Thứ Tư, 13 tháng 7, 2022

ĐẤU TRANH, BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SUY DIỄN QUAN ĐIỂM VIỆT NAM CẦN “LIÊN MINH QUÂN SỰ” “Không liên minh quân sự” là quan điểm và chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, kích động cho rằng đó là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi. Thực chất đây là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta. Họ cho rằng “Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”. Theo họ: Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là nguy cấp, vì sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”; vì vậy, Việt Nam cần liên minh quân sự với một nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh thì sẽ được hỗ trợ tối đa về mọi mặt để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Rồi họ kết luận, chính sách “không liên minh quân sự” chẳng những không giữ được đất nước trước xâm lược, mà cũng không giữ nổi chế độ, nó còn làm Đảng ta “mất cả chì lẫn chài” (ám chỉ Đảng ta sẽ mất cả quyền lãnh đạo). Thậm chí, họ không ngại chỉ ra rằng: “Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ sớm ngày nào thì nguy cơ tiếp tục mất đảo, mất quyền chủ quyền trên Biển Đông cũng như nguy cơ hứng chịu một cuộc chiến tranh trên biển lẫn đất liền bị đẩy lùi sớm ngày ấy” (!?). Những lý lẽ trên là hoàn toàn không phù hợp với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chúng ta có thể phân tích vấn đề này trên những khía cạnh sau đây: Thứ nhất, chủ quyền quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao không thể phó thác cho bên ngoài, dù đó là ai. Vì vậy, vấn đề độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thể phó thác cho bất cứ ai, mà phải do người Việt Nam tự quyết định. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”1. Thứ hai, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh. Thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy, không phải cứ liên minh với một cường quốc quân sự là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước trong liên minh, nhất là đối với các nước nhỏ. Cũng như hầu hết các quốc gia, các cường quốc đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc của họ và vì lợi ích “đại cục” mà họ theo đuổi, họ sẽ xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và triết lý ưu tiên lợi ích “trước hết”, “trên hết”, “cốt lõi” của họ. Trong nhiều trường hợp như vậy, không ít đồng minh của các cường quốc đã phải “lãnh đủ” hậu quả: từ sự “lạnh nhạt”, “ngó lơ”, “làm ngơ” đến “bỏ rơi”, thậm chí “phản bội” đồng minh để bắt tay với kẻ thù của cường quốc đồng minh. Điều này cho thấy một thực tế lịch sử, trên thế giới chưa bao giờ một nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác. Thứ ba, không phải vì sức mạnh quốc phòng của ta “quá yếu” và “lạc hậu” nên phải liên minh quân sự với nước ngoài. Nếu cho rằng chỉ vì ta yếu và lạc hậu mới cần đến liên minh vậy khi ta mạnh và hiện đại có cần liên minh không? Vì thực tế cho thấy, không ít trường hợp nước lớn vẫn chủ động liên minh với nước nhỏ đấy thôi, và cũng có trường hợp nước nhỏ khước từ liên minh với nước lớn. Mặt khác, sức mạnh quân sự của một quốc gia không chỉ đánh giá bằng sức mạnh quân sự thuần túy, mà bao giờ cũng được đặt trong mối quan hệ với sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó. Như vậy, trên bình diện sức mạnh quân sự, cũng như trên bình diện sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sức mạnh của Việt Nam không phải là “quá yếu” và “lạc hậu” như những kẻ ác ý, hay yếu bóng vía rêu rao. Trái lại, chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định và tin tưởng vào sức mạnh của đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, mà không nhất thiết phải liên minh quân sự với nước ngoài. Thứ bốn, thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường; và thực hiện thắng lợi đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ đối ngoại. Từ thực tiễn đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”. Tóm lại, chủ trương không tham gia liên minh quân sự là đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Thực hiện chủ trương này là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Hiện nay quan hệ ngoại giao của Nhà nước Việt Nam đã “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng của Việt Nam ngày càng rộng mở với hầu hết các quốc gia thuộc cả 05 châu lục, đặc biệt Việt Nam có quan hệ quốc phòng với tất cả 05 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam luôn nhất quán và kiên trì thực hiện những quan điểm về đường lối đối ngoại của mình, bảo đảm vừa tuân thủ các nguyên tắc vừa khéo léo, linh hoạt, đảm bảo lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc. Nhờ đó, đã góp phần khẳng định vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế trên là minh chứng sống động, chân thực đập tan những luận điệu xuyên tạc, suy diễn của các thế lực thù địch lợi dụng cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine để chống phá cách mạng Việt Nam.
ĐẤU TRANH VỚI THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta, phù hợp với xu thế của thời đại. Cơ đồ, vị thế của nước ta, cuộc sống ngày càng sung sướng, tự do, hạnh phúc của đồng bào ta đã chứng minh bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã, đang xây dựng. Tuy nhiên, trong xã hội vẫn còn những biểu hiện tiêu cực, tệ nạn xã hội gây bức xúc trong dư luận. Các thế lực thù địch, phản động, bọn trở cờ, thoái hóa biến chất, cơ hội chính trị, “dân chủ cuội”, “trí thức rởm” luôn lợi dụng vấn đề này để công kích, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, gây tư tưởng hoài nghi, suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vừa qua, một số đối tượng phản động với bài viết đăng trên mạng xã hội “Một xã hội khủng hoảng giá trị, khủng hoảng niềm tin” đã xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; chúng viện dẫn những chứng cứ rời rạc, đơn lẻ, do xã hội “thầy không ra thầy, trò không ra trò”, “nghệ sĩ không ra nghệ sĩ, khán giả không ra khán giả”, “công an, tòa án, chính quyền không làm đúng chức năng nên người dân “tự xử”” nên “… chứng tỏ mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn giữa nhà cầm quyền và nhân dân ngày càng sâu sắc. Nó cũng nói lên sự bất lực của bộ máy khi không thể giải quyết được những yêu cầu chính đáng của người dân, nói lên bản chất của chế độ: sự quan liêu, xa rời dân, coi thường dân, không lắng nghe, thấu hiểu những nỗi bức xúc của dân”. Thực tế của đất nước ta hiện nay đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu trên. Một là, đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam Khi đất nước bị xâm lược, nguyện vọng của dân ta là đánh đuổi kẻ xâm lăng, giành độc lập dân tộc. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có rất nhiều khuynh hướng, con đường cứu nước của các sĩ phu yêu nước song đều thất bại. Từ khi Đảng ra đời, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng, Bác Hồ đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua bao khó khăn, gian khổ, hy sinh, giành độc lập, thống nhất cho dân tộc, làm nên những thắng lợi vĩ đại, mở ra trang sử vàng vinh quang nhất trong lịch sử dân tộc. Khi Tổ quốc độc lập, non song thu về một mối, nguyện vọng của mỗi con Lạc, cháu Hồng là chung sức, đồng lòng khắc phục hậu quả của chiến tranh, xây dựng đất nước hùng cường, sánh vai với các nước trên thế giới, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, dân vững tin, đoàn kết một lòng nên đã tạo dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như ngày hôm nay. Mọi Cương lĩnh, nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước luôn xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho nhân dân ngày càng thụ hưởng nhiều hơn thành quả của chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì thế, nói chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là “xa rời dân, coi thường dân, không lắng nghe, thấu hiểu những nỗi bức xúc của dân” là xuyên tạc, bịa đặt. Hai là, các vụ việc vi phạm pháp luật đều bị xã hội lên án và bị xử lý nghiêm minh Sự xuyên tạc của các đối tượng phản động càng thể hiện rõ hơn khi chúng cho rằng, những hành động vi phạm pháp luật của một số người đó là dân “tự xử”. Các vụ việc mà chúng đưa ra như: Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng, Đặng Ngọc Viết ở Thái Bình, vụ án giết người, chống người thi hành công vụ ở Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội… là do chính quyền bất lực, không làm đúng chức năng nên dân phải “tự xử”. Những vụ việc này thì dư luận đã rõ, luôn bị xã hội lên án, bị pháp luật trừng trị thích đáng song cũng đầy tính khoan hồng, nhân văn. Những hành vi đó là vi phạm pháp luât, chính những bị cáo cũng nhận thức rõ hành vi của mình, nhận tội “tâm phục, khẩu phục” và đều tỏ ra ăn năn hối cải. Họ vi phạm pháp luật là do thiếu hiểu biết, bị kích động, lừa gạt chứ hoàn toàn không phải do “sự bất lực của bộ máy khi không thể giải quyết được những yêu cầu chính đáng của người dân” như sự bịa đặt trắng trợn. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác, nhận diện và đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay của các thế lực thù địch, phản động./.
Giải pháp đấu tranh ngăn ngừa chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa dân túy trên thế giới đã trở thành trào lưu điển hình chi phối đời sống chính trị - xã hội ở nhiều nước, nhưng ở Việt Nam mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động của một số người. Tuy nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh ngăn ngừa kịp thời. Để những biểu hiện đó không phát triển, trở thành “vi rút độc” gây ô nhiễm đời sống chính trị đất nước; những người mang nó không chuyển hẳn sang phía bên kia, chống lại Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc và phương pháp luận quan trọng. Để đấu tranh ngăn ngừa, phải thực hiện tổng thể nhiều giải pháp, trước hết, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau: Một là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận diện đúng những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay; thấy rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của nó đến đời sống tinh thần xã hội, đến nền tảng tư tưởng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy đảng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, v.v. Qua đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những “tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái”1. Trên cơ sở đó, tạo sự vững vàng và nhạy bén về chính trị; sự “miễn dịch” cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” và khả năng đấu tranh ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và tác động của những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. Theo đó, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến chi bộ về đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, hiệu quả hơn theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quan tâm hơn nữa đến vấn đề đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy; khắc phục mọi biểu hiện xem nhẹ, buông lỏng vấn đề này; bổ sung, hoàn thiện chủ trương, quan điểm nhằm tăng hiệu quả đấu tranh. Đồng thời, có cơ chế, chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, triệt tiêu mầm mống nảy sinh, phát triển suy thoái, tham nhũng và tiêu cực; phát hiện từ sớm, từ đầu những biểu hiện dân túy, gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, “phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”2. Khắc phục mọi biểu hiện hình thức, cá nhân chủ nghĩa, “mị dân”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”. Ba là, chủ động đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với đấu tranh khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đây vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản, vừa là biện pháp quan trọng trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay. Theo đó, các cấp ủy đảng cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội”3, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phê phán mạnh mẽ tính chất mị dân, lừa phỉnh của những người có biểu hiện dân túy, gắn với việc làm rõ quan điểm lấy dân làm gốc, tất cả vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân của Đảng. Thực hiện tốt phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”, để phê phán những biểu hiện chủ nghĩa dân túy và phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Bốn là, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt, tạo cơ sở ngăn ngừa, loại trừ những biểu hiện chủ nghĩa dân túy từ cơ sở. Cấp ủy các cấp cần nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng; duy trì nghiêm quy định, quy chế phát ngôn; kiên quyết phòng, chống mọi biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán quan điểm dân túy, kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ. Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, kiên định, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. TMT 11.7

CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG, TƯ DUY MỚI VÀ NỘI DUNG CĂN CỐT

 

Ngày 25 tháng 7 năm 2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng (gọi tắt là Nghị quyết 29-NQ/TW). Chiến lược có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh lịch sử mới.
Trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Đảng ta xác định mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, giải pháp và quan điểm chỉ đạo về xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng, bảo đảm phát triển không gian mạng an toàn, lành mạnh, rộng khắp, đồng bộ và toàn diện, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy; giữ vững môi trường không gian mạng hòa bình, ổn định, phục vụ hiệu quả công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
Để phát huy vai trò, sức mạnh, lợi thế và bảo vệ vững chắc không gian mạng, Đảng ta yêu cầu các ban, bộ, ngành, địa phương chiểu theo chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện hiệu quả Chiến lược, tập trung vào những nội dung cơ bản sau:
(1) Dự báo chính xác và nắm chắc diễn biến tình hình thế giới, khu vực và trong nước; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt và triển khai thực hiện thắng lợi Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.
Nắm vững và cụ thể hóa các nội dung của Chiến lược gắn với đặc điểm tình hình, lĩnh vực phụ trách của các ban, bộ, ngành, địa phương là rất cần thiết. Qua đó, các ban, bộ, ngành, địa phương cập nhật thông tin, bổ sung những vấn đề mới, kịp thời định hướng tuyên truyền trên không gian mạng nhằm tạo sức đề kháng và môi trường thông tin thống nhất trong hệ thống chính trị.
Nâng cao nhận thức cho nhân dân về chủ quyền quốc gia và nguy cơ bị xâm lược, vi phạm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và cách ứng phó, phòng chống hiệu quả. Thường xuyên cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của an ninh mạng, giúp mọi người hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Đưa các nội dung cơ bản của Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng vào chương trình, nội dung giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới.
(2) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, trách nhiệm của người đứng đầu đối với nhiệm vụ kiểm soát, quản lý và bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.
Các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đề xuất bổ sung, điều chỉnh nội dung Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng khi cần thiết. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và các lĩnh vực liên quan. Kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng và các tình huống quốc phòng trên không gian mạng. Sắp xếp, kiện toàn các cơ quan quản lý công nghệ thông tin, thông tin và truyền thông tại các ban, bộ, ngành, địa phương theo hướng tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới về phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin và bảo đảm an toàn thông tin mạng …Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận, hoàn thiện phương thức, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.
(3) Tập trung xây dưng, phát triển không gian mạng an toàn, vững mạnh, rộng khắp, tạo nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao tiềm lực quốc phòng, an ninh để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.
Tiếp tục triển khai, hoàn thiện và khai thác hiệu quả chương trình Chính phủ điện tử; phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng cố định, di động; phát triển ứng dựng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và viễn thông; kết nối số của quốc gia hiện đại, đồng bộ, an toàn, an ninh mạng và liên thông từ Trung ương đến cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng, phát triển nhiều dịch vụ tiện ích, hấp dẫn, lành mạnh về thông tin và giải trí trên không gian mạng để thu hút người sử dụng, góp phần chủ động trong đấu tranh thông tin, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Tăng cường kiểm soát, quản lý và tổ chức triển khai phương án bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và tác chiến trên không gian mạng theo chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với thông lệ quốc tế. Nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ chủ chốt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho phát triển và bảo vệ không gian mạng quốc gia. Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về an ninh mạng và tác chiến không gian mạng.
(4) Nâng cao năng lực phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
Xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến thẳng lên hiện đại. Tập trung kiện toàn tổ chức, biên chế, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị chức năng, chuyên môn, nghiệp vụ và lực lượng tác chiến không gian mạng theo hướng tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu quả, làm nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo sớm, sát đúng, đầy đủ các tình huống có thể xảy ra trên không gian mạng, không để bị động, bất ngờ.
Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên không gian mạng thông qua việc khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tạo cơ chế, môi trường thuận lợi để huy động, tập hợp lực lượng có trình độ chuyên môn, các chuyên gia công nghệ thông tin, viễn thông trong lĩnh vực và nguồn lực sáng tạo trong các tầng lớp nhân dân nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Xây dựng một số tổ chức mới cần thiết; mua sắm, chế tạo các phương tiện, đề xuất các phương án đấu tranh phòng, chống các hoạt động sử dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động can thiệp quân sự, lật đổ; các hoạt động có yếu tố vũ trang trong các vụ kích động, tổ chức biểu tình, bạo loạn chính trị. Chú trọng ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ và khéo sử dụng đội ngũ chuyên gia giỏi để xây dựng tiềm lực quốc phòng trên không gian mạng. Nghiên cứu, phát triển khoa học nghệ thuật quân sự về tác chiến không gian mạng, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.
(5) Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin, tuyên truyền trên không gian mạng, góp phần tạo nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, tạo động lực phát triển bền vững đất nước.
Nghiên cứu, xây dựng và vận hành có hiệu quả các hệ thống sàng lọc, giám sát và chủ động thông tin trên không gian mạng nhằm giám sát, phát hiện, cảnh báo và ngăn chặn kịp thời các hoạt động của đối phương tiến hành chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng để chống phá Nhà nước ta trên mặt trận thông tin. Tăng cường quản lý Nhà nước về an ninh mạng đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, các loại hình thông tin, truyền thông trên không gian mạng. Nghiên cứu, vận hành các hệ thống cảnh báo, chặn lọc các thông tin chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trên không gian mạng. Đấu tranh với các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Tăng cường triển khai các hoạt động trên không gian mạng tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để tuyên truyền, giáo dục về truyền thống, lịch sử, văn hóa dân tộc, xây dựng con người Việt. Ngăn chặn xâm lăng văn hóa, xâm nhâp các sản phẩm văn hóa xấu, độc đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
(6) Phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và bảo đảm nguồn lực cho bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.
Thực hiện hiệu quả các chương trình, đề án đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng chiến đấu trên không gian mạng. Nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung các nội dung, chương trình, quy trình đào tạo cán bộ, nhân viên tác chiến không gian mạng trong các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội, công an. Đẩy mạnh nghiên cứu, làm chủ và tiến tới tự sản xuất các trang thiết bị hiện đại và tác chiến không gian mạng. Xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, chức danh về thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin, bảo đảm an toàn thông tin và các lĩnh vực liên quan đến không gian mạng phù hợp với lộ trình và tiến tới tương thích với chuẩn quốc tế. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và làm chủ công nghệ thông tin mới; tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, phát triển, sản xuất các sản phẩm của Việt Nam trên không gian mạng.
(7) Tăng cường hợp tác quốc tế bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên không gian mạng.
Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong bảo vệ an ninh mạng, phòng, chống tội phạm mạng; đào tạo nguồn nhân lực, tiếp thu, chuyển giao công nghệ mới và kinh nghiệm bảo vệ an ninh mạng. Tham gia xây dựng các các công ước, thỏa thuận quốc tế về không gian mạng, an ninh mạng, tội phạm mạng và bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Đẩy mạnh hợp tác, học tập kinh nghiệm quốc tế và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế; thu hút đầu tư, tài trợ quốc tế trong việc xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, rộng khắp và bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng.
Trên cơ sở nội dung chủ yếu của Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, các ban, bộ, ngành, địa phương, lực lượng tác chiến không gian mạng theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền, xây dựng kế hoạch, chương trình hành động và các giải pháp thực hiện Chiến lược phù hợp với đặc điểm tình hình đơn vị. Định kỳ hằng năm báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất bổ sung nội dung mới về cơ quan thường trực để báo cáo các cấp có thẩm quyền./.
Nhân Văn
Có thể là hình ảnh về 3 người, màn hình và trong nhà
Thích
Bình luận
Chia sẻ

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG


Ngày 13-7, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 tổ chức Hội nghị lần thứ tư. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương chủ trì hội nghị.
Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch nước, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Phạm Minh Chính, Thủ tướng Chính phủ, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng: Trương Thị Mai, Trưởng ban Tổ chức Trung ương; Trần Cẩm Tú, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Phan Đình Trạc, Trưởng ban Nội Chính Trung ương.
Tham dự có đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế Trung ương. Các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Nguyễn Trọng Nghĩa, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Bùi Thị Minh Hoài, Trưởng ban Dân vận Trung ương; Lê Minh Hưng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Võ Minh Lương.
Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các cơ quan Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.
Hội nghị tiến hành đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2022.MT

Nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam trong ASEAN.

  - Sau gần ba thập niên gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam đã trở thành một trong những thành viên quan trọng của tổ chức này. Các cơ chế của ASEAN đã tạo điều kiện để Việt Nam thể hiện vai trò và nâng cao vị thế quốc tế của mình. Đặc biệt, đại dịch COVID-19 đang gây ra những biến động to lớn ở bình diện khu vực và thế giới, song cũng tạo ra những cơ hội để Việt Nam thể hiện vai trò  mang tính quyết định trong ASEAN.

Sự tham gia của Việt Nam trong ASEAN giai đoạn trước đại dịch COVID-19

Kể từ khi gia nhập ASEAN (năm 1995), nhất là sau khi Cộng đồng ASEAN được thành lập (năm 2015), “phát huy vai trò trong ASEAN” đã trở thành một trong những đường lối đối ngoại quan trọng của Việt Nam. Đặc biệt, Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030” đã đề ra mục tiêu cho công tác đối ngoại đa phương thời gian tới, đó là “nỗ lực vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt hoặc hòa giải tại các diễn đàn, tổ chức đa phương có tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước”(1). Chỉ thị chỉ rõ, ASEAN nằm trong tầng nấc ưu tiên đối ngoại đa phương của Việt Nam, bên cạnh Liên hợp quốc.

Lực lượng tiêu binh thực hiện nghi thức thượng cờ nhân kỷ niệm 53 năm Ngày thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN (8-8-1967 - 8-8-2020) và 25 năm Ngày Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN (28-7-1995 - 28-7-2020) _Ảnh: Tư liệu

Trong gần 30 năm gia nhập ASEAN, Việt Nam đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển của tổ chức này. Sự tham gia của Việt Nam góp phần mở rộng ASEAN với việc Lào và Campuchia gia nhập Hiệp hội, đưa ASEAN thực sự trở thành đại diện cho khu vực Đông Nam Á trên trường quốc tế. Ngay sau đó, Việt Nam thể hiện vai trò kết nối thông qua việc đưa nhóm các nền kinh tế kém phát triển trong ASEAN như CLMV (bao gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) vào sự phát triển chung của cả khối thông qua Kế hoạch Hành động Hà Nội (năm 1997) và Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát triển (năm 2001). Việt Nam cũng góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy ký kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), phối hợp cùng các quốc gia cho ra đời Hiến chương ASEAN; đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch Ủy ban Thường trực ASEAN (năm 2001) và Chủ tịch ASEAN (năm 2010) với nhiều dấu ấn tích cực. Việt Nam đã đưa ra nhiều sáng kiến nhằm thúc đẩy tăng cường liên kết nội và ngoại khối, như thành lập cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) năm 2010, các cơ chế ASEAN+, mở rộng Hội nghị cấp cao Đông Á với sự tham gia của Nga và Mỹ (năm 2010), thành lập Cộng đồng ASEAN (năm 2015). Những nỗ lực này đã giúp tăng cường vị thế quốc tế của ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng, đem lại những lợi ích to lớn đối với Việt Nam trên các khía cạnh an ninh - chính trị và vị thế quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi giúp Việt Nam xử lý các thách thức trong khu vực và trên thế giới.

Có thể thấy, ngay từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam luôn thể hiện vai trò tích cực và có trách nhiệm của mình, giúp mở rộng và tăng cường tính cố kết trong ASEAN cũng như thúc đẩy khả năng của ASEAN trên mọi lĩnh vực. Bên cạnh đó, Việt Nam không ngừng cải thiện, nâng cao năng lực cũng như uy tín và tiếng nói của mình trên trường quốc tế thông qua các hình thức hội nhập quốc tế, như tham gia các tổ chức quốc tế, các diễn đàn đa phương khu vực, liên khu vực và toàn cầu, đăng cai tổ chức các sự kiện quốc tế quan trọng, trúng cử vào các vị trí quan trọng của các cơ chế quốc tế..., góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trong ASEAN và tạo điều kiện để Việt Nam có cơ hội đóng góp nhiều hơn cho ASEAN. Tất cả những điều này chính là cơ sở quan trọng để Việt Nam có thể đảm nhiệm vai trò dẫn dắt trong ASEAN.

Một trong những mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của Việt Nam khi tham gia ASEAN là mong muốn duy trì một môi trường an ninh hòa bình, ổn định tại khu vực. Tuy nhiên, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn thời gian qua tại khu vực đã và đang tác động không nhỏ tới vai trò trung tâm của ASEAN cũng như tác động tới vai trò dẫn dắt của Việt Nam. Bên cạnh đó, việc bảo đảm hòa bình, an ninh tại Biển Đông và thúc đẩy hoàn tất đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) đều có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam, song việc đàm phán này hiện gặp nhiều khó khăn do sự bất đồng giữa các bên liên quan trên nhiều vấn đề (2). Vì vậy, để có thể gắn kết quan điểm của các nước ASEAN, Việt Nam cần nỗ lực đóng vai trò trong quá trình đàm phán COC. Đây sẽ là tiền đề để Việt Nam tiếp tục nâng cao vị thế và tiếng nói của mình trong quá trình xử lý các vấn đề quốc tế.

Cơ hội nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tình hình thế giới, khu vực

Ở cấp độ toàn cầu, thế giới đã và đang chịu những tác động sâu sắc từ đại dịch COVID-19 trên mọi khía cạnh. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu đã sụt giảm gần 3,6% (khoảng 2,9 nghìn tỷ USD) trong năm 2020 với ghi nhận mức tăng trưởng âm của hầu hết các quốc gia (3). Mặc dù kinh tế thế giới bắt đầu có dấu hiệu hồi phục nhưng với sự trở lại của các làn sóng COVID-19 với các biến thể virus mới, tổng quy mô nền kinh tế thế giới dự kiến vẫn sẽ thấp hơn khoảng 3,2% so với dự báo trước đại dịch COVID-19(4)Sự suy thoái kinh tế trong hai năm qua chủ yếu do các biện pháp phong tỏa của nhiều quốc gia nhằm ứng phó với sự lây lan của dịch bệnh COVID-19 và bởi sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu. Hệ quả tồi tệ nhất mà đại dịch COVID-19 gây ra đó là khiến hơn 540 triệu người trên thế giới nhiễm bệnh và cướp đi sinh mạng của hơn 6,3 triệu người. 

Bên cạnh đó, đại dịch COVID-19 cũng tác động nặng nề tới đời sống chính trị quốc tế, trong đó nổi bật nhất là làm trầm trọng thêm mối quan hệ vốn căng thẳng giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc. Cả Mỹ và Trung Quốc luôn duy trì triển khai các động thái tập hợp lực lượng riêng, khiến thế giới đứng trước nguy cơ chia rẽ và đe dọa tới hệ thống quản trị toàn cầu hiện hành. Trong khi đó, những biến động căng thẳng trong quan hệ giữa Nga và phương Tây xung quanh cuộc chiến Nga - Ukraine hiện đã gây ra những tác động sâu sắc đến đời sống quan hệ quốc tế. Cuộc chiến đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, làm gia tăng giá cả nhiên liệu do các lệnh trừng phạt lẫn nhau từ cả hai phía Nga và các nước phương Tây. Ngoài ra, cuộc xung đột cũng tác động đến giá lương thực, gây ra nạn đói tại nhiều khu vực do Nga và Ukraine là hai quốc gia xuất khẩu hàng đầu trên thế giới các mặt hàng ngũ cốc. Bên cạnh đó, cuộc chiến Nga - Ukraine cũng gây mất ổn định và an ninh toàn cầu, tạo ra sức ép đối với các nước, đặc biệt là những quốc gia vừa và nhỏ như các nước Đông Nam Á trong việc xác định lập trường và xử lý khéo léo các mối quan hệ xung quanh cuộc chiến này.

Ở cấp độ khu vực, ASEAN cũng phải chịu những tác động nặng nề từ đại dịch COVID-19. Trong năm 2021, nhiều quốc gia ASEAN đã trở thành điểm nóng với hàng trăm nghìn ca nhiễm bệnh và tử vong được ghi nhận mỗi ngày, trong khi quy mô nền kinh tế suy giảm nghiêm trọng từ năm 2020. Gần như mọi quan tâm của các nước ASEAN giai đoạn này đều xoay quanh vấn đề giải quyết các thách thức do tác động của đại dịch COVID-19.

Cơ hội đối với Việt Nam

Đối với Việt Nam, những tác động tiêu cực do đại dịch COVID-19 mang đến là điều không tránh khỏi, như kinh tế suy giảm, thiệt hại về người và của, sự đứt gãy, gián đoạn các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội... Hiện nay, Việt Nam đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế nhằm tạo động lực phát triển bên trong; tuy nhiên, sự gián đoạn của chuỗi tương tác toàn cầu đã trở thành một thách thức vô cùng to lớn đối với Việt Nam.

Trong bức tranh ảm đạm của toàn cầu và khu vực do tác động của đại dịch COVID-19, dường như Việt Nam lại có những cơ hội trong việc dẫn dắt các thành viên ASEAN góp phần nâng cao vai trò, vị thế của mình trong Hiệp hội. Năm 2020, Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất tại Đông Nam Á và nằm trong số ít các quốc gia trên thế giới đạt mức tăng trưởng dương. Việt Nam luôn giữ được sự ổn định chính trị, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn. Mô hình chống dịch của Việt Nam được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế ghi nhận bởi sự ổn định về chính trị và xã hội, tinh thần đồng lòng, thống nhất cao độ từ Trung ương tới địa phương.

Hiện nay, tình hình kiểm soát dịch bệnh tại Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Việt Nam thuộc 6 nước có tỷ lệ bao phủ tiêm vaccine cao nhất thế giới, cơ bản kiểm soát được dịch bệnh, bước vào giai đoạn đẩy mạnh phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Có thể nói, việc đạt được hiệu quả trong công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 không chỉ giúp bảo đảm nội lực cho Việt Nam, mà còn giúp duy trì và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước.

Trong thời gian qua, Việt Nam được nhìn nhận như một nhân tố tích cực ở khu vực và thế giới, thể hiện thông qua việc đăng cai tổ chức Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 2017, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần thứ hai (năm 2019), tham gia đàm phán, ký kết các thỏa thuận thương mại đa phương lớn, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)... Bên cạnh đó, sự kiện biểu thị rõ nhất cho sự gia tăng uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế chính là Việt Nam trúng cử là ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193).

Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp, với vai trò Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã lựa chọn chủ đề “gắn kết, chủ động và thích ứng”; thúc đẩy nhiều sáng kiến quan trọng, như Quỹ ứng phó đại dịch COVID-19 để tiếp nhận những nguồn hỗ trợ cho hoạt động chống dịch của cả khu vực ASEAN(5); tổ chức nhiều hội nghị cấp cao nhằm đưa ASEAN vượt qua đại dịch. Các hoạt động của ASEAN vẫn diễn ra đều đặn dưới sự chủ trì của Việt Nam, bất kể khoảng cách về địa lý và những bất cập do đại dịch COVID-19 gây ra. Dưới sự dẫn dắt của Việt Nam, phương thức hoạt động mới trong ASEAN - “ngoại giao số” - được thúc đẩy và phát triển mạnh mẽ(6). Có thể thấy rằng, chính trong khó khăn, những nỗ lực và thành tựu mà Việt Nam đạt được lại càng trở nên nổi bật, có nhiều ý nghĩa và được cộng đồng quốc tế ghi nhận sâu sắc.

Đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Việt Nam không những góp phần nâng tầm vị thế của ASEAN mà còn nâng cao hình ảnh đất nước. Một trong những sáng kiến nổi bật của Việt Nam tại Hội đồng Bảo an thời gian qua chính là đề xuất và thúc đẩy thông qua Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh là ngày 27-12 hằng năm, với số lượng nước đồng bảo trợ đạt kỷ lục (112 quốc gia). Ngoài ra, Việt Nam cũng chủ động phối hợp để các văn kiện của Hội đồng Bảo an nhấn mạnh tới vai trò, nỗ lực của ASEAN trong hỗ trợ giải quyết các vấn đề bất ổn của khu vực(7). Bên cạnh đó, Việt Nam đã đề xuất và vận động tổ chức thành công cuộc họp đầu tiên về thúc đẩy hợp tác giữa Liên hợp quốc và ASEAN trong khuôn khổ Hội đồng Bảo an(8). Những kết quả nổi bật này thể hiện trách nhiệm và nỗ lực của Việt Nam đối với ASEAN, nhằm nâng cao vai trò, hình ảnh và tiếng nói của ASEAN ở một diễn đàn lớn như Liên hợp quốc. Đây là những đóng góp to lớn của Việt Nam đối với ASEAN và được các thành viên ASEAN ghi nhận, giúp nâng cao hơn nữa vai trò và uy tín của Việt Nam trong ASEAN.

Không chỉ vậy, Việt Nam cũng đã tận dụng tốt cơ hội ghi đậm dấu ấn thông qua chiến lược “ngoại giao vaccine”. Từ những giai đoạn đầu bùng phát dịch bệnh COVID-19, Việt Nam đã có những viện trợ tích cực về vật tư, thiết bị y tế cho các hoạt động chống dịch của các quốc gia khác trong khu vực cũng như trên thế giới, trong đó có cả các cường quốc như Mỹ và Trung Quốc. Đặc biệt, với một số nước ASEAN, như Lào và Campuchia, ngoài sự viện trợ về vật tư, thiết bị y tế, như máy thở, quần áo bảo hộ, khẩu trang y tế, hệ thống xét nghiệm và bộ xét nghiệm (với trị giá lên tới hơn 7 tỷ đồng), Việt Nam còn cử các đoàn chuyên gia y tế sang hỗ trợ chống dịch (9).

Cơ hội để nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trong khu vực trước hết đến từ bối cảnh khách quan khi hầu hết các quốc gia ASEAN đều chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi đại dịch COVID-19. Điều đó tạo điều kiện để Việt Nam phát huy được các thế mạnh của mình ở khu vực và trở thành điểm sáng nổi bật. Trong ASEAN, vị thế đó không những được thể hiện thông qua các thành tựu về kinh tế, xã hội; khả năng ứng phó với đại dịch; những đóng góp của Việt Nam đối với ASEAN (trong khuôn khổ của ASEAN và trong các khuôn khổ lớn hơn như Liên hợp quốc), mà còn thể hiện thông qua hình ảnh của một quốc gia luôn thiện chí, nhân văn và có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế.

Vị thế của Việt Nam không chỉ được khẳng định trong khu vực mà còn được các cường quốc trên thế giới coi trọng. Việc Mỹ mở Văn phòng đại diện Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) khu vực Đông Nam Á tại Hà Nội là một ví dụ. Giám đốc CDC khu vực Đông Nam Á đã nhận xét: “Chúng tôi nhận thức được vai trò của Việt Nam trong ASEAN”(10). Các quốc gia thành viên ASEAN cũng luôn thể hiện sự ghi nhận đối với những đóng góp của Việt Nam về những vấn đề chung của khu vực và nhấn mạnh vai trò quan trọng của Việt Nam trong ASEAN.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trao đổi với các thành viên đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 38 theo hình thức trực tuyến_Ảnh: VGP

Một số vấn đề đặt ra 

Trong bối cảnh khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, Việt Nam đã và đang phát huy thế mạnh của mình, đồng thời, những nỗ lực và thành quả của Việt Nam đạt được nhờ đó cũng để lại dấu ấn nhiều hơn. Trong giai đoạn ứng phó với đại dịch COVID-19, thế mạnh của Việt Nam được bộc lộ rõ hơn, như sự ổn định và thống nhất về chính trị, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của người dân đã đem lại hiệu quả mạnh mẽ trong nỗ lực phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trong suốt thời gian qua. Những thành quả về kinh tế giúp Việt Nam có thể vừa tiếp tục chống dịch, vừa triển khai các hoạt động hỗ trợ quý báu cho các nước khác trong cộng đồng quốc tế. “Vai trò kép” của Việt Nam tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tại ASEAN trong năm 2020 và năm 2021 đã tạo cơ hội để Việt Nam đề ra các sáng kiến kịp thời, hiệu quả và thiết thực. Tất cả những điều này tạo động lực giúp Việt Nam có thể thúc đẩy một chiến lược rõ ràng hơn để có được vai trò trung tâm trong ASEAN.

Việt Nam cần nỗ lực hoàn tất quá trình tự nghiên cứu, sản xuất vaccine, trước hết là để phục vụ cho chính người dân của mình và xa hơn là có thể tiến hành cung cấp vaccine cho các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Điều này vừa là trách nhiệm của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế, cũng là sự khẳng định của về vai trò và ảnh hưởng của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

Cùng với đó, Việt Nam tiếp tục các nỗ lực phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19. Tái thiết nền kinh tế, tái lập các mối liên kết kinh tế quốc tế vốn bị đứt gãy do dịch bệnh sẽ là ưu tiên lớn của Việt Nam trong thời gian tới. Trong đó, việc ưu tiên thúc đẩy quan hệ kinh tế trong ASEAN, tìm kiếm các biện pháp phối hợp với các nước ASEAN để cùng nhau vượt qua giai đoạn khó khăn sẽ giúp Việt Nam tạo dựng uy tín và vai trò hiệu quả, bởi phần lớn các nước ASEAN đều gặp nhiều khó khăn trong đại dịch và đều có nhu cầu nhận sự hỗ trợ. Thêm vào đó, với sự đa dạng của mạng lưới các hiệp định thương mại tự do, Việt Nam có thể đóng vai trò cầu nối thắt chặt quan hệ kinh tế giữa ASEAN và các thị trường tiềm năng như Liên minh châu Âu (EU). Ngoài ra, một vấn đề được coi là thách thức thường trực đối với Việt Nam đó là tác động từ sự cạnh tranh giữa các nước lớn, đòi hỏi phải có những ứng xử linh hoạt, vừa mềm dẻo, vừa giữ vững nguyên tắc để không ngừng nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Kể từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã có nhiều đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của cả khối, từ đó nâng cao được vị thế và vai trò của đất nước trong tổ chức. Những đóng góp nổi bật của Việt Nam trong nhiều năm qua cùng với thành tựu của đất nước trong giai đoạn hiện nay là động lực giúp Việt Nam có thể tự tin triển khai chính sách đối ngoại hướng tới vai trò ngày càng quan trọng đối với ASEAN trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, con đường này sẽ đầy khó khăn và thử thách. Ngoài việc phải hài hòa lợi ích của các nước thành viên, Việt Nam cũng cần cân nhắc thận trọng lực cản từ bên ngoài để có thể đưa ra những điều chỉnh phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra./.

-----------------------------

(1) Lê Hoài Trung: “Đối ngoại đa phương góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước”, Tạp chí Tuyên giáo điện tử, ngày 8-2-2019, https://tuyengiao.vn/dien-dan/van-de-quan-tam/doi-ngoai-da-phuong-gop-phan-day-manh-hoi-nhap-quoc-te-tang-cuong-suc-manh-tong-hop-cua-dat-nuoc-118777
(2) Carl Thayer: “A Closer Look at the ASEAN-China Single Draft South China Sea Code of Conduct”, ngày 3-8-2018, https://thediplomat.com/2018/08/a-closer-look-at-the-asean-china-single-draft-south-china-sea-code-of-conduct/
(3) Theo số liệu Ngân hàng thế giới,https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.MKTP.KD.ZG
end=2020&most_recent_value_desc=false&start=2020

(4) World Bank: “The Global Economy: on Track for Strong but Uneven Growth as COVID-19 Still Weighs”, ngày 8-6-2021,
https://www.worldbank.org/en/news/feature/2021/06/08/the-global-economy-on-track-for-strong-but-uneven-growth-as-covid-19-still-weighs
(5) Cho đến tháng 8-2021, Quỹ ứng phó đại dịch COVID-19 của ASEAN đã nhận được cam kết hỗ trợ 20,8 triệu USD từ các nước đối tác của ASEAN.
(6) Nguyễn Hùng Sơn: “Ngoại giao số: Xu thế tất yếu”, Báo Thế giới & Việt Nam điện tử, ngày 16-2-2021,  https://baoquocte.vn/ngoai-giao-so-xu-the-tat-yeu-135654.html
(7) Thu Trang: “Việt Nam và Hội đồng Bảo an: Tiếp tục góp tiếng nói có trách nhiệm với các vấn đề thuộc quan tâm chung”, Báo Thế giới & Việt Nam điện tử, ngày 22-4-2021, https://baoquocte.vn/viet-nam-va-hoi-dong-bao-an-tiep-tuc-gop-tieng-noi-co-trach-nhiem-voi-cac-van-de-thuoc-quan-tam-chung-142941.html
(8) Song Minh: “Dấu ấn Việt Nam tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc”, Báo Lao động điện tử, ngày 21-12-2020, https://laodong.vn/the-gioi/dau-an-viet-nam-tai-hoi-dong-bao-an-lien-hop-quoc-864148.ldo
(9) P. Ngọc: “Việt Nam tích cực hỗ trợ các quốc gia phòng, chống dịch bệnh COVID-19”, Báo Dân tộc và Phát triển điện tử, ngày 15-5-2021, https://baodantoc.vn/viet-nam-tich-cuc-ho-tro-cac-quoc-gia-phong-chong-dich-benh-covid-19-1620817340740.htm
(10) Thanh Tâm: “Lý do CDC Mỹ đặt văn phòng khu vực tại Việt Nam”, ngày 27-8-2021, https://vnexpress.net/ly-do-cdc-my-dat-van-phong-khu-vuc-tai-viet-nam-4347219.html