chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hô hào, nặng hình thức, kết quả thiếu thực chất và chưa đạt như mong muốn. Cần nhớ rằng, CNCN là đặc biệt nguy hại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sớm chỉ rõ CNCN là một thứ gian xảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ người ta đi xuống dốc, nó là một thứ vi trùng rất độc đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm... Nó phá từ trong phá ra, là bạn đồng minh của chủ nghĩa đế quốc và thói quen truyền thống lạc hậu, nguy hiểm hơn kẻ thù bên ngoài. Tiếp cận như vậy để thấy, CNCN-một căn bệnh hết sức nguy hại, đang diễn ra phổ biến, hậu quả và hệ lụy khó lường, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi lại hồn nhiên xem nhẹ, chưa thật sự đề cao trách nhiệm và quyết tâm chính trị trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi. Biểu hiện rõ nét nhất là sức chiến đấu của tổ chức đảng còn nhiều vấn đề đáng bàn; việc thực hành nguyên tắc tự phê bình và phê bình bị xem nhẹ, thiếu thực chất. Việc không phải của mình! Vì không nhận thức rõ nguồn gốc, bản chất, mức độ nguy hại của CNCN; lại tự cho rằng bản thân mình luôn cố gắng học tập, rèn luyện nên tuyệt nhiên đã trở thành người tốt, có nhân cách hoàn thiện, nhiều cán bộ, đảng viên thường sinh ra tâm lý mặc nhiên, bàng quan, vô cảm trước vấn nạn đang hiện hữu nhãn tiền. Nhiều cán bộ, đảng viên không nhận thấy trách nhiệm bản thân mà phiến diện cho rằng việc chống CNCN là việc của cấp ủy, chính quyền, của cơ quan chức năng và những người có trách nhiệm. Ở nhiều nơi, khi CNCN xuất hiện phổ biến, gây hậu quả nghiêm trọng thì mới “phất cờ” tuyên chiến, đấu tranh theo lối thụ động, vuốt đuôi. Lại không ít cán bộ cho rằng, CNCN là bệnh của một cá nhân (cá thể) cụ thể nên rất dễ dàng nhận diện, đấu tranh, triệt tiêu được ngay... Thế nhưng, tất cả những nhận thức ấy hoặc là rơi vào sai lầm, hoặc phiến diện một chiều, hoặc mang nặng sự áp đặt chủ quan. Để làm được điều đó, đòi hỏi qua từng ngày, từng tuần, từng việc làm, hoạt động cụ thể, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ trách nhiệm “tự soi” lại mình để nghiêm khắc, kiên trì “tự sửa” như đánh răng, rửa mặt hằng ngày. Đừng một ai tự cho mình là hoàn hảo; đừng bất chấp thực hành những việc chỉ có lợi cho mình, lại có hại cho người khác hoặc tổ chức. Mỗi cán bộ, đảng viên cần biết cách "định vị lại", "cấu trúc lại" và thường xuyên điều chỉnh cách sống, cách làm theo hệ giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng. Bất cứ khi nào có chuyện khác biệt, rơi vào tình huống có vấn đề, từng người không nên cố gắng tìm những lý do bên ngoài. Đối với tổ chức, ở mọi cấp, mọi ngành cần nhất quán quyết tâm chính trị rất cao để nhận diện, đẩy lùi CNCN trong nội bộ. Tất nhiên, nhận diện CNCN không phải chuyện giản đơn, do đó, các cấp cần có chủ trương phát huy tinh thần tự giác, đề cao trách nhiệm của từng thành viên trong tập thể; đồng thời phải có cơ chế để giám sát, có chế tài để xử phạt, xử lý một cách nghiêm khắc, triệt để. Với tinh thần đó, từng cán bộ, đảng viên phải có thái độ tích cực, quyết liệt, không khoan nhượng trong nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn các dấu hiệu, biểu hiện CNCN của đồng chí, đồng nghiệp, nhất là người đứng đầu. Việc nhận diện CNCN cần được vận hành trên cả 5 thành tố: Tư tưởng, chính trị, tổ chức, đạo đức, cán bộ; nhận diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trước hết là các khu vực liên quan đến lợi ích kinh tế, tài chính, cán bộ và chính sách; trên cả phẩm chất, năng lực cán bộ, mà trước hết là khí chất, tính cách, tư cách, lối sống, cách sống của cán bộ, đảng viên. KIỀU HỒNG QUÂN LỚP CH30