Thứ Tư, 13 tháng 7, 2022

Thống nhất nhận thức, tập trung nguồn lực đưa kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác phát triển đúng hướng, hiệu quả và bền vững.

  - Phát triển kinh tế tập thể là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác với nhiều hình thức tổ chức phong phú, hoạt động đa dạng, ngày càng phát triển cả về số lượng và quy mô, đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, trong giai đoạn tới, cần thống nhất nhận thức, tập trung nguồn lực đưa kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển đúng hướng, hiệu quả và bền vững.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thăm mô hình Hợp tác xã dịch vụ Mỹ Đông II, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp _Ảnh: TTXVN

Những chủ trương, định hướng lớn của Đảng về phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”. Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 18-3-2002, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể đã cụ thể hóa Cương lĩnh, đề ra các chủ trương, chính sách khá toàn diện về phát triển kinh tế tập thể, trong đó bao gồm các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đến năm 2010 nhằm đưa kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, tiến tới có tỷ trọng ngày càng lớn hơn trong GDP của nền kinh tế. Nghị quyết chỉ rõ: Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn; phân phối theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ; hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và quản lý dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của thành viên, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên, phát triển cộng đồng. Tiếp tục phát triển kinh tế tập thể trong các ngành, lĩnh vực, địa bàn, trong đó trọng tâm là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới chính sách để khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể với những hình thức hợp tác đa dạng, tự nguyện, đáp ứng nhu cầu của các thành viên, phù hợp với trình độ phát triển của các ngành, nghề, trên các địa bàn. Tiếp tục nghiên cứu xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới trên cơ sở tổng kết các đơn vị làm tốt để tăng sức hấp dẫn, tạo động lực cho kinh tế tập thể, nhất là đối với nông nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp. Đa dạng hóa hình thức sở hữu trong kinh tế tập thể (có sở hữu của pháp nhân, thể nhân). Phát triển các loại hình doanh nghiệp trong hợp tác xã và các hình thức liên hiệp hợp tác xã. Có cơ chế để hợp tác xã có thể phát huy quyền sử dụng tư liệu sản xuất chung tại cơ sở; tách bạch giữa quyền này với quyền sở hữu của các xã viên. Khuyến khích huy động cổ phần và nguồn vốn góp của xã viên để không ngừng tăng thêm vốn đầu tư phát triển hợp tác xã. Khuyến khích tăng tài sản và quỹ không chia của hợp tác xã. Giải thể hoặc chuyển các hợp tác xã chỉ còn là hình thức sang các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật”.

Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Tổng kết thực tiễn, sớm có chính sách, cơ chế cụ thể khuyến khích phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, bao gồm các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới. Chú trọng phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cổ phần.

Khuyến khích việc tăng vốn góp và huy động từ thành viên để tăng nguồn vốn hoạt động của hợp tác xã, tăng vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ không chia trong hợp tác xã. Hợp tác xã và các loại hình kinh tế hợp tác hoạt động theo các nguyên tắc: hợp tác tự nguyện; dân chủ, bình đẳng và công khai; tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng”.

Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 2-1-2008, của Ban Bí thư “Về tăng cường lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” nhấn mạnh: “Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước trong việc tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”. Nhà nước ban hành các chính sách trợ giúp kinh tế tập thể trong quá trình xây dựng và phát triển, thông qua việc giúp đỡ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, ứng dụng khoa học, công nghệ, nắm bắt thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển, giải quyết nợ tồn đọng trước đây, khuyến khích việc tích lũy và sử dụng có hiệu quả vốn tập thể trong hợp tác xã. Phát triển kinh tế tập thể theo phương châm tích cực nhưng vững chắc, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, đi từ thấp đến cao, đạt hiệu quả thiết thực, vì sự phát triển của sản xuất, tránh duy ý chí, nóng vội, gò ép, áp đặt; đồng thời, không buông lỏng lãnh đạo để mặc cho tình hình phát triển tự phát, chậm nắm bắt và đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh tế hợp tác của nhân dân.

Kết luận số 70-KL/TW, ngày 9-3-2020, của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” khẳng định: “nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức và nhân dân về bản chất của kinh tế tập thể, hợp tác xã, nhất là hợp tác xã kiểu mới. Khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xác định rõ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã là xu thế tất yếu, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị”.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định xu hướng phát triển: “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển”(1) và nguyên tắc hoạt động: “Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, tổ hợp tác có phạm vi hoạt động rộng lớn, với vai trò cung cấp dịch vụ cho các thành viên; liên kết, phối hợp sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện để các thành viên nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững. Tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã”(2).

Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về hợp tác xã (HTX) được tập trung chỉ đạo, theo đó, Luật Hợp tác xã năm 2012 và các quy định pháp luật liên quan đã ban hành, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tập thể (KTTT), HTX phát triển theo hướng giảm tối đa thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh; thành viên hợp tác xã bao gồm cả thể nhân và pháp nhân; cán bộ, công chức được tham gia HTX với tư cách là xã viên; phân định rõ chức năng quản lý của ban quản trị và chức năng điều hành của chủ nhiệm. Đồng thời, việc xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ thúc đẩy KTTT, HTX phát triển được quan tâm hơn, trong đó bao gồm các chính sách về đất đai, tài chính - tín dụng, khoa học - công nghệ, hỗ trợ tiếp thị và mở rộng thị trường, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và chính sách đối với phát triển hợp tác xã nông nghiệp. Đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tăng cường quản lý nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam trong việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia và phát triển KTTT, HTX.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự Lễ tôn vinh và trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2021 _Ảnh: TTXVN

Một số vấn đề đặt ra sau gần 20 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã

Sau gần 20 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, 10 năm thực hiện Luật Hợp tác xã năm 2012, HTX, tổ hợp tác phát triển cả về lượng và chất, trên khắp các vùng, miền, chất lượng hoạt động được nâng lên. KTTT, HTX đã hỗ trợ cho gần 6 triệu thành viên, chủ yếu là các hộ nông dân, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tạo ra số lượng lớn việc làm, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự - an toàn xã hội.

Tính đến tháng 12-2021, cả nước có 73.000 tổ hợp tác, 27.342 hợp tác xã và 103 liên hiệp hợp tác xã. Trong tổng số 27.342 HTX cả nước, có 18.327 HTX nông nghiệp, 1.181 quỹ tín dụng nhân dân và 9.015 HTX phi nông nghiệp, thu hút 5,7 triệu thành viên tham gia. Số lượng HTX tăng 16.420 đơn vị (khoảng 2,5 lần) so với năm 2001. Số lượng các HTX hoạt động hiệu quả chiếm khoảng 52% trong tổng số HTX (14.295 HTX). Trong nông nghiệp, cả nước có 18.327 HTX (chiếm gần 70% tổng số HTX cả nước) và 79 liên hiệp HTX nông nghiệp; thu hút được 3,28 triệu hộ (bằng 38% tổng số hộ sản xuất nông, lâm, thủy sản), giảm khoảng 1,87 triệu thành viên so với năm 2013; bình quân mỗi HTX có 176 thành viên; có 2.297 HTX thành lập doanh nghiệp trong HTX, chiếm 13% tổng số HTX nông nghiệp trên cả nước. Tổng số lao động thường xuyên trong HTX nông nghiệp khoảng 550 nghìn người; vốn hoạt động bình quân/HTX khoảng 1,61 tỷ đồng; doanh thu bình quân đạt 1,87 tỷ đồng/HTX; lãi bình quân đạt 207 triệu đồng/HTX.

Các HTX từng bước hoạt động đúng bản chất, trở thành chỗ dựa, phát huy vai trò kinh tế hộ, tăng cường liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ, khắc phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, tạo việc làm, giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán sản phẩm, góp phần cải thiện thu nhập.

Tuy nhiên, kinh tế tập thể, hợp tác xã còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Khu vực KTTT, HTX còn nhiều hạn chế, yếu kém chưa được khắc phục. Tốc độ tăng trưởng chậm, thiếu ổn định, chưa bền vững; tỷ lệ đóng góp vào GDP thấp và xu hướng giảm dần, chưa đáp ứng được mục tiêu Nghị quyết số 13-NQ/TW đề ra: “Đưa kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, tiến tới có tỷ trọng ngày càng lớn hơn trong GDP của nền kinh tế”. Số liệu thống kê cho thấy, kinh tế tập thể đóng góp vào GDP giảm từ 10% (1995) xuống 8,6% (2000), 6,18% (2005), 3,99% (2010), 3,8% (2017) và 3,49% năm 2019; tốc độ tăng trưởng thấp, chỉ xấp xỉ 1/2 tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế: 4,48% (1995), 5,46% (2000), 3,98% (2005), 3,32% (2010), 5,22% (2015) và 4,20% năm 2019.

Số lượng thành viên tham gia tổ hợp tác, HTX còn thấp (khoảng 6 triệu thành viên). Người dân còn hoài nghi, chưa thật tin tưởng, cuốn hút bởi mô hình HTX kiểu mới, do đó chưa huy động được sự tham gia, mở rộng các thành viên vào các hoạt động của HTX. Pháp luật, chính sách về liên kết chậm được hoàn thiện, dẫn đến sự gắn kết lợi ích giữa HTX và thành viên mờ nhạt, tinh thần hợp tác còn bị tâm lý lo ngại cản trở, do đó lợi ích kinh tế trực tiếp do HTX mang lại cho các thành viên chưa nhiều. Trong nông nghiệp, HTX mới thu hút được 3,28 triệu hộ sản xuất nông nghiệp, chiếm 38% tổng số hộ nông, lâm, thủy sản, giảm khoảng 1,87 triệu thành viên so với năm 2013.

 Việc liên kết, hợp tác giữa các thành viên trong HTX, giữa HTX với HTX, giữa HTX với doanh nghiệp và với các thành phần kinh tế khác còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Những mô hình HTX hoạt động hiệu quả chậm được tổng kết, hướng dẫn, ban hành thể chế để phát triển. HTX mới thành lập chủ yếu có quy mô nhỏ, thiếu động lực để mở rộng về quy mô, phát triển. Đến cuối năm 2021, khoảng 23% số HTX nông nghiệp có tham gia liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Năng suất, chất lượng sản phẩm, giá trị gia tăng chưa cao. Chưa mang lại lợi ích tốt nhất cho thành viên, HTX và HTX nông nghiệp phát triển chưa bền vững.

Nguyên nhân của tình trạng trên chủ yếu là do:

Nhận thức chưa đúng, đầy đủ và thống nhất về bản chất HTX, về vị trí vai trò của KTTT trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước; còn nhiều mặc cảm với HTX kiểu cũ, hoài nghi, thiếu tin tưởng vào sự phát triển của HTX kiểu mới; thiếu các nghiên cứu lý luận, thực tiễn về phát triển KTTT ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù Nghị quyết Trung ương 5 và Luật Hợp tác xã năm 2012 đã quy định khá rõ về bản chất, nguyên tắc hoạt động của HTX, nhưng nhận thức về bản chất HTX vẫn chưa thống nhất; còn đồng nhất mô hình HTX với mô hình doanh nghiệp; lẫn lộn giữa lợi ích của HTX với lợi nhuận của doanh nghiệp.

Nguồn lực hỗ trợ phát triển KTTT chưa đáp ứng được yêu cầu, hiệu quả chưa cao, có lúc, có nơi bị buông lỏng, thiếu quan tâm, cũng như chưa bố trí đủ nguồn lực để thúc đẩy KTTT phát triển. Khung khổ pháp luật về HTX còn bất cập. Hệ thống chính sách ban hành chậm, thiếu đồng bộ, nhất quán, chưa phù hợp với thực tế, một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ HTX không khả thi, khó đi vào cuộc sống. Sự hỗ trợ của Nhà nước chưa đủ mạnh; chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với khu vực KTTT, HTX được ban hành nhiều, nhưng nguồn lực kèm theo chưa bảo đảm, nguồn vốn tín dụng khó tiếp cận bởi những quy định về tín chấp, thế chấp; Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã tuy đã được hình thành nhưng quy mô hạn hẹp so với nhu cầu về vốn của khu vực này.

Bộ máy quản lý nhà nước về KTTT vừa thiếu, vừa yếu, vừa lúng túng trong tổ chức và cơ chế hoạt động. Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành về phát triển KTTT hiệu quả thấp. Ở địa phương, chưa quy định rõ và chưa thống nhất cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về KTTT. Nhiều địa phương chưa quan tâm lãnh đạo và tổ chức thực hiện công tác hỗ trợ, tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách, pháp luật về KTTT; thiếu kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện các nghị quyết; cấp ủy nhiều nơi chưa quan tâm đúng mức, còn xem nhẹ công tác cán bộ làm nhiệm vụ phát triển KTTT.

Mô hình liên kết sản xuất giống nho mới NH 01-152 theo tiêu chuẩn VietGAP của thành viên Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp nông nghiệp Thái An (xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh thuận) _Ảnh: TTXVN

Nâng cao nhận thức, tập trung nguồn lực phát triển kinh tế tập thể

Bối cảnh tình hình hiện nay đang thay đổi rất nhanh chóng. Việt Nam tham gia ngày càng sâu, rộng vào tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, đại dịch COVID-19, xung đột chính trị, thương mại, quân sự diễn biến hết sức phức tạp, khó lường đặt ra cho chúng ta nhiều khó khăn, thách thức nhưng cũng mở ra các cơ hội đan xen. Đối với sự phát triển của khu vực KTTT, các HTX có nhiều cơ hội được học hỏi, cọ sát và nâng cao năng lực, cũng như tiếp nhận công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý mới. Thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là từ các đối tác lớn, có công nghệ tiên tiến. Mở rộng xuất khẩu, đặc biệt, nước ta trở thành nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới. Hội nhập quốc tế tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Chuyển đổi số, trong đó phát triển kinh tế số làm cho khoảng cách không gian và thời gian ngắn lại, hoạt động của con người thông minh, hiệu quả hơn là cơ hội để đất nước ta tận dụng tạo đột phá để rút ngắn khoảng cách phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển thương mại điện tử. Đồng thời, cạnh tranh hàng hóa diễn ra gay gắt hơn, thậm chí ngay ở thị trường nội địa, đặc biệt là khi các hàng rào thuế quan dần được xóa bỏ theo các cam kết thương mại quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Trước những diễn biến đó, để tiếp tục phát triển KTTT, kinh tế hợp tác (KTHT) cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trọng tâm là nâng cao nhận thức và huy động nguồn lực hỗ trợ, khuyến khích KTTT, KTHT phát triển, cụ thể như sau:

Một là, tiếp tục khẳng định KTTT, KTHT ngày càng phát triển là xu thế tất yếu; là thành phần kinh tế quan trọng cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Phát triển KTTT phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phải xuất phát từ nhu cầu của thành viên, tôn trọng giá trị, nguyên tắc hoạt động của tổ chức HTX và phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng vùng, đồng thời phải tuân thủ đầy đủ các quy luật kinh tế, tuân thủ nguyên tắc tổ chức của HTX, đồng sở hữu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, do các thành viên tự nguyện thành lập nhằm tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên, trên cơ sở bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi.

Đánh giá hiệu quả KTTT phải toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh, quốc phòng của đất nước, cả về hiệu quả của tổ chức KTTT và lợi ích của các thành viên. Sức mạnh của KTTT, HTX là ở sự hợp tác, liên kết của thành viên theo chiều ngang (hợp tác giữa các thành viên) và theo chiều dọc, theo chuỗi giá trị (hợp tác giữa thành viên với các HTX, doanh nghiệp). Vì vậy, mục tiêu cần có các chỉ tiêu về số lượng thành viên tham gia KTTT, HTX (tỷ lệ thành viên/dân số, tỷ lệ thành viên bình quân/HTX); sự hợp tác, liên kết của thành viên thông qua việc cung ứng dịch vụ của HTX và sử dụng dịch vụ của thành viên.

Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền, học tập nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận về chủ trương, định hướng phát triển KTTT, KTHT:

- Phát triển KTHT và HTX phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản: dân chủ, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm, quản lý dân chủ và lợi ích của cộng đồng. Xác định rõ bản chất, nguyên tắc hoạt động của HTX. HTX, Liên hiệp HTX là tổ chức kinh tế, hoạt động bình đẳng trên thị trường nhằm mang lại lợi ích cho thành viên, góp phần quan trọng vào bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của số đông thành viên, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh chung của toàn nền kinh tế; tăng cường đoàn kết giữa các thành viên và ngày càng lan tỏa ra xã hội; nâng cao vị thế chính trị, xã hội của đông đảo thành viên và người lao động với tư cách là những người làm chủ.

- Thành viên tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTX; quản lý dân chủ và bình đẳng; tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của xã viên và sự phát triển của HTX, hợp tác và phát triển cộng đồng. HTX được tổ chức trên cơ sở nhu cầu và tham gia tự nguyện của người lao động, tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc HTX và được pháp luật khẳng định, khi tham gia HTX người lao động phải góp vốn cổ phần, góp sức. Phân phối trong HTX là phân phối theo lao động và theo vốn góp, phân phối theo mức độ sử dụng dịch vụ của xã viên đối với HTX; HTX có tư cách pháp nhân, tự quyết định toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh của mình theo quy định của pháp luật, bình đẳng với các tổ chức kinh tế khác. Thành viên tham gia HTX, điều kiện tiên quyết là phải góp vốn (theo quy định của Điều lệ hợp tác xã), góp sức khi HTX có nhu cầu; vốn góp của xã viên được chia lãi hằng năm và được rút ra khi xã viên ra khỏi HTX. Hộ gia đình vẫn là những đơn vị kinh tế tự chủ chỉ tham gia HTX để giải quyết những công việc mà hộ gia đình không tự làm được hoặc làm kém hiệu quả. Người quản lý, điều hành tổ chức KTHT không phải là người có nhiều vốn góp, mà là người có uy tín, kinh nghiệm được đa số thành viên bầu ra. Tổ chức KTHT và HTX mang tính chất xã hội - nhân đạo, vì lợi ích cộng đồng là một trong những động lực cơ bản để tồn tại và phát triển của loại hình kinh tế HTX.

- Kinh tế hợp tác dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể; phân phối theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ; hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và quản lý dân chủ... lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của thành viên. Phải làm rõ hơn, nổi bật hơn bản chất tổ chức HTX, bảo đảm HTX cung cấp dịch vụ cho thành viên để mang lại lợi ích cho thành viên, không phải nhằm vào mục đích lợi nhuận. Tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về phát triển HTX nhất là các nguyên tắc HTX đã được Liên hợp quốc (UN), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) khuyến cáo.

Các HTX khi thành lập, đăng ký kinh doanh phải có điều lệ riêng, có phương án sản xuất, kinh doanh rõ ràng, và đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được công nhận có tư cách pháp nhân; được thành lập và giải thể (tự nguyện hoặc bắt buộc khi vi phạm luật pháp) dựa trên nhu cầu của thành viên, không nên quan niệm đã lập ra là tồn tại vĩnh viễn.

- Phát triển KTTT gồm các hình thức đa dạng, trong đó HTX là nòng cốt. Phát triển KTTT với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, liên kết rộng rãi các hộ nông dân, người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn; bảo đảm lợi ích của thành viên. Khuyến khích phát triển HTX một cách vững chắc, hiệu quả, bảo đảm vai trò làm chủ thực sự của thành viên và mang lại lợi ích cho thành viên. HTX có thể lập ra không bị giới hạn về địa giới hành chính và một người lao động có thể đồng thời là xã viên của nhiều HTX (nếu Điều lệ hợp tác xã không quy định khác). Đối tượng tham gia HTX là các cá nhân (người lao động) hoặc cả cá nhân và pháp nhân. Phát triển HTX kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành.

Mô hình tổ chức và quy mô của KTHT và HTX đa dạng tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi ngành, mỗi vùng khác nhau và nhu cầu cũng như sự tự nguyện của những người lao động có nhu cầu cùng nhau làm một việc hoặc nhiều việc, trong khoảng thời gian, không gian nhất định. Một số mô hình HTX:

+ Mô hình hỗn hợp (kinh doanh tổng hợp), đó là những HTX vừa trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh tập trung vừa hoạt động dịch vụ cho hộ xã viên về những khâu, những việc mà từng hộ xã viên không có điều kiện hoặc làm nhưng kém hiệu quả. HTX hỗn hợp là mô hình tổ chức HTX rất có hiệu quả mà nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đã và đang áp dụng như HTX chế biến rượu nho ở Cộng hòa Liên bang Đức, HTX sản xuất rau quả của Đài Loan (Trung Quốc), HTX (Moshaw) chăn nuôi bò sữa của I-xra-en,... Ở nước ta, các vùng sản xuất hàng hóa, kinh tế phát triển, HTX theo mô hình này có ưu thế phát triển sản xuất nông nghiệp, gắn với chế biến và tiêu thụ, kết hợp mở mang các ngành, nghề công nghiệp, thủ công nghiệp và xây dựng nông thôn. HTX vừa có điều kiện tích lũy nhanh từ nhiều nguồn thu khác nhau, hiện đại hóa sản xuất và tạo ra sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh, vừa phát huy được vai trò tự chủ của kinh tế hộ xã viên trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa.

+ Mô hình HTX thuần dịch vụ: rất đa dạng cả về quy mô, hình thức tổ chức và lĩnh vực hoạt động, phát triển ở tất cả các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, du lịch... Mô hình này do các thành viên có nhu cầu tự nguyện lập ra, tùy theo luật pháp của mỗi nước quy định số xã viên tối thiểu nhưng có thể mở rộng đến hàng nghìn xã viên, thậm chí hàng vạn xã viên, như HTX tín dụng ở Cộng hòa Liên bang Đức; hình thức tổ chức rất phong phú, đa dạng; có HTX lập ra để hoạt động một, hai hoặc nhiều loại dịch vụ, chuyên phục vụ “đầu vào” hoặc chuyên dịch vụ “đầu ra” của sản xuất hay dịch vụ cả “đầu vào” và “đầu ra”. HTX dịch vụ là loại mô hình tổ chức được các nước khuyến khích phát triển, nhất là những nước có trình độ chuyên môn hóa cao và kinh tế phát triển. Ở nước ta hiện nay, mô hình này hình thành, phát triển mạnh ở một số vùng có điều kiện kinh tế phát triển. Phần lớn còn đơn giản, còn thiếu kinh nghiệm và môi trường chưa thuận lợi nhưng bước đầu đáp ứng được một số nhu cầu trước mắt của xã viên, nhất là dịch vụ cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp.

+ Mô hình HTX sản xuất tập trung là loại có ưu thế về xã hội hóa tư liệu sản xuất, có nhiều điều kiện tập trung vốn đầu tư để hiện đại hóa nhanh sản xuất, áp dụng khoa học - công nghệ mới... Song, mô hình này bộc lộ hạn chế trong việc khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực cũng như tinh thần năng động, sáng tạo của từng xã viên do không phù hợp với thực tiễn sản xuất dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao, do vậy mà ở các nước có nền kinh tế thị trường ít tồn tại mô hình HTX kiểu này.

- Phát triển KTHT và HTX từng bước, đa dạng về hình thức, quy mô và phạm vi hoạt động, phù hợp với yêu cầu, điều kiện của từng ngành, từng vùng khác nhau:

 Trong lĩnh vực nông nghiệp: tập trung phân loại, xử lý các tồn đọng của HTX nông nghiệp, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các HTX hoạt động có hiệu quả, từng bước hướng tới mô hình HTX kiểu mới, giải thể các HTX yếu kém theo luật định. Hình thành các tổ hợp tác, HTX đa dạng từ thấp đến cao theo nhu cầu và tự nguyện của các thành viên lập ra để giúp đỡ, hỗ trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh. Xây dựng và phát triển các HTX kiểu mới kinh doanh tổng hợp (dịch vụ và sản xuất tập trung - mô hình HTX hỗn hợp), các HTX hoặc tổ hợp tác chuyên dịch vụ (dịch vụ chuyên khâu hoặc dịch vụ tổng hợp), như làm đất, thủy lợi, chế biến, cung ứng vật tư,... ở những nơi đủ điều kiện và có nhu cầu dịch vụ cho xã viên và các hộ dân cư quanh vùng, hoặc các HTX sản xuất tập trung nếu xã viên yêu cầu và đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về HTX. Hình thành các tổ hợp tác hoặc HTX chuyên dịch vụ kỹ thuật cung ứng cho các hộ sản xuất những yếu tố kỹ thuật quan trọng, như cung ứng nước (thủy lợi) giống cây, giống con, làm đất, bảo vệ thực vật... theo yêu cầu của các hộ nông dân ở từng địa phương. Khuyến khích phát triển các hình thức KTHT đa dạng trong các cộng đồng ngư dân ở vùng biển về các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ, tìm kiếm ngư trường, bảo vệ sản xuất trên biển.... Hợp tác giữa những người có vốn, có công cụ thuyền, lưới, có kỹ thuật cùng nhau chung vốn, đầu tư phát triển HTX, tổ hợp tác.

Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng: tạo điều kiện để phát triển các HTX theo các ngành, nghề có thế mạnh, chú trọng ở vùng nông thôn, những nơi có nguồn nhân lực và nguyên liệu tại chỗ. Phát triển các HTX chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp có khả năng tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Phát triển rộng rãi các HTX xây dựng, tiêu thụ điện dân dụng, phát triển và bảo vệ môi trường và các loại hình HTX đáp ứng các dịch vụ xã hội cần thiết khác phù hợp với tình hình thực tế từng địa phương. Đồng thời, chú trọng đổi mới trang thiết bị, kết hợp chặt chẽ giữa công nghệ hiện đại và công nghệ truyền thống, từng bước hiện đại hóa quy trình sản xuất của các HTX, tổ hợp tác.

Trong lĩnh vực vận tải: phát triển các hợp tác xã vận tải theo mô hình là HTX dịch vụ hỗ trợ và HTX vận tải, tổ chức mạng lưới vận tải, sửa chữa phương tiện ở từng địa phương nhằm gắn “cung” với “cầu” về vận tải, với các phương tiện đa dạng, an toàn, văn minh phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và tập quán, hình thành một số các nghiệp đoàn, hiệp hội vận tải để tạo mối liên kết giữa các HTX vận tải nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực vận tải.

Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ: HTX thương mại - dịch vụ phát triển theo yêu cầu thực tế về kinh tế - xã hội và trình độ phát triển và nhu cầu của người tiêu dùng, của các hộ kinh doanh nhỏ, không lệ thuộc vào địa giới hành chính, có thể ở phạm vi thôn, xã hoặc liên thôn, liên xã, liên bản làng. Vùng nông thôn chủ yếu là phát triển các HTX dịch vụ nông nghiệp và kinh doanh thương mại, bao gồm dịch vụ “đầu vào, đầu ra” cho hộ nông dân và cung ứng hàng tiêu dùng cho dân cư nông thôn. Ở những thị trấn, thị tứ có chợ gồm nhiều hộ buôn bán nhỏ có thể hướng dẫn thành lập HTX thương mại để giúp đỡ nhau về thông tin giá cả, tạo nguồn hàng và giải quyết những rủi ro trong quá trình kinh doanh.

Trong lĩnh vực tín dụng: xây dựng hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả, vững mạnh về tổ chức, liên kết chặt chẽ trong hệ thống từ Trung ương đến cơ sở, coi trọng chất lượng là chính, chỉ phát triển các quỹ mới khi có đủ các điều kiện, đủ tiêu chuẩn, có khả năng kiểm soát và quản lý, trước mắt tập trung hoạt động ở địa bàn nông thôn là chủ yếu, địa bàn thị xã, thị trấn có cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp và tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ có nhu cầu vốn tín dụng lớn và có khả năng huy động vốn tại chỗ.

Đối với vùng đô thị và ven đô thị, đông dân cư, sản xuất hàng hóa, dân trí phát triển, chú trọng phát triển HTX trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sản xuất, dịch vụ đời sống, xây dựng.

Đối với vùng nông thôn, thúc đẩy phát triển các hình thức HTX, tổ hợp tác dịch vụ “đầu vào, đầu ra” của những người lao động nhằm phục vụ các nhu cầu sản xuất nông nghiệp, đồng thời gắn kết người lao động với các tổ chức sản xuất của Nhà nước và các thành phần kinh tế khác (trong mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm).

Đối với vùng trung du, miền núi, chú trọng phát triển các loại hình hợp tác giản đơn giữa các hộ gia đình nhằm giải quyết nhu cầu sản xuất tự túc, tự cấp cần sự hỗ trợ của Nhà nước để phát triển KTTT, trong đó tập trung hỗ trợ kỹ thuật đồng thời với các giải pháp tạo sinh kế, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo.

Hợp tác xã dệt thổ cẩm và dịch vụ Chiềng Châu (huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình) tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động _Ảnh: TTXVN

Ba là, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển KTTT:

- Khẩn trương sửa đổi, bổ sung Luật Hợp tác xã năm 2012, tạo khung khổ pháp luật thông thoáng, minh bạch, khuyến khích, hỗ trợ phát triển KTTT, HTX, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, “Cải cách thủ tục hành chính một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, bãi bỏ các rào cản hạn chế quyền tự do kinh doanh, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch”(3).

Ưu tiên phát triển HTX khu vực nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnh hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, kết nối với hệ thống tiêu thụ toàn cầu, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, trang trại phát triển, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, trật tự xã hội ở nông thôn. Tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức KTTT chủ động vươn lên, vượt qua các khó khăn, nhanh chóng khắc phục những hạn chế, yếu kém, củng cố tổ chức, nâng cao năng lực quản lý, điều hành và hiệu quả hoạt động, phát huy lợi thế vốn có của tổ chức KTTT để tăng cường sức cạnh tranh.

- Rà soát, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển KTTT, đặc biệt là chính sách đất đai, đầu tư; chính sách cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ cán bộ quản lý sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường; chính sách ưu đãi, hỗ trợ về tài chính - tín dụng, khoa học - công nghệ và thị trường. Có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với tổ chức KTTT hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và đối tượng thành viên là nông dân nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Xử lý dứt điểm công nợ của các HTX, hoàn thiện thủ tục giải thể bắt buộc và chuyển đổi sang loại hình tổ chức khác, có chế tài xử lý vi phạm phù hợp với tình hình thực tế.

Nâng cao năng lực tổ chức, hoạt động của HTX, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho thành viên. Kịp thời phát hiện, biểu dương, khen thưởng nhân rộng, tổng kết các mô hình HTX hoạt động có hiệu quả, từng bước khẳng định KTTT, HTX là nhân tố quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Bốn là, xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên trong phát triển KTTT.

- Các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu của mỗi bộ, ban, ngành Trung ương, địa phương cần xác định rõ trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nghị quyết và quy định của pháp luật, chính sách về phát triển KTTT, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thực tế cho thấy, ở đâu cấp ủy, chính quyền, đặc biệt người đứng đầu quan tâm thì ở đó KTTT, HTX phát triển và chính sự phát triển đó góp phần rất tích cực cho nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an sinh của địa phương.

- Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới phương thức học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT, đưa KTTT thực sự là thành phần kinh tế quan trọng, góp phần cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Tăng cường công tác nghiên cứu, làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về KTTT, HTX, vận dụng sáng tạo trong thực tế và có biện pháp nhân rộng các mô hình tổ chức KTTT điển hình tiên tiến.

- Kiện toàn, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về KTTT, bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả, tập trung và thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế phối hợp của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương trong phát triển KTTT. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và có chính sách cán bộ phù hợp, bảo đảm nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực trong phát triển KTTT. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật về KTTT.

- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể phối hợp chặt chẽ trong tổ chức triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển KTTT, KTHT. Phát huy vai trò của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam trong tuyên truyền, vận động, thuyết phục, huy động sử dụng có hiệu quả nguồn lực phát triển HTX./.

-----------------

Tham nhũng và những giải pháp phòng, chống tham nhũng.

 



Bài 1: CHỐNG THAM NHŨNG TRÊN THẾ GIỚI

1. Định nghĩa, sự hình thành và công cuộc phòng chống tham nhũng

Định nghĩa

Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là hành vi lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công. Theo Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) định nghĩa tham nhũng là lạm dụng chức vụ, quyền lực cho lợi ích cá nhân, thông qua hối lộ, tống tiền, thao túng thị trường, thiên vị người thân, gian lận, chuyển tiền (hình thức hối lộ) hoặc tham ô. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tham nhũng là sự lạm dụng chức vụ công để tư lợi. Theo Từ điển Luật học Việt Nam năm 2006: Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hưởng lợi ích vật chất trái pháp luật, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 của Việt Nam: Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về tham nhũng, song đều thống nhất với 3 đặc trưng: Tham nhũng là hành vi của người có chức, có quyền; có sự lợi dụng, lạm dụng quyền hành được giao; nhằm vụ lợi.

Sự hình thành và quá trình phòng, chống tham nhũng

Tham nhũng là một phạm trù lịch sử. Nó xuất hiện ngay khi có sự phân chia giai cấp và sự hình thành Nhà nước và xuất hiện ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Tham nhũng là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực. Nó gây nguy hại cho sự phát triển của các quốc gia và là một trong các nguyên nhân gây ra nạn đói nghèo cho người dân. Tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử và từng quốc gia mà có các biện pháp trừng phạt khác nhau. Từ thời Hy Lạp cổ đại các quan chức cũng đã tham ô công quỹ và nhận đút lót của dân. Theo luật thời điểm đó của Thành phố Athena quy định: Các quan chức tham nhũng sẽ bị tước quyền công dân và quyền tham gia vào các tổ chức của thành phố, bang. Đây là hình phạt được coi là nỗi ô nhục nhất của của người Hy lạp cổ đại. Còn tại thành phố Byzantim các quan chức tham nhũng thì bị thiến hoặc làm cho mù mắt. Ngoài ra những người nhận hối lộ thường bị đi đầy và tịch thu tài sản. Tại Cộng hòa La Mã, những quan tòa mà nhận hối lộ thì bị xử tử. Ở nước ta cách đây hàng nghìn năm, từ thời Lý (1009-1225) đã có tình trạng các quan lại tham ô, nhũng nhiễu người dân. Triều đình đã có những quy định việc xử phạt quan lại tham ô, tham nhũng. Theo luật thời điểm đó, các quan nha, thư lại thu thuế của dân, ngoài mười phần phải nộp vào kho triều đình, thì được thu riêng một phần gọi là “hoành đầu”. Kẻ nào thu quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm. Các khố ty thu thuế “lụa”, nếu “ăn lụa” của dân thì cứ mỗi thước lụa phạt 100 trượng. Vua Lý Thái Tông năm 1042, đã ban hành bộ luật thành văn đầu tiên - Hình thư (năm 1042). Đến Triều đại Lê sơ, vua Lê Thánh Tông, năm 1483 đã ban hành Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức). Luật Hồng Đức coi tội tham nhũng là một tội danh nguy hiểm, làm người dân oán thán và ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của nhà vua. Bộ luật Hồng Đức có 722 điều trong đó có tới 40 điều liên quan đến chống tham nhũng. Tại Điều 1, chương VI chế đã ghi: Các quan lại có số lượng nhất định, nếu tự ý bổ dụng hay tuyển chọn quá hạn định thì cứ thừa 1 người, người đứng đầu chịu phạt 60 trượng và “biếm” 2 tự (hạ chức 2 cấp), hoặc bãi chức. Thừa 2 người thì xử tội “đồ” (phạt lao dịch khổ sai). Điều 42, chương VI chế ghi rõ: “Làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan, xử tội “biếm” hoặc bãi chức;… từ 50 quan trở lên xử “tử”. Đến thời vua Gia Long (1762-1820) đã ban hành Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) năm 1815. Bộ luật gồm 22 quyển, chia thành 7 chương với 398 điều trong đó có 79 điều quy định riêng về luật hình đối với các tội tham ô, nhũng nhiễu. Đến thời vua Minh Mạng (1820-1840), bất kể ai, giữ chức vụ gì, kể cả thân cận nhà vua khi tham nhũng đều bị xử nghiêm khắc. Năm 1831, vua Minh Mạng ban hành Luật Hồi ty, quy định khi sắp xếp, bố trí bộ máy quan lại, không được bố trí những người cùng quê nội và quê ngoại, bao gồm cả quê mẹ, quê vợ.

Như vậy nguồn gốc của tham nhũng là kết quả sự kết hợp của quyền lực nhà nước với lòng tham của con người. Là sự lạm dụng, tha hóa quyền lực của người có chức, có quyền. Tham nhũng là  hệ quả tất yếu của nền kinh tế kém phát triển, quản lý kinh tế - xã hội lỏng lẻo, xã hội mất dân chủ, không minh bạch và đạo đức xã hội xuống cấp.  

2. Tình trạng tham nhũng hiện nay trên thế giới

Tham nhũng là vấn nạn trên toàn thế giới, xảy ra trên mọi lĩnh vực. Tham nhũng gây cản trở lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và cũng là nguyên nhân gây ra nghèo đói với nhiều dân tộc. Tình trạng tham nhũng ngày càng có xu hướng phát triển sâu rộng hơn, tinh vi hơn và khó ngăn chặn hơn. Chính vì thế, tháng 12-2003, đại diện hơn 120 nước trên thế giới đã họp tại Mê-hi-cô để thông qua Công ước chống tham nhũng của Liên hiệp quốc (LHQ). Công ước này được đánh giá là bước tiến lớn của cộng đồng quốc tế trong hợp tác chống tham nhũng. Hiện nay, đã có hơn 110 nước, trong đó có Việt Nam, đã ký Công ước chống tham nhũng. LHQ thống nhất lấy ngày 9-12 hằng năm làm Ngày Quốc tế chống tham nhũng. Để đánh giá mức độ tham nhũng của các nước trên thế giới. Năm 1995, Tổ chức Minh bạch Quốc tế đã công bố một chỉ số nhận thức tham nhũng (Corruption Perceptions Index – CPI ). Chỉ số được dùng để đánh giá mức độ tham nhũng của các nước hằng năm. Theo số liệu công bố ngày 18-10-2005 của CPI, có tới 2/3 trong số 159 nước thăm dò có tình trạng tham nhũng nghiêm trọng. Đây là tình trạng báo động về tham nhũng trên thế giới. Cũng theo báo cáo này, các nước Bắc Âu được đánh giá là ít tham nhũng nhất. Trong khi đó các nước nghèo, tham nhũng nặng nhất. Chỉ số CPI năm 2020, các nước ít tham nhũng nhất vẫn là Đan Mạch và Niu Di-lân với 88 điểm, Phần Lan, Xin-ga-po, Thụy Điển, Thụy Sỹ với 85 điểm, Úc, Hồng Kông 77 điểm; Trung Quốc 42 điểm, Ấn Độ 40 điểm. Đứng cuối bảng là các nước Nam Xu-đăng và Xô-ma-li với 12 điểm, Xy-ri 14 điểm, Y-ê-men và Vê-nê-xu-ê-la 15 điểm. Việt Nam đạt 36/100 điểm đứng thứ 104/180 nước. Đánh giá theo khu vực thì Tây Âu và Liên minh châu Âu có điểm trung bình cao nhất với 66 điểm; châu Á - Thái Bình dương là 45 điểm; Đông Âu và Trung Á là 36 điểm;  Khu vực châu Phi cận Xa-ha-ra là thấp nhất với 32 điểm. Theo nghiên cứu của Tổ chức Minh bạch Quốc tế và Ngân hàng Thế giới (WB), đã chỉ ra rằng hàng năm trên thế giới có khoảng 1.000 tỷ USD bị tham nhũng dưới dạng đưa hối lộ. Chỉ riêng ở châu Phi hằng năm có khoảng 148 tỷ USD đã bị mất hay thất thoát do tệ tham nhũng, tương đương với 1/2 khoản nợ nước ngoài của lục địa này. Theo Viện Công tố Liên bang Nga, lượng tiền tham nhũng hàng năm của Nga lên tới 240 tỷ USD chiếm hơn 15% GDP của Nga. Chính vì vậy các nước trên thế giới đều ra sức phòng, chống tham nhũng. Mỹ và Tây Âu nhấn mạnh việc hoàn thiện xây dựng thể chế và kiểm soát quyền chéo giữa cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cộng hòa Liên bang Đức vừa chú trọng xây dựng pháp luật về công chức, công vụ, vừa chú trọng xây dựng đạo đức đội ngũ công chức. Nga ngoài việc thành lập Hội đồng chống tham nhũng trực thuộc Tổng thống, do Thủ tướng đứng đầu, còn kiên quyết trừng trị kẻ tham nhũng bằng “bàn tay sắt" như Tổng thống V. Pu-tin từng tuyên bố: Đánh mạnh vào tham nhũng là việc làm rất quan trọng của Nga trên con đường phát triển. Mỗi nước đều có cách chống tham nhũng khác nhau. Chúng ta hãy nghiên cứu mô hình 2 nước gần ta chống tham nhũng quyết liệt, hiệu quả.

Xin-ga-po tiêu biểu cho các quốc gia chống tham nhũng hiệu quả với khẩu hiệu 3 không là: Không dám, không thể và không cần tham nhũng. Theo phân loại của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, năm 2020 Xin-ga-po đạt 85/100 điểm đứng vào hàng thứ 3/180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Xin-ga-po đạt được hiệu quả đó là nhờ:

Ý chí mạnh mẽ và quyết liệt của của cơ quan quyền lực Nhà nước mà đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Lý Quang Diệu, một người am hiểu thời cuộc và mẫu mực về trong sạch. Trong suốt thời gian làm Thủ tướng, ông cùng các thành viên Chính phủ luôn xây dựng một Chính phủ trong sạch, liêm chính và quyết liệt chống tham nhũng. Khi nhậm chức ông cùng các thành viên Chính phủ đều mặc áo sơ mi trắng và quần trắng, biểu tượng của sự thanh khiết và lương thiện. Ý chí này của ông cũng được truyền lại cho các đời Tổng thống sau như Goh Chok Tong và Lý Hiển Long.

Có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh: Bộ luật Phòng, chống tham nhũng của Xin-ga-po được ban hành năm 1960, sau đó vào các năm 1963, 1966, 1981, 1989 đều được sửa đổi cho phù hợp hơn. Đến năm 1999, Xin-ga-po ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng mới, nhằm khắc phục những khiếm khuyết của các luật trước đây, Luật quy định chặt chẽ và cụ thể trên mọi lĩnh vực, về tổ chức bộ máy, thẩm quyền của Cục trưởng và cán bộ Cục Điều tra chống tham nhũng, các mức hình phạt... Điều đáng chú ý là Luật quy định, người giữ chức vụ càng cao, khi tham nhũng thì bị xử phạt càng nặng. Đồng thời hằng năm, cán bộ từ Trung ương tới cơ sở đều phải kê khai tài sản của bản thân và của vợ (chồng) bao gồm: Thu nhập, tiền gửi tiết kiệm, tiền cổ phiếu, đồ trang sức, ô tô, nhà đất. Bất kỳ sự giàu có nào không giải trình rõ ràng về nguồn gốc, không tương xứng với thu nhập sẽ bị coi là nhận hối lộ và có thể bị tịch thu. Đây chính là nhân tố làm cho cán bộ, công chức không thể tham nhũng.

Có bộ máy chuyên trách phòng, chống tham nhũng quyền lực và hiệu quả đó là Cục Điều tra  chống tham nhũng (CPIB), là cơ quan thuộc Văn phòng Thủ tướng và trực thuộc Thủ tướng Chính phủ. Giám đốc CPIB do Tổng thống bổ nhiệm. CPIB thực sự là cơ quan có quyền lực, nó hoạt động gần như độc lập với các cơ quan nhà nước khác và là cơ quan duy nhất được giao quyền điều tra mọi biểu hiện về tham nhũng trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, pháp lý, và tất cả các cơ quan công quyền, khu vực tư nhân và xã hội dân sự. Có thẩm quyền điều tra bất cứ ai, ở bất cứ cương vị nào nếu bị cho là có hành vi tham nhũng. Thủ tướng nếu bị tình nghi tham nhũng, CPIB xin lệnh phê chuẩn của Tổng thống để điều tra, mà không ai, không cơ quan nào có quyền can thiệp. Nhân viên điều tra của CPIB có quyền khám xét, thu giữ tất cả những tài liệu, tài sản, kể cả việc bắt giữ bất kỳ ai, nếu bị nghi là có liên quan đến tham nhũng mà không cần lệnh khám xét và lệnh bắt giữ của Viện Công tố (mục 17, mục 22 Luật Chống tham nhũng). Chính quyền lực to lớn cùng đội ngũ công chức có đạo đức, trách nhiệm, nên CPIB hoạt động rất hiệu quả, hầu hết các vụ tham nhũng đều bị đưa ra xét xử.

Xử lý nghiêm minh và kịp thời: Thủ tướng Lý Quang Diệu nổi tiếng là người thiết diện vô tư, quyết không khoan dung đối với mọi hành vi phạm pháp, tham nhũng, bất kể người đó là ai, giữ chức vụ gì. Chẳng hạn ông Teh Cheang Wan, người có thành tích lớn trong đấu tranh giành độc lập, xây dựng nên nước Cộng hòa Xin-ga-po và là người có mối quan hệ cá nhân rất thân thiết với Lý Quang Diệu, Bộ trưởng Phát triển quốc gia năm 1986. Khi ông này nhận hối lộ vẫn bị trừng trị theo đúng pháp luật. Đây là một trong những câu chuyện còn được nhắc lại về quyết tâm chống tham nhũng của nhà lãnh đạo Xin-ga-po. Ngoài ra còn  nhiều nhân vật cấp cao khác cũng bị đưa ra xét xử và kết tội tham nhũng như: Bộ trưởng Phát triển đất nước Tan Kia Gan bị điều tra năm 1966 và bị cách toàn bộ chức vụ. Bộ trưởng Nhà nước Wee Toon Boon bị điều tra năm 1975 và bị kết án 4 năm 6 tháng tù giam. Đây là yếu tố làm công chức không dám tham nhũng.

Trả lương cao. Thủ tướng Lý Quang Diệu quan niệm trả lương thấp cho cán bộ là nguy hiểm, dù đó là cảnh sát hay nhân viên hải quan. Vì như vậy họ phải bằng mọi cách “kiếm” thêm để nuôi gia đình. Cũng xuất phát từ nhận thức “Xin-ga-po chỉ giữ được sự trong sạch và lương thiện khi trả một mức lương tương xứng với những gì mà một người có khả năng và liêm chính có thể được hưởng khi đang điều hành một công việc. Từ quan điểm này Xin-ga-po xây dựng chính sách tiền lương trong Chính phủ là: Cán bộ phải sống và sống tốt bằng chính tiền lương mà sức lao động của mình làm ra và được công khai, minh bạch. Hiện nay, Thủ tướng Lý Hiển Long là nhà lãnh đạo có mức lương cao nhất thế giới và gấp 4 lần lương của người đứng thứ 2 là Tổng thống Mỹ. Chính điều này họ đã thu hút được nhiều nhân tài và có đạo đức vào làm tại bộ máy Nhà nước, đồng thời làm cho công chức Xin-ga-po không cần tham nhũng. Đặc biệt, Xin-ga-po còn áp dụng một giải pháp lập Quỹ dự phòng tiền lương: hằng tháng, lương công chức được trích một phần theo tỷ lệ quy định để gửi vào Quỹ dự phòng Trung ương, mức khởi đầu là 5%, tăng dần theo tỷ lệ tăng lương, chức vụ càng cao thì tỷ lệ càng lớn, có thể lên tới vài chục phần trăm. Khi nghỉ hưu thì được lấy về, nhưng nếu ai tham nhũng thì số tiền này bị trưng thu.  

Trung Quốc phòng, chống tham nhũng: Trung Quốc là một nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền. Trung Quốc là nước quyết tâm phòng, chống tham nhũng và thu được kết quả quan trọng. Đặc biệt, từ năm 2012, sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình, với chiến dịch “Đả hổ, diệt ruồi”. Theo ông Tiêu Bồi, Phó Bí thư Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương (UBKTKLTW), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Giám sát quốc gia (UBGSQG) Trung Quốc, phát biểu tại cuộc họp báo ngày 28-6-2021, đã khẳng định, tham nhũng có sức tàn phá và hủy hoại nặng nề nhất đối với nền tảng cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông cũng cho biết từ tháng 12-2012 đến tháng 5-2021 cơ quan UBKTKLTW và UBGSQG Trung Quốc đã điều tra 392 cán bộ lãnh đạo từ cấp bộ, tỉnh trở lên, 22.000 cán bộ cấp vụ, cục, hơn 170.000 cán bộ cấp quận, huyện và 616.000 cán bộ cấp xã, phường. Chỉ tính riêng năm 2016, Trung Quốc đã xử hơn 120 quan chức cấp cao, trong đó có hơn chục quan chức quân đội, một số giám đốc điều hành cấp cao của các doanh nghiệp nhà nước và 5 nhà lãnh đạo quốc gia. Trung Quốc đạt được kết quả như vậy nhờ:

Có cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng quyền lực và hiệu quả: Từ sau năm 2012 Trung Quốc thiết lập 2 cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng mang tính độc lập cao với các cơ quan nhà nước và cấp ủy địa phương đó là UBKTKLTW và UBGSNN. UBKTKLTW do Đảng Cộng sản lập ra có hệ thống ngành dọc 4 cấp, thực hiện theo Điều lệ Đảng, có trách nhiệm điều tra, xử lý các tội tham nhũng trong các cơ quan của Đảng và đảng viên. UBGSNN do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) bầu ra, thành lập hệ thống ngành dọc 4 cấp, thực hiện theo Hiến pháp và Luật Giám sát, nhưng bản chất vẫn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của BCH Trung ương, Bộ Chính trị. Ủy ban này có quyền điều tra các tội phạm tham nhũng như: Xét hỏi, tạm giữ, phong tỏa tài sản, khám xét người và nơi ở của người bị tạm giữ (theo Điều 20 đến Điều 35 của Luật Giám sát). Tuy là hai cơ quan khác nhau, nhưng hoạt động có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả dưới sự chỉ đạo chung của BCH Trung ương và Bộ Chính trị.

Răn đe và trừng trị nghiêm khắc những kẻ tham nhũng. Ngoài việc giáo dục bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, Trung Quốc đồng thời trừng trị nghiêm khắc những kẻ tham nhũng, thực hiện không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Với chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi”, nhiều “hổ lớn” như các bí thư tỉnh ủy, ủy viên Bộ Chính trị (UVBCT) đều phải vào tù. Điển hình là vụ án Trần Hi Đồng, UVBCT Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Thành ủy Bắc Kinh vào tù năm 1995; Trần Lương Vũ, nguyên UVBCT Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Thành ủy Thượng Hải; Bạc Hy Lai, UVBCT, Bí thư Thành ủy Trùng Khánh; Chu Vĩnh Khang, nguyên Ban Thường vụ BCT Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 17, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ nhiệm Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương… Ngoài ra Trung Quốc còn tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng với các chiến dịch “săn cáo" và “lưới trời”. Trong 2 năm gần đây Trung Quốc đã bắt giữ, đưa về nước 1.032 nghi phạm tham nhũng lẩn trốn tại hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó có 134 cựu quan chức thuộc cơ quan nhà nước, thu hồi về hơn 2,4 tỷ nhân dân tệ. Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ quyền lực, làm cho người có quyền, có chức không thể lợi dụng, lạm dụng quyền lực, thực hiện các hành vi tham nhũng. Theo ông Tập Cận Bình, phải chống lợi ích nhóm và công khai, minh bạch trong kê khai tài sản của cán bộ, công chức Nhà nước. Kiểm tra việc trung thực trong kê khai tài sản là yếu tố quan trọng.

"ĐẤT NHÀ THỜ"!


Việc anh em giáo dân lúc nào cũng nghĩ đất đai trong giáo xứ là thuộc về Nhà thờ chứ không phải thuộc về sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý không phải chỉ ở riêng Việt Nam mà nó trở thành vấn đề ở tất cả những quốc gia mà tôn giáo này du nhập.
Tu sĩ Desmond Tutu, người được trao giải Nobel về Hòa Bình vào năm 1994, đã nói:
"Chúng tôi có đất đai và họ tới với cuốn Thánh Kinh của họ. Chúng tôi tin họ, cầm cuốn Thánh Kinh trên tay, nhắm mắt cầu nguyện. Khi chúng tôi mở mắt ra, chúng tôi có cuốn Thánh Kinh và họ có đất đai của chúng tôi".
Chính vì suy nghĩ "Trái đất này là của bố mày", nên mới xảy ra hàng loạt các vụ việc giáo dân kiện cáo, biểu tình đòi đất như ở nhà thờ Thái Hà, 42 Nhà chung,... hay như ở giáo phận Vinh thời gian vừa qua. Dù đã nhiều lần bị người dân, nhất là các anh cựu chiến binh chỉ mặt vạch tên nhiều lần nhưng anh em linh mục vẫn chưa sáng mắt ra.
Đất đai chúng tao toàn dùng máu, xương hàng trăm thế hệ để đánh đổi, là đất đai của dân tộc này, Tổ quốc này chứ làm gì có đất của Nhà thờ, linh mục hay ông thần nào cơ chứ!
LDA
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết '"We have our lands and they came here with their Bible. We believed in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we opened our eyes, we have the Bible and they have our lands" -Desmond Tutu'

PHÊ BÌNH CŨNG PHẢI MANG TÍNH XÂY DỰNG


Gần đây, ông Tuyến bỗng trở nên nổi tiếng trên... trang Facebook của thôn Phiến Trung vì có vài truyện ngắn, dăm câu thơ ông đưa lên nhóm được tán thưởng.
Thế nhưng dần dà, ông sa đà, mượn văn chương để châm chọc người này, nói xấu người kia. Ông viết cả vè đả kích cán bộ xã với thái độ hằn học chỉ vì thấy "ngứa mắt".
Lần này, ông mời bạn văn trong thôn đến nhà thưởng rượu, ngâm thơ đúng dịp Lan-con gái ông-đưa cháu ngoại về quê thăm ông bà. Trong câu chuyện "trà dư tửu hậu", ông lớn tiếng định hướng nhóm nhà văn xóm:
- Ở xã, chúng nó "vẽ" ra việc chỉnh trang đài tưởng niệm liệt sĩ rồi kêu gọi quyên góp làm lễ tưởng niệm để xài "tiền chùa” đấy. Các bác có đề tài thời sự rồi nhé. Bác An viết vè đi, chú Minh làm mẩu truyện ngắn. Còn tôi sẽ chọc chúng nó bằng một tác phẩm để đời cho bọn nhãi ranh phải sợ đến già.
Nghe bố nói, Lan buồn lắm. Buổi tối, chị quyết định trò chuyện với bố:
- Bố ạ, bố đã có tuổi rồi, vui đời sống văn hóa-tinh thần chúng con rất mừng. Nhưng gần đây, con nghe nói bố và một số bác hay mượn thơ văn để công kích chính quyền. Con buồn lắm!
- Con thì biết gì. Giờ ở địa phương, cán bộ xã ăn trên ngồi trốc, không thương dân. Những người được coi là có học như bố phải nói chứ.
- Chiều nay, con đã nghe bố và các bác nói chuyện. Cán bộ xã họ đang làm đúng chức trách, nhiệm vụ. Sắp đến kỷ niệm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, họ chỉnh trang tượng đài, tổ chức lễ tưởng niệm là việc làm ý nghĩa. Con gái của bố cũng ủng hộ chương trình đó qua hội đồng hương quê mình. Vậy mà bố và một số người lại cố tình hiểu sai, coi đó là việc xấu, rồi đem chuyện đó ra công kích là không nên. Nếu thực sự có điều gì đó không hài lòng, bố đến gặp, góp ý thẳng thắn với các anh ấy. Dù gì, cán bộ xã cũng là bạn bè của con và đáng tuổi con, cháu của bố.
- Thôi, con gái ạ. Bố biết con giờ là cô giáo dạy văn, trưởng thành rồi quay về dạy cả ông giáo già này.
Chị Lan thấy bố đã nghe mình liền nói tiếp:
- Dù gì, bố con mình đều là nhà giáo, còn là đảng viên nữa. Con nhớ hồi bé, bố vẫn dạy con, gia đình mình phải lấy việc nêu gương, ủng hộ và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, những quy định, việc làm tốt của địa phương chứ. Nếu bố thực sự thích làm thơ, làm văn, bố hãy ca ngợi cái hay, cái đẹp của quê hương mình. Văn chương cũng phải mang tính xây dựng phải không bố? Được như vậy, chúng con sẽ càng thêm tự hào về bố trước bà con, chòm xóm.
Nghe con gái phân tích thấu tình đạt lý, nhận thấy mình đã sai, ông Tuyến liền rút một tập thơ viết tay đưa cho con, cười xí xóa:
- Được rồi, bố sẽ nghe con. Đây là tập thơ bố viết ca ngợi quê hương, trường lớp từ khi còn công tác. Mai kia lên Hà Nội thì in cho bố ít cuốn bố tặng bạn bè nhé. Bố nghe con, từ giờ bố chỉ viết cái hay, cái đẹp thôi. Phê bình cũng phải mang tính xây dựng! Được chưa cô giáo?
ĐK
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn
Có thể là tranh biếm họa

MỘT LỜI KHAI TRƯỚC MẬU THÂN: CHÌA KHÓA LÀ CHÍNH TRỊ?


Lời dẫn: 25/1/1968, CIA thu được lời khai của một cán bộ chính trị của MTGP (Mặt trận Giải phóng) không được nêu tên. Lời khai độc đáo đến mức CIA lập tức gửi đến Tòa đại sứ và MACV (Bộ tư lệnh Mỹ tại VN).
*
Dưới đây là tóm tắt lời khai do CIA ghi lại nhận định của cán bộ bị bắt về tổng quan cuộc chiến (hãy chú ý các điểm 6,7,8,9):
--
1. MTGP sẽ chiến thắng chung cuộc. Đó là cuộc chiến vì chính nghĩa, được thế giới ủng hộ, kể cả nhiều người Mỹ.
*
2. Mục tiêu là đẩy Mỹ khỏi miền Nam, thống nhất đất nước. Nếu không thể hoàn toàn đẩy Mỹ, thì MTGP sẽ hướng tới xây dựng chính phủ trung lập ở miền Nam.
*
3. Từ 1950, Mỹ đã can thiệp vào Nam VN, tăng cường chiến tranh xâm lược, với chính sách "phong kiến mới" [thực dân mới?], xây dựng chính quyền bù nhìn nhằm bóc lột nhân dân và khai thác tài nguyên.
*
4. Sự căm thù chỉ hướng tới những người Mỹ hiếu chiến. Nhiều người Mỹ ủng hộ MTGP về cả vật chất và tinh thần. Nhân dân lao động Mỹ hoàn toàn ủng hộ MTGP, được thể hiện qua các cuộc xuống đường phản chiến.
*
5. Nhiều tổ chức Mỹ cũng ủng hộ MTGP: Phong trào 2/5, CLB Dubois, Phong trào Cựu binh, phong trào trong ĐH Michigan... Họ gửi vật chất, hiến máu... giúp MTGP.
*
6. Johnson đã hứa sẽ kết thúc chiến tranh khi đắc cử tổng thống [1964], nhưng không giữ lời, nên đã bị mất tín nhiệm trong nước Mỹ. Nếu Johnson tái cử năm 1968, chiến tranh sẽ khó kết thúc vì đó là "kẻ hiếu chiến". Hơn 50% dân Mỹ không ủng hộ chiến tranh xâm lược. Vì vậy sẽ có cơ hội để tổng thống KHÁC lên để tìm cách kết thúc chiến tranh.
*
7. MTGP sẽ KHÔNG đàm phán với bất kỳ tổng thống Mỹ nào, cho đến khi ông ta hiểu ra "tình hình thực tế tại VN". Tình hình thực tế là [Mỹ] sẽ KHÔNG THỂ thắng bằng quân sự. Hiện giờ hai bên đang cân bằng về quân sự. Nhưng MTGP đang thắng về chính trị vì đó là cuộc chiến chính nghĩa được nhân dân ủng hộ. Nhân dân thế giới ủng hộ, thậm chí người Việt làm việc cho Mỹ cũng ngả theo MTGP về mặt tinh thần. Nếu chính phủ Mỹ không chịu nhận ra rằng không thể thắng bằng quân sự, thì chiến tranh sẽ kéo dài thêm 5-10 năm nữa. MTGP sẽ chiến đấu đến cùng, như Việt Minh đã từng thắng Pháp dù không có vũ khí hiện đại.
*
8. Lợi thế chính của MTGP là niềm tin của nhân dân. Viện trợ của các nước chỉ có ý nghĩa hỗ trợ. Dù viện trợ có bị cắt đứt, MTGP sẽ tiếp tục chiến đấu vì được nhân dân ủng hộ. MTGP đang gặp khó khăn về vũ khí đạn dược vì đường vận tải bị CHẶN quyết liệt tại vĩ tuyến 17. MTGP sẽ vượt qua khó khăn này bằng việc đoạt lấy vũ khí đạn dược của đối phương.
*
9. MTGP cũng KHÔNG THỂ thắng Mỹ về quân sự vì Mỹ là siêu cường hùng mạnh trong khi VN quá nhỏ bé. Nhưng Mỹ sẽ thua nếu chiến tranh kéo dài, vì MTGP ngày càng được thế giới ủng hộ. Cùng lúc, MTGP sẽ tiếp tục đạt được những chiến thắng quân sự, tiếp tục đà của các năm 1966-1967./.
-----
P/s:
Ngày nay nhìn lại, sẽ thấy lời khai trên bình thường, vì không khác gì trong sách báo. Nhưng 25/1/1968 thì lời khai này khá 'độc' đối với CIA, vì trong báo cáo cấp cao CHỈ 1 tuần trước đó (18/1/1968), CIA đã không thể đoán ra Hà Nội định làm gì (lạc quan đánh đến cùng, bi quan dừng đánh, hay tùy tình hình rồi sẽ quyết định).
*
Nếu đúng là lời khai trên thể hiện quan điểm của MTGP, thì vài điểm đáng chú ý là:
° MTGP khá thực tế, không có ảo tưởng thắng Mỹ về mặt quân sự, nhưng luôn tự tin vào lợi thế chính trị của mình là sự ủng hộ của nhân dân trong và ngoài nước.
° Tình hình sau Mậu Thân quả nhiên có nhiều chuyển biến tích cực như MTGP mong muốn (nhìn lại các điểm 6,7,8,9): Mỹ giờ đã biết không thể thắng bằng quân sự nên chịu đàm phán vô điều kiện; Mỹ có tổng thống mới tích cực hơn trong việc tìm đường thoát khỏi chiến tranh; phong trào phản chiến lên cao ngay tại Mỹ và trên thế giới; nút chặn vận tải tại vĩ tuyến 17 được giải tỏa đáng kể.
° Dự báo về thời gian kết thúc chiến tranh (5- 10 năm) cũng khá thú vị.
*
Sau Mậu Thân, MTGP gặp rất nhiều khó khăn khi để mất phần lớn diện tích kiểm soát so với trước năm 1968. Nhưng như chính CIA cũng đã nhận định ngay trong những năm chiến tranh: chìa khóa của cuộc chiến là chính trị hơn là quân sự, và quyết tâm chiến đấu đến cùng của MTGP bất chấp những khó khăn là không thể nghi ngờ đúng như họ vẫn tuyên bố.
-----
-----
Ảnh: ĐSQ Mỹ bị tấn công- đỉnh cao về 'chiến thắng chính trị' của MTGP
ĐT
Có thể là hình ảnh về 2 người, ngoài trời và văn bản cho biết 'Newswe HANO ON THE FEBRUARY 12, 1968 50c ATTACK MA G1 S Routing Viet Còng From Saigon Embassy'

LINH MỤC HAY QUỸ DỮ


Dưới sự kích động của linh mục Nguyễn Đình Thục, một số giáo dân cực đoan đã cố tình phá rối an ninh trật tự, nằm ăn vạ để ngăn cản chính quyền dẹp con đường dân sinh tự phát tại một xã thuộc Nghi Lộc.
Chính quyền đã xây dựng một con đường khác rộng 6,5m, dài 770m, to đẹp hơn cho người dân đi nhưng dưới sự kích động của Nguyễn Đình Thục giáo dân vẫn phải đối. Việc dẹp con đường dân sinh để là làm khu công nghiệp, tạo việc làm cho bà con huyện Nghi Lộc, phát triển kinh tế vùng miền, giúp bà con thoát nghèo vì phần lớn dân ở đây rất nghèo khó, không có việc làm ổn định. Phải chăng linh mục Thục muốn giáo dân ở nơi đây mãi nghèo, mãi khổ chăng?
Chứng kiến hình ảnh những chiến sĩ cảnh sát cơ động, nằm gục khi bị những "giáo dân" ở Nghi Lộc tấn công mà thấy thật xót xa! Hình ảnh này lại làm chúng ta nhớ về vụ việc ở Đồng Tâm đầu năm 2020, hay bạo loạn ở Bình Thuận năm 2018.
Núp dưới tấm áo linh mục, giao du, Nguyễn Đình Thục móc nối với các tổ chức phản động, khủng bố như Việt Tân để tìm cách xúi dục giáo dân làm loạn, vi phạm pháp luật, gây bất ổn tại bất cứ nơi đâu hắn đến làm "mục vụ". Dư luận nhân dân đã phẫn nộ gọi Thục là "Quạ đen" là Quỷ Satan. Dưới bàn tay tác quái của Thục, nhiều miền quê thanh bình trở thành điểm nóng về an ninh trật tự; nhiều "giáo dân" thuần thành, chất phác trở thành tội phạm, vướng vào lao lý!
Dẫu biết rằng những kẻ này cũng chỉ là nạn nhân của sự xúi dục, kích động của "quạ đen" Nguyễn Đình Thục nhưng pháp luật thượng tôn, kẻ nào vi phạm pháp luật đều phải bị trừng phạt thích đáng.
Mà nghĩ đi nghĩ lại chỉ thấy những giáo dân bị những bắt, bị xử lý chứ thấy kẻ đầu trùm là Nguyễn Đình Thục vẫn nhởn nhơ, vẫn câu kết với những kẻ chống đối, phản động để phá hoại quê hương, đất nước.
St