Thứ Năm, 14 tháng 7, 2022

Sự xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay

 


Vừa qua, trên không gian mạng xuất hiện bài viết “Độc tài đẻ ra tham nhũng – không tham nhũng chế độ tiêu vong” của kẻ tự xưng danh “Lực lượng cứu quốc” đã bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đang được cả hệ thống chính trị và nhân dân quyết tâm thực hiện ở nước ta hiện nay.

Thực tế nạn tham nhũng và xử lý tham nhũng là vấn đề lớn của tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong nhiều năm qua, truyền thông các nước đã đề cập và cộng đồng quốc tế đều biết đến việc có rất nhiều quan chức ở các nước trên thế giới, thậm chí là các nguyên thủ quốc gia đã bị truy tố, xử tù vì tội tham nhũng. Cụ thể như cựu tổng thống Pháp N.Sarkogy, cựu tổng thống Indonesia Suharto, cựu tổng thống Argentina C.Fernandez, nữ tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye, … Cũng chính vì  xuất phát từ thực tế đó, Liên hợp quốc đã ban hành những Điều ước quốc tế về phòng, chống tham nhũng, được nhiều quốc gia quan tâm, ủng hộ và tham gia làm thành viên. Thế mà kẻ tự xưng “Lực lượng cứu quốc” lại tuyên bố xanh rờn rằng: ở các quốc gia có thể chế chính trị tam quyền phân lập, dân chủ… không có tham nhũng, hoặc có thì cũng bị phát hiện và xử lý ngay?! Thế thì tại sao các cựu tổng thống vừa nêu ở trên tham nhũng từ lúc còn đương chức, tham nhũng từ nhiều năm trước, đến lúc thôi giữ chức, thành “cựu” tổng thống rồi mới bị tòa án các nước trên xét xử?! Thực tế đó đã bác bỏ nhận định sai lầm, tùy tiện nêu trên của “Lực lượng cứu quốc”.

Việt Nam là thành viên có trách nhiệm, những quy định của Điều ước quốc tế về phòng, chống tham nhũng được Việt Nam thực hiện nghiêm túc, với các nội dung được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự, Luật phòng, chống tham nhũng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Có thể nêu ra ở đây về Điều 92 – Luật Phòng, chống tham nhũng đã quy định: “Người có hành vi tham nhũng giữ bất kỳ chức vụ, vị trí công tác nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác”. Như vậy, pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam là không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”, không có “đặc quyền” đối với bất kể ai, cho dù người đó có giữ chức vụ gì đi chăng nữa. Điều này đã lật tẩy sự bịa đặt, vu khống trơ trẽn của kẻ xưng danh “Lực lượng cứu quốc” rằng: pháp luật chỉ dùng để xử dân đen, không dùng để xử lý cán bộ, đảng viên.

Bên cạnh đó, trong bài viết của kẻ tự xưng danh “Lực lượng cứu quốc” còn xuyên tạc, vu khống rằng: quan cộng sản phạm tội thì có đảng trưởng (ý của Y là nói đến Tổng bí thư) tùy nghi xét xử, không cần dùng đến pháp luật… rằng: ông Nguyễn Phú Trọng ra lệnh cho phán quan Đào Bá Sơn đưa một số quan chức ra xử riêng cho nhẹ tội. Ở đây, ta thấy “Lực lượng cứu quốc” tự phủ nhận lời nói của mình, khi thì phán bừa là quan chức không bị pháp luật xử lý, chỉ bị kỷ luật về đảng, khi lại nói quan chức bị pháp luật xử nhẹ?!

Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp một cách hợp lý. Toà án xét xử dựa trên các quy định của pháp luật, để xem xét, luận tội căn cứ vào các hành vi, chứng cứ phạm tội, “án tại hồ sơ”, chứ không phải “xét xử theo lệnh của Đảng”, hay “đảng trưởng tùy nghi xét xử” như sự bịa đặt, vu khống của kẻ xưng danh “Lực lượng cứu quốc”.

Rõ ràng, sự xuyên tạc, vu khống trắng trợn của kẻ tự xưng danh “Lực lượng cứu quốc” là hoàn toàn sai trái và phản tác dụng, người dân Việt Nam chân chính và cộng đồng tiến bộ trên thế giới luôn đủ nhãn quan chính trị, vốn hiểu biết, nguồn thông tin để thấy rõ bộ mặt phản động, bịa đặt, bôi nhọ, chống phá đất nước của chúng./.

T3.

 

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, độc tôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam

 


Chúng ta biết rằng, vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta chìm trong lầm than nô lệ của thực dân Pháp. Nhiều phong trào yêu nước đã xuất hiện nhưng tất cả đều bị thất bại do thiếu “ánh sáng” soi đường. Trước bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, tiếp thu, truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lê nin, thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây, cách mạng việt Nam đã được “ánh dương” soi sáng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, đưa người dân lao động từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, từ cuộc sống đói nghèo vươn lên ấm no, tự do, hạnh phúc.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Xét trên tất cả các bình diện của đời sống xã hội, với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể khẳng định rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã được ghi rõ trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, được nhân dân thừa nhận và tin theo. Ngoài Đảng CSVN, cách mạng Việt Nam không chấp nhận đảng phái lãnh đạo nào khác.

Như vậy, cái gọi là “Quyết nghị của đại hội Việt Nam Quốc dân đảng” thật là “nực cười” và phản động. Tổ chức đảng này đã vi phạm Hiến chương Liên Hợp quốc, vi phạm Pháp luật của Việt Nam, công khai đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “giải thể chế độ độc tài toàn trị”, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mọi người hãy cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với những quan điểm “ngược dòng” của Việt Nam Quốc dân đảng./.

T3.

 

Việt Nam Quốc dân Đảng “ảo tưởng tương lai” và phản động.

 


Điều đáng chú ý, Ngày 10/6/2022, tại phòng khánh tiết khách sạn Sheraton, thành phố Garden Grove, tiểu bang California, Hoa Kỳ, đảng này đã tổ chức đại hội và xác định mục tiêu, phương hướng trong giai đoạn mới. Thông qua cái gọi là “Quyết nghị Đại hội”, một lần nữa, đảng Việt Quốc đã bộc lộ bản chất phản động, phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân Việt Nam. Mục tiêu của đảng này không vì nước, vì dân mà vì mục đích chính trị thấp hèn, phản động, hận thù dân tộc. Để thực hiện mục tiêu “xấu xa”, đảng này một mặt tiếp tục tập hợp lực lượng là những kẻ phản động, bất mãn với chế độ ta đang lưu vong ở nước ngoài, tạo dựng ngọn cờ… mặt khác cố tình xuyên tạc đường lối quan điểm đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, trắng trợn vu khống và bóp méo sự thật ở Việt Nam, kích động đồng bào ta cả trong và nước ngoài, chờ thời cơ để  “phá bỏ” thành quả cách mạng Việt Nam “đập tan” nền độc lập – tự do – hạnh phúc mà biết bao thế hệ, biết bao người con đất Việt đã phải đánh đổi bằng xương, bằng máu…

T3.

 

Sự biến chất và phản động của Việt Nam Quốc dân Đảng

 


Việt Nam Quốc dân Đảng (gọi tắt là Việt Quốc) là chính đảng được thành lập năm 1927 tại Hà Nội. Dưới sự thống trị và đàn áp của thực dân Pháp với phong trào chống Pháp, Nguyễn Thái Học, một sinh viên trường Cao đẳng Thương mại Hà Nội, cùng một số người Việt yêu nước khác đã bí mật thành lập tổ chức đấu tranh cách mạng nhằm đánh đuổi thực dân giành độc lập và tự do cho dân tộc. Mục tiêu của Đảng là: Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa. Đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ, đặc biệt là các nước lân cận: Ai Lao, Cao Miên. Ngày 10 tháng 2 năm 1930 Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức cuộc tổng khởi nghĩa tại nhiều nơi ở miền Bắc Việt Nam như Yên Bái, Lâm Thao, Hưng Hóa, Hà Nội, Đáp Cầu, Phả Lại, Kiến An, Phụ Dực, Vĩnh Bảo, Thái Bình,…

Tuy nhiên, do tin tức bị lộ, nên cuộc tổng khởi nghĩa chỉ xảy ở Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Phụ Dực, Vĩnh Bảo. Mặt khác, do thiếu vũ khí và phương tiện liên lạc yếu kém, nên lực lượng khởi nghĩa không cố thủ được lâu dài ở các nơi họ đã đánh chiếm. Ngày 20 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thái Học bị bắt, ngày 17 tháng 6 năm 1930 tại pháp trường Yên Bái, Nguyễn Thái Học cùng 12 người khác bị Pháp chém đầu.

Sau khi Nguyễn Thái Học mất, Đảng Việt Quốc đã phân thành nhiều nhóm với những mục tiêu chính trị khác nhau. Đặc biệt, giai đoạn 1947 – 1954, Đảng này đã bắt tay hợp tác với Pháp và sau này tham gia trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc và nguyên vọng của nhân dân. Sau năm 1975, tại Việt Nam, tổ chức này bị cấm hoạt động, hầu như chỉ hoạt động bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.

T3.

 

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2022

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN…!

 “Vào Đảng, vào Đoàn không phải để làm “quan” cách mạng, hay là để nói chính trị suông. Tất cả đảng viên và đoàn viên phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành các chính sách của Đảng và Chính phủ”.

Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Nói chuyện tại hội nghị sản xuất tỉnh Sơn Tây” (nay thuộc thành phố Hà Nội), ngày 08 tháng 7 năm 1958. Đây là thời kỳ đầu sau khi miền Bắc tiến hành cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã, khôi phục sản xuất và khắc phục hậu quả chiến tranh. Người muốn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên tỉnh Sơn Tây nói riêng, cả nước nói chung về trách nhiệm và quyết tâm trong lãnh đạo phát triển sản xuất; cần phải gương mẫu, tích cực, chủ động, sáng tạo, nói đi đôi với làm, triệt để tham gia vào tổ đổi công, bằng những việc làm cụ thể để “làm đầu tàu lôi cuốn quần chúng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm” nhằm khắc phục những yếu kém trong sản xuất ở vụ trước để vụ sau giành kết quả cao hơn. Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải thực sự là những người tiền phong, gương mẫu trong thực hành các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, có phong cách làm việc cụ thể, tỉ mỉ, sâu sát quần chúng, biết làm gương và hướng quần chúng vào thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ nhất định.

Lời dạy của Người đã động viên, khích lệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên trong cả nước đề cao trách nhiệm chính trị, tích cực hăng hái tham gia vào các tổ chức ở địa phương, đơn vị, thực sự là nòng cốt thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ của địa phương và cơ quan, đơn vị. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự làm gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, đến năm 1960 đời sống của nhân dân miền Bắc đã từng bước ổn định, ý thức chính trị được nâng cao, kinh tế được khôi phục, văn hóa, giáo dục, y tế ngày càng phát triển.

Quán triệt, thực hiện lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên phụ nữ trong quân đội hiện nay phải luôn gương mẫu đi đầu trong chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, các cuộc vận động của các cấp, các ngành. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những biểu hiện quan liêu, xa dân, vi phạm dân chủ, nói không đi đôi với làm. Cán bộ, đảng viên, nhất là các đồng chí cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu, thực hiện miệng nói tay làm, làm tốt, làm có hiệu quả cao, gương mẫu trong học tập, công tác và trong sinh hoạt, xông pha trong mọi nhiệm vụ nhất là những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ để làm gương cho bộ đội noi theo. St

 

Tuyên truyền và cách tuyên truyền…!

 “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại. Muốn thành công, phải biết cách tuyên truyền”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, đăng trên Báo Sự thật, số 79, từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 09 tháng 7 năm 1947. Đây là giai đoạn đầu thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược, đòi hỏi Đảng ta phải tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ, nâng cao nhận thức của toàn dân về mục đích, tính chất, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến. Trên cơ sở đó, xây dựng ý chí quyết tâm, củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vào sự tất thắng của công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đây cũng chính là phương châm, phương hướng phấn đấu, rèn luyện đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chuyên trách làm công tác tuyên truyền, công tác dân vận; là một phong cách mới trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng của Đảng ta nói chung, của mỗi cán bộ, đảng viên và người làm công tác tuyên truyền nói riêng. Trên cơ sở đó, công tác tuyên truyền của Đảng đã luôn bám sát mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng; đặc điểm, tình hình của địa phương và nhân dân để lựa chọn đúng, trúng nội dung, phương pháp tuyên truyền, tạo nên sự đồng thuận giữa ý Đảng, lòng dân và sự thống nhất ý chí, hành động của toàn dân trong thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân có lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; đề cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; có tinh thần đoàn kết nội bộ tốt, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả; gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng giúp đỡ, tin yêu, ghi nhận và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Hằng năm, toàn quân có hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia làm công tác dân vận, các đoàn kinh tế - quốc phòng, cán bộ Bộ đội Biên phòng tăng cường xã… đã trực tiếp tham gia làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, mối quan hệ máu thịt quân - dân và “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.St

 

 

 

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH!

 


“Người ta luôn luôn cần không khí để sống. Người cách mạng và đoàn thể cách mạng cần phê bình và tự phê bình thiết tha như người ta cần không khí.”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Phê bình”, đăng trên Báo Nhân dân, số 16, ngày 12 tháng 7 năm 1951. Bối cảnh lúc này, Đảng ta củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời mở rộng đoàn kết quốc tế để đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công. Hồ Chí Minh khẳng định phê bình và tự phê bình là một vấn đề có tính nguyên tắc, là quy luật tồn tại và phát triển là công cụ sắc bén để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức đoàn thể cách mạng.

Lời dạy của Bác đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức đảng và đảng viên trong thực hiện tự phê bình và phê bình, giúp cho mỗi đảng viên và tổ chức đảng kịp thời nhận rõ những ưu điểm để phát huy; những hạn chế, khuyết điểm để khắc phục, bảo đảm cho Đảng ta thực sự là một đảng cách mạng chân chính, luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật để có chủ trương, đường lối đúng đắn lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, chấp hành nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng Đảng, Quân ủy Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân đã ban hành đồng bộ các chỉ thị, nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình, coi đó là quy luật phát triển, là vũ khí sắc bén để giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị; vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.St

 

 

 

HỘI NHẬP QUỐC TẾ "DĨ BẤT BIẾN","ỨNG VẠN BIẾN" CỦA ĐẢNG TA!

         Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay mà đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, đã kiên định với lập trường giữ vững “độc lập, tự chủ”, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đảng đề ra đường lối chủ động tham gia hội nhập quốc tế, phân biệt rõ ràng đối tượng và đối tác. Phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
      Với chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.
     Trong bối cảnh tình hình thế giới luôn luôn có những biến đổi nhanh chóng, khó lường, thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đặt ra những vấn đề cần phải có quyết sách và xử lý linh hoạt theo phương châm: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Những thành tựu đạt được qua hơn 35 năm đổi mới trên các lĩnh vực theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện vai trò, khả năng và thước đo đánh giá đường lối đổi mới, giữ vững độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn, được nhân dân ghi nhận và các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao./.


Môi trường ST.

LỰC LƯỢNG CHỨC NĂNG NGHỆ AN CẦN XỬ LÝ NGHIÊM BỌN PHẢN LOẠN ĐỘI LỐT GIÁO DÂN PHÁ HOẠI XÓM LÀNG, TẤN CÔNG LỰC LƯỢNG CHỨC NĂNG!

         Sáng ngày 13/7/2022, trong lúc lực lượng chức năng đang tiến hành bảo vệ việc thi công con đường cắt qua dự án khu công nghiệp WHA thì một số người dân đã tập trung phản đối, gây cản trở việc thi công làm mất ANTT tại địa phương. Một số tài khoản Facebook đã livestream, hô hào, kích động người dân tập trung tại hiện trường trong đó nhiều lần kêu gọi “chị em phụ nữ lên đi”.
     Nực cười thay trong video phát trực tiếp mà đối tượng phát sóng, đối tượng lu loa lực lượng chức năng đàn áp nhân dân nhưng hình ảnh thì lại phản ánh ngược lại. Video ghi lại hình ảnh người dân đang tấn công, chống đối lực lượng chức năng. Các đối tượng đã dùng gạch, đá, bom xăng tấn công lực lượng Cảnh sát cơ động, cướp và ném công cụ hỗ trợ của lực lượng chức năng. Một số đối tượng đã đánh đập, đạp liên tiếp vào đầu, người chiến sỹ cảnh sát cơ động sau đó kéo lê chiến sỹ này ra ngoài, tấn công “hội đồng” một cách manh động. Một số đối tượng bên ngoài hò hét yêu cầu đưa người này về xã.
     Được biết, Dự án khu công nghiệp WHA Hemaraj 1 Nghệ An được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư vào 22/5/2017 và điều chỉnh chủ trương đầu tư vào 15/3/2021. Đây là dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp với tổng số vốn đầu tư lên tới hơn 2.000 tỷ đồng, diện tích 498ha, được triển khai tại các xã: Nghi Long, Nghi Thuận, Nghi Đồng và Nghi Hưng (Nghi Lộc, Nghệ An). Dự án được kỳ vọng sẽ thu hút đầu tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của huyện Nghi Lộc và tỉnh Nghệ An, tạo công ăn việc làm ổn định của người dân địa phương. Tuy nhiên đến thời điểm này giai đoạn 1 của dự án (143,5ha) tại xã Nghi Thuận và Nghi Long vẫn chưa thể hoàn thành do có tuyến đường dân sinh cắt qua khu công nghiệp. Chủ trương đóng con đường cũ cắt qua Dự án khu công nghiệp WHA lâu nay cũng được tiến hành theo đúng cơ sở, trình tự pháp lý đầy đủ từ dự án quy hoạch, quyết định phê duyệt, công bố, công khai. Mặc dù con đường mới đã được đưa vào sử dụng từ tháng 9/2019 với chiều dài 740m, rộng 6,5m; được bê tông hóa, có hệ thống đèn đường chiếu sáng, cây xanh đảm bảo tiêu chuẩn nhưng đến nay vẫn chưa thể đóng con đường cũ vì vấp phải sự phản đối của một số người dân xã Nghi Thuận (huyện Nghi Lộc). Mặc dù chính quyền địa phương đã nhiều lần tổ chức tuyên truyền, vận động nhưng đến nay một số người dân vẫn chưa đồng thuận thậm chí nhiều lần kích động người dân, cản trở thi công gây sức ép với chính quyền địa phương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình ANTT. Đáng chú ý ngày 21/3/2022, một số giáo dân đã kéo lên Ủy ban nhân dân xã Nghi Thuận, tràn vào phòng làm việc ngay giờ hành chính, bao vây, hăm dọa, giật ném điện thoại cán bộ UBND xã gây sức ép với chính quyền, địa phương.
     Tiếp tục ngày 13/7/2022 một số giáo dân ở giáo xứ Bình Thuận (xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, Nghệ An) dưới sự kích động của linh mục Nguyễn Đình Thục đã cố tình ngăn cản cơ quan chức năng đang bảo vệ việc đóng đường cũ vì đã có con đường mới thay thế ở dự án WHA./.
Ảnh: Chụp màn hình của chính các đối tượng quay và đưa lên mạng xã hội.
Yêu nước ST.

SỰ XẢO TRÁ CỦA LINH MỤC NGUYỄN ĐÌNH THỤC!

         Sau khi kích động giáo dân tấn công làm bị thương 04 cảnh sát cơ động, gián tiếp đẩy 10 giáo dân của mình vào trại tạm giam, linh mục Nguyễn Đình Thục tối nay đã đăng bài để "biện hộ" cho hành động gây rối sáng nay tại khu công nghiệp WHA (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An).
     Bằng giọng lưỡi xảo trá, ông Thục biến đen thành trắng khi lên giọng chỉ trích chính quyền "đóng đường dân sinh", nhắc đến việc người ta cưỡng chế "đóng cửa" con đường dân sinh cắt ngang qua khu công nghiệp WHA như là cưỡng đoạt con đường duy nhất của người dân và cho rằng việc này khiến người dân nơi đây bị rơi vào thế cô lập?!!. Ông Thục viết: "...hàng ngàn cảnh sát cơ động hỗ trợ để cướp con đường dân sinh nối kết nhân dân nửa xã Nghi Thuận với trung tâm xã, nơi đó có trụ sở ủy ban, trường học, trạm xá… Đó cũng là con đường để dân lên thành phố, bệnh viện, đến chợ…" và "Một mai đây công ty đóng đường, không cho chúng tôi đi nhờ nữa thì con em chúng tôi đi học bằng đường nào?".
     Ông Thục cố tình lờ đi việc, người ta đã xây dựng một con đường nhựa, trải af-pha đẹp đẽ, có cây xanh, điện chiếu sáng, thay thế con đường dân sinh gồ ghề đá sỏi đã cũ kia. Chỉ duy nhất là đường mới dài hơn chỉ 200m so với đường dân sinh cũ, ngang với cú vặn ga trong 10s đồng hồ.
     Và ông Thục cũng cố tình quên mất luôn những lợi ích mà khu công nghiệp đem lại cho người dân ở gần đó. Đó là công việc ngay gần nhà, giúp hàng trăm thanh niên không phải sống bươn trải xa nhà ở các khu công nghiệp ở Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh mà vẫn có thể lo đủ cho cuộc sống của mình. Đó là lợi ích đem lại từ các dịch vụ phục vụ cho khu công nghiệp: tiền cho công nhân thuê nhà, tiền bán gạo, thức ăn cho hàng ngàn công nhân.
     Một khu công nghiệp như vậy thì sẽ mang lại sự thịnh vượng và phát triển vượt bậc về kinh tế cho một vùng quê, có thể thay đổi bộ mặt cho giáo xứ mà ông Thục đang là quản xứ.
    Vì vậy, việc những người dân nơi đây nghe xúi giục mà tập trung gây rối trật tự an ninh thì không chỉ là sự thiếu hiểu biết mà là hành vi phá hoại, chống đối chính quyền nên cần phải xét xử nghiêm đặc biệt là những kẻ cầm đầu xúi giục phía sau./.

Yêu nước ST.

Đại tướng Mai Chí Thọ - nhà lãnh đạo bản lĩnh, có tầm nhìn xa


Ông Võ Viết Thanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Chủ tịch UBND TP.HCM, người từng 16 năm làm việc với Đại tướng Mai Chí Thọ cho biết, Đại tướng Mai Chí Thọ là người có nhận định và dự báo rất chính xác.

Hội thảo khoa học “Đại tướng Mai Chí Thọ với lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam và Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP.HCM”

Sáng 12/7, Bộ Công an phối hợp với Thành ủy TP.HCM tổ chức hội thảo khoa học “Đại tướng Mai Chí Thọ với lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam và Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP.HCM”. 

Hội thảo là một trong những hoạt động lớn, trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đại tướng Mai Chí Thọ (15/7/1922 – 15/7/2022). Dự hội thảo có Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; ông Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP.HCM cùng lãnh đạo các ban ngành, địa phương... 

Hội thảo đã nhận được 104 tham luận của các vị lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Công an, Thành ủy TP.HCM, các vị lão thành cách mạng, các nhà khoa học, nghiên cứu lịch sử trên phạm vi cả nước gửi về. Trong đó, 11 tham luận được trình bày tại hội thảo đã nêu lên thân thế, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang, những cống hiến, đóng góp của Đại tướng Mai Chí Thọ - cây đại thụ của ngành công an.

Các tham luận phân tích, làm sâu sắc hơn những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đại tướng Mai Chí Thọ về đổi mới kinh tế, về xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, về bảo tồn và phát huy bản sắc, văn hóa dân tộc,… Đặc biệt là về đổi mới toàn diện các mặt công tác của ngành công an sau Đại hội lần thứ VI của Đảng. Trong công cuộc xây dựng đất nước, phát triển TP.HCM, Đại tướng Mai Chí Thọ là nhà lãnh đạo bản lĩnh, có tầm nhìn xa, tư duy đổi mới, năng động, sáng tạo quyết liệt. Ông có những quyết sách, nhiều sáng tạo “vượt rào” để phát triển kinh tế ở TP.HCM.

Ông Võ Viết Thanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Chủ tịch UBND TP.HCM – người từng gần gũi làm việc với Đại tướng Mai Chí Thọ trong 16 năm, nêu ý kiến tham luận tại Hội thảo.

Nói về tư duy chiến lược, tầm nhìn xa của ông Năm Xuân (bí danh của ông Mai Chí Thọ), ông Võ Viết Thanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Chủ tịch UBND TP.HCM, người từng 16 năm làm việc với Đại tướng Mai Chí Thọ cho biết, Đại tướng Mai Chí Thọ là người có nhận định và dự báo rất chính xác. Cụ thể là nhận định về tình hình an ninh ở Tây Nguyên.

Ông Võ Viết Thanh nhớ lại: “Trong chuyến thăm đồng bào ở Đắk Nông, đồng chí Năm Xuân có nhận định: Nếu đời sống dân tộc ở Tây Nguyên như thế này còn kéo dài, an ninh ở Tây Nguyên có thể sẽ bất ổn. Lúc đó, đồng chí Năm Xuân rất trầm ngâm. Sau này, năm 2001 và năm 2004 xảy ra 2 cuộc biểu tình bạo loạn ở Tây Nguyên của đồng bào các dân tộc thiểu số. Tôi liên hệ với nhận định 17 năm trước tại Đắk Nông của đồng chí Mai Chí Thọ là hoàn toàn chính xác”.

Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an phát biểu kết luận Hội thảo.

Phát biểu kết luận hội thảo, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Tô Lâm khẳng định: Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Đại tướng Mai Chí Thọ luôn gắn liền với lịch sử và sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong mỗi giai đoạn, từ phong trào bảo vệ chính quyền non trẻ đến những giai đoạn cam go, khốc liệt nhất của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng dân tộc, giai đoạn xây dựng, đổi mới toàn diện đất nước, ông đều để lại dấu ấn và có đóng góp đặc biệt quan trọng.

Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an nhấn mạnh: "Là người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Đại tướng Mai Chí Thọ kiên quyết đấu đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, xa rời quần chúng. Cuộc đời Đại tướng là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một nhân cách với tấm lòng nhân đạo cao cả, yêu nước thương dân, hết lòng hết sức chăm lo cho khối đại đoàn kết dân tộc.

Đại tướng Mai Chí Thọ tên thật là Phan Đình Đống, là nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ nay là Bộ Công an, nguyên Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP.HCM, là vị đại tướng đầu tiên của lực lượng Công an Nhân dân. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Đại tướng Mai Chí Thọ còn có các bí danh khác: Năm Xuân, Tám Cao,…./.

 

 

 

TIN ĐỒN CẤM XUẤT CẢNH TỈ PHÚ PHẠM NHẬT VƯỢNG LÀ SAI SỰ THẬT Nhiều người bảo tôi rằng thời đại bây giờ mà còn đọc báo giấy, xem truyền hình, nghe radio... là lạc hậu, tối cổ! Nghe vậy tôi cũng chỉ ậm ừ cho qua chuyện, vì những người "tay nhanh hơn não" sẽ chẳng bao giờ hiểu được vì sao đến thời đại này mà vẫn còn nhiều người chọn phương pháp, lạc hậu, tối cổ đó! Vì đơn giản là Ít ra những chương trình này vẫn còn được kiểm chứng nguồn thông tin một cách rõ ràng, độ tin cậy chính xác còn khá cao. Chứ còn đọc báo điện tử, xem thông tin từ mạng xã hội... thì chỉ có ngộ độc thông tin mà chết thôi. Tin giả, tin xấu độc đang dần bào mòn trí thức của con người, làm xói mòn lòng tin của xã hội, thậm chí là " ngu hóa" đồng loại. Tín hiệu đáng buồn nhất là, nhiều bạn trẻ ngày nay đang chọn mạng xã hội làm nơi để nuôi dưỡng tâm hồn và trí thức, đó là một sự sai lầm cực kỳ nghiêm trọng. Tin giả ở mạng xã hội đang làm thiệt hại nghiêm trọng đến sự phát triển của con người, thiệt hại đến kinh tế của các cá nhân, doanh nghiệp, nhà nước... và mới đây nhất, tin đồn về tỷ phú Phạm Nhật Vượng bị cấm xuất cảnh đang làm thiệt hại nghiêm trọng, chao đảo đến thị trường chứng khoán, đặc biệt xâm phạm trực tiếp đến lợi ích của tập đoàn Vingroup! Nguồn thông tin được phát đi từ những kẻ cũng được coi là tri thức nhưng lại ngu học, tưởng chừng như đưa thông tin này nhằm đạt được lợi ích cá nhân của mình. Tuy nhiên lại gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với các cá nhân, tổ chức... Dĩ nhiên, một khi đã làm sai thì pháp luật chẳng thể khoan hồng! Mới đây nhất thông tin từ Bộ Công an đã gửi hồ sơ sang Sở Thông tin và Truyền thông để xử lý 9 cá nhân tung tin đồn thất thiệt, gây ảnh hưởng đến tập đoàn Vingroup. Những việc làm này đã "ảnh hưởng đến uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, gây tác động xấu đến thị trường chứng khoán". Có lẽ rằng, sau những vụ việc như thế này thì chúng ta mới tá hỏa lực chính chúng ta đang làm nô lệ thông tin cho các trang mạng xã hội, chính những nguồn thông tin này đã chi phối tác động ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi cá nhân. Và dù muốn hay không thì sống ở trong xã hội ngập tràn thông tin rác rưởi, tốt nhất tự lo cho mình những cái kén thật an toàn để bảo vệ chính nguồn tri thức của chúng ta. Tôi và nhiều người khác tin rằng, nếu như cơ quan chức năng mạnh tay hơn nữa, rắn hơn nữa, thậm chí là xử lý hình sự những kẻ đưa tin sai sự thật thì lúc đó mới giảm được những nguồn thông tin thất thiệt tác động đến đời sống kinh tế xã hội .
BÙI TÍN VÀ NỖI ĐAU CỦA KẺ PHẢN BỘI! CÁI KẾT ĐẮNG CHO KẺ PHẢN QUỐC Bùi Tín - Nguyên Đại tá quân đội, Phó tổng biên tập Báo Nhân dân. Sinh năm 1927 tại Huế, trước khi lầm đường lạc lối, Bùi Tín từng được mệnh danh là người chiến sĩ, sĩ quan, nhà báo cách mạng kiên trung, với những bài viết khiến hàng triệu người nể phục. Cha của Bùi Tín là cụ Bùi Bằng Đoàn, nguyên Thượng thư Bộ Hình của triều đình Huế và nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Tín có lẽ đã rất rực rỡ, nếu như không xảy ra một bị kịch: Tháng 9 năm 1990, Bùi Tín sang Pháp dự hội thảo hàng năm của báo “L’Humanité” (Nhân Đạo - báo của Đảng Cộng sản Pháp) và không bao giờ quay đầu lại. Do đã cấu kết với các tổ chức chống cộng từ trước, Bùi Tín trốn ở lại, rồi xin tị nạn chính trị tại Pháp, với lý do là để “đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền”. Bùi Tín đã bị lôi kéo, dụ dỗ với lời hứa: một vị trí xứng đáng trong bộ máy nhà nước Việt Nam Cộng hòa. Từ một chiến sỹ cách mạng, một ngòi bút với lập luận sắc bén nhưng bản lĩnh chính trị thiếu vững vàng, niềm tin bị lung lay, đã quay đầu chống lại nhà nước, chống lại nhân dân và cách mạng. Nhà thơ Phan Xuân Hạt từng nói: “Bùi Tín là người có tham vọng chính trị cực lớn. Với óc nhạy cảm thái quá, Bùi Tín cho là phe XHCN sẽ tan rã, Liên bang Xô viết sụp đổ, Trung Quốc rối loạn - Bùi Tín tin là, Việt Nam cũng sẽ nằm trong quỹ đạo đó. Và Bùi Tín đã nhanh chóng nhảy sang phía đối lập, giương cờ để chờ cơ hội quay lại làm người số 1 của Việt Nam”. Ảo tưởng về sự sụp đổ của Chủ nghĩa Cộng sản đã giết chết lý trí, tinh thần và bản lĩnh của Bùi Tín. Hắn điên cuồng lao vào viết bài như một con thiêu thân. Không trừ một câu từ, bài viết nào, kể cả viết về những cái không có thật, những bài viết nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh... miễn sao “bôi nhọ” chế độ, Đảng, Nhà nước, và có tiền để sống và nuôi bồ nhí. Những tháng năm cuối cùng của cuộc đời, Bùi Tín đã nhận ra một điều rằng: “tiền bạc và danh vọng nó bạc như vôi”. Khi không còn có thể viết bài, khi đã hết giá trị lợi dụng, Bùi Tín như một con ch.ó già nơi xó nhà, chờ chết trong sự ghẻ lạnh, hắt hủi của những kẻ từng được hắn coi là “cùng chiến tuyến”. Ở Paris, Bùi Tín sống trên căn gác xép chật chội cùng một người phụ nữ, và bị người Việt ở hải ngoại nghi kỵ, dò xét. Những đối tượng phản động nhất cũng coi Bùi Tín là một kẻ không đáng để kết giao. Chúng luôn cho rằng, Bùi Tín được cách mạng Việt Nam nuôi lớn nhưng phản bội lại, đó là hành động của một kẻ “ăn cháo đá bát”, là bất hảo. Chúng cho rằng, Bùi Tín có thể là một tên gián điệp của Cộng sản Việt Nam, nên hắn luôn bị tẩy chay, nghi ngờ. Ngay đến Võ Văn Ái, chủ biên tờ Quê mẹ và Nguyễn Gia Kiểng tờ Thông luận cũng viết bài miệt thị coi Bùi Tín là “phần tử bất hảo không đáng tin”. Ngay cả ở Mỹ, trong một buổi nói chuyện tại San Joses ngày 23/6/2012, chính Bùi Tín đã bị cộng đồng người Việt tẩy chay, chửi rủa, đuổi khỏi diễn đàn. Còn đâu một Đại tá Bùi Tín, Phó Tổng biên tập báo Nhân dân, còn đâu nữa bóng dáng hiên ngang của một viên sỹ quan cấp cao của quân giải phóng Việt Nam có mặt tại dinh Độc lập vào đúng ngày giải phóng đất nước 30/4/1975? Bùi Tín luôn đau ốm, sống đơn độc không bằng hữu. Với đồng lương thất nghiệp nhà nước Pháp cho, Bùi Tín chỉ đủ trả tiền thuê nhà. Nghĩ cho cùng, đó là cái kết cục tất yếu của những kẻ phản bội, bán nước cầu vinh. Những nỗi đau cứ gặm nhấm Bùi Tín cho đến lúc chết. Với nhân dân Việt Nam, Bùi Tín là một kẻ phản bội, là một Trần Ích Tắc thứ hai. Hắn được sinh ra trong một gia đình cách mạng, được cách mạng nuôi lớn, được Bác Hồ chở che, nuôi nấng thành người, nhưng khi đủ lông, đủ cánh, hắn lại quay sang cõng rắn cắn gà nhà, chống phá cách mạng. “Trâu chết để da - người chết để tiếng”! Tiếng của Bùi Tín để lại là bài học về kết cục đắng ngắt cho những kẻ vong nô, bán nước cầu vinh, là kẻ thù muôn đời của dân tộc. Đây cũng chính là tấm gương cho những kẻ ngày đêm hoạt động, tuyên truyền chống phá cách mạng, phá hoại sự ổn định của đất nước như một lô một lốc nào là Quang A, Chu Hảo… Tấm gương phản chiếu về: "NỖI ĐAU CỦA KẺ PHẢN BỘI".
NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI KHÔNG THỂ XEM THƯỜNG Nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội; “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đội lốtt “yêu nước thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc và đất nước với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi. Chủ nghĩa cơ hội vốn không xa lạ. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu đã chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩạ cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường. Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Khi còn làm việc trong bộ máy công quyền, họ ít kêu ca, than phiền và cũng cố gắng làm tròn chức phận để vừa “giữ ghế”, vừa tận dụng cơ hội để có chức vụ cao hơn. Nhưng trong quá trình công tác, có thể có những điều gì đó làm họ không hài lòng và không đạt được mục đích như tham vọng cá nhân. Thế nên, khi trở về đời thường không còn liên quan đến việc công, họ đã giải tỏa những ức chế tâm lý và sự bức xúc cá nhân thông qua những phát ngôn trái chiều, những bài viết chủ yếu khoét sâu vào những mặt trái, tiêu cực xã hội, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước rồi đưa lên mạng xã hội khiến dư luận hoang mang, phân tâm. Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Số người này bề ngoài thì tỏ ra am tường, minh triết, học cao, hiểu rộng, nhưng khi viết bài, đóng góp ý kiến lại có những lời lẽ, ý tứ ngụy biện được bọc trong một cái lớp vỏ phản biện trên tinh thần khoa học. Không những thế, có ý kiến còn vẽ ra con đường này, lối dẫn nọ của nước khác để khuyến cáo, thậm chí đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng. Thế nhưng, những “bức vẽ, lối đi” đó không màu sắc, không đường nét rõ ràng, bởi thực chất đấy chỉ là một thứ học đòi, học lỏm hay dung hòa, trộn lẫn hỗn độn bởi đủ thứ lý thuyết, học thuyết rối rắm, xa lạ, không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế ở nước ta. Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Mặc dù có ý kiến đã được cơ quan chức năng và người có trách nhiệm tiếp thu, giải trình một cách nghiêm túc, cầu thị, nhưng họ vẫn không đồng ý. Lợi dụng mạng xã hội, những người này công khai bày tỏ quan điểm thiếu thiện chí, cực đoan nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc và phủ nhận con đường dân tộc ta đang đi. Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên Cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có nhưng công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Trên các mạng xã hội, ngoài việc công khai “hối hận”, “mặc cảm” và cố ý chối bỏ quá khứ cống hiến đáng quý của mình, những người này còn có những ý kiến hết sức chủ quan, thiên lệch về tình hình đất nước, xã hội và đời sống nhân dân. Đáng nói hơn, có người đã liên lạc, kết nối với các phần tử thù địch ở hải ngoại để “tiền hô hậu ủng”, tạo thêm bệ đỡ cho các thế lực đó thường xuyên công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý. Có những người triệt để lạm dụng lúc “tranh tối tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân. Xuất phật từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra báo thứ phiền toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau một tấc lên trời, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác... Cái thứ cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng cũng là kẻ thù bên trong không kém phần nguy hiểm.
VAI TRÒ, TẦM QUAN TRỌNG TRONG TU DƯỠNG, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và phát triển của nước ta, có thể thấy một trong những yếu tố then chốt, đóng vai trò hết sức quan trọng, góp phần xây dựng, giữ vững sự nghiệp chủ nghĩa xã hội, đó là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý có đạo đức cách mạng thực sự “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; có năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước. Để xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước hiện nay; trước hết, trong mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực, thường xuyên tu đưỡng, rèn luyện đạo dức cách mạng, tự soi, tự sửa, từng bước hoàn thiện, nâng cao phẩm chất, năng lực công tác, để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu tư cách một người cách mệnh: “Tự mình phải: cần kiệm; hòa mà không tư; cả quyết sửa lỗi mình; cẩn thận mà không nhút nhát; hay hỏi; nhẫn nại; hay nghiên cứu, xem xét; vị công vong tư; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; giữ chủ nghĩa cho vững; hy sinh; ít lòng ham muốn về vật chất; bí mật. Đối với người phải: khoan thứ, với đoàn thể thì nghiêm, có lòng bày vẽ cho người, trực mà không táo bạo, hay xem xét người. Làm việc phải: xem xét hoàn cảnh kỹ càng, quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể”. Về yêu cầu đạo đức cách mạng: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà tính tốt như sau, ngày càng tăng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Bác viết năm 1947, Bác đề cập 5 đức tính “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” là những phẩm chất không thể thiếu của người cán bộ, đảng viên trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào. Chính vì vậy, để vận dụng, áp dụng tư tưởng của Bác vào trong thực hiễn hiện nay; mỗi cán bộ, đảng viên dù ở vị trí công tác nào cũng phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, thực hành mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh để giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng. Thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức sẽ dễ dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Có thể thấy, tư tưởng của Bác về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng là bài học quý báu, là Kim Chỉ Nam để thế hệ cán bộ, đảng viên noi theo, rèn luyện, trưởng thành và qua lịch sử cách mạng của Đảng, Nhân dân ta trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước là một trong những minh chứng sống động, có biết bao tấm gương cán bộ, đảng viên thấm nhuần tư tưởng của Bác, hết lòng, hết sức phụng sự đất nước, quên mình vì nước, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên vẫn chưa thật sự thấm nhuần tư tưởng của Bác, bị cám dỗ bởi vật chất, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Xác định điều này, Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XII đã chỉ rõ: “Do bản thân những cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”. Để khắc phục một số hạn chế, khuyết điểm nêu trên; tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, vừa là yêu cầu cấp thiết hiện nay; đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần tập trung làm tốt một số nội dung sau: - Thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao, tận tâm, tận lực với công việc. Như lời Bác đã nhắn nhủ: “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ”. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính chất, ý nghĩa, tầm quan trọng của công việc được giao, luôn hướng đến mục tiêu chung phục vụ Nhân dân, không ngại khó khăn, vất vả và mạnh dạn chịu trách nhiệm của mình nếu thực hiện chưa tốt, từ đó nhìn nhận, tự soi, tự sửa, khắc phục để từng bước hoàn thiện. - Thường xuyên thực hành “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Mỗi cán bộ, đảng viên cần cụ thể hóa thành những yêu cầu thiết thực, phù hợp; phải chính trực, cần mẫn, tận tâm, tận lực với nhiệm vụ được giao, phân công đảm nhiệm, kiên trì thực hiện; không nản lòng, buôn xuôi khi gặp khó khăn; không tham địa vị, tiền tài, lãng phí, phô trương, hình thức trong mọi nhiệm vụ; luôn trong sáng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đấu tranh bảo vệ cái đúng, cái đẹp, phê phán, lên án cái sai, cái xấu. Thực hành “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và phải đồng bộ, không được đề cao hay coi nhẹ bất cứ một phẩm chất nào, bởi chúng có mối quan hệ biện chứng qua lại lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN. Có KIỆM mới có LIÊM được” và “CẦN, KIỆM, LIÊM là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới hoàn toàn. Một người có CẦN, KIỆM, LIÊM, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”. - Cán bộ, đảng viên nói phải đi đôi với làm, nêu gương về thực hành đạo đức là phẩm chất cần có đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Đạo đức là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức, giữa nhận thức và hành động. Nếu mỗi người chỉ tiếp nhận những quan niệm, chuẩn mực đạo đức mà không thực hành thì không có đạo đức trong thực tế. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên càng phải nêu gương về thực hành đạo đức, nói đi đôi với làm; phải thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện phẩm chất, đạo đức và học tập nâng cao trình độ, năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Như Bác đã từng dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải có thái độ nghiêm túc, chủ động, tự rèn luyện phẩm chất, đạo đức, tự giác trong học tập, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có hiểu biết sâu sắc về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; có kiến thức về ngoại ngữ, tin học; thường xuyên nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động thực tiễn và năng động trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn... Có như vậy, mới không ngừng tiến bộ, trưởng thành, thực sự xứng đáng là “người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”. - Nghiêm túc tự phê bình và phê bình, ngăn chặn, đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Tự phê bình và phê bình có ý nghĩa rất quan trọng để xây dựng, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức, lối sống. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu trong tự phê bình và phê bình, phải tự soi, tự sửa, lắng nghe ý kiến đồng chí, đồng nghiệp và mọi người để tự đánh giá bản thân một cách khách quan, nghiêm khắc. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự tu dưỡng đạo đức cách mạng thường xuyên, liên tục; phải bền bỉ rèn luyện suốt đời như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”./.
TUYÊN BỐ "NGƯỜI TRƯỚC, SÚNG SAU" CỦA ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG NÊU CAO VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜITRONG CÔNG CUỘC BẢO VỆ TỔ QUỐC. Các nước lớn phải chú ý đến phát biểu của Đại tướng Phan Văn Giang ở Shangri-La 2022. Với bài phát biểu hùng hồn của Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang, Việt Nam tái khẳng định lập trường nhất quán về không liên minh quân sự, chỉ duy trì nền quốc phòng mang tính tự vệ và nỗ lực hiện đại hóa Quân đội, trang bị vũ khí tiên tiến vì “mục đích hòa bình” và tự phòng thủ. Việt Nam thấu hiểu sự tàn phá của chiến tranh Trong khuôn khổ Đối thoại Shangri-La 2022, chiều 11/6, tại phiên thảo luận “Hiện đại hóa quân sự và năng lực quốc phòng”, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam đã có bài phát biểu quan trọng, rất đáng chú ý với chủ đề “Tăng cường khả năng quốc phòng bảo vệ Tổ quốc”. Những tuyên bố cứng rắn nhưng vẫn rất mềm dẻo, khéo léo của lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam một lần nữa nêu bật quan điểm, lập trường của Việt Nam về đối ngoại quốc phòng, về đường lối giao bang với các nước trong bối cảnh xung đột địa chính trị ngày càng gay gắt như ngày nay. Mở đầu bài phát biểu, Đại tướng Phan Văn Giang đã chân thành cảm ơn Bộ Quốc phòng Singapore và Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế đã đem tới cơ hội dự và phát biểu tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 19 cho lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam. Theo Bộ trưởng Quốc phòng, chúng ta đã và đang chứng kiến một thế giới, với nhiều diễn biến, biến động khó lường. Trong khi các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng xảy ra nhiều hơn, hậu quả nặng nề hơn, đòi hỏi cộng đồng quốc tế cần chung tay góp sức để ứng phó thì các vấn đề an ninh truyền thống còn nhiều phức tạp, có nguy cơ xảy ra ở một số nơi, một số khu vực. Tướng Giang lưu ý, trong khi xu thế hòa bình, hợp tác phát triển luôn là mong muốn chung của nhân loại, thì cạnh tranh chiến lược, mâu thuẫn, xung đột lợi ích, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa các quốc gia vẫn tiếp tục xảy ra. Do vậy, theo người đứng đầu Bộ Quốc phòng Việt Nam, việc nâng cao năng lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình thực sự là đòi hỏi tất yếu khách quan của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhắc lại triết lý rằng, xưa nay, sinh tồn luôn là bản năng của tự nhiên và của con người, Đại tướng Phan Văn Giang cho biết, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là sự nghiệp sống còn của mỗi quốc gia. “Việt Nam đã trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh tự vệ nên thấu hiểu sự tàn phá và hậu quả của xung đột, bạo lực”, - tướng Giang bày tỏ. Theo Bộ trưởng, suốt dọc chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tự vệ, chịu nhiều đau thương, mất mát. Cho đến tận ngày nay, khi chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, những hậu quả và di chứng chiến tranh để lại vẫn còn là một gánh nặng đối với đất nước. Việt Nam thấu hiểu giá trị của hòa bình, mong muốn duy trì và quyết tâm gìn giữ hòa bình đất nước, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Quốc phòng Việt Nam “hòa bình, tự vệ”
PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI Những năm qua, cùng với sự chống phá trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh thì các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với những thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc. Để kịp thời chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn quân đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ngày 08/01/2016, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam ban hành Chỉ thị số 47 về tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong lực lượng vũ trang (LLVT). Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 35 ngày 22/10/2018 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Nghị quyết số 35) và trong Văn kiện Nghị quyết Đại hội XIII Đảng ta đã xác định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng chống diễn biến hòa bình, thông tin xấu độc trên internet, mạng xã hội”. Thực hiện tốt nhiệm vụ trên là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành hiện nay, đặc biệt là vai trò của quân đội trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực và tiêu cực của mạng xã hội (MXH). Tính đến đầu quý I/2022, Việt Nam có 72,10 triệu thuê bao internet (chiếm 73,2% dân số) và 77 triệu tài khoản MXH (chiếm 78,1% dân số). Trong đó, MXH Facebook có khoảng 70 triệu tài khoản, Facebook Messenger có khoản 54 triệu tài khoản, Youtube có khoảng 62,5 triệu tài khoản, Zalo khoảng 45 triệu tài khoảng và có đến 156 triệu thuê bao di động (chiếm 158,6% dân số). Chúng ta không thể phủ nhận MXH ngày càng góp phần quan trọng trong việc củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và điều hành của Chính phủ. Ví dụ như tháng 10-2015, Chính phủ đã lập 2 tài khoản Facebook là “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” với kỳ vọng giúp người dân tiếp cận kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành, thông tin thời sự chính trị, kinh tế - xã hội, hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Gần đây nhất, trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, việc điều hành của Chính phủ, hoạt động của các ban, bộ, ngành thông qua trực tuyến, online, MXH đã chứng minh điều đó. MXH góp phần tích cực vào sự phát triển nhận thức, tư duy và kỹ năng sống của con người, vào sự phát triển của văn hóa cộng đồng, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế trên lĩnh vực văn hóa của Việt Nam. Các MXH, nhất là MXH xuyên quốc gia như Facebook, Youtube… đã tạo ra những cơ hội, khả năng tiếp xúc, giao lưu văn hóa, thúc đẩy xích lại gần nhau, hiểu biết lẫn nhau giữa dân tộc ta với các dân tộc khác trên thế giới. Thông qua MXH, thế giới biết đến Việt Nam hơn như một dân tộc yêu chuộng hòa bình, tôn trọng công lý, năng động với một kho tàng các giá trị văn hóa phong phú, đầy bản sắc. Tuy nhiên, MXH đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng; làm gia tăng nguy cơ lộ lọt bí mật Nhà nước. MXH tác động tiêu cực đối với sự phát triển văn hóa. MXH đang trở thành công cụ, môi trường “màu mỡ” để tội phạm lợi dụng hoạt động (hiện nay, thường xuyên có khoảng trên 3.000 trang mạng blog, gần 500 trang facebook fanpage; trên 100 trang youtube và gần 10.000 tài khoản MXH facebook đăng tải hàng trăm ngàn tin, bài có nội dung xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; vu khống, bôi nhọ, xúc phạm các tổ chức, cá nhân các đồng chí lãnh đạo), đây chính là những con sâu, những mầm mống u nhọt mà chúng ta cần tập trung loại bỏ. Chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch đối với quân đội. Chúng ta thường nhận ra mục tiêu chống phá đối với quân đội đó là: Chúng thường đưa ra một số luận điểm “Quân đội trung lập, Quân đội chỉ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, không bảo vệ Đảng…” vì một chế độ chính trị một đảng hay nhiều đảng thì do Nhân dân bầu ra chứ không phải do quân đội. Đây là luận điểm phi lý, bởi vì trong bất kỳ xã hội nào, bản chất của quân đội cũng là bản chất của giai cấp cầm quyền, nên không thể có một quân đội nào lại không phục vụ giai cấp, đứng ngoài giai cấp. Lênin đã đề ra nguyên tắc căn bản để xây dựng quân đội kiểu mới, Người viết “Hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và chăm lo đến Hồng Quân như chăm lo đến con ngươi trong mắt mình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ khi đặt tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã có nghĩa là chính trị, trọng hơn quân sự “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Gần đây thế lực thù địch phát động nhiều chiến dịch với nhiều đợt tấn công vào quân đội với tần suất, phương thức, thủ đoạn, luận điệu hết sức thâm độc, nổi lên là: Tiếp tục chiến dịch tấn công vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu, bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của quân đội, phớt lờ những thành tích, chiến công, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm, suy diễn “mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên đã bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của Trung Quốc”; qua đó, chúng đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ súy, kêu gọi phải “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội; Lợi dụng một số thông tin, tư liệu, sử liệu chưa thống nhất, chúng phát tán nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh và những nhân chứng lịch sử; phát động phong trào xét lại lịch sử quân đội, dân tộc; Lợi dụng việc kiện toàn nhân sự cán bộ cấp cao quân đội, chúng phát tán nhiều thông tin xấu độc trên MXH về các vấn đề liên quan đến tài sản, đời tư, mối quan hệ các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao Bộ Quốc phòng nhằm bôi nhọ danh dự, uy tín, gây nghi ngờ giữa các đồng chí cán bộ chủ chốt của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và trong nội bộ quân đội; Một số đối tượng lợi dụng việc kiện toàn tổ chức, tinh giản biên chế quân đội, phong, thăng quân hàm cán bộ cấp tướng trong quân đội, công an, chúng bình luận, suy diễn gây chia rẽ đoàn kết giữa quân đội với công an; Gần đây, lợi dụng vụ việc quân nhân tử vong, chúng sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn “dương đông, kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng xã hội “tạo áp lực, đòi yêu sách đối với quân đội”, kích động dư luận trong Nhân dân, tẩy chay, không cho con em nhập ngũ vào quân đội. Thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng, cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp sau: Một là, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đưa nhiệm vụ này vào chỉ tiêu nghị quyết lãnh đạọ của cấp ủy, chi bộ, nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, trách nhiệm của đảng viên, nhất là bí thư cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, từ đó đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả thiết thực. Hai là, phải làm tốt công tác phối hợp, thường xuyên bám sát sự chỉ đạo của cơ quan nghiệp vụ cấp trên; các sự kiện chính trị quan trọng, những vấn đề phức tạp nhạy cảm và hoạt động của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội trên internet, MXH, có kế hoạch tổ chức đấu tranh phản bác kịp thời, hiệu quả. Ba là, tăng cường công tác quản lý tư tưởng, kỷ luật, mối quan hệ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là khi tiếp xúc với Nhân dân giải quyết các vấn đề nhạy cảm. Kịp thời phát hiện và ngăn ngừa những biểu biện suy thoái về chính trị tư tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, không để xảy ra thiếu sót, sơ hở, để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá, xuyên tạc. Bốn là, thường xuyên tổ chức sơ, tổng kết rút kinh nghiệm, kịp thời khen thưởng, động viên những tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ, khích lệ, cổ vũ cán bộ tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
BIẾT THÌ THƯA THỚT, KHÔNG BIẾT THÌ LÀM TIKTOKER Trước việc đội cơ động diễn tập ở TP Huế ít ngày vừa qua, thì một số Tiktoker lại tỏ thái độ bức xúc, hằn học chỉ trích đội ngựa đua này là lạc hậu, cổ hủ, thời đồ đá giống Tam Quốc xưa. Giờ người ta đi tên lửa, máy bay rồi... mà cảnh sát mình còn đi đi ngựa lạc hậu. Thật là hài hước với sự nhận thức của một số Tiktoker. Các quốc gia văn minh như Anh, Na Uy, Thụy Điển và một số quốc gia khác cảnh sát và quân đội hoàng gia cũng như giới quý tộc vẫn dùng ngựa, họ thậm chí còn coi đấy là một nét đẹp, vừa linh động vừa lịch lãm. Họ giàu có, văn minh như vậy mà vẫn sử dụng kỵ binh thì sao các tiktoker cứ phải tự nhục, soi mói để bới móc làm chi? Cách đây mấy năm cái thời điểm thành lập đội kỵ binh cơ động thì trên các nhóm cũng nổ ra tranh cãi nhiều lắm, ngày nào cũng thấy đăng bài tranh luận, nhưng chắc phải đến 90% là nói về… con ngựa,nào là ngựa ta nhỏ, nhìn chán, không đẹp như ngựa tây, nào là giống ngựa mông cổ này năm xưa dày xéo cả Âu á này nọ các kiểu, tranh cãi ầm ỉ, ai cũng thành chuyên gia ngựa học, nhưng ít ra có 1 điểm là ai cũng đồng tình và ủng hộ về chức năng nhiệm vụ của đội kỵ binh là dùng để giải tán đám đông, và hành quân vùng biên giới địa hình khó khăn. Khi đi tuần tra ở những khu vực biên giới, rừng rậm thì kị binh ngồi trên ngựa thì quan sát đám đông tốt hơn, có thể sớm phát hiện những nguy hiểm để có thể chủ động trong mọi trường hợp. Hành quân tuần tra biên giới ngoài thồ hàng ra còn có chức năng cảnh giới như Chó nghiệp vụ. Tại sao chọn ngựa Mông Cổ vì bản thân loại này sức khỏe dẻo dai, ăn ít hơn so với loại ngựa to lớn phương tây. Phù hợp với khí hậu Việt Nam. Trọng lượng khoảng 190 đên 250 kg thân hình với chiều cao trung bình leo núi tốt hơn các loại ngựa to lớn. Thông tin đầy trên mạng nhưng các bạn tiktoker vừa update thông tin chậm, lại còn hơi mù thông tin về tác dụng của kỵ binh, đã thế còn thích chửi đổng, đúng gọi tik tok là ổ rác cũng chẳng sai.
PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ “NỘI CHIẾN” Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá Đảng, Nhà nước, xuyên tạc xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là “nội chiến”. Chúng ra sức rêu rao rằng Chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản; trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, người Mỹ khô ng hề muốn cai trị người Việt Nam, người Mỹ can thiệp vào Việt Nam là vì “thế giới tự do”; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiếu chiến, muốn gây chiến tranh thôn tính miền Nam, từ đó, đổ lỗi 21 năm chiến tranh với hàng triệu người của hai miền thiệt mạng là lỗi của bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Thực tế lịch sử khẳng định, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975 không phải là “nội chiến”, mà là cuộc chiến tranh yêu nước, nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ dân tộc Việt Nam Từ năm 1950, Mỹ chính thức can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự Đông Dương (MAAG) của Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Pháp, từ 52 tỷ phrăng lên tới 751 tỷ phrăng năm 1954, chiếm 73,9% chi phí chiến tranh. Tiếp đó, Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành tổ chức quân đội, chính quyền mới, tiến hành bầu cử riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam (đầu năm 1955), lập ra cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa”, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ. Đế quốc Mỹ (và cả thực dân Pháp trước đó) tìm cách lôi kéo đồng minh, đẩy mạnh xây dựng quân đội và chính quyền tay sai, vừa mua chuộc, lôi kéo (rêu rao Mỹ chỉ là đồng minh), vừa uy hiếp và khi cần thì cũng không ngần ngại tổ chức đảo chính, thủ tiêu những chính trị gia không vâng lời, nhằm giữ quyền lãnh đạo của mình... Mặt khác, Mỹ coi trọng việc xây dựng cơ sở xã hội, dựa vào các thế lực thù địch, những phần tử phản động đội lốt tôn giáo, vừa tạo chỗ đứng, tạo thế hợp pháp ở bên trong để che giấu bộ mặt thực dân, vừa tích cực tổ chức huấn luyện đội quân viễn chinh, lập các căn cứ, khối liên minh quân sự ở bên ngoài... Khi tất cả các thủ đoạn không đạt được mục tiêu đề ra, hoặc kém hiệu quả, Mỹ đẩy tới hành động quân sự, dùng biện pháp chiến tranh là chủ yếu. Một thực tế rõ ràng là, tuy Mỹ coi lực lượng tay sai ở miền Nam Việt Nam là những người “quốc gia chủ nghĩa”, nhưng chưa bao giờ thực sự coi trọng những lực lượng này. Mỹ chỉ xem họ như những quân cờ trên bàn cờ chiến lược của mình. Một khi quân cờ nào không còn hữu dụng nữa thì Mỹ sẵn sàng thay thế, vứt bỏ họ. Ngay những quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ của mình, và nhận ra cuộc chiến này là cuộc chiến của người Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam: “Ông Mỹ luôn luôn đứng ra làm sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”. Giới chóp bu của chế độ Sài Gòn chỉ được tự do trong giới hạn mà Mỹ cho phép. Cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” là chính quyền do người Mỹ dựng lên, nuôi dưỡng và điều khiển để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Ngay cả sau năm 1973, khi quân đội Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì mục tiêu phục vụ cho quyền lợi của người Mỹ của chính quyền và quân đội Sài Gòn ở miền Nam vẫn không hề thay đổi. Tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu - lực lượng tưởng chừng được Mỹ ủng hộ nhất quán nhất, cuối cùng cũng cay đắng thừa nhận trong phát biểu từ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 21-4-1975. Việc Mỹ áp đặt chế độ thống trị thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, gây chiến tranh tàn phá đất nước Việt Nam, là cuộc chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và trực tiếp là từ hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhận được sự ủng hộ, giúp sức của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhưng đó thực sự là cuộc chiến đấu của chính bản thân nhân dân Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam, không có sự tham gia trực tiếp của nước ngoài. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thắng lợi của tư duy chiến lược độc lập, tự chủ, sáng tạo, của sách lược ứng xử khôn khéo, kiên quyết và hiệu quả của Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lịch sử cuộc chiến tranh đã lùi xa, việc nhận thức đúng bản chất của nó cho phép mỗi người dân Việt Nam, dù trước đây đứng ở phía bên nào của cuộc chiến, cũng có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Những ai cho rằng trong cuộc trường chinh giải phóng, thống nhất, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam có yếu tố “nội chiến” thì thực chất, đó chỉ là sự cố tình đánh tráo khái niệm, ngoảnh mặt làm ngơ trước sự thật lịch sử, sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử, xuyên tạc một trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc./.
PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ “NỘI CHIẾN” Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá Đảng, Nhà nước, xuyên tạc xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là “nội chiến”. Chúng ra sức rêu rao rằng Chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản; trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, người Mỹ khô ng hề muốn cai trị người Việt Nam, người Mỹ can thiệp vào Việt Nam là vì “thế giới tự do”; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiếu chiến, muốn gây chiến tranh thôn tính miền Nam, từ đó, đổ lỗi 21 năm chiến tranh với hàng triệu người của hai miền thiệt mạng là lỗi của bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Thực tế lịch sử khẳng định, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975 không phải là “nội chiến”, mà là cuộc chiến tranh yêu nước, nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ dân tộc Việt Nam Từ năm 1950, Mỹ chính thức can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự Đông Dương (MAAG) của Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Pháp, từ 52 tỷ phrăng lên tới 751 tỷ phrăng năm 1954, chiếm 73,9% chi phí chiến tranh. Tiếp đó, Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành tổ chức quân đội, chính quyền mới, tiến hành bầu cử riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam (đầu năm 1955), lập ra cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa”, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ. Đế quốc Mỹ (và cả thực dân Pháp trước đó) tìm cách lôi kéo đồng minh, đẩy mạnh xây dựng quân đội và chính quyền tay sai, vừa mua chuộc, lôi kéo (rêu rao Mỹ chỉ là đồng minh), vừa uy hiếp và khi cần thì cũng không ngần ngại tổ chức đảo chính, thủ tiêu những chính trị gia không vâng lời, nhằm giữ quyền lãnh đạo của mình... Mặt khác, Mỹ coi trọng việc xây dựng cơ sở xã hội, dựa vào các thế lực thù địch, những phần tử phản động đội lốt tôn giáo, vừa tạo chỗ đứng, tạo thế hợp pháp ở bên trong để che giấu bộ mặt thực dân, vừa tích cực tổ chức huấn luyện đội quân viễn chinh, lập các căn cứ, khối liên minh quân sự ở bên ngoài... Khi tất cả các thủ đoạn không đạt được mục tiêu đề ra, hoặc kém hiệu quả, Mỹ đẩy tới hành động quân sự, dùng biện pháp chiến tranh là chủ yếu. Một thực tế rõ ràng là, tuy Mỹ coi lực lượng tay sai ở miền Nam Việt Nam là những người “quốc gia chủ nghĩa”, nhưng chưa bao giờ thực sự coi trọng những lực lượng này. Mỹ chỉ xem họ như những quân cờ trên bàn cờ chiến lược của mình. Một khi quân cờ nào không còn hữu dụng nữa thì Mỹ sẵn sàng thay thế, vứt bỏ họ. Ngay những quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ của mình, và nhận ra cuộc chiến này là cuộc chiến của người Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam: “Ông Mỹ luôn luôn đứng ra làm sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”. Giới chóp bu của chế độ Sài Gòn chỉ được tự do trong giới hạn mà Mỹ cho phép. Cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” là chính quyền do người Mỹ dựng lên, nuôi dưỡng và điều khiển để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Ngay cả sau năm 1973, khi quân đội Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì mục tiêu phục vụ cho quyền lợi của người Mỹ của chính quyền và quân đội Sài Gòn ở miền Nam vẫn không hề thay đổi. Tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu - lực lượng tưởng chừng được Mỹ ủng hộ nhất quán nhất, cuối cùng cũng cay đắng thừa nhận trong phát biểu từ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 21-4-1975. Việc Mỹ áp đặt chế độ thống trị thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, gây chiến tranh tàn phá đất nước Việt Nam, là cuộc chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và trực tiếp là từ hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhận được sự ủng hộ, giúp sức của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhưng đó thực sự là cuộc chiến đấu của chính bản thân nhân dân Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam, không có sự tham gia trực tiếp của nước ngoài. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thắng lợi của tư duy chiến lược độc lập, tự chủ, sáng tạo, của sách lược ứng xử khôn khéo, kiên quyết và hiệu quả của Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lịch sử cuộc chiến tranh đã lùi xa, việc nhận thức đúng bản chất của nó cho phép mỗi người dân Việt Nam, dù trước đây đứng ở phía bên nào của cuộc chiến, cũng có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Những ai cho rằng trong cuộc trường chinh giải phóng, thống nhất, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam có yếu tố “nội chiến” thì thực chất, đó chỉ là sự cố tình đánh tráo khái niệm, ngoảnh mặt làm ngơ trước sự thật lịch sử, sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử, xuyên tạc một trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc./.