Thứ Ba, 12 tháng 7, 2022

Bộ Quốc phòng thăm, tặng quà các thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng ở tỉnh Hà Nam​

 

Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022), sáng 12-7, Đoàn công tác của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo Tổng cục Chính trị (TCCT) Quân đội nhân dân Việt Nam do Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm TCCT Quân đội nhân dân Việt Nam làm Trưởng đoàn đã đến thăm, tặng quà các thương binh, bệnh binh tại Trung tâm nuôi dưỡng thương binh nặng và điều dưỡng người có công Hà Nam và Trung tâm điều dưỡng thương binh Kim Bảng (tỉnh Hà Nam).

Tham gia Đoàn công tác có Thủ trưởng cơ quan chức năng của TCCT Quân đội nhân dân Việt Nam; Thủ trưởng Bộ tư lệnh Quân khu 3; Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ CHQS tỉnh Hà Nam; cấp ủy, chính quyền các huyện Kim Bảng và Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam).

Phát biểu tại buổi thăm, tặng quà, thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo TCCT Quân đội nhân dân Việt Nam, Trung tướng Trịnh Văn Quyết bày tỏ tình cảm, sự biết ơn sâu sắc và gửi lời chúc sức khỏe tới các thương binh, bệnh binh đang được chăm sóc, điều trị tại các trung tâm.

Đồng chí Phó chủ nhiệm TCCT Quân đội nhân dân Việt Nam cũng khẳng định, thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng. Với trách nhiệm chính trị và tình cảm sâu sắc, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã đề xuất Đảng, Nhà nước ban hành và thực hiện nhiều chủ trương chính sách lớn đối với quân đội và hậu phương quân đội; tập trung giải quyết khối lượng lớn chính sách tồn đọng sau chiến tranh, chính sách đối với người có công với cách mạng, như: Đề nghị công nhận liệt sĩ; xác nhận thương binh, bệnh binh; giải quyết chính sách đối với các đối tượng tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế; chính sách đối với người Việt Nam có công với cách mạng đang định cư ở nước ngoài; đẩy mạnh hoạt động đền ơn đáp nghĩa, tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin…

Bộ Quốc phòng thăm, tặng quà các thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng ở tỉnh Hà Nam​
 Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm TCCT Quân đội nhân dân Việt Nam phát biểu tại buổi thăm, tặng quà Trung tâm nuôi dưỡng thương bệnh binh nặng và điều dưỡng người có công tỉnh Hà Nam.

 

Bộ Quốc phòng thăm, tặng quà các thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng ở tỉnh Hà Nam​
Trung tướng Trịnh Văn Quyết trao quà của Bộ Quốc phòng tặng Trung tâm nuôi dưỡng thương binh nặng và điều dưỡng người có công tỉnh Hà Nam. 

 

Bộ Quốc phòng thăm, tặng quà các thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng ở tỉnh Hà Nam​
 Trung tướng Trịnh Văn Quyết thăm hỏi các thương binh nặng và người có công tỉnh Hà Nam. 

 

Bộ Quốc phòng thăm, tặng quà các thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng ở tỉnh Hà Nam​
Trung tướng Trịnh Văn Quyết và đoàn công tác thăm, tặng quà gia đình thương binh nặng tại Hà Nam.

 

Bộ Quốc phòng thăm, tặng quà các thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng ở tỉnh Hà Nam​
 Trung tướng Trịnh Văn Quyết và đoàn công tác thăm, tặng quà mẹ liệt sĩ ở tỉnh Hà Nam.

 

Bộ Quốc phòng thăm, tặng quà các thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng ở tỉnh Hà Nam​
 Trung tướng Trịnh Văn Quyết và đoàn công tác thăm, tặng quà tại Trung tâm điều dưỡng thương binh huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Đặc biệt năm 2022, hướng tới kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ, toàn quân đã phát động đợt thi đua cao điểm “Uống nước nhớ nguồn, tri ân người có công” với nhiều việc làm thiết thực như: Xây dựng 1.769 nhà tình nghĩa; tặng 500 sổ tiết kiệm tình nghĩa tặng đối tượng chính sách và người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn; may áo lụa tặng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng do Quân đội phụng dưỡng; may quân phục tặng các đồng chí thương binh, bệnh binh nặng đang được nuôi dưỡng tại các trung tâm thương binh trên toàn quốc. Trích hơn 4 tỷ đồng từ Quỹ Đền ơn đáp nghĩa Bộ Quốc phòng hỗ trợ mua trang thiết bị y tế, trang thiết bị dùng chung tặng một số trung tâm thương binh còn khó khăn (trong đó có tỉnh Hà Nam).

Đồng chí Trung tướng Trịnh Văn Quyết khẳng định, những việc làm trên thể hiện truyền thống của quân đội cách mạng, thể hiện sự chung thủy, son sắt, tình đồng chí, đồng đội đối với những người đã hy sinh, cống hiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; góp phần cùng toàn Đảng toàn dân chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống người có công với cách mạng. Đồng thời qua đó, góp phần giáo dục cán bộ, chiến sĩ nhất là thế hệ trẻ về đạo lý, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc ta.

Nhân dịp này, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tặng các trung tâm một số trang thiết bị y tế, thiết bị phục hồi chức năng, tặng các đồng chí thương binh, bệnh binh đang nuôi dưỡng, chăm sóc tại hai trung tâm mỗi đồng chí một bộ quân phục, áo ấm và 2 triệu đồng. Món quà là tình cảm, sự tri ân, sẻ chia của cán bộ, chiến sĩ Quân đội đối với người đã cống hiến, hy sinh một phần xương máu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Triển lãm “Uống nước nhớ nguồn, tri ân những người có công với cách mạng”

 

Sáng 12-7, tại Bảo tàng Lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 7 (quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh), Cục Chính trị Quân khu 7 đã tổ chức khai mạc triển lãm với chủ đề: LLVT Quân khu 7 “Uống nước nhớ nguồn, tri ân những người có công với cách mạng” nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh liệt sĩ (27-7-1947/27-7-2022). Tham dự Triển lãm có đồng chí Trung tướng Trần Hoài Trung, Chính ủy Quân khu 7.

 

Triển lãm “Uống nước nhớ nguồn, tri ân những người có công với cách mạng”
Các đại biểu thực hiện nghi thức khai mạc triển lãm. 

Triển lãm đã giới thiệu hơn 500 hình ảnh, tài liệu, hiện vật và hơn 200 đầu sách với 4 đề mục trưng bày chính: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thương binh, liệt sĩ, vì nước quên thân, LLVT Quân khu 7 “Uống nước nhớ nguồn, Đền ơn đáp nghĩa”, Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Với cách trưng bày sinh động ở cả nội dung và hình thức, tập trung ở những tài liệu, hiện vật độc đáo, nhiều ý nghĩa, gắn với chủ đề chính, các hướng dẫn viên nắm chắc chuyên môn, giới thiệu sinh động, triển lãm đã giúp các đối tượng tham quan, tìm hiểu là cán bộ, chiến sĩ, cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên, người dân có cách nhìn tổng quan, sâu sắc về những hy sinh, mất mát của các thế hệ cha anh đã ngã xuống, hoặc chịu nhiều thương tích trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; bảo vệ biên giới Tây Nam, thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả tại nước bạn Campuchia, giúp nhân dân nước bạn thoát khỏi họa diệt chủng.

Triển lãm “Uống nước nhớ nguồn, tri ân những người có công với cách mạng”
Chiến sĩ thuộc LLVT Quân khu 7 và khách tham quan được hướng dẫn viên giới thiệu các tác phẩm sách văn học, tư liệu về chủ đề thương binh, liệt sĩ. 

Triển lãm cũng mang đến những tài liệu, hình ảnh về hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm lo gia đình liệt sĩ, gia đình chính sách, thương binh, bệnh binh trong thời gian qua. Thông qua triển lãm, Ban tổ chức hướng đến nâng cao nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ, người có công và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, khẳng định đạo lý, truyền thống "Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG

             Nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong Quân đội đã có những đổi mới phù hợp với tình hình thực tế của đất nước 

Xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác tư tưởng là một mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội.

Vai trò của công tác giáo dục chính trị tư tưởng thể hiện thông qua nhận thức, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội và tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội.

Tình hình thực tế công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong Quân đội trong bối cảnh hiện nay

Trước yêu cầu cấp thiết về xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác giáo dục chính trị tư tưởng dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư luôn kịp thời, thiết thực, phù hợp với tình hình thực tiễn, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong toàn quân.

Bên cạnh đó các tổ chức Đảng ở cơ sở luôn đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chính trị tư tưởng, hệ thống tài liệu nghiên cứu, học tập luôn luôn được bổ sung, cập nhật những thông tin mới phù hợp với từng đối tượng.

Hình thức, phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng đã được các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là cán bộ chính trị các cấp vận dụng linh hoạt, đổi mới mạnh mẽ theo hướng lấy đối tượng giáo dục làm trung tâm.

Vai trò của các cơ quan, cán bộ chính trị các cấp được phát huy. đã gắn công tác giáo dục chính trị tư tưởng với thực hiện phong trào thi đua, các cuộc vận động và huấn luyện quân sự, xây dựng nền nếp chính quy.

Cấp ủy các cấp thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá kết quả được đổi mới theo hướng gắn khả năng nhận thức lý luận với năng lực xử lý, vận dụng thực tiễn theo chức tránh, nhiệm vụ được giao.

Để thực hiện có hiệu quả hơn nữa công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong Quân đội, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau

Một là: Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục chính trị tư tưởng toàn diện về phẩm chất và năng lực, nhất là bản lĩnh chính trị, trình độ sư phạm

Hai là: Nâng cao chất lượng các hình thức, tiếp tục đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục chính trị như: học tập chính trị; sinh hoạt chính trị, tư tưởng; thực hiện ngày chính trị và văn hoá tinh thần; tổ chức nội dung thông báo chính trị - thời sự, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình; xác định lấy đối tượng giáo dục làm trung tâm. Tiếp cận và vận dụng thận trọng hình thức học tập, giáo dục chính trị tư tưởng trên môi trường mạng internet, mạng xã hội.

Ba là: Đầu tư, quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng trang bị, phương tiện giáo dục chính trị tư tưởng, bảo đảm nguồn kinh phí để bảo đảm tài liệu, phương tiện kỹ thuật, sơ đồ, tranh, ảnh, phim, băng đĩa hình...  góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong quân đội hiện nay./.

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀM KIM CHỈ NAM CHO MỌI HÀNH ĐỘNG

             Các thế lực thù địch không ngừng ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta nhằm làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Trước tình hình đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, cơ bản, và xuyên suốt.

Các thế lực thù địch không ngừng công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trên nhiều lĩnh vực.

Chống đối về văn hóa, vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là chủ đề dễ tạo nên sự quan tâm của dư luận; chúng thường gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây, tạo nên xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, trong nhân dân ta.     

Chống đối về chính trị, chúng thường xuyên công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng đối lập, đòi bỏ điều 4. Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do không đem lại kết quả. Trong thời gian gần đây chúng thường tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Từ đó tác động làm tha hóa từng cán bộ, đảng viên, nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại từ bên trong, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Chống đối về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam…

Nhận diện là việc làm thường xuyên liên tục, không ngơi nghỉ; nhưng phải đi đôi với không ngừng đấu tranh bằng tổng thể các biện pháp:

Trước hết. Phải kiên trì lấy Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là kim chỉ nam cho mọi hành động.

Tiếp theo: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới là nhiệm vụ hàng đầu, việc làm thường xuyên liên tục, không một phút nghỉ ngơi

Công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Lực lượng 47 được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, tích cực tham gia đấu tranh hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là vấn đề đòi hỏi tính bền vững, lâu dài, có tổ chức chặt chẽ.

Một là, chủ động phát hiện sớm hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. làm cơ sở đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; vận động đoàn thể nhân dân cùng tham gia.

Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đi vào cuộc sống hàng ngày ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp gần với đời sống Nhân dân.

Ba là, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, trở thành thiết thực với cuộc sống. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc đến với mọi miền Tổ quốc./.

Phát huy hơn nữa sức mạnh đoàn kết thống nhất toàn dân tộc

 


Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tôn giáo. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, đồng bào các dân tộc không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đoàn kết một lòng trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, giành độc lập, tự do cho dân tộc, từng bước giải phóng con người khỏi áp bức, bất công. Những thành tựu trong thời kỳ đổi mới đã tạo ra những tiền đề, điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Những kết quả trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền đã góp phần thúc đẩy sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Việt Nam luôn khẳng định, con người là trung tâm của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền con người, thực hiện dân chủ rộng rãi  là nhân tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những thành tựu của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; đó là những hành động vi phạm các Công ước quốc tế về nhân quyền và chủ quyền của một quốc gia độc lập. Nhân dân Việt Nam phản đối và quyết tâm chống lại những vấn đề đó.

Nêu cao vai trò của lực lượng vũ trong giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở nước ta hiện nay

 


Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của lực lượng vũ trang là làm nòng cốt cho toàn dân giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nói chung và nhất là các điểm “nóng”, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây chính là thực hiện quyền thiêng liêng của con người, của nhân dân các dân tộc Việt Nam là được sống trong độc lập, tự do, tự mình quyết định vận mệnh của mình. Cùng với việc phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong xây dựng các tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân làm kế sách lâu dài để giữ nước. Lực lượng vũ trang cần làm tốt vai trò tiên phong cùng toàn dân giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đồng thời giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn trọng điểm như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ; nhất là đấu tranh phòng chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng, gây rối an ninh trật tự, tạo cớ can thiệp, xâm lược Việt Nam.Phát huy vai trò tiên phong của lực lượng vũ trang trong tuyên truyền, giáo dục đồng bào các dân tộc về quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xóa các hủ tục lạc hậu, tốn kém; phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao dân trí. Giúp đỡ nhân dân xây dựng hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ con em các dân tộc; phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng dân cư… Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Nêu cao vai trò của lực lượng vũ trong giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở nước ta hiện nay

 

 


Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của lực lượng vũ trang là làm nòng cốt cho toàn dân giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nói chung và nhất là các điểm “nóng”, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây chính là thực hiện quyền thiêng liêng của con người, của nhân dân các dân tộc Việt Nam là được sống trong độc lập, tự do, tự mình quyết định vận mệnh của mình. Cùng với việc phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong xây dựng các tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân làm kế sách lâu dài để giữ nước. Lực lượng vũ trang cần làm tốt vai trò tiên phong cùng toàn dân giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đồng thời giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn trọng điểm như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ; nhất là đấu tranh phòng chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng, gây rối an ninh trật tự, tạo cớ can thiệp, xâm lược Việt Nam.Phát huy vai trò tiên phong của lực lượng vũ trang trong tuyên truyền, giáo dục đồng bào các dân tộc về quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xóa các hủ tục lạc hậu, tốn kém; phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao dân trí. Giúp đỡ nhân dân xây dựng hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ con em các dân tộc; phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng dân cư… Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Kỷ niệm 112 năm ngày sinh đồng chí Nguyễn Duy Trinh - người cộng sản kiên trung mẫu mực.

Nhận xét về nhà ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói: “Anh Nguyễn Duy Trinh là một đồng chí lãnh đạo có tác phong khiêm tốn, đoàn kết, điềm tĩnh, cụ thể, tỉ mỉ, một phong cách làm việc nghiêm túc, nói đi đôi với làm, coi trọng gắn lý luận với thực tiễn”.

“Cả Biền xuất quỷ nhập thần”

Làng Cổ Đan nép bên bờ Lam, vào chiều 20/5/1965 (ngày 20/4 Ất Tỵ) oằn mình dưới trận bom hủy diệt, khiến 48 dân thường bị sát hại, hàng chục người khác bị thương, biến ngôi làng thành vùng trắng, toàn bộ cư dân phải rời làng đi tìm đường sống... Mùa hè năm 1965, tại nơi sơ tán kỳ Đùng Ràn, bà ngoại tôi tên là Nguyễn Thị Thẹp (1893 - 1981), mấy chục năm mắt chìm trong bóng tối, nhưng khi nghe Đài TNVN xướng danh Nguyễn Duy Trinh - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thì mắt bà ngỡ như sáng lại. Trưa ấy, ngoại kể cho tôi nghe chuyện về “anh cả Biền xuất quỷ nhập thần”.

Vợ chồng cụ Nguyễn Đình Tiếp và Hoàng Thị Lựu (còn gọi là bà Thất Xứ) sinh Nguyễn Đình Biền là trưởng nam. Cụ Nguyễn Đình Tiếp là anh con bác, bà ngoại tôi là em con chú thuộc họ Nguyễn Đình - Thượng Xá - Nghi Hợp. Ông Nguyễn Duy Trinh gọi ngoại tôi bằng O (cô).

Nguyễn Duy Trinh - người con ưu tú của quê hương Nghệ An ảnh 1

Nguyễn Duy Trinh - nhà ngoại giao xuất sắc.

Từ thời Nghệ An bị Pháp khủng bố trắng, cả Biền và các chiến sỹ yêu nước nằm vùng được gia đình ngoại tôi và dân làng Cổ Đan âm thầm đùm bọc, chở che. Thế nên sau hơn ba chục năm, dù ông đã làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thì trong tâm thức ngoại tôi và những cao niên người làng vẫn gọi ông Nguyễn Duy Trinh là cả Biền.

Nguyễn Duy Trinh tên khai sinh là Nguyễn Đình Biền, sinh ngày 15/7/1910 tại làng Cổ Đan, tổng Đặng Xá, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị (1956 - 1976), nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1965 - 1980). Ông mất ngày 20/4/1985 tại Hà Nội, thọ 76 tuổi.

Xuất thân từ gia đình thuần nông, cả Biền sớm kế thừa truyền thống yêu nước thương nòi. Năm 1927, ông tham gia phong trào học sinh yêu nước tại thị xã Vinh. Năm 1928, ông gia nhập Đảng Tân Việt – một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuối tháng 11/1928, ông đang hoạt động cho Đảng Tân Việt tại Đakao Sài Gòn (nay thuộc quận 1, thành phố Hồ Chí Minh) thì bị Pháp bắt. Vì chưa đủ 18 tuổi nên bị địch nhốt vào khám vị thành niên, bị kết án 18 tháng tù. Ở trong tù tháng thứ 8 thì ông bị trục xuất về nguyên quán.

Từ tháng 5/1930 đến tháng 5/1931, cao trào Xô Viết phát triển mạnh tại huyện Nghi Lộc, thực dân Pháp tăng cường bắt bớ, truy lùng, hàng trăm chiến sỹ yêu nước bị giết hại, hàng chục ngôi làng bị triệt phá. Ngày 13/9/1931, cơ quan Huyện ủy Nghi Lộc bị bao vây, một số cán bộ Xứ ủy, Huyện ủy bị địch bắt, các tổ chức Đảng bị tổn thất nặng nề. Trước tình thế đó, Nguyễn Đình Biền chủ động móc nối với một số đồng chí may mắn thoát khỏi khủng bố. Sau khi chủ trì lập ra Ban cán sự của Huyện ủy để khôi phục phát triển phong trào tại Nghi Lộc từ trong máu lửa, ông được các đồng chí bầu làm Bí thư Huyện ủy Nghi Lộc.

Bàng Nguyên là em ruột bà Thất Xứ, ông ta làm tay sai cho Pháp, một hôm Nguyên dẫn lính Pháp và tay sai thình lình về vây làng Cổ Đan. Chúng chốt chặn các ngõ ngách, lục soát khám xét toàn bộ nhà dân. Hôm ấy, cả Biền đang trong buồng không kịp thoát ra ngoài, đang tiến thoái lưỡng nan, bà Thất Xứ liền ấn đầu con trai xuống nền nhà, bình tĩnh ngồi lên ghế để tấm váy trùm kín hình hài. Vừa lúc Bàng Nguyên dẫn lính vào nhà lục soát, bà Thất Xứ vẫn ngồi khâu vá trước thềm lạnh lùng nói với hắn:

- Hắn đi biệt tăm biệt tích có mô ở nhà mà cậu tìm!

Sau bữa đó dân làng Cổ Đan rì rầm cả Biền có phép tàng hình mới thoát khỏi cuộc vây ráp rất quy mô. Nhưng sau đó không lâu, ngày 18/12/1932 Nguyễn Đình Biền bị địch bắt, bị lưu đày qua các nhà tù khét tiếng như Vinh, Kon Tum, Côn Đảo...

Ra tù tháng 5/1945, tháng 8/1945 Nguyễn Đình Biền tham gia khởi nghĩa tại Vinh và Huế. Ông lần lượt giữ chức Thường vụ Xứ ủy Trung Bộ, Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ. Năm 1949 là Bí thư Liên khu ủy V, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Trung Bộ. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (tháng 3/1951), Nguyễn Duy Trinh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng; năm 1954 ông là Chánh Văn phòng Trung ương.

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Ảnh: TTXVNĐồng chí Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Tư lệnh xuất sắc trên mặt trận ngoại giao

Mảnh đất Cổ Đan - Phúc Thọ từng sinh ra và nuôi dưỡng nhiều danh nhân nổi tiếng. Từ bề dày truyền thống yêu nước của gia đình - dòng họ - quê hương, Nguyễn Đình Biền sớm tự giác rèn phẩm cách đạo đức cách mạng.

Năm 1955 ông Trinh được bầu vào Ban Bí thư; năm 1956 ông là Ủy viên Bộ Chính trị; năm 1958 là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Tại Đại hội III của Đảng vào năm 1960 ông tiếp tục được bầu vào Bộ Chính trị giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, rồi kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước (từ năm 1963); tháng 4/1965 là Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Từ năm 1965, ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Nguyễn Duy Trinh luôn thể hiện được tầm vóc của một nhà ngoại giao xuất sắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhận xét về ông: “Trong công tác ngoại giao anh đã cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề xuất những chủ trương đối ngoại đúng đắn, sáng tạo… Qua công tác đối ngoại, anh thể hiện là một nhà ngoại giao xuất sắc của Đảng và Nhà nước ta”. Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ông hiện thực hóa lời dạy “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách trọn vẹn. Là nhà ngoại giao từng bôn ba năm châu bốn biển, ông vượt lên những cuộc đấu trí vì mục đích đoàn kết, tập hợp lực lượng quốc tế hiểu đúng Việt Nam, giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ. Ông để lại những dấu ấn trên trường quốc tế về một nhà ngoại giao sâu sắc với mục đích cao nhất là hòa bình, quyền và lợi ích chính đáng của Tổ quốc, nhân dân Việt Nam.

Sau khi đất nước thống nhất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh đề nghị Bộ Chính trị mở rộng quan hệ láng giềng với các nước trong khu vực. Tháng 12/1976, Đại hội Đảng lần thứ IV tiếp tục bầu ông Nguyễn Duy Trinh vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và bầu vào Bộ Chính trị, vào Ban Bí thư Trung ương, tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho đến năm 1980. Năm 1982, tại Đại hội lần thứ V của Đảng, ông tiếp tục được bầu vào BCH Trung ương. Và cho dù được  giao vị trí công tác nào ông vẫn giữ đức tính cần kiệm, giản dị, yêu mến nhân dân. Với 76 tuổi đời, 57 năm tuổi Đảng, Nguyễn Duy Trinh thuộc lớp cán bộ tiền bối cách mạng với gần 60 năm liên tục cống hiến cho Tổ quốc. Tên ông được đặt làm tên đường tại thành phố Vinh, TP. Hồ Chí Minh. Dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông  (15/7/2010), một ngôi trường cấp 3 của huyện Nghi Lộc được vinh dự mang tên Trường THPT Nguyễn Duy Trinh.

72 năm ngày truyền thống Ngành Hậu cần Quân đội

 Ngày 11-7-1950, trong lúc kháng chiến chống Pháp đang giành được những thắng lợi to lớn trên khắp các chiến trường, ngày 11-7-1950, Tổng cục Cung cấp, tiền thân của Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay được thành lập, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành Hậu cần quân đội, đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng lớn mạnh của quân đội ta. Từ đó đến nay, ngày 11-7-1950 là Ngày truyền thống ngành Hậu cần quân đội.

Ngày 11-7-1950: Ngày truyền thống ngành Hậu cần quân đội
Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống ngành Hậu cần quân đội (11-7-1950 / 11-7-2020). 

Trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và phát triển; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, ngành Hậu cần quân đội đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, lập nhiều chiến công, thành tích xuất sắc, góp phần cùng toàn dân, toàn quân giành những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Trong thời gian vừa qua, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, Tổng cục Hậu cần đã kịp thời tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ đạo toàn quân triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp phòng, chống dịch hiệu quả, ngăn chặn sự xâm nhập của dịch bệnh vào đơn vị quân đội. Lực lượng quân y đã nỗ lực chung tay cùng toàn dân, toàn quân ta ngăn chặn, khống chế thành công dịch bệnh, tiếp tục làm ngời sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ đổi mới đất nước.

Ngày truyền thống lực lượng an ninh nhân dân.

Cách đây 76 năm, ngày 12/7/1946, lực lượng An ninh nhân dân đã lập chiến công đặc biệt xuất sắc, khám phá, tiêu diệt tổ chức phản cách mạng ở số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội), bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Với mốc lịch sử quan trọng này, ngày 12/7 đã được chọn là Ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân.

76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng An ninh nhân dân đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, thầm lặng chiến đấu, hy sinh, một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, với lý tưởng cao đẹp “chỉ biết còn Đảng thì còn mình”, “Vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân”.

Đấu tranh trấn áp phản cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân

Là lực lượng nòng cốt của Công an nhân dân, lực lượng An ninh nhân dân ra đời trong cao trào Cách mạng Tháng Tám 1945; được Ðảng giao trọng trách đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ Ðảng, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân.

Ngay từ khi mới thành lập, lực lượng An ninh đã hòa mình vào cuộc đấu tranh vô cùng cam go, quyết liệt với liên minh phản cách mạng trong - ngoài, mưu đồ lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ. Trong bối cảnh khó khăn bộn bề và lực lượng còn mỏng, thế hệ đầu tiên của lực lượng An ninh đã mưu trí, dũng cảm, vượt qua hoàn cảnh, một lòng tận trung với Đảng, dựa vào nhân dân để chiến đấu với ý chí quyết thắng kẻ thù, bảo vệ nền độc lập, tự do mà dân tộc ta mới giành được.

Đặc biệt, ngày 12/7/1946, dưới sự lãnh đạo của Đảng, được sự giúp đỡ tích cực của quần chúng nhân dân, sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng vũ trang, lực lượng An ninh đã phá vụ án tại số 7 phố Ôn Như Hầu; tổ chức cuộc tổng trấn áp thành công số đối tượng Quốc dân đảng trên toàn quốc, đập tan cuộc đảo chính phản cách mạng do Quốc dân đảng câu kết với Quân đội viễn chinh Pháp tiến hành. Chiến công vang dội này đã thể hiện sự mưu trí, sáng tạo trong đấu tranh của lực lượng An ninh nhân dân; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và vai trò, vị trí của lực lượng An ninh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự.

Đánh giá về vụ án này, Cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã viết “những vụ khám bắt trên đây có một tác dụng vô cùng quan trọng, nó lột mặt bọn phản động bên trong, tay sai của bọn phản động bên ngoài... Nó lôi ra ánh sáng dư luận một bọn giả danh quốc gia dân tộc... Mấy cuộc khám bắt gần đây cắm một cái mốc trên con đường thống nhất dân tộc và biểu lộ sức mạnh, uy tín của chính quyền nhân dân...” (Trường Chinh: “Nhân mấy vụ xét bắt mới đây”, Báo Sự thật, số 45, ngày 19/7/1946).

Góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), lực lượng An ninh dưới sự lãnh đạo của Ðảng, đã dựa vào dân, sát cánh cùng các lực lượng vũ trang vừa thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đấu tranh chống phản cách mạng, vừa vũ trang chiến đấu, góp phần cùng quân và dân cả nước đập tan các âm mưu của kẻ thù để đi đến thắng lợi hoàn toàn. Công tác an ninh giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho lực lượng vũ trang đánh bại các chiến dịch quân sự của địch; từng bước tạo thế, tạo lực cho cách mạng đi đến thắng lợi vẻ vang, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975), lục lượng An ninh cùng toàn Đảng, toàn dân tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Ở miền Bắc, trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, lực lượng An ninh nhân dân đã cùng các lực lượng khác bảo vệ tuyệt đối an toàn lãnh tụ, bảo vệ cơ quan, xí nghiệp và Nhân dân đi sơ tán; đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích do Mỹ tiến hành. Những chiến công của lực lượng An ninh giai đoạn này đã góp phần tích cực vào nhiệm vụ xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, xứng đáng là hậu phương vững chắc của tiền tuyến lớn miền Nam.

Ở miền Nam, trong máu lửa chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ - ngụy, dù phải đương đầu với cơ quan tình báo gián điệp dày đặc của đế quốc Mỹ và tay sai có tiềm lực, thủ đoạn hoạt động vô cùng xảo quyệt, lực lượng An ninh miền Nam đã dũng cảm, mưu trí chiến đấu bảo vệ các tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng. Hàng nghìn chiến sĩ và cơ sở đã thâm nhập vào cơ quan đầu não của địch, thu nhiều tin tức, tài liệu quan trọng; tổ chức hàng trăm cuộc tập kích vào sào huyệt các cơ quan tình báo, cảnh sát, tiêu diệt những tên ác ôn đầu sỏ, làm cho chúng hoang mang, dao động…

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lực lượng An ninh đã tham gia tích cực trong các mũi tiến công, đập tan mọi sự phản kháng của các thế lực phản cách mạng, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.  

Đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Những năm sau ngày miền Nam giải phóng, tình hình kinh tế - xã hội, an ninh, chính trị của đất nước còn nhiều phức tạp. Để đối phó với tình hình đó, ở miền Bắc, lực lượng An ninh triển khai đồng bộ các mặt công tác nghiệp vụ, tổ chức đấu tranh với các loại đối tượng; tham mưu giúp Đảng, Nhà nước củng cố vững chắc an ninh chính trị; truy bắt hàng trăm tên gián điệp do Mỹ - ngụy đánh ra Bắc trong kế hoạch hậu chiến; thẩm tra, xử lý số đối tượng nội gián thâm nhập vào các cơ quan, đơn vị; trấn áp các tổ chức phản động; phong tỏa bọn gián điệp núp trong các cơ quan phi chính phủ, các tổ chức quốc tế.

Tại các tỉnh phía Nam, lực lượng An ninh đã tập trung giải quyết vấn đề Fulro và đấu tranh, trấn áp các tổ chức nhen nhóm phản động và bọn phản động lưu vong xâm nhập về nước hoạt động. Lực lượng An ninh đã tăng cường hàng nghìn lượt cán bộ vào Tây Nguyên, tổ chức đấu tranh hàng chục chuyên án, bắt hết số cầm đầu, phá tan bộ khung chính quyền của Fulro, góp phần làm tan rã hoàn toàn lực lượng vũ trang của Fulro vào năm 1988.

Từ năm 1976-1986, lực lượng An ninh đã khám phá trên 1.000 tổ chức và nhen nhóm phản động, có tổ chức đã hình thành bộ khung chính quyền tại 17 tỉnh, thành phố, lôi kéo hàng chục nghìn người tham gia.

Đồng thời với đấu tranh, trấn áp các tổ chức phản động trong nội địa, từ năm 1981-1989, lực lượng An ninh phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và An ninh các nước trong khu vực đấu tranh, bắt và diệt gọn các chuyến xâm nhập của các tổ chức tình báo, gián điệp và tổ chức phản động lưu vong. Những chiến công trong giai đoạn này đã góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị của đất nước trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp.

Từ khi Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh thực hiện đường lối đổi mới đến nay, lực lượng An ninh đã tổ chức đấu tranh hàng trăm vụ án gián điệp, phản động, với hàng ngàn đối tượng, đẩy lùi, vô hiệu hóa các âm mưu, hoạt động tình báo, gián điệp, tập hợp lực lượng, hình thành tổ chức phản động, phá hoại tư tưởng, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam của các thế lực thù địch trong và ngoài nước; đấu tranh làm thất bại hoàn toàn các chiến dịch chống phá nước ta của các tổ chức phản động lưu vong; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các loại đối tượng lợi dụng mở cửa, hợp tác quốc tế vào nước ta hoạt động tình báo, gián điệp, phá hoại tư tưởng; đập tan hàng chục chiến dịch gây nổ, gây bạo loạn, thành lập các tổ chức chính trị đối lập và tiến hành khủng bố do các tổ chức phản động lưu vong thực hiện.

Trên lĩnh vực an ninh kinh tế, lực lượng An ninh đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng, chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động phá hoại kinh tế, dùng kinh tế chuyển hóa chính trị; đã khám phá hàng chục vụ án điển hình về buôn lậu, tham nhũng, hoàn thuế VAT, ăn cắp cước phí viễn thông, làm và vận chuyến tiên giả… qua đó tham mưu giúp Nhà nước, các cơ quan, ban, ngành kịp thời hoạch định chính sách cũng như đề ra các biện pháp quản lý kinh tể phù hợp với bối cảnh mới.

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông, dịch bệnh COVID-19 có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá từ nhiều hướng, trên mọi lĩnh vực với phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Bên cạnh các yếu tố an ninh truyền thống đã xuất hiện các yếu tố an ninh phi truyền thống đe dọa an ninh quốc gia. Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia đặt ra rất nặng nề, đòi hỏi lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam phải tiếp tục đổi mới tư duy và biện pháp đấu tranh, không để bị động, bất ngờ; không để xảy ra bạo loạn, khủng bố, phá hoại; giữ vững an ninh các địa bàn chiến lược, trọng yếu; bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, sự kiện quan trọng của đất nước; phát huy vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống, xứng đáng là “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

76 năm song hành cùng đất nước, ở mỗi giai đoạn cách mạng, lực lượng An ninh nhân dân luôn một lòng một dạ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; không quản ngại khó khăn gian khổ, luôn nêu cao tinh thần tận tụy, sẵn sàng xả thân vì nước, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Có thể khẳng định, mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đều có sự đóng góp to lớn về trí tuệ, sức lực và xương máu của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng An ninh nhân dân.

Ghi nhận, đánh giá cao những công lao, cống hiến của lực lượng An ninh nhân dân, Đảng, Nhà nước đã trao tặng lực lượng nhiều phần thưởng cao quý: 3 Huân chương Sao Vàng, 39 tập thể được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, phong tặng Danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; hàng nghìn lượt tập thể và cá nhân được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các hạng và nhiều phần thưởng cao quý khác.

  

HIỂU BIẾT VỀ QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM!

         Quan hệ đối ngoại có tầm quan trọng to lớn trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ở phạm vi toàn cầu, Việt Nam đã chủ động tham gia các cơ chế của Liên hợp quốc, như Hội đồng Bảo an, Ủy ban nhân quyền, Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên hợp quốc… Đặc biệt, Việt Nam đã hai lần trúng cử là ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 và 2020 - 2021; trúng cử thành viên Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc (2007 và 2022).. Năm 2020, Việt Nam lần đầu tiên đề xuất và bảo vệ thành công Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Ngày Quốc tế phòng chống dịch. 
     Trong quan hệ đa phương, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN (tháng 7/1995); tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996; gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998. Đồng thời, trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và duy trì là thành viên tích cực của Cộng đồng Pháp ngữ và Phong trào không liên kết. Trong đó, đã hai lần đảm nhiệm vai trò chủ tịch luân phiên của tổ chức này, năm 2010 và 2020.
     Việc tăng cường hội nhập sâu vào khu vực và thế giới, chủ động và tích cực tham gia các cơ chế đa phương ở mọi cấp độ đã nâng cao được vị thế và tiếng nói của Việt Nam trong các vấn đề có lợi ích không chỉ với Việt Nam mà còn cho khu vực và trên thế giới.
     Như vậy, những thành tựu của đối ngoại Việt Nam như đã được đề cập ở trên, đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá CM Việt Nam./.


Yêu nước ST.

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SỸ


Những ngày này, tháng này chúng ta không thể quên những ngày tháng 7, ngày mà cả nước đang tổ chức các hoạt động hướng về kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh liệt sỹ (27.7.1947-27.7.2022).
Chúng ta, dù có những người đã đi qua chiến tranh, dù có những người không biết chiến tranh như thế nào. Song qua lịch sử, qua sách vở, qua ghế nhà trường và qua thực tiễn công tác….những người con của đất Việt hôm này sẽ không quên sự cống hiến, hy sinh của các thế hệ cha, ông đi trước để có nền hòa bình, độc lập, tự do hôm nay.
Chúng tôi xin kính cẩn nghiêng mình dâng lên các anh hùng liệt sỹ những vòng hoa, những nén hương thơm với lòng thành kính tri ân những người đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, thể hiện lòng tri ân sâu sắc nhất của chúng tôi đến những người đã chiến đấu, hi sinh cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu./.
vubao12-st
Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, hoa và văn bản cho biết 'TỐQUỐC CHI CÔNG KỲ NIỆM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT sĩ 27-7'
4

XÂY DỰNG LUẬT PHÒNG THỦ DÂN SỰ: VÌ CUỘC SỐNG BÌNH YÊN CỦA NHÂN DÂN

 

Dự thảo Luật Phòng thủ dân sự (PTDS) đang được các cơ quan chức năng triển khai, hoàn thiện, lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Đây là bộ luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động PTDS, bảo đảm cuộc sống bình yên cho nhân dân.
Cấp thiết phải xây dựng Luật Phòng thủ dân sự
Khoản 1, Điều 13 Luật Quốc phòng nêu rõ: PTDS là một bộ phận của phòng thủ đất nước bao gồm các biện pháp phòng, chống chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân.
Theo đó, PTDS sẽ bao gồm tổng thể các hoạt động chuẩn bị từ thời bình đến khi nguy cơ chiến tranh, sự cố, thiên tai có thể xảy ra và khắc phục hậu quả nếu có. Hoạt động đó bảo đảm an toàn và hạn chế thấp nhất mức độ thiệt hại về người và tài sản của Nhà nước và nhân dân.
Theo đánh giá của Cục Cứu hộ cứu nạn (Bộ Tổng Tham mưu), những năm qua, công tác PTDS từng bước được hoàn thiện cả về thể chế và tổ chức triển khai thực hiện, đáp ứng yêu cầu ứng phó, khắc phục hậu quả khi có thảm họa, sự cố xảy ra.
Tuy nhiên, tình hình thế giới, khu vực và trong nước đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh và đời sống nhân dân như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các sự cố môi trường khó lường... có thể gây ra những thiệt hại lớn cho đất nước, nhân dân.
Việc giảm nhẹ, khắc phục thảm họa do chiến tranh, công tác bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân, bảo vệ nền kinh tế quốc dân là những vấn đề lớn. Các trường hợp xảy ra thảm họa, sự cố hiện nay rất đa dạng, ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Do đó, để thực hiện tốt công tác PTDS, cần phải điều động lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị vào cuộc, đòi hỏi cơ chế vận hành phải được luật hóa.
Hiện nay, công tác PTDS đã có một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan được ban hành như: Nghị định số 30/2010/NĐ-CP ngày 29-3-2010 của Chính phủ về huy động nhân lực, tàu thuyền và phương tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị định số 02/2019/NĐ-CP ngày 2-1-2019 về PTDS; Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24-3-2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai...
Các bộ luật như: Phòng, chống thiên tai; đê điều; phòng, chống bệnh truyền nhiễm; phòng cháy, chữa cháy... mới chỉ dừng ở từng phạm vi, lĩnh vực cụ thể. Do đó, cơ sở pháp lý cho hoạt động PTDS là Luật PTDS mang tính cấp thiết.
Bên cạnh đó, triển khai xây dựng, lấy ý kiến vào dự thảo Luật PTDS chính là việc thực hiện kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023, điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022 và thông báo của Chính phủ về việc trình Quốc hội cho ý kiến đối với Luật PTDS vào Kỳ họp thứ tư, thông qua vào Kỳ họp thứ năm của Quốc hội khóa XV.
Vì sự bình yên của nhân dân
Dự thảo Luật PTDS gồm 7 chương, 77 điều, được lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân và các cơ quan, tổ chức, địa phương. Theo dự thảo luật, chương 1 và chương 7 đề cập các quy định chung và điều khoản thi hành; chương 2 đề cập về hoạt động PTDS, chương 3 về cơ quan chỉ đạo, chỉ huy, lực lượng PTDS; chương 4 quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động PTDS; chương 5 về nguồn lực, chế độ, chính sách đối với người tham gia hoạt động PTDS; chương 6 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về PTDS.
Các chương của dự luật tập trung đánh giá mức độ rủi ro của thảm họa, sự cố do thiên tai và chiến tranh (nếu xảy ra), luật hóa việc phân công trong quản lý nhà nước và phân cấp trong tổ chức hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục thảm họa, sự cố; quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong PTDS...
Theo đó, chương 2 quy định rõ hoạt động PTDS thông qua những vấn đề như: Chiến lược quốc gia về PTDS; kế hoạch PTDS của các bộ, ngành, địa phương; hệ thống công trình, trang bị PTDS; công tác tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện, diễn tập về PTDS...
Với các quy định tại chương này, dự thảo luật nêu rõ yêu cầu hoạt động PTDS phải được các cấp tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, trong trạng thái bình thường cho đến khi có nguy cơ xảy ra và giai đoạn khắc phục hậu quả của sự cố, thảm họa.
Với những quy định cụ thể về công tác PTDS, dự thảo Luật PTDS nếu được thông qua sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng, làm nền tảng cho triển khai các hoạt động phòng, chống, khắc phục hậu quả, bảo đảm an toàn và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.
Dự án Luật PTDS tập trung vào 6 chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 28-2-2022, bao gồm: Đánh giá mức độ rủi ro của thảm họa, sự cố trong hoạt động PTDS; phân công trong quản lý nhà nước và phân cấp trong tổ chức hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục thảm họa, sự cố; quy định các biện pháp bảo vệ người dân trước thảm họa, sự cố và hỗ trợ người dân bị thiệt hại; đổi mới tổ chức của Ban chỉ đạo PTDS quốc gia; ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn (big data) trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố; quy định về hoạt động PTDS trong tình trạng khẩn cấp./.
vubao11-st