Thứ Ba, 12 tháng 7, 2022

Mạng xã hội và những thách thức đối với công tác thông tin, tuyên truyền, bảo vệ an ninh tư tưởng và đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch ở nước ta hiện nay

 Các mạng xã hội trực tuyến đang ngày càng trở nên phổ biến, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, làm thay đổi thói quen tiếp nhận tri thức, thông tin của người dân, tạo ra những biến đổi về hệ thống cấu trúc thông tin, truyền thông của xã hội. Mạng xã hội cũng đang đặt ra những thách thức đối với công tác thông tin, tuyên truyền, bảo vệ an ninh tư tưởng và đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch.

Mạng xã hội và những thách thức đối với công tác thông tin, tuyên truyền, bảo vệ an ninh tư tưởng và đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch ở nước ta hiện nay

Mạng xã hội đang bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng triệt để nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta - Ảnh: dangcongsan.vn

1. Mạng xã hội đã trở thành một mặt trận mới trong công tác thông tin, tuyên truyền, bảo vệ an ninh tư tưởng của quốc gia

Mạng xã hội đã trở thành một không gian tuyên truyền, phổ biến tư tưởng, là kênh thông tin phổ biến trong đời sống xã hội, có tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ, nhận thức và hành động của người dân.

Trong những năm gần đây, phần lớn người sử dụng internet đều có thói quen truy cập mạng xã hội nhiều hơn là các kênh thông tin truyền thông (như: truyền thanh, truyền hình, báo in, sách, tạp chí, tài liệu… của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị) hoặc kênh thông tin trực tuyến của Đảng, Nhà nước (như: báo chí điện tử, sách điện tử, cổng thông tin điện tử của chính phủ, chính quyền địa phương…).

Bên cạnh đó, các kênh thông tin của Đảng, Nhà nước hầu hết đều đã tham gia các nền tảng mạng xã hội để có thể tiếp cận gần hơn, dễ dàng hơn theo thị hiếu và thói quen mới của đại bộ phận dân chúng. Mạng xã hội dần được xem là sự tiếp cận và lựa chọn đầu tiên của đại bộ phận cư dân mạng khi có nhu cầu tiếp nhận thông tin, hoặc thậm chí có một bộ phận tham gia mạng xã hội như một thói quen, một phản xạ không có điều kiện (kể cả khi không có nhu cầu thông tin, tham gia mạng là để giải trí, tiêu khiển, giết thời gian). Chính vì thế, mạng xã hội đã được coi là hàng rào quan trọng đối với an ninh quốc gia và là tuyến phòng thủ để duy trì sự ổn định của đời sống thông tin, của chế độ chính trị ở mỗi quốc gia, trong đó nền tảng tư tưởng, an ninh tư tưởng được xem là hạt nhân của chế độ chính trị và cần được quan tâm bảo đảm đầu tiên.

Theo khoản 22, Điều 3 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-7-2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng: “Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác”.

Theo số liệu thống kê của tổ chức Internet World Stats, tính đến ngày 31-5-2020, Việt Nam là quốc gia có lượng người sử dụng internet cao thứ 14 trên thế giới và đứng thứ 8 trong tổng số 35 quốc gia, vùng lãnh thổ khu vực châu Á(1) .

Tính đến tháng 01-2022, ở Việt Nam có 72,1 triệu người dùng internet, tương ứng với 73,2% dân số cả nước (tăng 3% so với năm 2021), với khoảng có 76,95 triệu người dùng mạng xã hội (chiếm 78,1% tổng dân số, tăng 6,9% so với năm 2021). Riêng Facebook, Việt Nam có 70,4 triệu người tham gia.

Lượng người sử dụng khổng lồ này đã khiến cho mạng xã hội trở thành một kênh thông tin quan trọng của người dân Việt Nam hiện nay... Hằng ngày, trung bình mỗi người dân nước ta dành 7 giờ để truy cập internet, trong đó, khoảng 2 - 3 giờ sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội(2). Các mạng xã hội được sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam là: YouTube, Facebook, Zalo, Instagram, Tiktok, Twitter(3)..., Điều này tạo nên một cộng đồng không gian mạng xã hội Việt Nam hết sức đông đảo, đa dạng, khác biệt về trình độ, năng lực tiếp cận thông tin...

2. Những thách thức của mạng xã hội đối với công tác thông tin, tuyên truyền, bảo vệ an ninh tư tưởng và đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch

Thứ nhất, mạng xã hội đang bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng triệt để nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta

Ở Việt Nam, thời gian qua, lợi dụng tính chất rộng mở, tự do của mạng xã hội, các thế lực thù địch dưới sự hậu thuẫn của các tổ chức, phần tử phản động từ nước ngoài luôn tìm cách thay đổi hệ tư tưởng và chế độ chính trị ở nước ta. Nhiều lực lượng thù địch, phản động đã lập ra các trang web, các kênh trên nền tảng mạng xã hội trực tuyến như Facebook, Instagram, Youtube... tuyên truyền sai sự thật, xúi giục, kích động hằn thù, gây chia rẽ nội bộ trong nước; kêu gọi người dân trong nước đi theo họ và tiến hành các hành vi gây rối, làm mất trật tự trị an; thậm chí còn kết nối, tập hợp lực lượng qua mạng xã hội nhằm chuẩn bị cho các cuộc bạo loạn, lật đổ, chống đối Đảng, Nhà nước ta. 

Các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, chống đối cũng xác định mạng xã hội là mặt trận chính để thực hiện các hoạt động thông tin, tuyên truyền xuyên tạc nhằm chống phá hệ tư tưởng của đất nước ta với những hình thức rất đa dạng, tinh vi, như: dùng các bài viết, các tài liệu sai sự thật; các sản phẩm sách nói audio đánh tráo khái niệm, các video được cắt ghép bối cảnh, hoặc các bài nghiên cứu với việc sử dụng nhiều quan niệm, khái niệm không phù hợp với nhận thức và điều kiện lịch sử - văn hóa của dân tộc ta...

Bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận”, đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”; chúng trích dẫn cắt xén, nửa vời những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, làm méo mó các quan điểm của Đảng và hệ tư tưởng mácxit ở nước ta, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng - sai; bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh(4).

Đây chính là mảnh “đất màu mỡ” để các thế lực thù địch, chống đối gieo rắc tư tưởng sùng bái quyền dân sự, quyền chính trị theo mô hình của phương Tây, phớt lờ các thành tựu của nước ta về dân chủ, về quyền con người đã được Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác công nhận.

Rất nhiều thông tin bịa đặt, sai lệch không được kiểm chứng, chúng vu cáo Việt Nam bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ, bóp nghẹt quyền tự do xuất bản và quyền tự do báo chí; chúng vu cáo Công an Việt Nam bắt giữ, giam cầm các nhà báo và các blogger đã “dám nói lên sự thật”, “dám đưa thông tin lề trái”, “dám bảo vệ chân lý”…

Các thế lực thù địch, phản động thì sử dụng lợi thế công nghệ Internet tiếp tục thâm nhập hệ tư tưởng trong một nỗ lực nhằm tạo ra một số "cuộc cách mạng màu" kích động nhân dân chống phá Đảng và chính quyền, phá hủy cơ sở hạ tầng ở một số cơ quan, khu công nghiệp... Thậm chí, chúng còn sử dụng lợi thế của công nghệ thông tin để thực hiện các hoạt động theo dõi, giám sát mạng, gây ảnh hưởng lớn đến việc truyền bá các giá trị cốt lõi xã hội chủ nghĩa trên mạng xã hội, và gây nguy hiểm nghiêm trọng đến an ninh hệ tư tưởng của đất nước ta.

Thông qua mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động từ nước ngoài nắm bắt tin tức về dư luận trong nước thông qua các tài khoản mạng xã hội, đưa ra các giả định, phân tích chủ quan, xuất bản các bài báo, bình luận (theo các định dạng khác nhau: văn bản, video, audio,...) và đăng chúng trên mạng xã hội với thái độ cường điệu, phóng đại, lệch lạc về hệ tư tưởng mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn nhằm tác động cư dân mạng thay đổi quan điểm và nhận thức truyền thống về hệ tư tưởng của đất nước, hòng “lái” dư luận theo mục đích của họ, bài trừ hệ tư tưởng chủ đạo ở nước ta hiện nay, khơi gợi thù hằn, kỳ thị, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Mặc dù những nhận xét này đã bị thực tiễn đất nước phủ nhận hết lần này đến lần khác, nhưng các trang web, các nền tảng mạng xã hội chống phá ta vẫn không ngừng tập trung kích động dư luận trong nước. 

Thứ hai, mạng xã hội đang là không gian thực hiện các chiến lược thông tin, tuyên truyền về nhiều luồng tư tưởng, hệ giá trị khác nhau, gây ra sự dao động, hoài nghi trong cộng đồng cư dân mạng đối với hệ tư tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Mạng xã hội đã trở thành một không gian mới cho cuộc sống của con người, và Internet đã trở thành phương tiện truyền thông chủ đạo để nuôi dưỡng thói quen đọc, cách suy nghĩ và lối sống của đông đảo cư dân mạng. Công chúng được tự do bày tỏ ý kiến ​​và quan điểm, nhiều quan điểm và giá trị khác nhau có thể được tự do trao đổi và cũng dễ xảy ra sự va chạm, đụng độ. Một khi cuộc tranh luận của dư luận leo thang, nó thường dẫn đến cuộc đấu tranh trong lĩnh vực tư tưởng, gây ra nhiều tác dụng ngược. Hơn thế nữa, mạng xã hội là mảnh đất màu mỡ, nơi dung dưỡng của rất nhiều luồng tư tưởng, ý thức chính trị khác nhau, các “mầm tư tưởng” được phát triển một cách tự do, khó kiểm soát.

Trên mạng xã hội hiện nay có không ít những hiện tượng như: tạo và lan truyền một số tin đồn trực tuyến với mục đích xấu, xuyên tạc sự thật, cắt ghép hình ảnh, video, tin tức làm sai bối cảnh... hoặc một số người lợi dụng quyền tự do ngôn luận, sử dụng lời nói cực đoan, kích động để cường điệu hóa một số sự kiện, hiện tượng xã hội vì mục đích cá nhân, hoặc truyền bá các loại văn hóa phẩm đồi trụy, thô tục, thông tin sai lệch và tài liệu nghe nhìn có hại, tổ chức đánh bạc, môi giới mại dâm, phát tán ảnh đồi trụy, hình ảnh riêng tư để làm nhục người khác…

Các loại thông tin này đã xuất hiện với số lượng lớn, ngày càng nhiều và có tác động tiêu cực nghiêm trọng đến hầu hết cư dân mạng, đặc biệt là thanh thiếu niên; những người không biết sự thật và có thể bị lừa gạt bởi những điều giả dối, thông tin sai lệch. Những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự gắn kết, thống nhất của xã hội với các giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội mà nước ta đang theo đuổi.

Bên cạnh đó, dư luận mạng xã hội trong nước cũng có một bộ phận đề cao tư tưởng phương Tây, sử dụng chiếc “áo choàng học thuật” hoặc “tấm áo văn hóa, văn minh” để quảng bá hệ tư tưởng và giá trị phương Tây. Sự phổ biến rộng rãi các bài báo, các công trình và cả các bộ phim điện ảnh, phim truyền hình và các video khác nhau về lối sống phương Tây trên các mạng xã hội đang trở thành một phương tiện truyền tải văn hóa để thúc đẩy tư tưởng phương Tây đi vào đời sống văn hóa - tư tưởng của người dân Việt Nam. Có không ít các bài đăng với những hình ảnh, video trên các diễn đàn, trang mạng cá nhân (Facebook, Twitter, Instagram…) bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với các giá trị phương Tây, ca ngợi đời sống phương Tây, đồng thời so sánh với Việt Nam dưới góc nhìn xuyên tạc để nói bóng gió chê bai hệ thống chính trị, hệ tư tưởng của Việt Nam. Lối suy nghĩ, hệ giá trị và cách ứng xử của phương Tây thể hiện trong những nội dung văn hóa này đều có tác động nhất định đến hệ tư tưởng của nước ta hiện nay.

Ngoài ra, các thế lực thù địch, phản động còn không ngừng tìm cách đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, trong thời gian qua, họ kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an; “triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội”(5).

Thứ ba, công nghệ cốt lõi của an ninh mạng nước ta còn hạn chế, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với hệ thống thông tin, an ninh tư tưởng

Hầu hết các máy chủ, thiết bị mạng, hệ điều hành, cơ sở dữ liệu,... trong các cơ quan, ban, ngành và các ngành công nghiệp, dịch vụ trọng yếu của nước ta là sản phẩm của nước ngoài. Do đó, thông tin đều có thể nằm dưới sự kiểm soát của các quốc gia khác. Hơn thế nữa, công nghệ Internet cốt lõi của nước ta chưa thực sự tiên tiến cũng là một mối nguy hiểm tiềm ẩn rất lớn; các thiết bị phần cứng và công nghệ cốt lõi của nước ta vẫn thường xuyên bị hack và xảy ra các sự cố về bảo mật, rò rỉ thông tin.

Hiện nay, có không ít các lực lượng thù địch, phản động luôn tìm cách tấn công nhằm phá hoại, gây đình trệ hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Mục tiêu tấn công là các hệ thống thông tin quan trọng như chính phủ điện tử; hệ thống điều khiển giao thông đường bộ, đường hàng không; cung cấp điện, nước; điều khiển nông nghiệp công nghệ cao; các sân bay, nhà ga, bến cảng, ngân hàng...; tấn công vào cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn nhằm thu thập, trộm cắp thông tin, dữ liệu; tấn công nhằm chiếm quyền điều khiển máy tính, thiết bị số, truy cập bất hợp pháp vào hệ thống công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chiếm quyền điều khiển từ xa, thay đổi giao diện website hoặc cơ sở dữ liệu... Sử dụng các mạng xã hội để tán phát các thông tin, tài liệu sai sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, tuyên truyền kích động quần chúng, phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động biểu tình, phá rối an ninh. Các hoạt động khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiếm đoạt thông tin, tài liệu bí mật nhà nước thông qua mạng xã hội sẽ có những diễn biến phức tạp và nghiêm trọng.

Điều này gây ra những thách thức to lớn cho việc kiểm soát hoạt động của mạng xã hội và từ đó gây ra những nguy cơ về an ninh tư tưởng, những thách thức đối với công tác thông tin, tuyên truyền nói chung và cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, phản động nói riêng.

Mạng xã hội nếu không có sự quản lý chặt chẽ về thông tin sẽ đe dọa trực tiếp đến hệ tư tưởng và bản sắc văn hóa của các dân tộc - vốn là những giá trị cần được duy trì. Lợi dụng sức mạnh của kỹ thuật số, mạng internet, số ít nước lớn có mưu đồ bá quyền đã, đang và sẽ tiếp tục tìm cách phổ biến các giá trị tư tưởng, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán ra khắp thế giới thông qua công cụ hỗ trợ đắc lực của mạng xã hội, dần dần làm biến đổi thói quen tư duy, tiêu dùng và sinh hoạt của người dân các dân tộc trên khắp thế giới, nhằm gây ảnh hưởng, can thiệp vào các quốc gia.

3. Các giải pháp bảo đảm công tác thông tin, tuyên truyền, bảo vệ an ninh tư trưởng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trước những thách thức của mạng xã hội

Đại hội XIII của Đảng khẳng định, cần tiếp tục “kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(6). Do đó, bảo vệ an ninh tư tưởng, đặc biệt là trên không gian mạng và mạng xã hội là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái.

Đánh giá về công tác thông tin, tuyên truyền, bảo vệ an ninh tư tưởng trong thời gian qua, Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Công tác thông tin, tuyên truyền một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa phong phú, thường xuyên, kịp thời, chưa đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân. Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(7).

Do đó, để công tác thông tin, tuyên truyền,bảo vệ an ninh tư tưởng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên mạng xã hội đạt hiệu quả tốt trong thời gian tới, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Thứ nhất, tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thông tin, tuyên truyền và an ninh tư tưởng nói riêng và an ninh quốc gia nói chung.

Tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng về công tác tư tưởng, công tác thông tin, tuyên truyền là điều kiện tiên quyết về chính trị để bảo đảm an ninh tư tưởng, bảo đảm phát triển hòa bình và có trật tự của đất nước. Ở nước ta, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được thành tựu và địa vị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên không gian mạng xã hội, Đảng cần tăng cường định hướng, hướng dẫn những người tham gia mạng xã hội từ tổ chức, tuyên truyền và thực hành, để hệ tư tưởng chủ nghĩa xã hội luôn giữ vững địa vị chủ đạo. Các phương tiện truyền thông của Đảng phải đóng một vai trò quan trọng trong công tác tư tưởng trên mạng xã hội, góp phần làm sáng tỏ sự tốt đẹp trong mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng thời kỳ mới.

Thứ hai, tuyên truyền, phổ biến hệ tư tưởng chủ đạo trên mạng xã hội bằng hình thức đa dạng, phong phú. 

Với sự bùng nổ của mạng xã hội - một không gian luôn biến đổi, Đảng và Nhà nước cần thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền tư tưởng bằng những hình thức sinh động và dễ lan tỏa, hấp dẫn. Bên cạnh đó, công tác thông tin, tuyên truyền tư tưởng cần đặc biệt quan tâm đến lực lượng thanh, thiếu niên - là đối tượng tích cực nhất trên mạng xã hội hiện nay; cần nắm bắt được đời sống tâm lý, sở thích của những đối trượng này, từ đó đưa ra cách thức tuyên truyền tư tưởng cho phù hợp, hiệu quả; giúp họ đủ nền tảng kiến thức để nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc và có đủ “sức đề kháng”, không bị xúi giục, đi theo hệ tư tưởng lệch lạc, lối sống đua đòi, xa lạ với truyền thống tư tưởng - văn hóa của dân tộc.

Thứ ba, theo dõi, nắm bắt kịp thời những thay đổi trong lĩnh vực tư tưởng trên mạng xã hội. 

Suy nghĩ, tư duy, quan niệm trong không gian mạng nói chung và mạng xã hội nói riêng luôn thay đổi, với những ý tưởng, tư tưởng mới xuất hiện. Vì vậy, việc theo dõi, nắm bắt những thay đổi trong lĩnh vực tư tưởng trên mạng xã hội có ý nghĩa chính trị quan trọng. Những nhận xét xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội phải được bác bỏ kịp thời. 

Thứ tư, lấy công tác dư luận xã hội trực tuyến làm trọng tâm hàng đầu của công tác tuyên truyền, tư tưởng, của hoạt động thông tin, tuyên truyền.

Định hướng dư luận xã hội trên mạng xã hội phải có lập trường rõ ràng theo đường lối chính trị, định hướng tuyên truyền và định hướng giá trị đúng đắn. Giữ vững sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, lấy trọng tâm, trọng điểm là phục vụ sự phát triển của đất nước, gìn giữ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân; đồng thời, tăng cường đối thoại làm sáng tỏ và phản bác những luận điệu xuyên tạc, bội nhọ, nói xấu, “dắt mũi” dư luận, của các thế lực thù địch với âm mưu chống phá đất nước ta. Cần tăng cường thông tin về luồng tư tưởng chủ đạo và dư luận xã hội tích cực. Tránh cách thông tin phiến diện hoặc thông tin quá nhiều về những hiện tượng tiêu cực, mặt trái của xã hội mà ít thông tin về mặt tích cực, những tấm gương người tốt việc tốt, vì điều đó gây ra tình trạng mệt mỏi, mất tinh thần, mất niềm tin trong dư luận xã hội.

Cần phát huy hết vai trò của những người làm công tác dư luận mạng trong việc duy trì an ninh tư tưởng và hình thành lợi thế dư luận chống lại các thế lực thù địch chống phá ta trên mạng xã hội. 

Ngoài ra, phải quan tâm sâu sát đến một số “lãnh đạo dư luận” trên không gian mạng là những người có uy tín trong xã hội hoặc những người có lượng người theo dõi cao trên mạng xã hội (người của công chúng, các trí thức, văn nghệ sĩ) và thiết lập mối quan hệ tốt với họ, hướng dẫn họ bày tỏ những nhận xét có lợi cho sự phát triển đất nước, đoàn kết dân tộc và hòa hợp xã hội.

Thứ năm, tăng cường quan tâm chú ý những diễn biến tư tưởng tiềm ẩn trên mạng xã hội. 

Với sự xuất hiện liên tục của các phương tiện, công cụ mạng mới, những suy nghĩ và hành vi có thể tồn tại trong không gian mạng ngày càng có tính chất tinh vi được ẩn giấu dưới nhiều dạng khác nhau. Hơn nữa, các lực thù địch dưới sự móc nối với các phần tử phản động phương Tây cũng bắt đầu thay đổi chiến lược thâm nhập ý thức hệ, từ việc tuyên truyền rộng rãi các hệ giá trị kiểu phương Tây để gây ảnh hưởng đến cư dân mạng trong nước. Việc loại bỏ sự xâm nhập của các luồng tư tưởng, văn hóa, suy nghĩ này là hết sức khó khăn. Để duy trì an ninh tư tưởng trên không gian mạng đòi hỏi những nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, các tổ chức và các cá nhân cư dân, nhằm giảm dần không gian cho sự xâm nhập của phương Tây và làm suy yếu ảnh hưởng của chúng.

Thứ sáu, chuẩn bị các luận cứ khoa học thuyết phục, nghiên cứu tổng kết lý luận, phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, bịa đặt bằng một hệ thống các phương thức đa dạng trên mọi nền tảng của mạng xã hội; làm cho mạng xã hội thực sự lành mạnh, an toàn với sự chiếm lĩnh của hệ tư tưởng chủ đạo của đất nước.

Tiếp tục nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm phong phú đời sống tư tưởng, tinh thần của xã hội thông qua kênh mạng xã hội.

__________________

(1), (2) Xem Digital 2022: Vietnam, http://datareportal.com/reports/digital-2022-vietnam

(3) Xem “Chuyển đổi số tại Việt Nam và những thống kê ấn tượng đầu năm 2021”, https://specials.laodong.vn

(4), (5)  GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng: Tư tưởng, lý luận với đổi mới và phát triển đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr.471-472, 472.

(6), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, , t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.181, 91.

Ngoại giao đa phương - quan điểm và tầm nhìn phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

 Ngoại giao đa phương không còn là thuật ngữ mới trong quan hệ quốc tế hiện đại cả về lý thuyết và hiện thực. Song nhận thức đúng về ngoại giao đa phương, từ đó đưa ra những định hướng chính sách và hành vi thực tế được xem là cả một quá trình. Việt Nam là một trong số ít các quốc gia sớm nhận thức khá rõ nét về ngoại giao đa phương, đồng thời sử dụng ngoại giao đa phương tương đối hiệu quả, phù hợp với thực tiễn, đặc biệt kể từ thế kỷ XX đến nay.

Ngoại giao đa phương - tiếp cận từ lý thuyết

Ngoại giao đa phương là một hình thức hoạt động ngoại giao, trong đó có sự tham gia của ba chủ thể trở lên trong quan hệ quốc tế (chủ yếu là quốc gia - dân tộc) vào quá trình đàm phán, thương lượng, ra quyết sách trong cùng một thời điểm và đáp ứng nhiều đòi hỏi khác nhau trước một vấn đề cụ thể(1). Các mô thức ngoại giao đa phương chủ yếu và mang tính phổ quát hiện nay là tổ chức quốc tế (với các tính chất khác nhau từ những tổ chức mang tính cộng đồng chung, liên minh đến những tổ chức mang tính hợp tác với những cam kết đơn giản; ở các cấp độ khác nhau, như khu vực, liên khu vực, toàn cầu; với các lĩnh vực đa dạng: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...); các diễn đàn, hiệp hội (tính chất và quy mô đa dạng nhưng ràng buộc lỏng lẻo hơn); các phong trào, các hội nghị, cuộc họp, hội thảo... (quy mô đa dạng, ít ràng buộc nhằm giải quyết một hoặc một vài vấn đề, mang tính ngẫu hứng hoặc thường niên).

Phiên thảo luận chung cấp cao Khóa họp thứ 76 Đại hội đồng Liên hợp quốc tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York, Mỹ_Nguồn: UN 

Trong ngoại giao đa phương, lợi ích luôn là yếu tố quy định hành vi của chủ thể. Với mỗi thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, các quốc gia có lợi ích khác nhau, dẫn tới hình thành động cơ thúc đẩy sự tham gia của các chủ thể, thời điểm sử dụng mô thức ngoại giao đa phương khác nhau trong quan hệ quốc tế. Hiện nay, chủ thể quan hệ quốc tế (cơ bản nhất là quốc gia - dân tộc độc lập có chủ quyền) tham gia ngoại giao đa phương khá sôi động, cho thấy ngoại giao đa phương đang đáp ứng được những lợi ích của các chủ thể. Một điểm đáng chú ý trong ngoại giao đa phương là tương quan lực lượng và thực lực quốc gia. Đây là nền tảng quan trọng của trật tự thế giới và là cơ sở để định hình “sân chơi” và nguyên tắc ứng xử (“luật chơi”) trong quan hệ quốc tế nói chung và ngoại giao đa phương nói riêng; đóng vai trò không nhỏ trong việc quyết định hành vi và tầm ảnh hưởng trong quá trình đàm phán. Thêm vào đó, thực lực quốc gia - nhân tố được coi là cơ sở của việc hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại - cũng quyết định hành vi của quốc gia trong ngoại giao đa phương. Vì vậy, các nước lớn có hành vi theo hướng chi phối và “bao cấp” cho thể chế đa phương, còn các nước nhỏ thì hành động theo hướng chấp nhận, tuân thủ và “ăn theo”(2).

Bên cạnh đó, hành vi của quốc gia cũng phụ thuộc vào mức độ thể chế hóa của các tổ chức đa phương. Tổ chức đa phương có mức độ thể chế hóa cao sẽ có khả năng cao hơn trong việc buộc các nước phải tuân thủ luật lệ và ngược lại, mức độ thể chế hóa thấp sẽ làm xu hướng không tuân thủ luật lệ xảy ra cao hơn(3).

“Luật chơi” (nguyên tắc, quy định) của các thể chế đa phương quốc tế cũng thúc đẩy hoặc tác động đến hành vi của các quốc gia. Các mô thức ngoại giao đa phương khác nhau sẽ có “luật chơi” khác nhau. Nhưng điểm chung của các mô thức ngoại giao đa phương là sản phẩm hay kết quả chính là các thỏa thuận quốc tế đa phương. Các thỏa thuận này là “luật chơi” ràng buộc hành vi tiếp theo của chủ thể trong ngoại giao đa phương. Vì vậy, trong quá trình hình thành “luật chơi”, quốc gia nào được tham gia đàm phán và đưa ra ý tưởng được chấp nhận và ghi nhận ý tưởng trong sản phẩm cuối cùng của ngoại giao đa phương, quốc gia đó sẽ khẳng định được lợi ích và vị thế của mình trong “sân chơi” đa phương này. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để quốc gia thuận lợi hóa môi trường cho hành vi tương lai. Song, do chủ quyền của quốc gia, sự chưa hoàn thiện của thể chế và khả năng đáp ứng nhu cầu của các bên trong các thỏa thuận quốc tế đa phương nên “luật chơi” của các thể chế đa phương chỉ ràng buộc một phần hành vi của quốc gia, bởi khi cần thiết chủ thể (quốc gia) sẽ viện dẫn lý do chủ quyền và lợi ích quốc gia để có thể bỏ qua những “luật chơi” này(4).

Trên thực tế, hành vi của các chủ thể khá đa dạng. Song, tựu chung chủ thể tham gia ngoại giao đa phương theo ba dạng hành vi cơ bản sau: 1- Các chủ thể thành viên phải chấp nhận và tuân thủ theo “luật chơi” chung (rule taker); 2- Vận dụng “luật chơi” hoặc kẽ hở luật pháp để tối ưu hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mình (rule manipulator); 3- Thay đổi, điều chỉnh hoặc xây dựng “luật chơi” mới để thích ứng với vị thế và thực lực mới (rule maker hoặc shaper)(5). Các chủ thể có thể thay đổi hành vi của mình tùy theo lợi ích, tương quan lực lượng, “luật chơi” và “sân chơi” đa phương trong những thời điểm và vấn đề khác nhau. Ngoài ra, một chủ thể trong một thời điểm có thể có một hoặc hai, thậm chí có đủ cả ba hành vi ở những hoạt động ngoại giao đa phương khác nhau.

Trong thế kỷ XXI, quan điểm và hoạt động ngoại giao đa phương của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phong phú, rõ nét và mang tính đặc thù. Chẳng hạn, Mỹ theo đuổi chủ nghĩa đa phương có lựa chọn và chủ nghĩa đa phương hiệu quả với quan điểm xây dựng một hệ thống đa phương do Mỹ và các nước phương Tây dẫn dắt để có thể gây ảnh hưởng lên các quốc gia khác. Ngoại giao đa phương của Mỹ tồn tại cùng ngoại giao song phương và mang tính thực dụng. Mỹ lựa chọn phát triển hay cầm chừng hoặc từ bỏ hoạt động ngoại giao đa phương theo sự tính toán về lợi ích của họ với các thời điểm khác nhau. Điều này thể hiện rõ trong hành vi ngoại giao đa phương của Mỹ trên thực tế có xu hướng áp đặt “luật chơi” để bảo đảm lợi ích quốc gia, song Mỹ cũng sẵn sàng rời bỏ tổ chức đa phương cũ, khởi xướng thể chế đa phương mới cũng vì lợi ích quốc gia.

Nga luôn chủ trương gắn bó sâu sắc với các nguyên tắc của chủ nghĩa đa phương(6). Nga chú trọng các cơ chế đa phương như một dạng tập hợp lực lượng để nhằm phục hưng đất nước và ngăn chặn ảnh hưởng của phương Tây. Ngoại giao đa phương của Nga phân tán về chiều rộng từ cấp độ toàn cầu, khu vực tới tiểu khu vực, mang tính lựa chọn với các quan điểm: 1- “Lãnh đạo tập thể của những quốc gia hàng đầu” cùng có trách nhiệm giải quyết các vấn đề toàn cầu, khác với quan điểm lãnh đạo của một siêu cường; 2- Trong ngoại giao đa phương, chính sách đa phương cần được đàm phán giữa các bên liên quan và Nga không chấp nhận một quyết định nào mà chưa được thông qua (chẳng hạn những quyết định của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương hoặc Liên minh châu Âu mà Nga không tham gia sẽ không có giá trị); 3- Ngoại giao đa phương cần trở thành nền tảng, phản ánh sự phân chia quyền lực trong một thế giới đa cực đang nổi lên, bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Bra-xin, mà Nga hết sức chú trọng(7).

Trung Quốc hiện đang thể hiện cách tiếp cận mạnh mẽ và phổ biến về ngoại giao đa phương, nhất là với các tiểu vùng, khu vực và các tổ chức lớn, đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Trung Quốc bắt đầu khẳng định vị thế, sức mạnh và sự dẫn dắt của mình trong nhiều thể chế đa phương qua sự tham gia tích cực vào các cơ chế bằng các sáng kiến đa phương, sự đầu tư và đóng góp, thể hiện sự gánh vác trách nhiệm, tham gia quản trị toàn cầu, phát huy “sức mạnh mềm” của Trung Quốc. Trung Quốc đưa ra chủ thuyết về một thế giới hài hòa, trong đó vai trò của các tổ chức đa phương được đề cao - cùng hợp tác để cùng thịnh vượng, cần tôn trọng sự đa dạng về văn hóa và hệ thống chính trị, các quốc gia đang phát triển có nhiều quyền quyết định hơn. Trung Quốc tích cực triển khai các hoạt động đa phương, truyền bá những tư tưởng mới, đưa ra thông điệp mới về xây dựng một thế giới hài hòa, dân chủ, kiến tạo một trật tự kinh tế thế giới mới, đặc biệt Trung Quốc nêu quan điểm không tham gia liên minh(8).

Quan điểm và hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được một số kết quả quan trọng về đối ngoại. Hội nhập kinh tế quốc tế phát triển sâu rộng trên nhiều cấp độ từ khu vực đến toàn cầu, đa dạng về hình thức, với việc tham gia chủ động tích cực ở các tổ chức, diễn đàn, hội nghị đa phương quốc tế, đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc và Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương thế hệ mới, nổi bật là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu (VN - EAEU FTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA). “Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác. Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu”(9).

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Hội nghị tổng kết hai năm Việt Nam đảm nhiệm cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2020 - 2021_Nguồn: vietnamnet.vn

Trên cơ sở đó, Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) đã đưa ra quan điểm phát triển đất nước nói chung, quan điểm đối ngoại nói riêng, đó là: 1- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; 2- Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; 3- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất(10). Mặc dù quan điểm về ngoại giao đa phương(11) chưa được Đảng ta đưa vào văn kiện một cách chính thức và độc lập, nhưng những quan điểm trên được xem là tiền đề cơ bản (nguyên tắc, phương châm) cho chính sách và hành vi (hoạt động) về ngoại giao đa phương.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định mục tiêu đối ngoại: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(12); tuy nhiên, Đảng ta vẫn chưa đề cập đến ngoại giao đa phương, chỉ hàm ý trong cụm từ “đa phương hóa, đa dạng hóa”. Đảng ta chỉ rõ: “Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể...; chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng đoàn kết... Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”(13). Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, 10 năm được thông qua tại Đại hội XIII của Đảng, mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm mặc dù không đề cập đến đối ngoại đa phương mà chỉ đề cập đến công tác đối ngoại nói chung: “Giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế”(14), song, trong phần phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, Đảng ta lại đề cập một cách cụ thể, đó là: “Tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc”. Đặc biệt trong phương hướng đối ngoại, Đảng ta tiếp tục khẳng định và phát triển quan điểm đã nêu trong Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, về “Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”, đó là: Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, kết hợp chặt chẽ với đối ngoại song phương, thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương(15).

Nhìn chung, Việt Nam đã xác định ngoại giao đa phương là một nội dung quan trọng trong quan điểm về đối ngoại với việc sử dụng nhiều lần cụm từ “nâng tầm đối ngoại đa phương” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Thêm vào đó, quan điểm về ngoại giao đa phương được xác định khá cụ thể, như: đối tác trọng tâm là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công...; lĩnh vực được ưu tiên là kinh tế, quốc phòng, an ninh...; quan điểm về thái độ tham gia ngoại giao đa phương là chủ động, tích cực. Trong thời gian tới, ngoại giao đa phương của Việt Nam được Đảng ta xác định: “Tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết”(16). Theo đó, Việt Nam sẽ tích cực, chủ động tham gia đóng góp, định hình “luật chơi” trong các hoạt động ngoại giao đa phương.

Đặc biệt, Việt Nam đã thể hiện sự nâng tầm về tư duy, quan điểm về ngoại giao đa phương khi khẳng định: “Tiếp tục đổi mới hợp tác quốc tế về pháp luật theo hướng chủ động, tích cực, tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng, khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong công tác hợp tác quốc tế về pháp luật”(17). Như vậy, có thể thấy, Việt Nam chủ trương tham gia ngoại giao đa phương trên cơ sở phối hợp ba hành vi: người thực hiện “luật chơi”, người tận dụng và người tham gia tạo dựng “luật chơi” (rule taker, rule manipulator và rule shaper). Việt Nam kỳ vọng chủ động thực hiện ngoại giao đa phương theo hướng góp phần hình thành các nguyên tắc, “luật chơi” trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, mức độ hành vi còn tùy thuộc vào mô thức ngoại giao đa phương mà Việt Nam tham gia.

Từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, tình hình dịch bệnh COVID-19 có nhiều diễn biến khó lường, các hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam vẫn diễn ra linh hoạt, năng động và là minh chứng cho một Việt Nam đang tích cực, chủ động tham gia định hình “luật chơi” và nguyên tắc của thể chế đa phương. Việt Nam vẫn đảm nhiệm tốt vai trò, vị trí của mình trong các “sân chơi” đa phương khu vực và thế giới. Cụ thể, Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, với việc tham gia hàng trăm cuộc họp và bỏ phiếu các nghị quyết, đưa ra nhiều sáng kiến quan trọng về các vấn đề liên quan đến thượng tôn pháp luật trong bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới; thúc đẩy bảo vệ người dân, nhất là phụ nữ và trẻ em; ứng phó với những thách thức an ninh phi truyền thống (biến đổi khí hậu, nước biển dâng...); thúc đẩy hợp tác chặt chẽ hơn và nâng cao vai trò của các tổ chức, khu vực và tiểu khu vực, hợp tác giữa các tổ chức, khu vực và tiểu khu vực với Liên hợp quốc trong bảo vệ hòa bình và an ninh ở các khu vực và quốc tế. Đặc biệt, tháng 12-2021, Việt Nam đã tổ chức thành công Phiên họp theo thể thức Arria đầu tiên về vấn đề trẻ em không có sự chăm sóc của cha mẹ trong xung đột. Trên cương vị Chủ tịch luân phiên của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong tháng 4-2021, Việt Nam đã tổ chức, chủ trì, điều hành khoảng 30 cuộc họp theo phương châm tích cực, chủ động, có trách nhiệm, vừa bảo đảm sự khách quan, minh bạch, vừa linh hoạt, xử lý hài hòa, cân bằng mối quan tâm của các nước đối với các vấn đề được thảo luận và thúc đẩy hợp tác, đồng thuận tại Hội đồng Bảo an(18); thúc đẩy thông qua Tuyên bố Chủ tịch của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong đó nhấn mạnh nhu cầu tăng cường hợp tác quốc tế để chung tay giải quyết những hệ lụy của bom mìn sau chiến tranh đối với an toàn và sinh kế bền vững của người dân, cộng đồng(19).

Lễ xuất quân Đội Công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 lên đường làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Abyei và Nam Sudan_Ảnh: nhandan.vn

Việc tham gia tích cực, chủ động các hoạt động của ASEAN trong năm 2021 đã và đang khẳng định vai trò dẫn dắt, định hình “luật chơi” của Việt Nam tại diễn đàn đa phương lớn nhất của khu vực này. Việt Nam tham gia chuỗi các hội nghị cấp cao và quan trọng của ASEAN, như Hội nghị cấp cao ASEAN, Hội nghị cấp cao ASEAN với các đối tác, Hội nghị cấp cao Mê Kông - Hàn Quốc lần thứ ba, theo hình thức trực tiếp và trực tuyến... Cùng với đó, Việt Nam chủ động tham gia, tích cực phối hợp một cách có trách nhiệm với nước Chủ tịch Bru-nây thúc đẩy các ưu tiên của năm 2021, nhất là chủ động và hiện thực hóa các chương trình kế hoạch theo sáng kiến của Việt Nam từ năm 2020, như: Quỹ ASEAN về ứng phó dịch bệnh COVID-19, Kho dự phòng vật tư y tế khẩn cấp ASEAN, Khung phục hồi tổng thể ASEAN và Khung thỏa thuận hành lang đi lại ASEAN (ATCAF)...

Tham gia ngoại giao đa phương trong khuôn khổ APEC cũng là một hoạt động đáng chú ý trong năm 2021 của Việt Nam. Bên cạnh việc Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tham dự và phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ 28 (tháng 11-2021) được tổ chức tại Niu Di-lân, Việt Nam cũng tham gia nhiều sự kiện và hoạt động quan trọng của tuần lễ APEC, như Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC lần thứ 28 (APEC 28), phiên Đối thoại giữa lãnh đạo các nền kinh tế APEC với Hội đồng Tư vấn kinh doanh APEC (ABAC), Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp APEC. Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Công Thương của Việt Nam cũng tham dự các phiên họp Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế của APEC. Đặc biệt, tại APEC 28, Việt Nam đã đề xuất một số ý kiến được các nền kinh tế thành viên ghi nhận, bao gồm: chia sẻ và tiếp cận công bằng vắc-xin phòng ngừa dịch bệnh COVID-19, vật tư y tế và nguồn lực, đề nghị APEC có tầm nhìn, cách tiếp cận mới trong việc phục hồi kinh tế, như thúc đẩy nền kinh tế số, thúc đẩy thương mại điện tử, thúc đẩy tự do thương mại, dỡ bỏ các rào cản thương mại để khôi phục sản xuất, kinh doanh, tránh bị đứt gãy các chuỗi sản xuất, đề nghị các nền kinh tế thành viên hỗ trợ, quan tâm các đối tượng yếu thế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những biện pháp, đề xuất về thúc đẩy tăng trưởng xanh, tăng trưởng bao trùm... Tất cả các sáng kiến, đề xuất của Việt Nam đã được ghi nhận đầy đủ vào các văn kiện của APEC, trong đó có Tuyên bố cấp cao APEC, Tuyên bố cấp Bộ trưởng APEC cũng như Kế hoạch hành động triển khai Tầm nhìn APEC đến năm 2040; qua đó, thể hiện sự đóng góp hết sức trách nhiệm, tích cực, chủ động của Việt Nam, là thành viên chủ động, đi đầu trong APEC về xây dựng, củng cố đoàn kết trong APEC để tiếp tục tăng cường hợp tác vì một khu vực châu Á - Thái Bình Dương hòa bình và ổn định”(20).

Mặc dù đứng trước nhiều khó khăn, thách thức nhưng với những hoạt động sôi động và hiệu quả của hoạt động ngoại giao nói chung và ngoại giao đa phương nói riêng, Việt Nam đã khẳng định vị thế của một quốc gia đang trên đà phát triển. Với vị thế và thực lực cũng như định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh và nâng tầm ngoại giao đa phương trên thực tế sẽ là đường lối quan trọng để Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của đất nước./.

-----------------

(1) Lưu Thúy Hồng: Ngoại giao đa phương trong hệ thống quan hệ quốc tế đương đại, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 49
(2), (3) Xem: Đặng Đình Quý (Chủ biên): Chủ nghĩa đa phương trên thế giới và đối ngoại đa phương của Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 89 - 90
(4) Xem: Hoàng Khắc Nam: Lý thuyết quan hệ quốc tế, Nxb. Thế giới, 2017, Hà Nội, 2017, tr. 37, 64
(5) Xem: Đặng Đình Quý (Chủ biên): Chủ nghĩa đa phương trên thế giới và đối ngoại đa phương của Việt Nam, Sđd, tr. 89 – 90
(6) Elena Wilson Rowe - Stina Torjesen: “The Multilateral Dimension in Russian Foreign Policy” (Tạm dịch: “Chiều hướng đa phương trong chính sách đối ngoại của Nga”), 2009, https://www.routledge.com/The-Multilateral-Dimension-in-Russian-Foreign-Policy/Rowe-Torjesen/p/book/9780415542920
(7) Xem: Lưu Thúy Hồng (Chủ nhiệm): Hoạt động ngoại giao đa phương (Đề tài cơ sở trọng điểm), Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2021
(8) Trong Sách Trắng của Trung Quốc “Sự phát triển hòa bình” năm 2011 nhấn mạnh nguyên tắc không liên minh quân sự với bất cứ nước nào, cốt lõi của tư tưởng và khái niệm an ninh kiểu mới của Trung Quốc; thừa nhận sự xuất hiện của các nhân tố an ninh phi truyền thống
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 69
(10) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 110 - 111
(11) Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta sử dụng cụm từ “đối ngoại đa phương”
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 117 – 118
(13), (14), (15), (16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 162 - 163, 201, 281 - 283, 164
(17) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. II, tr. 154
(18) Xem: Thùy Dung: “Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ”, Báo điện tử Chính phủ, ngày 25-3-2021, https://baochinhphu.vn/viet-nam-dam-nhan-vai-tro-chu-tich-hoi-dong-bao-an-lhq-102289742.htm
(19) Xem: Hoàng Kiều: “10 dấu ấn của Việt Nam tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021”, Trang thông tin điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam, ngày 18-1-2022, https://vov.vn/chinh-tri/10-dau-an-cua-viet-nam-tai-hoi-dong-bao-an-lien-hop-quoc-nhiem-ky-2020-2021-post918924.vov
(20) Xem: Đoàn Ca: “Việt Nam là thành viên đi đầu, đóng góp có trách nhiệm trong APEC”, Trang thông tin điện tử Quân đội nhân dân, ngày 31-11-2021, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/viet-nam-la-thanh-vien-di-dau-dong-gop-co-trach-nhiem-trong-apec-677336

Nhận diện tham nhũng dưới góc độ nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống

  Tham nhũng luôn là một trong những vấn đề được chính phủ các nước đặc biệt quan tâm do mức độ, phạm vi ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong những năm qua, mặc dù tình hình tham nhũng ở nước ta từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, song vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là khi tham nhũng đang là một nguy cơ đe dọa đến an ninh phi truyền thống, an ninh quốc gia hiện nay.

Tham nhũng và những hậu quả nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia

Tham nhũng xuất hiện từ thế kỷ XIII trước Công nguyên, dưới nhiều hình thức biểu hiện, tính chất, mức độ và phạm vi khác nhau. Tùy vào trình độ phát triển, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau mà quan niệm về tham nhũng cũng có sự khác nhau. Tại Đức, “tham nhũng được coi là hiện tượng mất phẩm chất, hối lộ, đút lót, thường xảy ra đối với công chức có quyền hành”(1). Ở Thụy Sĩ, “tham nhũng là hậu quả nghiêm trọng của sự vô tổ chức của tầng lớp có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước. Đó là hành vi phạm pháp để phục vụ lợi ích cá nhân”(2). Ở Áo, “tham nhũng là hiện tượng lừa đảo, hối lộ, bóc lột”(3). Ngân hàng Thế giới (WB) coi “tham nhũng là sự lạm dụng chức vụ công để tư lợi”(4). Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International - TI) cho rằng “tham nhũng là hành vi lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân”(5). Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 không đưa ra khái niệm về tham nhũng mà chỉ khuyến cáo các quốc gia thành viên cần quy định các hành vi sau đây là tội phạm, bao gồm: hối lộ (trong khu vực công và khu vực tư), tham ô, lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi, làm giàu bất hợp pháp, biển thủ trong khu vực tư, tẩy rửa tài sản…(6). Như vậy, mặc dù nội dung diễn giải có nhiều điểm khác nhau, song tựu chung lại, tham nhũng được hiểu tương đối thống nhất là việc lợi dụng vị trí, quyền hạn để thực hiện các hành vi trái pháp luật nhằm trục lợi.

Trên thực tế, tham nhũng xảy ra ở tất cả các quốc gia và thường ở mức độ nghiêm trọng hơn trong giai đoạn quá độ về kinh tế - xã hội. Tháng 1-2022, Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) do Tổ chức Minh bạch quốc tế công bố cho thấy, vấn nạn tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Đáng chú ý, trong nhiều năm qua, hầu hết các quốc gia trên thế giới không có sự cải thiện đáng kể về hiệu quả phòng, chống tham nhũng. Hiện vẫn có hơn 2/3 trong tổng số 180 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá chỉ đạt điểm dưới 50 trên thang điểm 100 của CPI(7).

Tại Việt Nam, trong cuốn Quần thư khảo biện, nhà bác học Lê Quý Đôn khẳng định tham nhũng tràn lan là một trong năm nguy cơ mất nước(8). Do vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp phòng, chống tham nhũng trong đội ngũ quan lại. Điển hình nhất là việc vua Lê Thánh Tông sử dụng khoa cử, bảo cử, tiến cử chặt chẽ để tuyển bổ; áp dụng lệ Hồi tị; cử người đi dò xét phẩm cách các quan để giám sát chặt chẽ việc tiêu cực, tham nhũng của quan lại(9). Để thực hiện chế độ lương bổng hợp lý, nhà Trần áp dụng khoản “dưỡng liêm”; nhà Lý sử dụng cơ chế đặc biệt cho một số quan lại, như: cho thêm ngục lại mỗi năm 20 quan tiền, 100 bó lúa; thời Hậu Lê phân loại những “nơi ít việc”, “nơi nhiều việc” để phát bổng lộc khác nhau cho phù hợp nhưng bổng lộc các cấp bậc quan lại không quá 40 lần(10). Đặc biệt, để phòng ngừa, xử lý những hành vi tham nhũng, các triều đại phong kiến đã chú ý xây dựng các quy định pháp luật nghiêm minh về vấn đề này. Đơn cử như Bộ Luật Hồng Đức có tới 78/722 Điều luật, 7/13 Chương quy định hành vi liên quan đến tham nhũng với các chế tài xử phạt nghiêm khắc.

Trong giai đoạn lịch sử hiện đại, từ khi giành quyền lãnh đạo đất nước đến nay, Đảng ta đặc biệt coi trọng công cuộc phòng, chống tham nhũng. Ngay từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994, Đảng ta xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ, đồng thời sớm ban hành và thường xuyên hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho công tác phòng, chống tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định 12 nhóm hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước, 3 nhóm hành vi tham nhũng khu vực ngoài nhà nước; xác định chi tiết các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) dành 7 điều (từ Điều 353 đến Điều 359) quy định các tội phạm tham nhũng. Nhờ có sự quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, tình trạng tham nhũng ở nước ta từng bước được kiềm chế, ngăn chặn. Trong gần hai thập niên qua, chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam ngày càng có xu hướng tích cực. Năm 2021, Việt Nam đạt 39/100 điểm, tăng 3 điểm so với năm 2020, xếp thứ 87/180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là chỉ số CPI cao nhất của Việt Nam trong giai đoạn từ 2012 - 2021(11). Điều này khẳng định kết quả quan trọng của công tác phòng, chống tham nhũng do Đảng ta lãnh đạo đã có sự chuyển biến tích cực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực_Ảnh:TTXVN

Mặc dù công tác phòng, chống tham nhũng có nhiều thành công, nhưng số lượng vụ, việc tham nhũng vẫn cao, tham nhũng đang xảy ra ở nhiều ngành, nghề, lĩnh vực, ngày càng tinh vi, phức tạp. Những năm gần đây, tình hình quốc tế và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Bên cạnh những nguy cơ truyền thống, Đảng và Nhà nước ta cũng xác định nhiều nguy cơ an ninh phi truyền thống, trong đó có vấn đề tham nhũng đã, đang hiện hữu và gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia.

Một là, tham nhũng mang tính phi quân sự, phi vũ trang nhưng đe dọa nghiêm trọng, toàn diện tới an ninh quốc gia, trong đó có an ninh lãnh thổ, an ninh chính trị.

Giống như các nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống khác, như dịch bệnh, biến đổi khí hậu…, tham nhũng không phải là những kế hoạch hành động do lực lượng vũ trang, quân đội nước ngoài triển khai, cũng không phải là âm mưu, hoạt động của các cơ quan đặc biệt hay các thế lực thù địch từ bên ngoài, mà tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ lợi (khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018). Những đối tượng thực hiện hành vi tham nhũng có thể không có động cơ trực tiếp nhằm xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nhưng hành vi tham nhũng mang lại những hậu quả nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia trên phương diện: an ninh lãnh thổ, an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh xã hội…

Thực tiễn cho thấy, tham nhũng đang làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột xã hội, có thể châm ngòi cho các cuộc bạo lực vũ trang, ảnh hưởng đến tiềm lực quốc phòng - an ninh, thách thức sự tồn vong và thịnh vượng của quốc gia, là cái cớ để các thế lực thù địch can thiệp vào nội bộ, thậm chí xâm phạm chủ quyền lãnh thổ. Tình trạng này xảy ra ở không ít quốc gia trên thế giới. Không chỉ vậy, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề tham nhũng nhằm tuyên truyền xuyên tạc, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Họ xảo biện và quy chụp tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ xã hội chủ nghĩa, chỉ có thay đổi chế độ mới giảm được tham nhũng(?!); rằng, nguồn tài chính có được từ tham nhũng dùng để vận động hành lang, vận động chính sách, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy thành tích, chạy chức, chạy quyền… nhằm đưa một bộ phận không nhỏ cán bộ không xứng đáng tham gia hệ thống chính trị, từng bước nắm quyền lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành...(?!). Đây chính là một thách thức phi vũ trang nhưng đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trong đó có an ninh chính trị.

Hai là, tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng không chỉ đối với an ninh quốc gia mà trực tiếp đe dọa đến an ninh con người.

Một đặc trưng cơ bản của các nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống là không chỉ gây phương hại đến Nhà nước và hệ thống chính trị mà còn gây ra những tổn thất nghiêm trọng đối với số đông người dân, doanh nghiệp. Tham nhũng làm chậm quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, làm sai lệch việc lựa chọn những người lãnh đạo, quản lý có năng lực. Khi tiền thuế của người dân và doanh nghiệp bị chiếm đoạt bất hợp pháp với số lượng lớn, tham nhũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực thi các chính sách bảo đảm sinh kế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường - những chiến lược cơ bản bảo đảm an ninh con người.

Những con số thất thoát trong các vụ án tham nhũng gần đây phần nào nói lên hậu quả kinh tế nghiêm trọng, đặc biệt những vụ án tham nhũng trong lĩnh vực y tế đã trực tiếp gây phương hại đến việc bảo đảm sức khỏe cho người dân trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Những thiệt hại này không đơn thuần gây ra những ảnh hưởng về kinh tế mà còn làm trầm trọng thêm các xung đột xã hội, chi tiêu công cho các lĩnh vực thiết yếu của an ninh con người, phá hoại những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, tạo ra bầu không khí tiêu cực, tâm lý bất an, thiếu niềm tin…

Ba là, tham nhũng được hình thành và chi phối bởi nhiều yếu tố, điều kiện nên tạo ra tính đa chiều, tính khó đoán định. 

Nếu như các nguy cơ đe dọa an ninh truyền thống chủ yếu bắt nguồn từ xung đột chủ quyền, lợi ích quốc gia, thì các nguy cơ an ninh phi truyền thống lại đến từ nhiều nguyên nhân. Bên cạnh đó, diễn biến của các nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống phụ thuộc vào quan điểm, thái độ, mức độ tích cực trong việc đối phó vấn đề này của từng quốc gia. Do vậy, chúng thường diễn biến rất đa dạng, khó đoán định, gây ra sự chủ quan, thụ động trong đối phó của các cơ quan an ninh.

Tham nhũng xuất phát trước hết từ nguyên nhân do những người có chức vụ bị suy thoái về phẩm chất đạo đức, không đủ bản lĩnh để chiến thắng cám dỗ của danh lợi, tiền tài, địa vị. Trong khi mặt trái cơ chế thị trường tạo ra sự chênh lệch, phân hóa giàu nghèo và tác động mạnh tới tư tưởng, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, kích thích tư duy nhiệm kỳ, chủ nghĩa thực dụng, cá nhân, chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý, nhân cách, danh dự. Chính sách tiền lương chưa hợp lý cũng tạo ra động cơ cho tham nhũng. Phương thức giám sát quyền lực nhà nước nhiều nơi còn lỏng lẻo, cơ chế xin - cho còn phổ biến ở nhiều lĩnh vực; chính sách, pháp luật còn nhiều bất cập, hạn chế, tạo ra những kẽ hở, cơ hội để trục lợi; trình độ quản lý công, nhất là tài sản công, tài chính công nhiều nơi còn chưa theo kịp thực tiễn; cải cách hành chính ở nhiều cơ quan còn chậm; công tác phòng, chống tham nhũng nhìn chung hiệu quả chưa như kỳ vọng; vai trò, trách nhiệm giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội trong phòng, chống tham nhũng chưa hiệu quả… Đặc biệt, một số yếu tố văn hóa truyền thống bị lợi dụng, cùng với đó là sự tùy tiện, thiếu tôn trọng pháp luật, duy tình, trọng lệ hơn luật ở một bộ phận người có chức vụ, quyền hạn…

Bốn là, tham nhũng là vấn đề chung của nhiều quốc gia nhưng khác biệt về mức động tác động, do vậy có sự khác biệt trong nhận diện và cách tiếp cận ứng phó.

Tham nhũng cũng tương tự như hàng loạt nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống khác, là thách thức không phải của riêng một quốc gia nào. Các yếu tố tác động và hậu quả của nó vượt ra ngoài biên giới quốc gia, đòi hỏi sự chung tay, hợp tác của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, với các nước khác nhau thì mức độ tác động của tham nhũng tới an ninh quốc gia là khác nhau. Mặt khác, cũng giống như các các nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống khác, theo thời gian, diễn biến và hậu quả của tham nhũng đối với an ninh quốc gia có thể thay đổi phụ thuộc vào diễn biến của các nguyên nhân, điều kiện hình thành, phát sinh tham nhũng và quan niệm về an ninh quốc gia. Do vậy, chính phủ mỗi nước có sự tiếp cận riêng trong nhận diện và ứng phó với từng nguy cơ này.

Một số biện pháp góp phần bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình hiện nay

Để công tác phòng, chống tham nhũng hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia của nước ta trong tình hình hiện nay, cần tập trung thực hiện một số giải pháp:

Một là, tiếp tục xác định tham nhũng là “giặc nội xâm” với phương châm “chống tham nhũng như chống giặc nội xâm” với quyết tâm chính trị cao.

Từ năm 1994, Đảng ta xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Đến nay, quan điểm này vẫn còn nguyên tính thời sự. Những diễn biến phức tạp của tham nhũng, có mặt còn gay gắt, nghiêm trọng hơn, đã và đang đe dọa đến an ninh, sự phát triển và thịnh vượng của đất nước. Do vậy, cần chống tham nhũng như “chống giặc nội xâm” với quyết tâm và ưu tiên chính trị cao nhất. Cần vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm quý của cha ông ta, của thế giới để chống tham nhũng. Công tác phòng, chống tham nhũng cần xác định là một nội dung quan trọng của công tác bảo vệ an ninh quốc gia, áp dụng tổng hợp các biện pháp phòng, chống, trong đó có các biện pháp nghiệp vụ đặc thù của công tác an ninh.

Hai là, tập trung xây dựng chiến lược phòng, chống tham nhũng có trọng tâm, trọng điểm.

Tham nhũng do nhiều nguyên nhân, điều kiện hình thành phát triển, do vậy, công tác phòng, chống tham nhũng cần chủ động nhận diện và dự báo chính xác, kịp thời, có hệ thống; trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp chiến lược có tính lâu dài, đồng bộ để phòng ngừa, kiểm soát, từng bước đẩy lùi. Tuy nhiên, cần có sự đánh giá, phân loại các nguyên nhân để có những ưu tiên chiến lược, phòng, chống những nguyên nhân căn bản, gốc rễ. Qua nghiên cứu, các chiến lược trọng điểm cần ưu tiên, đó là: 1- Chiến lược kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc tăng cường tính minh bạch và cơ chế phản biện, giám sát thực chất hơn; 2- Chiến lược cán bộ đúng đắn theo hướng tinh giản biên chế, đổi mới căn bản cơ chế tuyển chọn, đánh giá, sử dụng, nhất là thực hiện chính sách đối với cán bộ, nghiêm trị tham nhũng chính trị.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Kỳ họp thứ 16 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối một số tổ chức đảng_Ảnh: TTXVN

Ba là, chú trọng triển khai chiến dịch phòng, chống tham nhũng từ cơ sở, khắc phục căn bản tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”.

Ngoài những chiến lược mang tính lâu dài, cần có những chiến dịch mang tính cấp bách, khẩn trương. Trước tiên, cần triển khai chiến dịch lan tỏa công tác phòng, chống tham nhũng mạnh mẽ xuống các cấp cơ sở. Tham nhũng lớn là sự tích tụ của tham nhũng vặt. Muốn chống tham nhũng ở cấp cao hiệu quả phải phòng, chống tham nhũng quyết liệt ở cơ sở, ngăn chặn tình trạng các hành vi tham nhũng, tiêu cực vặt bị “bình thường hóa”, hình thành “thói quen” xấu. Khi người cán bộ được bổ nhiệm lên những vị trí cao hơn không xóa bỏ được “thói quen” này sẽ dễ dẫn đến các hành vi tiêu cực, tham nhũng với mức độ ngày càng lớn, tinh vi hơn tương xứng với vị trí ngày càng cao của họ. Như vậy, phòng, chống tham nhũng phải trở thành một phong trào xã hội, nhất là lên án mạnh mẽ tham nhũng ngay từ cấp cơ sở; đưa công tác phòng, chống tham nhũng trở thành vấn đề thường trực trong đời sống chính trị từ cơ sở đến Trung ương.

Bốn là, hài hòa các biện pháp “bốn không” trong phòng, chống tham nhũng, trong đó quan tâm đúng mức tới yếu tố “không cần tham nhũng”.

Tiếp tục triển khai quyết liệt các biện pháp để cán bộ, đảng viên “không dám tham nhũng”, “không thể tham nhũng” bằng cách hoàn thiện cơ chế, chính sách nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả. Theo đó, tập trung sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật trong những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, như đầu tư xây dựng, đấu thầu, thu chi ngân sách, quản lý, sử dụng tài sản công… ; hoàn thiện các quy định về công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, tổ chức, về kê khai tài sản, kiểm soát thu nhập; xây dựng cơ sở dữ liệu để theo dõi sự biến động tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, gia tăng trách nhiệm chứng minh tài sản tăng lên đối với cán bộ, bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội phạm tham nhũng; sớm ban hành Luật Bảo vệ nhân chứng để người dân tin tưởng, mạnh dạn hợp tác trong cuộc đấu tranh khó khăn, nhạy cảm này.

Năm là, cảnh giác với âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng để xâm hại an ninh quốc gia.

Cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, vấn đề tham nhũng thường bị các thế lực chống đối lợi dụng để xuyên tạc, hạ uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, tham nhũng không phải là vấn đề của riêng một quốc gia, mà còn là hiện tượng tất yếu trong bất kỳ xã hội nào, dưới bất kỳ mô hình chính trị nào. Do vậy, luận điểm cho rằng, tham nhũng là đặc điểm cố hữu, là sản phẩm của hình thái xã hội chủ nghĩa là sai lầm về cả về lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở để đấu tranh, phản bác những âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng nhằm làm suy giảm uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Theo đó, cần công khai hơn nữa kết quả công tác phòng, chống tham nhũng để củng cố thêm niềm tin của người dân trong và ngoài nước vào thành công của công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam. 

Tham nhũng gây ra những hậu quả, tác hại hết sức to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, đe dọa nghiêm trọng đến ổn định và phát triển toàn diện của Nhà nước và xã hội. Vì vậy, cần đặt công tác phòng, chống tham nhũng trong tổng thể công tác bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới với những chiến lược, giải pháp đồng bộ nhưng có trọng tâm, trọng điểm, thẳng thắn, mạnh dạn đi vào những điểm nghẽn mấu chốt, đòi hỏi sự đổi mới tư duy về chính trị, kinh tế và an ninh./.

------------------------------

(1), (2), (3), (4), (5), (6) Xem: TS. Đinh Văn Minh: Một số vấn đề về tham nhũng và những nội dung cơ bản của Luật phòng chống tham nhũng, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2018
(7), (11) Xem: “Transparency International: Corruption Perceptions Index (CPI) ”, https://www.transparency.org/en/cpi/2021
(8), (10) Xem: Hồ Sơn Đài, Vũ Thị Nghĩa: “Về biện pháp phòng, chống tham nhũng của các triều đại phong kiến Việt Nam trong lịch sử”, in trong sách Trương Gia Long (chủ biên): Bàn về giải pháp phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013.
(9) Xem: “Bàn về xây dựng đội ngũ quan lại trong các triều đại phong kiến Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo “Nâng cao năng lực lãnh đạo chỉ huy các cấp trong Công an nhân dân”, Tổng cục Xây dựng lực lượng, Bộ Công an, Hà Nội, 2005.