Thứ Ba, 12 tháng 7, 2022

Quan điểm "Dân là gốc" trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 “Dân là gốc” là một trong những nội dung phản ánh quan điểm của Đảng ta về mục tiêu, động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những nội dung toàn diện và sâu sắc của quan điểm “dân là gốc” trong Văn kiện Đại hội XIII sẽ tiếp tục định hướng công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong bối cảnh mới. 

Quan điểm "Dân là gốc" trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào dân tộc thôn Konrơ Bàng 2 (xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum) - Ảnh: vnanet.vn

1. Quan điểm “dân là gốc” trong Văn kiện Đại hội XIII được đúc rút từ lịch sử và tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh vai trò to lớn, vị thế quan trọng của nhân dân. Thực tế lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam cho thấy, triều đại nào quan tâm đến lòng dân, ý dân và thực hiện tốt vấn đề dân sinh, tạo được lòng tin của nhân dân, cố kết được dân tâm, huy động được cả nước đồng lòng, góp sức thì cường thịnh và dựng nên nghiệp lớn. Trái lại, triều đại nào chỉ lo cuộc sống xa hoa, “mặc dân khốn khổ, chẳng hề đoái nghĩ”, “nhân dân oán hận mà không biết, lòng người oán trách mà chẳng kinh”, dân chúng chống lại, lòng người ly tán... thì cuối cùng đều phải bại vong. Từ thực tế đó và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tư tưởng đương thời, nhiều bậc tiền nhân trong lịch sử nước ta đã khẳng định, muốn làm nên nghiệp lớn phải “lấy dân làm gốc”, phản ánh vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, như: “trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân” (Lý Công Uẩn); “khoan thư sức dân”, “chúng chí thành thành” (Trần Quốc Tuấn); “lật thuyền mới rõ dân như nước”, do đó phải “yêu nuôi nhân dân, để khắp các nơi làng mạc không có tiếng oán giận, than sầu” (Nguyễn Trãi); “Xưa nay nước lấy dân làm gốc/ Được nước là bởi lẽ được dân”, nên “Thất thiên kim, chớ thất nhân tâm” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)... 

Mặc dù, về cơ bản vẫn chưa vượt ra ngoài khuôn khổ của hệ tư tưởng phong kiến với nòng cốt là Nho giáo, song yếu tố tiến bộ của những tư tưởng ấy trở thành giá trị văn hóa tinh thần vô giá của dân tộc, để lại bài học quý báu: “Coi trọng dân thì thành công, coi thường dân thì thất bại”.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin với quan điểm khoa học: “nhân dân là chủ thể của lịch sử”, “quần chúng là động lực của cách mạng”, “cách mạng là ngày hội của đông đảo quần chúng nhân dân”... Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện “cách mạng hóa” và bổ sung quan điểm “dân là gốc” bằng sức sống thời đại. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(1). Thực tế chứng minh, tin dân, dựa vào dân, biết khơi dậy sự đồng lòng và phát huy ý chí, khát vọng toàn dân tộc mới bảo đảm được sự trường tồn của non sông đất nước. Từ đó, Người chỉ rõ: “Nước lấy dân làm gốc... Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(2)

Quan điểm “dân là gốc” của Đảng ta chính là sự tiếp nối bài học từ truyền thống dân tộc và kế thừa trực tiếp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân. Mặt khác, những nội dung của quan điểm đó không ngừng được hoàn thiện, ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn từ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam. Trong nhiều văn kiện của Đảng đều nhất quán khẳng định vai trò của nhân dân đối với sự thành bại của đổi mới, đồng thời xác định mục tiêu đổi mới là vì nhân dân, chỉ rõ bài học nổi bật: “dân là gốc”, tất cả “vì dân, do dân”, “đổi mới vì hạnh phúc của nhân dân và dựa vào nhân dân để đổi mới”(3)

Tiếp nối tinh thần đó, Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(4)

Điều đó khẳng định, “dân là gốc” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ cương lĩnh, chủ trương, đường lối, chính sách và phản ánh quan điểm của Đảng về mục tiêu, động lực của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Mặc dù ở những giai đoạn cụ thể và trong những thời điểm nhất định, cách thức diễn đạt có thể khác nhau, song đều nhất quán khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân. 

2. Quan điểm “dân là gốc” trong Văn kiện Đại hội XIII mang nội dung toàn diện và sâu sắc, không chỉ khẳng định “vị trí trung tâm”, mà còn nhấn mạnh và đề cao “vai trò chủ thể” của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng nói chung và trong công cuộc đổi mới đất nước nói riêng.

Một là, khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực, sức mạnh của nhân dân để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân

Xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng, bảo đảm cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân là khát vọng ngàn đời của dân tộc ta. Chăm lo lợi ích và phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân là “mục đích thiêng liêng, lý tưởng cao cả” của Đảng và cũng là “động lực của công cuộc đổi mới đất nước”. “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” là một trong những đặc trưng bản chất của xã hội XHCN mà chúng ta hướng đến. Do đó, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta không lấy lợi nhuận của một thiếu số dựa trên sự chiếm đoạt lợi ích cộng đồng làm mục tiêu tối thượng, không vì tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà “hy sinh” tiến bộ, công bằng xã hội. Trái lại, phải gắn kết hài hòa kinh tế với văn hóa, xã hội và môi trường; bảo đảm “mỗi chính sách kinh tế phải đi liền với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”, đồng thời “mỗi chính sách xã hội phải tạo động lực để kinh tế phát triển bền vững”. 

Trên tinh thần ấy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm”(5). Thời gian qua, đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến nền kinh tế đất nước, song Đảng, Nhà nước ta vẫn nhất quán khẳng định “bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân là trên hết, trước hết” và dành nhiều nguồn lực để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn của đại dịch. Điều đó thể hiện rõ tính nhân văn, tất cả vì con người, vì nhân dân của chế độ ta, không ai có thể phủ nhận.

Để thực hiện mục tiêu và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, phải dựa vào chính sức mạnh, phát huy các nguồn lực to lớn của nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “đem tài dân, sức dân mà làm lợi cho dân”, vì “không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được”(6). Thực tiễn cũng đã chứng minh, nhờ phát huy được nguồn lực và sức mạnh to lớn của nhân dân mà công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu, lập nên những kỳ tích, ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc. Qua 35 năm đổi mới, đất nước phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên mọi lĩnh vực; quy mô, chất lượng nền kinh tế không ngừng nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đều được cải thiện rõ rệt; nước ta trở thành điểm sáng trong hoàn thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, được bạn bè quốc tế ca ngợi. 

Nhìn lại thực trạng nền kinh tế - xã hội của đất nước những năm trước đổi mới, với nền kinh tế lạc hậu, thấp kém, đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn, thách thức, “nhiều nhu cầu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất và văn hóa chưa được bảo đảm”, “công bằng xã hội bị vi phạm”... chúng ta càng tự hào và thấy rõ ý nghĩa lớn lao của những thành quả mà đất nước ta, nhân dân ta bằng ý chí, nỗ lực, quyết tâm để đạt được. Vì thế, “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(7)

Thực tế đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, tạo động lực, khí thế mới, cổ vũ tinh thần lao động sáng tạo, khơi dậy “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” và cống hiến vì sự cường thịnh, trường tồn của dân tộc. Tuy nhiên, các nguồn lực và tiềm năng sáng tạo của nhân dân chưa thực sự được khai thác và phát huy hiệu quả, đời sống của một bộ phận nhân dân chưa hết khó khăn. Vì vậy, một trong những đòi hỏi bức thiết là phải “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam”(8).

Hai là, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; thực hành dân chủ, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân.

Sinh thời, V.I.Lênin từng cảnh báo: “Đối với đảng cộng sản..., thì một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”(9). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn, Đảng Cộng sản Việt Nam “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phấn đấu”, và “ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Do đó, “phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là: hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối”(10). 

Tiếp nối tinh thần ấy, đồng thời trên cơ sở tổng kết các bài học thành công và chưa thành công từ thực tiễn, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”(11). Vì thế, phải “Thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”(12), đồng thời “Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”(13)

Thực tiễn đã chứng minh, mối liên hệ gắn bó máu thịt với nhân dân là truyền thống của Đảng ta. Chính nhân dân tạo nên sức mạnh của Đảng, cùng Đảng làm nên những kỳ tích lịch sử. Trong những năm đổi mới, việc đối thoại, lắng nghe tâm nguyện của nhân dân được coi trọng; những nguyện vọng, kiến nghị, lợi ích hợp pháp, chính đáng và nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân được giải quyết kịp thời đã góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng không ngừng được phát huy. 

Quan điểm “dân là gốc” cũng được quán triệt trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện. Bằng chứng thực tế là, Quốc hội “thực sự là cơ quan quyền lực, đại biểu cao nhất của nhân dân”; nền hành chính nhà nước ngày càng “chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch, dân chủ, vì dân”; nền tư pháp không ngừng hướng đến “công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa từng bước được hiện thực hóa, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy; cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” đi vào thực chất và vận hành hiệu quả hơn. 

Trong bối cảnh mới hiện nay, một trong những nhiệm vụ và yêu cầu bức thiết đặt ra là phải tiếp tục thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, không ngừng củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tăng cường đồng thuận xã hội. Do đó, phải “có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới” và không ngừng “thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân”.

Ba là, dựa vào nhân dân để bảo vệ thành quả của công cuộc đổi mới, vì cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật của sự hình thành, phát triển dân tộc Việt Nam. Xây dựng CNXH gắn liền với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài của cách mạng nước ta hiện nay. Tạo lập căn cứ vững chắc trong lòng dân, xây dựng lực lượng quân sự hùng hậu bằng sức mạnh của nhân dân; lấy làng xã làm pháo đài, dựa vào dân để chiến đấu là một trong những nghệ thuật quân sự đặc sắc, là cách thức xây dựng quân đội để bảo vệ Tổ quốc rất hiệu quả của người Việt từ xưa đến nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, sự đồng lòng của nhân dân sẽ “đúc thành một bức tường đồng” vững chắc, mà bất cứ kẻ địch nào đụng phải đều cam chịu thất bại. Từ truyền thống lịch sử và thực tiễn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta khẳng định, quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Do đó, phải chú trọng củng cố “thế trận lòng dân” một cách vững chắc trên nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội. Văn kiện Đại hội XIII xác định: Xây dựng “thế trận lòng dân”, kết hợp với xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân” vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”(14).

Thực tiễn những năm qua đã chứng minh một cách hùng hồn, “lòng dân” là cội nguồn sức mạnh, quyết định sự thành bại của công cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả xây dựng đất nước, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Tin vào dân, quy tụ được lòng dân, khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc là nhân tố quan trọng đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. 

Trước bối cảnh trong nước và quốc tế nhiều biến động rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo hiện nay, để xử lý tốt các vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, giữ vững “chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng”, tạo “vành đai an ninh”, ngăn ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ gây bất ổn xã hội, “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy” để không bị động, bất ngờ trước mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc cùng những thành quả của công cuộc đổi mới, thì còn phải dựa vào nhân dân, khai thác mọi nguồn lực trong dân, phát huy tiềm năng, sức mạnh toàn dân tộc. Đó là “nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên” của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị. Mặt khác, phải dựa vào dân để “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại” với ba trụ cột là “đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân”, tạo nên thế trận liên hoàn, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân.

3. Quan điểm “dân là gốc” sẽ tiếp tục định hướng công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

Quán triệt quan điểm “Dân là gốc” trước yêu cầu của đất nước trong bối cảnh mới, Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ, phải thực hiện nghiêm túc và hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”:

Để thực hiện phương châm “dân biết”, cần công khai, minh bạch, dân chủ trong hoạch định và thực thi chủ trương, đường lối, chính sách, trước hết là sự công khai, minh bạch về thông tin, bảo đảm “quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của nhân dân”; đáp ứng “quyền được biết” của người dân về những chính sách liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh kế của họ. Đồng thời, phải không ngừng nâng cao dân trí kết hợp với đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền để mọi người dân nắm bắt kịp thời, hiểu biết đúng đắn các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như quyền lợi và trách nhiệm công dân. 

Trong nhân dân cũng có nhiều bộ phận, với trình độ, hiểu biết không đồng đều, năng lực không giống nhau. Do đó, chủ trương, chính sách đúng nhưng dân chưa hiểu, chưa đồng tình thì cần phải kiên trì tuyên truyền, giải thích cho dân để dân biết, dân hiểu, tạo sự đồng thuận, nhất trí từ nhận thức đến hành động. Thực hiện tốt phương châm “dân biết” sẽ là tiền đề cần thiết để thực hiện phương châm “dân bàn”, bởi biết mới có thể bàn, và bàn trên cơ sở của sự hiểu biết mới mang lại hiệu quả thực sự.

Để thực hiện phương châm “dân bàn”, cần tạo lập môi trường dân chủ, khơi dậy tính tích cực của mỗi công dân, bảo đảm điều kiện để nhân dân được tham gia vào các công việc của Đảng, Nhà nước và xã hội; tham gia đóng góp ý kiến trong mọi khâu của quá trình, từ hoạch định đến tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở, không được coi thường dân, cho dân là dốt nên không thèm bàn bạc, mà trái lại, “việc gì cũng phải bàn với dân”, “coi trọng ý kiến của nhân dân”, bởi “dân chúng có nhiều sáng kiến mà những người tài giỏi nghĩ mãi không ra”. Do đó, phải “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước”(15). Khi dân đã được biết, được bàn và hiểu rõ, họ sẽ chủ động, tích cực, tự giác, ra sức thực hiện trên tinh thần vui vẻ, đồng thuận và “nhất định việc gì cũng thành công”.

Để thực hiện phương châm “dân làm”, mọi đường lối, chính sách đều phải hợp lòng dân, bởi “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được/ Trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”(16). Khi nhân dân nhận thấy chủ trương, đường lối phản ánh đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình, họ sẽ tiếp nhận, ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện. Muốn vậy, mọi công việc đều phải vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, lấy lợi ích và sự hài lòng, tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, hiệu quả công việc của các cơ quan, tổ chức cũng như của mỗi cán bộ, đảng viên. 

Mặt khác, trong mọi công việc, cán bộ phải đi đầu, nêu gương làm trước theo đúng tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đồng thời, cần tạo điều kiện công bằng, bình đẳng để mọi người dân được tiếp cận với các cơ hội phát triển, được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, được cống hiến tài năng và công sức cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Để thực hiện phương châm “dân kiểm tra, dân giám sát”, cần hoàn thiện thể chế; xây dựng hệ thống pháp luật chặt chẽ và thi hành pháp luật một cách nghiêm minh, công bằng, chính trực; thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức và của từng cá nhân cán bộ lãnh đạo quản lý trước nhân dân. Mặt khác, mọi phát hiện đúng đắn của nhân dân về các sai phạm, quan liêu, tham ô, tham nhũng, tiêu cực... phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” để củng cố niềm tin của nhân dân về quyền được kiểm tra, giám sát đối với mọi công việc của các cơ quan, tổ chức; thường xuyên đối thoại, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trên tinh thần cầu thị, tập trung giải quyết các khó khăn, bức xúc của nhân dân về đời sống, việc làm, đất đai, môi trường... nghiêm cấm sự trù dập dân dưới mọi hình thức. Do đó, phải “Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở; xây dựng và thực hiện phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, cầu thị, học hỏi, nói đi đôi với làm”(17).

Để thực hiện phương châm “dân thụ hưởng”, cần bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững, hài hòa; hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững; bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, quan tâm đến mọi người dân, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm, nâng cao thu nhập, đồng thời thực hiện tốt và chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương. Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển, giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng” và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, “không để ai bị bỏ lại phía sau” trên con đường phát triển chung của đất nước. 

“Dân là gốc” là một trong những nội dung cốt lõi, xuyên suốt trong Cương lĩnh, đường lối của Đảng ta. Đó không phải sự sao chép từ bất cứ học thuyết có sẵn nào mà thể hiện sự kế thừa, tiếp nối bài học từ chiều sâu lịch sử dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong Văn kiện Đại hội XIII, quan điểm “dân là gốc” được bổ sung toàn diện, phong phú và sâu sắc hơn, phản ánh tính khoa học và cách mạng, tính nhân văn và sáng tạo trong nhận thức lý luận của Đảng. Quan điểm đó tiếp tục định hướng công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ta trong bối cảnh hiện nay.

__________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.453.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.501-502.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.50, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007, tr.550.

(4), (7), (8), (13), (14), (15), (17) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.96-97, 25, 47, 191-192, 9, 71, 198-199.

(5) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.21. 

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.176.

(9) V.I.Lênin: Toàn tập, t.41, Nxb Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.426.

(10), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.281, 163.

(11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.65.

(12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.226.

Quyết tâm chính trị của Đại hội XIII trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

 Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đang diễn ra rất quyết liệt. Chính vì vậy, người dân và dư luận xã hội rất quan tâm và kỳ vọng vào những quyết sách của Đại hội về công tác này và đặc biệt là làm thế nào để đưa những quyết sách đó đi vào cuộc sống. Trên cơ sở phân tích các quan điểm về đấu tranh phòng, chống tham nhũng thể hiện quyết tâm chính trị của Đại hội XIII, bài viết nêu ra một số đề xuất để thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp về đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới.

Quyết tâm chính trị của Đại hội XIII trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Đại hội XIII đã xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ then chốt - Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

1. Quan điểm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí 

Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng do Đảng lãnh đạo đang diễn ra rất quyết liệt, nhiều vụ án tham nhũng lớn liên quan đến cán bộ, đảng viên được phát hiện và đưa ra xét xử, thể hiện rõ quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”(1) trong xử lý tham nhũng. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được thực hiện quyết liệt với quyết tâm chính trị rất cao và đạt được nhiều kết quả quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ. Chính vì vậy, Đại hội XIII tiếp tục thể hiện quyết tâm chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng.

Nhận định về kết quả công tác phòng chống tham nhũng, Văn kiện Đại hội XIII đã viết: “Chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng dần được hoàn thiện, trong đó lần đầu tiên đã mở rộng việc phòng, chống tham nhũng sang cả khu vực tư nhân. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí có bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả tích cực, rõ rệt, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được nhân dân đồng tình, đánh giá cao, các tổ chức quốc tế ghi nhận”(2).

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta thời gian qua vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định khi “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, nhất là việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong một số cơ quan, đơn vị khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội”(3). Từ đó, Đại hội XIII tiếp tục nhận định: “Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”(4).

Chính vì vậy, trong các văn kiện của Đại hội XIII, Đảng tiếp tục xác định “Thực hiện kiên trì, kiên quyết, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí”(5), coi đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII và những năm tiếp theo.

Trong Văn kiện Đại hội XIII, những vấn đề liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí được đề cập nhiều lần với nhiều nội dung và ở nhiều phần khác nhau. Trong đó, tập trung nhất ở mục 9. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí của phần XIV - Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với nhiều điểm mới so với Đại hội XII và các Đại hội trước, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cụ thể:

Về vị trí, vai trò của nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng: Đại hội XIII đã xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ then chốt, với quan điểm: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(6). Như vậy, ở các nhiệm kỳ trước, Đảng đã xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt thì tại Đại hội XIII, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí được xác định là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ then chốt hay đặc biệt của then chốt (tác giả nhấn mạnh), công tác này không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn đặc biệt cả trong xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta hiện nay. Điều đó cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới.

Về quyết tâm chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí: Để khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Đại hội XIII nhấn mạnh: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn”(7). Quan điểm trên thể hiện rất rõ tư duy biện chứng của Đảng trong cuộc đấu tranh được đánh giá là rất gian nan và phức tạp này, nên dù đặt quyết tâm chính trị rất cao khi kiên quyết hành động mạnh mẽ, triệt để hơn và hiệu quả hơn, song Đảng cũng xác định phải kiên trì, bền bỉ.

Về giải pháp chung: Trên cơ sở xác định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong công tác xây dựng Đảng và quyết tâm chính trị của Đảng đối với cuộc đấu tranh này, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra các giải pháp chung, xuyên suốt trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian tới là phải: “Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự”(8)

Như vậy, giải pháp chung xuyên suốt được xác định là thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính và kinh tế để tích cực phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi tham nhũng; đồng thời kết hợp với biện pháp hình sự để xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, kể cả những hành động bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc phòng, chống tham nhũng trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, toàn xã hội. 

Từ các giải pháp chung xuyên suốt đó, Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra các giải pháp cụ thể để không muốn, không thể, không dám, không cần tham nhũng, cụ thể:

Một là, giải pháp để không muốn tham nhũng

Đây là điểm mới trong công tác xây dựng Đảng và là giải pháp mới trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng lần đầu tiên được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Để cán bộ, đảng viên không muốn tham nhũng, Đại hội XIII đã đưa ra giải pháp: “Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; kiên trì giáo dục, rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí, trước hết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức”(9)

Như vậy, để tiến tới làm cho cán bộ đảng viên không muốn tham nhũng, giải pháp được đề ra là phải thực hiện công tác giáo dục, tuyên truyền để nâng cao sự tự giác, đặc biệt là đối với những người đứng đầu các cơ quan, đơn vị nhằm xây dựng ý thức không muốn tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta. Giải pháp này rất phù hợp và cần thiết ở nước ta hiện nay vì trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua cho thấy, không phải chỉ có những cán bộ có mức tiền lương thấp, đời sống thiếu thốn, khó khăn mới thực hiện hành vi tham nhũng mà trong thực tế có những cán bộ khá giả, thậm chí là rất giàu vẫn thực hiện các hành vi tham nhũng. Do vậy, việc thực hiện các giải pháp để cán bộ có ý thức không muốn tham nhũng là cần thiết và là điều kiện quan trọng để thực hiện không thể, không dám và không cần tham nhũng ở nước ta.

Hai là, giải pháp để không thể tham nhũng

Nhằm tiếp tục tạo ra các điều kiện để cán bộ không thể thực hiện được các hành vi tham nhũng, các giải pháp được đưa ra là: “Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về kinh tế - xã hội, về kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch”(10). Như vậy, nội dung trọng tâm của giải pháp để không thể tham nhũng là sự nhấn mạnh đến việc tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách để không có kẽ hở cho bất kỳ ai có thể lợi dụng thực hiện các hành vi tham nhũng.

Bên cạnh đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định cần phải có “cơ chế bảo vệ, khuyến khích những người làm công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý tham nhũng cũng như với người tố cáo, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, đồng thời xử lý nghiêm những người lợi dụng chống tham nhũng, lãng phí để vu khống, gây mất đoàn kết nội bộ”(11). Đây là một giải pháp rất phù hợp và thiết thực để phát huy vai trò tích cực của người dân và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay. 

Đặc biệt, để cán bộ không thể tham nhũng thì việc “kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý; đẩy mạnh thực hiện chế độ thanh toán không dùng tiền mặt”(12) là hết sức cần thiết, bởi lẽ xét đến cùng việc quản lý chặt chẽ thu nhập, tiêu dùng và thực hiện truy xét đến cùng nguồn gốc các tài sản có giá trị của cán bộ là giải pháp căn cơ nhất để thực hiện mục tiêu không thể tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Ba là, giải pháp để không dám tham nhũng

Nội dung trọng tâm của giải pháp này là: “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, lãng phí”(13). Như vậy, cùng với công tác giáo dục tuyên truyền để cán bộ không muốn tham nhũng và xây dựng thể chế, kiểm soát tài sản để không thể tham nhũng thì công tác kiểm tra, giám sát và thực hiện nghiêm các hoạt động tư pháp sẽ là những “giải pháp cứng” góp phần quan trọng để cán bộ không dám tham nhũng. Đặc biệt, giải pháp “kiên quyết thu hồi tài sản tham nhũng; kịp thời xử lý, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý khi có biểu hiện tham nhũng”(14) sẽ có tác dụng mạnh mẽ trong việc răn đe đối với những cán bộ khác, từng bước hình thành ý thức không dám tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta hiện nay.

Bên cạnh đó, để khắc phục tình trạng nhũng nhiễu, tham nhũng vặt, gây bức xúc cho người dân, doanh nghiệp, Đại hội XIII chủ trương: “xử lý nghiêm những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp”(15). Thiết nghĩ, dù là tham nhũng ở mức độ nào thì cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển xã hội, các hành vi nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp cũng sẽ làm xói mòn lòng tin của người dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, do đó cũng cần được đấu tranh, bài trừ.

Hơn nữa, để cán bộ không dám tham nhũng, Đại hội XIII rất coi trọng công tác xây dựng bộ máy nhà nước, nhất là các cơ quan phòng chống tham nhũng các cấp với chủ trương: “Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, bảo đảm liêm chính, trong sạch, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng... Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí”(16).

Bốn là, giải pháp để không cần tham nhũng

Xét đến cùng, để hạn chế và khắc phục tình trạng tham nhũng thì cùng với các biện pháp trên, cần thực hiện tốt việc trả thù lao và đãi ngộ hợp lý cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm mỗi cán bộ, công chức, viên chức có thể sống được từ tiền lương và có tích lũy từ tiền lương. Do vậy, để cán bộ, công chức, viên chức không cần tham nhũng, Đại hội XIII chủ trương “Tiếp tục đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nâng cao thu nhập và có chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác”(17).

Như vậy, trên cơ sở xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ đặc biệt của then chốt ở nước ta hiện nay, Đại hội đã đưa ra các giải pháp chung thể hiện quyết tâm chính trị kiên quyết, kiên trì trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cùng với các giải pháp cụ thể để không muốn, không thể, không dám, không cần tham nhũng.

2. Một số đề xuất để thực hiện chủ trương, nhiệm vụ về đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Sự nhất quán và bổ sung thêm nhiều nội dung mới trong nhiệm vụ, giải pháp đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí của Đại hội XIII đã cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng trong công tác này. Vấn đề quan trọng hiện nay là làm thế nào để các chủ trương, giải pháp đó đi vào cuộc sống để tiếp tục tạo thêm những kết quả tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là thực hiện được không muốn, không thể, không dám, không cần tham nhũng. 

Trên cơ sở nhận thức về tính tất yếu của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay. Để đưa các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đại hội XIII vào cuộc sống, đề xuất một số biện pháp:

Một là, nâng cao nhận thức cho tất cả cán bộ, công chức, viên chức nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý về tác hại của tham nhũng đối với xã hội và về quyết tâm chính trị của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng 

Để nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý về tác hại của tham nhũng đối với xã hội. Cần đẩy mạnh công tác giáo dục để tất cả cán bộ, công chức, viên chức nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý thấy rõ và thấu hiểu tác hại của tham nhũng không chỉ đối với sự phát triển xã hội mà còn làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ... Muốn vậy, cần tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, nhất là Luật Phòng, chống tham nhũng đã được ban hành năm 2018 để mỗi người nhận thức đầy đủ về các hành vi tham nhũng và hiểu biết sâu sắc về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp trong phòng, chống tham nhũng..., từ đó chủ động nhận diện và ngăn chặn các hành vi tham nhũng. Đẩy mạnh và thực hiện thực chất, có hiệu quả Quy định nêu gương của cán bộ đảng viên trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, cũng như người đứng đầu các cấp, các ngành.

Thực hiện công khai các kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế; nhất là những thông tin về các vấn đề nhạy cảm, dư luận quan tâm để giúp định hướng tốt dư luận xã hội và thể hiện sự công khai, minh bạch của Đảng, Nhà nước trong xử lý tham nhũng. Từ đó, hình thành ý thức không muốn, không thể, không dám, không cần tham nhũng ở mỗi cán bộ, công chức, viên chức nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Để nâng cao nhận thức của tất cả cán bộ, công chức, viên chức nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý về quyết tâm chính trị của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng cần tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng ở tất cả các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tập trung nhấn mạnh đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của then chốt ở nước ta hiện nay, đặc biệt là tuyên truyền về quyết tâm chính trị theo hướng kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng được thể hiện trong các văn kiện Đại hội XIII nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hiểu biết của cán bộ, công chức, viên chức nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý về các chủ trương, đường lối của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. 

Hai là, thiết lập “quỹ dưỡng liêm” để cán bộ không dám tham nhũng

Để cán bộ không dám tham nhũng, chúng ta có thể học tập cách làm của Xinhgapo(18). Theo đó, cần sớm nghiên cứu để đề xuất thực hiện chủ trương khi một người được tuyển dụng trở thành cán bộ nhà nước, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước thì hàng tháng thực hiện trích nộp lại một phần tiền lương để xây dựng quỹ (tác giả tạm gọi đó là “quỹ dưỡng liêm”) và tỷ lệ trích nộp sẽ tăng dần theo thâm niên công tác. Số tiền trích nộp lần đầu là bao nhiêu cần được xem xét cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn (ở Xinhgapo trích lần đầu là 5%).

Việc trích nộp này cũng tương tự như trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc như hiện nay. Tuy nhiên, khác với bảo hiểm xã hội là để bảo đảm cho người tham gia được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng sau khi nghỉ hưu; bảo hiểm y tế dùng để chia sẻ với người tham gia khi khám chữa bệnh; bảo hiểm thất nghiệp dùng để trợ giúp cho người lao động trong thời gian thất nghiệp chờ tìm việc làm mới, thì số tiền đóng góp vào “quỹ dưỡng liêm” như là một quỹ tiết kiệm cá nhân khi số tiền đó được ghi nhận cụ thể cho từng người và được tính lãi theo mức lãi suất do ngân hàng Nhà nước quy định và cán bộ sẽ được nhận số lãi đó vào cuối mỗi năm. Theo nguyên lý đó, những người có chức vụ càng cao, thâm niên công tác càng nhiều thì số tiền đóng góp vào quỹ càng lớn. Toàn bộ số tiền của quỹ sẽ do Nhà nước quản lý và được Nhà nước sử dụng để tạo ra giá trị tăng thêm cho quỹ. Trong quá trình công tác, nếu cán bộ có hành vi tham nhũng đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận thì ngoài việc xử lý theo quy định của pháp luật, toàn bộ số tiền đã đóng góp cho quỹ sẽ bị trưng thu. Còn khi cán bộ nghỉ hưu hoặc nghỉ công tác mà không có bất kỳ hành vi tham nhũng nào bị xử lý thì cơ quan nhà nước sẽ thực hiện “chốt sổ”, khi đó cá nhân có quyền rút toàn bộ số tiền đã đóng góp hoặc có thể tiếp tục tham gia để nhận tiền lãi hàng tháng. Việc trích lập quỹ như vậy không chỉ giúp cho cán bộ có được một khoản tích lũy, giúp cho Nhà nước có thêm một khoản tiền để tái đầu tư phục vụ công tác quản lý và phát triển xã hội mà còn là biện pháp hữu hiệu để xây dựng ý thức không dám tham nhũng.

Ba là, thực hiện truy xét nguồn gốc đối với các tài sản phát sinh của cán bộ

Từ thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua cho thấy, có nhiều vụ án tham nhũng khi được phát hiện và xử lý thì số tài sản mà cá nhân có được do tham nhũng đã bị tẩu tán, gây khó khăn cho cơ quan pháp luật trong việc điều tra và thu hồi tài sản của Nhà nước. Do vậy, để cán bộ không thể tham nhũng cần thực hiện nghiêm túc Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30-10-2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trong đó, cần chú trọng đến việc truy xét nguồn gốc của những tài sản phát sinh; cụ thể, nếu cá nhân thuộc diện phải kê khai nhưng kê khai không trung thực hoặc không giải trình được một cách hợp pháp về nguồn gốc của số tài sản phát sinh của họ và những người thân (bao gồm vợ/chồng, con cái, cha mẹ...) thì có thể coi đó là tài sản do tham nhũng mà có. Khi đó sẽ tiến hành xử lý theo quy định tại Điều 20 của Nghị định trên (Quy định về xử lý hành vi vi phạm đối với người kê khai) và Điều 51 của Luật Phòng, chống tham nhũng (Quy định về xử lý hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực), cũng như theo các quy định khác của Luật Viên chức và Luật Phòng, chống tham nhũng... Thiết nghĩ, trong điều kiện quản lý thanh toán bằng tiền mặt còn gặp nhiều khó khăn như hiện nay thì việc quản lý tài sản phát sinh như vậy sẽ góp phần làm cho cán bộ không thể tham nhũng.

Để các chủ trương, giải pháp về đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng đi vào cuộc sống, quan trọng nhất là cần thực hiện tốt công tác giáo dục pháp luật, giáo dục chính trị tư tưởng để nâng cao đạo đức công vụ, liêm chính trong thực thi nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức, viên chức nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đồng thời với việc trích lập “quỹ dưỡng liêm” cần phải quản lý được thu nhập và truy xét đến cùng nguồn gốc tài sản phát sinh của cán bộ lãnh đạo, quản lý thì mới sớm xây dựng được ý thức không muốn, không thể, không dám và không cần tham nhũng ở nước ta.

__________________                

(1), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16), (17) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr.76, 92-93, 93, 288, 193, 193-194, 193, 194, 194-195, 195, 195, 195, 195, 195, 195-196, 196.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr.54.

(18) Xem: http://baochinhphu.vn/Quoc-te/Singapore-va-giai-phap-4-khong-trong-cuoc-chien-chong-tham-nhung/2382.vgp.

Vị thế, vai trò của ASEAN ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương: cơ hội trong thách thức

 Trên cơ sở nghiên cứu những biến động địa chính trị ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, bài viết làm rõ những khó khăn, thách thức vị trí, vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc hợp tác khu vực; đồng thời phân tích những cơ hội, điều kiện thuận lợi để ASEAN tiếp tục duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc hợp tác khu vực trong những năm tới.

Vị thế, vai trò của ASEAN ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương: cơ hội trong thách thức

ASEAN đã kiến tạo và dẫn dắt hàng loạt các sáng kiến, cơ chế hợp tác, liên kết kinh tế, an ninh ở châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời là tâm điểm của các sáng kiến, chiến lược của các cường quốc ở khu vực - Ảnh: nghiencuuquocte.org.vn

Sau Chiến tranh Lạnh, nhất là từ đầu thế kỷ XXI đến nay, ASEAN - một tổ chức khu vực tập hợp đa dạng 10 quốc gia vừa và nhỏ, đang phát triển đã định vị mình và được các đối tác, bao gồm các cường quốc thừa nhận và ủng hộ vai trò trung tâm trong cấu trúc hợp tác khu vực. Trong thực tiễn cũng như trong chiến lược khu vực của các cường quốc, ASEAN là đối tác quan trọng trên tất cả lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại và an ninh - quốc phòng. ASEAN đóng vai trò là “người trung gian trung thực” giữa các cường quốc, thể hiện khả năng thu hút và kết nối các đối tác lớn trong và ngoài khu vực thông qua các cơ chế đa phương đa tầng nấc lấy ASEAN làm trung tâm. ASEAN là người đã kiến tạo và dẫn dắt hàng loạt các sáng kiến, cơ chế hợp tác, liên kết kinh tế, an ninh ở châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời là tâm điểm của các sáng kiến, chiến lược của các cường quốc ở khu vực.

Bên cạnh đó, vai trò quan trọng của ASEAN trong định hình môi trường an ninh, cấu trúc hợp tác và trật tự khu vực cũng được thể hiện thông qua việc xây dựng những luật chơi, quy tắc và chuẩn mực ứng xử phù hợp với luật pháp quốc tế và bối cảnh đặc thù khu vực, bảo đảm hài hòa lợi ích của tất cả các bên liên quan. Do đó, được các bên, bao gồm các cường quốc trong và ngoài khu vực thừa nhận, tôn trọng. Qua đó, ASEAN đã đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy đối thoại, nâng cao hiểu biết giữa các quốc gia, góp phần giảm thiểu những mâu thuẫn, khác biệt, xây dựng lòng tin và kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực.

1. Vị thế, vai trò trung tâm của ASEAN đứng trước nhiều thách thức lớn và phức tạp bởi cả những yếu tố bên trong và bên ngoài

Một là, vị thế, uy tín, vai trò trung tâm của ASEAN có nguy cơ bị suy giảm vì sự thiếu đoàn kết, thống nhất nội bộ và khả năng thực hiện hành động tập thể nhằm đạt được các mục tiêu chung của cả cộng đồng

Nói về mối quan hệ giữa sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ và vị trí trung tâm của ASEAN, Thủ tướng Xingapo Lý Hiển Long cho rằng, sự thống nhất là điều kiện tiên quyết để ASEAN đạt được thành công và nguyện vọng về duy trì vai trò trung tâm của mình ở khu vực(1).

Trên thực tế, thách thức lớn nhất đối với ASEAN và vị thế trung tâm của nó trong cấu trúc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương không phải là thiết lập và quản lý quan hệ ổn định với các cường quốc bên ngoài mà bắt nguồn từ việc quản lý các mối quan hệ giữa các quốc gia thành viên bên trong nhóm. Có không ít hoài nghi về khả năng ASEAN trong thập kỷ mới có thể tiếp tục hoạt động như một cộng đồng hiệu quả, gắn kết, trong đó các nước thành viên có thể dung hòa việc theo đuổi lợi ích quốc gia với lợi ích tập thể của nhóm, gắn lợi ích quốc gia với tinh thần, giá trị và bản sắc của chủ nghĩa khu vực, với trách nhiệm, nghĩa vụ chung đối với cộng đồng khu vực.

Về điều này, cựu Tổng thư ký ASEAN Rodolfo Severino đã chỉ ra rằng, điều còn thiếu hụt ở ASEAN là “cảm giác thân thuộc” (the feeling of belonging), gắn bó giữa các thành viên, là nhận thức và niềm tin giữa các thành viên, rằng mỗi thành viên quan trọng với nhau và quan trọng với nhóm, cũng như niềm tin rằng nhu cầu và lợi ích chính đáng của các thành viên sẽ được quan tâm, tôn trọng và đáp ứng thông qua cam kết của họ cùng bên nhau(2).

Là một khối các nước vừa và nhỏ với rất nhiều khác biệt, ASEAN đã luôn phải đối mặt với những thách thức từ sự thiếu thống nhất trong những quyết định lớn và ngày càng bộc lộ rõ hơn trong những năm gần đây. Đó là vấn đề an ninh nổi cộm của khu vực nhưng ASEAN đã không thể có tiếng nói đủ trọng lượng trong việc ủng hộ lập trường và lợi ích chính đáng của các thành viên trong vấn đề Biển Đông, không thể đưa ra lập trường đủ rõ ràng về phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế năm 2016 do sức ép từ bên ngoài. Điều đó cho thấy hạn chế trong phương thức ra quyết định của ASEAN có thể bị lợi dụng để phục vụ lợi ích riêng.

Khi ASEAN khó khăn trong hành động vì những mục tiêu chung cũng như vì lợi ích chính đáng của các thành viên, ASEAN có nguy cơ giảm tầm quan trọng đối với các thành viên và ngày càng trở nên thiếu gắn kết khi các thành viên tìm kiếm các đối tác mới để đạt được mục tiêu bảo vệ lợi ích của mình. Trong trường hợp ASEAN tiếp tục thể hiện sự thiếu thống nhất hoặc lảng tránh việc đối mặt với các vấn đề địa chính trị quan trọng đang nổi lên, có thể sẽ dẫn đến việc ASEAN trở thành người ngoài cuộc ngay trên chính sân nhà.

Tổng thống Inđônêxia Jokowi đã khẳng định đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN là rất quan trọng để duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Đông Nam Á. Ông cảnh báo rằng, các nhà lãnh đạo ASEAN không thể nhắm mắt làm ngơ trước sự bất ổn đang xuất hiện trong chính khu vực của mình, không thể để các nước hùng mạnh ra lệnh cho ASEAN và quyết định vận mệnh an ninh và ổn định khu vực(3).

Để duy trì vị thế, vai trò trung tâm của mình, ASEAN cần đáp ứng sự quan tâm và lợi ích của cả ASEAN và của các cường quốc. Tuy nhiên, với tư cách là một cộng đồng đang nỗ lực định hình các giá trị chung, ASEAN cần quản lý cẩn trọng các mối quan hệ nội bộ như một yêu cầu cơ bản, trước hết cho vị thế cũng như sự tồn tại thể chế của mình.

Hai là, phương cách đặc thù của ASEAN - “ASEAN Way” với hai đặc trưng cơ bản là ra quyết định dựa trên sự tham vấn và đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước thành viên, đã bộc lộ những kẽ hở, bất cập trong bối cảnh hiện nay

Phương cách ASEAN vốn đã tạo nên sự độc đáo của ASEAN trong quy trình ra quyết định, phù hợp với đặc thù của tổ chức khu vực này, giúp ASEAN xây dựng một cộng đồng thống nhất trong đa dạng gồm 10 quốc gia vừa và nhỏ. Tuy nhiên, cùng với tiến trình mở rộng, phát triển của tổ chức cũng như biến chuyển sâu sắc của môi trường an ninh và địa chính trị khu vực, “ASEAN Way” cũng bộc lộ rõ hơn những điểm yếu trong việc xử lý những vấn đề an ninh - chính trị phức tạp, nhạy cảm.

Mười quốc gia Đông Nam Á rất đa dạng và khác biệt về nhiều mặt, nên để đạt được sự đồng thuận chung sẽ càng trở nên khó khăn hơn, nhất là trên những vấn đề phức tạp, liên quan đến các cường quốc bên ngoài, trong bối cảnh lợi ích quốc gia chi phối đời sống quốc tế. Khi ASEAN chưa định hình được những giá trị, chuẩn mực và bản sắc chung có tính bền vững, cố kết các nước thành viên, nhất là trong ứng xử với các vấn đề an ninh và đối ngoại, việc đạt được nhận thức chung là không dễ dàng.

Hơn nữa, ASEAN được thừa nhận đóng vai trò trung tâm trong cấu trúc hợp tác khu vực, tâm điểm của mạng lưới hợp tác, liên kết ở Ấn Độ - Thái Bình Dương, ASEAN cũng đã thiết lập quan hệ đối tác đối thoại, phát triển với Liên hợp quốc và hầu hết các cường quốc trên thế giới. Mối quan tâm, lợi ích ràng buộc, sự tương tác của thế giới, của các cường quốc với ASEAN càng rộng mở, nguyên tắc không can thiệp của ASEAN vì thế sẽ chịu tác động và sức ép ngày càng tăng từ các nước đối tác và cộng đồng quốc tế. Khi đó ASEAN sẽ khó khăn trong thực hiện vai trò môi giới của mình đối với các cường quốc cũng như vai trò dẫn dắt và vị thế trung tâm trong định hình cấu trúc và trật tự khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương.

Ba là, vai trò trung tâm và sức mạnh tập thể của ASEAN có nguy cơ bị xói mòn vì cạnh tranh cường quốc gia tăng

Thực tế cho thấy, thời kỳ ASEAN trở nên quan trọng nhất, đóng vai trò trung tâm trong cấu trúc hợp tác khu vực, được các cường quốc thừa nhận trùng với thời kỳ bình ổn chiến lược tương đối sau Chiến tranh Lạnh, khi các cường quốc khu vực và thế giới có mối quan hệ tương đối tốt đẹp, vừa hợp tác vừa đấu tranh để phát triển.

Khi quan hệ Trung - Mỹ ở trạng thái cân bằng và không quốc gia nào tìm cách thay đổi hay đảo lộn trật tự khu vực, ASEAN đã theo đuổi một chiến lược “ràng buộc kép”, liên quan đến một nỗ lực có ý thức nhằm đưa cả hai cường quốc này vào các thể chế khu vực do ASEAN làm trung tâm.

Tuy nhiên, nằm ở tâm điểm của khu vực địa chính trị chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương, Đông Nam Á hiện nay đang ở vị trí tiền tuyến của cạnh tranh chiến lược nước lớn ngày càng khốc liệt. Điều này có thể khiến vai trò “người môi giới trung thực”, nơi gặp gỡ, điểm kết nối giữa các cường quốc gặp thách thức lớn, vị trí “trung tâm” của cấu trúc ngoại giao khu vực có nguy cơ bị mờ nhạt và quyền tự chủ có thể bị xói mòn.

Trước xu hướng cạnh tranh, đối đầu Mỹ - Trung tăng nhiệt, tập hợp lực lượng khu vực theo xu hướng phân tuyến, nguyện vọng “trung lập”, “không chọn bên” của ASEAN trở nên khó khả thi trên thực tế. Sự khác biệt giữa Mỹ và Trung Quốc trong quan niệm và cách tiếp cận về cạnh tranh ở châu Á khiến cho chiến lược thích ứng với cạnh tranh Mỹ - Trung của ASEAN ngày càng rơi vào thế lưỡng nan. Trong khi Mỹ tập trung xây dựng và củng cố các liên minh và tập hợp lực lượng nhằm vào Trung Quốc, đặt trọng tâm vào khía cạnh an ninh - quốc phòng trong hợp tác khu vực, thì Trung Quốc đã theo đuổi cách tiếp cận tập trung vào cạnh tranh kinh tế, thể hiện hàm ý rằng trong cuộc cạnh tranh và tập hợp lực lượng ở khu vực, sức hút kinh tế mới là yếu tố dẫn dắt cuộc chơi.

Thực tế là việc Mỹ không có mặt trong bất cứ sân chơi và sáng kiến đa phương quan trọng nào về kinh tế - thương mại ở khu vực, trong khi Trung Quốc đang thống lĩnh mặt trận này với CAFTA (Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc), BRI, RCEP và thậm chí đã đệ đơn xin ra nhập CPTPP - cơ chế mà chính Mỹ đã dẫn dắt rồi lại rút bỏ đã cho thấy sự lép vế của Mỹ trong cuộc đua kinh tế với Trung Quốc ở khu vực, đồng thời làm sâu sắc hơn nguy cơ ASEAN ngày càng phụ thuộc sâu hơn vào quỹ đạo kinh tế của Trung Quốc.

Chiến lược rào giậu kiểu nước đôi “hedging” của ASEAN trước Mỹ và Trung Quốc có còn phù hợp và hiệu quả hay không sẽ được kiểm chứng trong những năm tới. Đặc biệt, nếu căng thẳng Trung - Mỹ ngày một leo thang. Hơn nữa, lập trường “không muốn đứng về phía nào” giữa Mỹ và Trung Quốc nhưng thực tế là muốn “đứng về cả hai bên” đã khiến cho ASEAN có thể dấn sâu thêm vào cuộc cạnh tranh siêu cường. Bởi lẽ, thay vì nhiều quyền tự chủ hơn, chủ động hơn trong việc khẳng định quyền lực riêng của chính mình, ASEAN có thể trở nên bị động và ít quyền tự chủ hơn khi phải liên tục thích ứng và thay đổi vị trí của mình giữa hai trục Mỹ -Trung Quốc theo các quyết định mà hai cường quốc này đưa ra. Điều đó khiến ASEAN ngày càng khó khăn trong việc dẫn dắt và kiểm soát các vấn đề của khu vực; Mỹ và Trung Quốc sẽ can thiệp ngày càng sâu hơn vào các vấn đề khu vực(4).

Bốn là, vai trò trung tâm trong cấu trúc hợp tác khu vực của ASEAN có nguy cơ bị xói mòn, suy yếu bởi xu hướng hình thành các cơ chế hợp tác mới ở bên ngoài ASEAN

Trong bối cảnh cạnh tranh cường quốc ngày một công khai và có xu hướng phân tuyến ở khu vực như hiện nay, không ít ý kiến cho rằng các thể chế đa phương hiện có dưới sự dẫn dắt của ASEAN sẽ trở nên kém hiệu quả trong việc ứng phó với các thách thức ngày càng đa dạng và phức tạp ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Một nhân tố khiến ASEAN có vị thế quan trọng với các cường quốc và khiến các thể chế đa phương lấy ASEAN làm trung tâm, trở thành nòng cốt dẫn dắt hợp tác, liên kết và định hình cấu trúc hợp tác khu vực là bởi có được sự công nhận và hợp tác từ các cường quốc, khi vai trò “trung gian” của ASEAN và các cơ chế đa phương do ASEAN lãnh đạo phù hợp, thỏa mãn hoặc chí ít không phương hại đến các lợi ích và mục tiêu chiến lược của họ.

Tuy nhiên, sự vận động địa chính trị gần đây ở khu vực cho thấy xu hướng hình thành các cơ chế đa phương ngoài ASEAN. Đó là các hình thức liên kết mới không bao gồm ASEAN và các cơ chế đa phương lấy ASEAN làm trung tâm. Việc ASEAN thiếu khả năng xử lý thỏa đáng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ sự trỗi dậy kinh tế và quân sự của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đã thúc đẩy các nước bên ngoài khu vực bắt tay nhau khắc phục điều này(5).

Thời gian qua, Nhóm Đối thoại an ninh Bộ tứ (QUAD) gồm Ôxtrâylia, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ đã nổi lên nhanh chóng như một cơ chế hợp tác an ninh ngày càng nổi bật ở khu vực. Với việc diễn ra 2 hội nghị thượng đỉnh trong năm 2021 và việc các lãnh đạo của nhóm đã quyết định họp thượng đỉnh thường niên cho thấy Nhóm Bộ tứ đang bước vào giai đoạn “hồi sinh” mới theo xu hướng thể chế hóa. Việc ra đời nhóm AUKUS(6) tháng 9 - 2021 và “Hiệp ước tiếp cận tương hỗ” về quốc phòng giữa Nhật Bản và Ôxtrâylia ngày 06-01-2022 một lần nữa cho thấy xu hướng mới trong hợp tác, liên minh, liên kết khu vực bên ngoài khuôn khổ ASEAN.

Với tầm quan trọng gia tăng của “Bộ tứ” và sự ra đời AUKUS, Patrick Cronin, Giám đốc Chương trình an ninh châu Á - Thái Bình Dương tại Viện Hudson đánh giá rằng, cấu trúc an ninh mới của châu Á trong những thập kỷ tới sẽ gồm ba trụ cột là ASEAN, QUAD và AUKUS(7).

Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Inđônêxia Marty Natalegawa cảnh báo rằng, sự hồi sinh của QUAD và sự trỗi dậy của AUKUS cần xem như là sự nhắc nhở cho ASEAN rằng có một số nhu cầu, kỳ vọng hoặc điều kiện mà ASEAN chưa thể đáp ứng.

Trong khi đó, Sebastian Strangio - biên tập viên kỳ cựu của tờ Diplomat phụ trách khu vực Đông Nam Á cho rằng, sự xuất hiện của AUKUS phản ánh thực tế là Mỹ và đồng minh phần nào thể hiện sự thất vọng với lập trường thiếu rõ ràng của ASEAN trước sự trỗi dậy đầy thách thức của Trung Quốc cũng như sự thiếu hiệu quả của các cơ chế do ASEAN dẫn dắt trong việc quản lý các hành vi của Trung Quốc ở khu vực(8).

Rizal Sukma, chuyên gia cao cấp thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (CSIS), chi nhánh tại Jakarta, Inđônêxia cũng chỉ ra rằng: “QUAD và AUKUS xuất hiện vì ASEAN chưa thể giải quyết và quản lý hiệu quả các thách thức phát sinh trong quá trình Trung Quốc trỗi dậy”(9).

Từ thực tế này cho thấy, dù các khuôn khổ an ninh hiện tại của ASEAN như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị ADMM+ và Cấp cao Đông Á (EAS) không hẳn sẽ bị gạt sang một bên, nhưng các cơ chế mới có thể sẽ trở thành những công cụ chủ đạo của Mỹ và đồng minh trong xử lý các vấn đề an ninh và địa chính trị khu vực.

Xu hướng hình thành các liên kết ngoài ASEAN sẽ đặt ra những thách thức đáng kể đối với chủ nghĩa đa phương khu vực lấy ASEAN làm trung tâm, khiến khối này có nguy cơ trở thành “kẻ ngoài cuộc” và là “khán giả” trong sân khấu chính trị, ngoại giao và an ninh khu vực(10).

Hơn nữa, những cơ chế hợp tác mới theo xu hướng phân tuyến này còn có nguy cơ làm gia tăng những rạn nứt nội bộ trong ASEAN, tác động tiêu cực đến chính sách cân bằng quan hệ với các cường quốc mà ASEAN đang theo đuổi, đẩy ASEAN gần hơn vào tình thế chọn bên.

Trong khi việc bảo đảm an ninh và trật tự khu vực ngày càng phụ thuộc vào Mỹ và các đồng minh, đối tác, việc Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng kinh tế ở khu vực thông qua việc triển khai BRI, dẫn dắt hình thành RCEP và nộp đơn xin ra nhập CPTPP khiến xu hướng kinh tế, thương mại khu vực có nguy cơ bị hút vào quỹ đạo của Trung Quốc. Từ đó, một viễn cảnh khu vực có thể sẽ xảy ra là, trong khi môi trường, cấu trúc an ninh khu vực được bàn thảo và quyết định bởi các cơ chế do Mỹ dẫn dắt, sân chơi kinh tế khu vực nằm dưới sự cầm trịch và điều hướng của Trung Quốc thông qua các sáng kiến, cơ chế hợp tác do Bắc Kinh đề xướng hoặc chi phối.

2. Cơ hội và những điều kiện thuận lợi để ASEAN tiếp tục khẳng định và duy trì vị trí trung tâm trong cấu trúc hợp tác khu vực

Trước hết, nằm ở vị trí trung tâm của khu vực địa chính trị và địa kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới, với những lợi thế vốn có về con người, tiềm lực kinh tế và tiềm năng phát triển, nguồn tài nguyên phong phú và thị trường rộng lớn, ASEAN tiếp tục sẽ là điểm sáng về tăng trưởng kinh tế và liên kết khu vực, là một đối tác mà các cường quốc khó có thể bỏ qua trong chiến lược của họ ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương.

Trung Quốc không thể hiện thực hóa BRI và các sáng kiến hợp tác ở khu vực nếu không có sự tham gia của các nước ASEAN, trong khi các quốc gia “Bộ tứ” không thể hiện thực hóa các mục tiêu của Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương nếu không công nhận vị trí và vai trò của ASEAN như được nêu trong Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Nếu ASEAN tiếp tục duy trì được động lực phát triển, tăng cường đoàn kết và tính tự chủ, hội nhập nội khối sâu rộng, thích ứng năng động trước sự chuyển biến của thời cuộc, có khả năng gắn kết lợi ích của các thành viên với lợi ích chung của khu vực, đối phó một cách linh hoạt và bản lĩnh với thách thức từ cạnh tranh cường quốc trên cơ sở bảo đảm lợi ích của tất cả các bên, ASEAN sẽ càng có cơ hội để phát huy vai trò như là nhân tố “hạ nhiệt”, “điều tiết”, “trung hòa” những mâu thuẫn, khác biệt, căng thẳng, thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác ở khu vực.

Hai là, cạnh tranh cường quốc không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội cho ASEAN bảo vệ và phát huy các lợi ích của mình, đồng thời tiếp tục giữ vai trò trung tâm của hợp tác khu vực.

Trong cuộc cạnh tranh cường quốc, ASEAN là đối tượng chủ chốt mà Mỹ, Trung Quốc và các cường quốc khu vực khác lôi kéo. Thực tế đó tạo ra lực ly tâm nhưng cũng tạo nên lực hấp dẫn cho ASEAN, hình thành những véc tơ lực kéo đẩy từ các cường quốc lấy ASEAN làm trung tâm, qua đó khiến ASEAN có thể tranh thủ tất cả các bên để phục vụ lợi ích và nâng cao vị thế của mình.

Hơn nữa, một ASEAN phát triển mạnh mẽ, năng động, tiếp tục đóng vai trò “trung gian môi giới”, “hòa giải”, là động lực thúc đẩy hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực vẫn là lợi ích của tất cả các cường quốc thay vì một ASEAN suy yếu, bất ổn, kém phát triển và rơi vào hỗn loạn. Vì thế, trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc, ASEAN cần tăng cường hợp tác với cả hai, nhưng cần sẵn sàng lên tiếng, bày tỏ quan điểm rõ ràng trong các vấn đề liên quan tới hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực.

Mặt khác, cạnh tranh Mỹ-Trung leo thang cũng mở ra cơ hội cho các nước ASEAN thúc đẩy lựa chọn thứ ba là tăng cường quan hệ với các cường quốc tầm trung khu vực và bên ngoài, nhất là với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc và Ôxtrâylia cũng như các cường quốc khác vốn cũng có những quan ngại nhất định với viễn cảnh cạnh tranh Mỹ - Trung ngày càng quyết liệt. Ở khía cạnh này, ASEAN có thể phối hợp với các cường quốc tầm trung xây dựng những cơ chế và chiến lược mới để giảm thiểu sự phụ thuộc về kinh tế, sự chi phối về chính trị, an ninh - quốc phòng từ Mỹ và Trung Quốc, đồng thời quản lý tình hình khu vực, tìm cách hạ nhiệt căng thẳng hoặc chuyển hướng đối đầu Mỹ - Trung.

Trong khi đó, để khắc phục hạn chế của “phương cách ASEAN” trong xử lý những vấn đề an ninh quan trọng liên quan tới các cường quốc, các nước ASEAN có thể tính tới hình thành các cơ chế hợp tác tiểu đa phương “minilateral” giữa một số thành viên cũng như giữa họ với các nước bên ngoài có cùng lợi ích và mối quan tâm, ví như các cơ chế hợp tác đã có ở tiểu vùng Mê Kông giữa các nước Đông Nam Á lục địa với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc...

Ba là, cho đến hiện tại, các cường quốc đều vẫn khẳng định ủng hộ đối với vai trò trung tâm của ASEAN, không buộc ASEAN phải chọn bên. Cho dù những cử chỉ đó có thể chỉ nhằm xoa dịu lo lắng của các nước ASEAN vì họ quá hiểu lập trường “trung lập” của tổ chức này, nhưng các tuyên bố đó cũng cho thấy các cường quốc cần và coi trọng vai trò của ASEAN. ASEAN có lợi cho các mục tiêu chiến lược của họ, do đó, họ không muốn tổ chức này nghiêng về phía có lợi cho đối phương, để cho đối phương lợi dụng.

Giữa căng thẳng của cạnh tranh cường quốc ở khu vực mà bên nào cũng không muốn đi quá xa tới mức rơi vào đối đầu, chiến tranh hay xung đột, vẫn cần để ngỏ cánh cửa cho hợp tác thì một ASEAN đóng vai trò như người “trung gian môi giới trung thực” có thể là một “cánh cửa an toàn”, là “không gian hậu trường” cho những tình thế cần có đường lùi.

Bốn là, xu hướng hình thành các cơ chế hợp tác mới ở khu vực có thể làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN nhưng cũng có thể là bổ sung quan trọng cho những hạn chế hiện có của các cơ chế an ninh đa phương lấy ASEAN làm trung tâm.

Trong tình cảnh các cơ chế an ninh khu vực hiện có tỏ ra lúng túng, thiếu hiệu quả trong việc tiết chế tham vọng của Trung Quốc, các cơ chế kiểu QUAD và AUKUS có thể là nhân tố quan trọng nhằm cân bằng sức mạnh khu vực, răn đe, tiết chế các hành vi của Trung Quốc, thuyết phục nước này hành động thận trọng hơn. Trong khi đó, việc Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng kinh tế đối với khu vực thông qua các cơ chế hợp tác do nước này thúc đẩy và dẫn dắt có thể trở thành động lực kích thích và thuyết phục Mỹ cần quan tâm hơn tới nhu cầu kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á trong chiến lược của mình, nếu không muốn bị Trung Quốc lấn lướt ở khu vực. Sự biến động nhanh chóng của tình hình khu vực hiện nay cho thấy, ASEAN khó có thể giữ vị thế độc tôn trong việc khởi xướng, dẫn dắt và thúc đẩy mọi tiến trình ngoại giao và hợp tác trong khu vực. Trong bối cảnh hiện tại, ASEAN có thể xem xét về những cơ chế hợp tác tiểu đa phương mới (minilateral mechanism) để bổ sung cho những cơ chế hợp tác hiện có, nhất là giữa các thành viên ASEAN có cùng lợi ích cũng như với các cường quốc tầm trung khu vực với tư cách là bên thứ ba trong cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung. ASEAN cũng có thể cân nhắc tới các hình thức, cơ chế tương tác, hợp tác với các nhóm tiểu đa phương khu vực mới hình thành như QUAD, trước hết là trên những vấn đề an ninh phi truyền thống ít nhạy cảm mà hai bên song trùng lợi ích.

Tuy nhiên, với thực tế là ASEAN đã khởi xướng và dẫn dắt không ít các sáng kiến và cơ chế hợp tác khu vực, việc xây dựng thêm các cơ chế mới chưa hẳn đã là hướng đi phù hợp trước mắt, thay vào đó, ASEAN cần tăng cường củng cố, thể chế hóa những cơ chế đã có để bảo đảm hoạt động hiệu quả hơn, thích ứng kịp thời, linh hoạt với bối cảnh mới.

 

(1) Balakrishnan Vivian: “Opening Remarks by Minister for Foreign Affairs Dr Vivian Balakrishnan at Opening Ceremony of the 51st ASEAN Foreign Ministers’ Meeting and Related Meetings, 2 August 2018,” Ministry of Foreign Affairs of Singapore.

(2) Benjamin Ho: “The Future of ASEAN Centrality in the Asia-Pacific Regional Architecture”, Yale Journal of International Affairs, Vol.11, 2016.

(3) Tama Salim: “Indonesia stresses ASEAN unity”, The Jakarta Post, Sep 7, 2016, https://www.thejakartapost.com/.

(4), (5) David Hutt: “Is ASEAN at Fault for Rising Indo-Pacific Tensions”? The Diplomat, Oct 7, 2021, https://thediplomat.com/.

(6) Khối hợp tác quốc phòng ba bên giữa Ôxtrâylia, Vương quốc Anh, và Mỹ.

(7) Patrick M. Cronin: “The 3 Pillars of Asia’s New Security Architecture, Hudson Institute”, October 2, 2021, https://www.hudson.org/.

(8) Sebastian Strangio: “What Does the New AUKUS Alliance Mean for Southeast Asia?”, The Diplomat, Sep 17, 2021, https://thediplomat.com/.

(9) Quốc Đạt, Hải Anh: ASEAN giữa cuộc cạnh tranh của các cường quốc, Zingnews, 19-11-2021, https://zingnews.vn/.

(10) Natalie Sambhi, “Australia’s nuclear submarines and AUKUS: The view from Jakarta”, Brookings, accessed on October 21, 2021, https://www.brookings.edu.