Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

Các dân tộc ở Việt Nam có dân số không đồng đều

 


Hiện Việt Nam có 54 thành phần dân tộc. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số cả nước; 53 dân tộc thiều s chiếm 14,7% dân số. Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cùng không đồng đều, có dân tộc số dân lớn hơn 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khơ me, Hmông), nhưng có dân tộc số dân chỉ vài ba trăm (Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, ơ đu). Dân số không đều giữa các dân tộc đang là vấn đề đặt ra trước yêu cầu giải quyết hợp lý số dân cho từng dân tộc. Thực tế ở Việt Nam, nếu một dân tộc mà s dân chỉ có hàng trăm thì rất khó cho việc tổ chức cuộc sng, bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi. Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc có số dân quá ít phải trở thành quốc sách, một nhiệm vụ có tính thời sự của quốc gia.

Quan hệ tộc người xuyên/liên biên giới ở Việt Nam hiện nay

 


Các quan hệ tộc người xuyên biên giới hiện nay chủ yếu là quan hệ nội tộc người, nhưng có điểm khác biệt so với các mối quan hệ nội tộc người ở trong nước là tính chất xuyên/liên quốc gia. Những mối quan hệ đồng tộc, thân tộc này có nhiều mặt tích cực song cũng ẩn chứa nhiều yếu tố tiềm ẩn, dễ bị các thể lực thù địch lợi dụng, đánh tráo những khái niệm giữa vấn đề lãnh thổ tộc người, vùng cư trú của tộc người và biên giới quốc gia. Về Quan hệ về nguồn gốc lịch sử: Trong số các dân tộc ở Việt Nam, đặc biệt là các tộc người cư trú ở vùng biên giới thường có nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng, di cư đến Việt Nam vào những thời điểm và bởi các nguyên nhân khác nhau, trong đó có một bộ phận các dân tộc sau khi đến nước ta lại tiếp tục di cư sang quốc gia khác hoặc ngược lại di cư đến quốc gia khác rồi mới đến Việt Nam. Do đó, có tình trạng một số tộc người tuy hiện cư trú ở những quốc gia khác nhau, nhưng ngoài các mối tương đồng về đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa, đồng bào vẫn giữ được ý thức về nguồn gốc tộc người, tập tục thờ cúng tổ tiên chung và quan hệ dòng tộc của mình thông qua các câu chuyện huyền thoại, biểu tượng vật tổ hay tô tem và nghi lễ thờ cúng. Quan hệ kinh tế: Nhờ có mối quan hệ đồng tộc, thân tộc nên các cá nhân thường qua lại hai bên biên gii buôn bán, tìm cơ hội việc làm ăn, nhưng thường không thông qua kiểm soát của Nhà nước như tiếp nhận tiền và quà biếu tặng, hỗ trợ đầu tư sản xuất của các cá nhân, hoặc các tổ chức ở nước ngoài. Trong các hoạt động sản xuất, những người đồng tộc, thân tộc cũng thường xuyên giúp đỡ, trao đổi hoặc mua bán các giống cây trồng, vật nuôi, công cụ sản xuất, nhu yếu phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày và hỗ trợ nhân lực khi cần thiết. Việc trao đổi, mua bán giúp đỡ nhau này diễn ra hết sức linh hoạt ở các tộc người và tùy theo từng mối quan hệ, có thể tiến hành ở các chợ cửa khẩu, các chợ địa phương ở vùng biên hai nước, tại các quầy hàng của gia đình hay đem đến tận các thôn bản. Quan hệ xã hội: Có thể nói, mối quan hệ này ngày càng phát triển, nhất là trong hôn nhân, gia đình và dòng họ. Trong quan hệ hôn nhân, các tộc người ở hai bên biên giới thường kết hôn với người cùng tộc, đa phần là nông dân và không cách trở nhiều về địa lý môi trường nên cũng ít gặp phải các trở ngại về ngôn ngữ, tập quán xã hội, sinh hoạt văn hóa, hoạt động sản xuất tại nơi ở mới.Không chỉ trong hôn nhân, hầu hết các tộc người sinh sống ở vùng biên giới với Trung Quốc, Lào và Cămpuchia đều ngày càng tăng cường các mối quan hệ với những người đồng tộc, thân tộc ở bên kia biên giới. Quan hệ văn hóa: về cơ bản, mối quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên biên giới của các tộc người trên lĩnh vực văn hóa không diễn ra thường xuyên, chỉ có một số người có quan hệ máu mủ, thông gia, bạn bè thân thiết... sinh sống liền kề nhau dọc biên giới thi thoảng sang tham dự các lễ hội hay nghi lễ chung của dòng họ hay cộng đồng, mục đích chính vẫn là thăm viếng, thực hiện nghĩa vụ tâm linh truyền thống.

Vai trò của nhà nước và chức năng của chính sách công

 


Nhà nước là bộ máy chính trị có lịch sử phát triển lâu dài. Thực tiễn cho thấy, tại những thời điểm và không gian khác nhau thì phạm vi và vai trò của nhà nước là rất khác nhau. Cho đến nay, nhà nước hiện đại thường được ghi nhận có một số chức năng chính[1] như: Bảo vệ trật tự xã hội và tạo lập môi trường phát triển. Đây là một trong những chức năng cơ bản nhất, xuất hiện cùng với sự ra đời cùa nhà nước. Ngay khi nảy sinh nhu cầu có bên thứ ba để xét xử và giải quyết các tranh chấp trong xã hội thì các quy ước về hành động tập thể được đặt ra và quyền lực chính trị được trao cho nhà nước để thực hiện những dàn xếp mang tính hiến định vì lợi ích cộng đồng. Tại những thời điểm và trong những bối cảnh khác nhau thi vai trò này có thể có nội dung và ưu tiên khác nhau, song một nhà nước cần đảm bảo: Cung cấp các dịch vụ và hàng hóa công cơ bản thuần túy như an ninh quốc gia, trật tự xã hội, quyền sở hữu tài sản, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục; tạo lập môi trường ổn định và công bằng - ở đó các chủ thể đều có cơ hội phát triển và được đối xử bình đẳng với nhau; đảm bảo để mọi người dân có được các cơ hội phát triển, nhất là những người nghèo, nhóm yếu thế ừong xã hội. Theo đuổi sự hiệu quả. Lịch sử phát triển của nhà nước cho thấy, vai trò điều tiết của nhà nước có nhiều sự thay đổi và đến nay, vai trò của nhà nước được mở rộng, càng trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Sự can thiệp của nhà nước có thể diễn ra ở mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Trên cơ sở sừ dụng quyền lực công và nguồn lực công, Nhà nước là chủ thể có khả năng can thiệp để theo đuổi sự hiệu quả. Trong mối quan hệ vói thị trường, nhà nước không chỉ kiểm soát mà còn nuôi dưỡng thị trường. Nhà nước không chi điều tiết mà còn phối hợp với khu vực tư nhân. Bản thân nhà nước cũng luôn thay đổi để thực hiện tốt chức năng của mình. Ngày nay, bộ máy nhà nước được củng cố theo hướng ngày càng công khai, minh bạch và có trách nhiệm giải trình hơn. Giảm thiểu những thất bại của thị trường. Thị trường vai trò quan trọng thúc đẩy sự vận hành có hiệu quả của nền kinh tế. Song, thị trường có những hạn chế nhất định như: không khuyến khích việc cung ứng hàng hóa công cộng, làm nảy sinh sự độc quyền; tồn tại tình trạng thông tin không hoàn hảo; không ngăn chặn tác động ngoại lai và làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội. Không ai khác ngoài nhà nước có trách nhiệm giảm thiểu hay khắc phục những thất bại của thị trường.



[1]     World Bank: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đồi, Nxb.Chính trị yàc gia, H.1997.

NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH CÔNG HIỆN NAY

 


Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhiều cách hiểu, nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách. Tuy cách diễn giải khác nhau nhưng các định nghĩa nhìn chung đều thống nhất cho rằng chính sách là toàn bộ các phương thức được sử dụng để giải quyết vấn đề và đạt được các mục tiêu mong đợi. Tương tự khái niệm chính sách, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công. Mặc dù chưa có định nghĩa hoàn toàn thống nhất về chính sách công, nhưng các định nghĩa đều có một số điểm chung đáng chú ý sau: Chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là Nhà nước. Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, bao gồm những người được “đa số các thành viên trong xã hội bầu và thừa nhận là có trách nhiệm”, “hàng ngày đảm nhận các công việc của hệ thống chính trị” và hành động ca họ được “đa số mọi người chấp nhận là hợp pháp đến chừng nào mà họ còn hành động trong giới hạn vai trò của họ”. Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan đến nhau về việc có hành động hay không hành động. Các quyết định ở đây có ý nghĩa rộng, bao gồm cả dự định và hành động thực tiễn được đưa ra trong một thời gian dài. Điều này giúp phân biệt một chính sách công với một quyết định - cái mà cơ bản là chi sự lựa chọn cụ thể giữa các phương án. Và quan trọng hơn, cách định nghĩa này xem chính sách công như là sản phẩm được phát triển qua thời gian. Ngoài ra, lựa chọn “hành động” hay “không hành động” đều có thể có những ảnh hưởng quan trọng đối với người dân và xã hội, do đó các quyết đinh đó cần được nhìn nhận là các quyết định chính sách công. Chính sách công là tập hợp hành động có ch đích được định hướng giải quyết vấn đề thuộc lợi ích công cộng. Điều này có nghĩa là chính sách gắn với hành động có mục đích không phải hành vi hay hoạt động xảy ra ngẫu nhiên, gắn với các hành động tương đối ổn định không phải hành động thay đổi liên tục. Chính sách công không chỉ được ban hành mà quan trọng hơn chúng được thiết kế để đạt được các mục đích cụ thể hoặc tạo ra những kết quả xác định theo mong muốn của nhà nước mặc dù trong thực tế các mục tiêu hay kết quả đó không phải lúc nào cũng đạt được.Từ những điểm chung nêu trên, có thể định nghĩa về chính sách công như sau: Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan đến nhau của nhà nước về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết vấn đề thuộc lợi ích công cộng.

CHÍNH SÁCH CÔNG TRONG LÃNH ĐẠO Ở VIỆT NAM

 


Chính sách công là công cụ và phương thức cơ bản để nhà nước định hướng phát triển và thực hiện lợi ích chung của xã hội. Đây là một trong những công cụ quản trị xã hội hết sức phức tạp. Chính sách công vừa phải đảm bảo tính khoa học để thực sự hiệu quả vừa có tính chính trị. Dù dưới bất kỳ thể chế chính trị nào, chính sách công là sự phản ánh quan điểm của đảng cầm quyền, bản chất của nhà nước trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân. Ở Việt Nam, chủ trương, đường li của Đảng Cộng sản Việt Nam là căn cứ quan trọng trong quá trình hình thành chính sách. Chính sách công chính là sự cụ thể hóa và hiện thực hóa đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng đối với đất nước. Bên cạnh đó, với tư cách là người đại diện cho nhân dân theo nghĩa Nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi chính sách mà Nhà nước ban hanh và thực hiện đều cần phản ánh và đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của các tng lớp nhân dân trong xã hội.

Vai trò của người lãnh đạo, quản lý trong khu vực công về thực cht được thể hiện thông qua việc ra quyết định và lãnh đạo quá trình thực hiện chính sách. Chính vì vậy, người lãnh đạo quản lý cn tự giác học hỏi làm giàu tri thức về chính sách công và chủ động đóng vai trò tích cực của mình, vào trong quá trình thực hiện chính sách công đó.

Quan hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số

 


Quan hệ kinh tế:Mối quan hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số mang tính cơ bản, liên thông với các quan hệ khác và ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngoài yếu tố giao lưu, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong sản xuất, tạo ra được các quan hệ tích cực trong hoạt động kinh tế giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, trong đó người Việt giữ vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong việc truyền bá khoa học kỹ thuật và đẩy manh hệ thống thương mại, dịch vụ ở vùng các tộc người thiểu số.Về Quan hệ chính trị xã hội:  Hoà hợp giữa các tộc người, nhất là giữa dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số được thể hiện ở sự gia tăng về mức độ cư trú xen kẽ, sự tăng cường các mối quan hệ thuê mướn lao động, việc sử dụng song ngữ, hôn nhân hỗn hp giữa các tộc người, về cơ bản, quan hệ giữa các tộc người thiểu số và tộc người đa số ở nước ta vẫn đảm bảo bình đẳng, tôn trọng, hoà hợp và giúp đỡ lẫn nhau. Người Kinh vẫn đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và đảm bảo đoàn kết dân tộc, thể hiện rõ nét trên các lĩnh vực một đội ngũ cán bộ công chức đông đảo và trình độ chuyên môn cao của người Kinh đang phục vụ ở các vùng đồng bào dân tộc, đại đa số giáo viên, nhân viên y tế, khoa học kỹ thuật ở vùng miền là người Kinh; tỷ lệ kết hôn hỗn hợp giữa người Kinh với các tộc người thiểu số ở khắp mọi vùng miền ngày càng trở nên phổ biến. Quan hệ văn hóa: Có thể nói ngày càng phổ biến xu hướng giao lưu, hợp tác về mọi mặt, trong đó có yếu tố văn hóa là xu hướng chủ đạo trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam. Chẳng hạn như tiếng Việt ngày càng đóng vai trò to lớn và là một trong những tiêu chí cơ bản nói lên xu hướng giao lưu hòa hợp này. Đến nay, hầu hết các tộc người thiểu số đều biết sử dụng tiếng và chữ viết của người Kinh ở những mức độ khác nhau để giao tiếp, học tập, làm ăn kinh tế.. Ngược lại ở rất nhiều nơi vùng cao biên giới, một bộ phận người Kinh đã tích cực học tiếng của các tộc người thiểu số trong vùng để giao tiếp và làm ăn, sống trong các ngôi nhà sàn, uống rượu cần, làm nương rẫy... như các tộc người thiểu số trong vùng.  

Quan hệ giữa các tộc người thiểu số ở Việt Nam hiện nay

 


Về cơ bản các tộc người ở Việt Nam đều đề cao tính cộng đồng tộc người, dòng họ và thân tộc. Quan hệ với các tộc người khác chỉ diễn ra một số lĩnh vực như sinh hoạt kinh tế và xã hội chung. Với đặc điểm cư trú xen cài và nông nghiệp nặng tính tự cung tự cấp nên mối quan hệ kinh tế được thể hiện giữa các gia đình mang tính chất láng giềng, giữa bản làng này với cộng đồng cư trú liền kề khác. Quan hệ kinh tế giữa các tộc người hiện nay có phần được đẩy mạnh hơn trước do điều kiện cư trú xen kẽ ngày càng gia tăng, nhất là việc một bộ phận người Kinh di cư lên miền núi và vùng dân tộc thiểu số khác đã có tác động đẩy mạnh khai hoang phục hóa đất đai và thâm canh tăng vụ, đa dạng hóa các hình thức sản xuất nông nghiệp và trao truyền các kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất cho đồng bào các dân tộc; đồng thời, người Kinh cũng phải học tập kinh nghiệm lâu đời của người dân tộc để sản xuất hiệu quả ở vùng đất mới... Quan hệ kinh tế giữa các tộc người cho đến nay chủ yếu diễn ra các hoạt động nông nghiệp và trao đổi mua bán truyền thống, phần lớn mang tính tự phát giữa người dân với nhau, nhất là ở khu vực đa dân tộc sống xen cư xen canh, những gia đình có quan hệ hôn nhân, kết nghĩa anh em. Do đó, cn đẩy mạnh hơn nữa các mối quan hệ kinh tế khác, nhất là phải tăng cường sự định hướng, tổ chức của Nhà nước, chính quyền và đoàn thể địa phương. Về Quan hệ văn hóa: Mối quan hệ này phát triển tương đối toàn diện, các tộc người không chỉ học hỏi nhau cách thức ăn, mặc, ở và đi lại mà còn giao lưu, tiếp thu các yếu tố phù hợp trong đời sống tâm linh, thông qua việc tổ chức lễ hội và các thực hành tín ngưỡng, tạo nên những đặc trưng văn hóa mang đậm dấu ấn tộc người thể hiện nét văn hóa liên tộc người hay văn hóa vùng. Trong đó, đáng chú ý là việc một số tộc người sử dụng ngôn ngữ của các tộc người có dân số đông trong vùng đóng vai trò quan trọng, thể hiện nhu cầu phát triển các mối quan hệ giữa các tộc người. Chẳng hạn, ngoài tiếng Kinh thì đa số các dân tộc vùng Tây Bắc có thể sử dụng được tiếng Thái, ở vùng Đông Bắc là tiếng Tày, không chỉ để giao tiếp với người Thái, ngưòi Tày mà còn giao tiếp với nhau thông qua ngôn ngữ thứ ba. Như vậy, để có thể phát triển mối quan hệ giữa các tộc người thông qua văn hóa, các dân tộc cần hiểu biết, tôn trọng tập quán, lối sống, hệ giá trị của các tộc người láng giềng, không ngừng nâng cao trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống, tổ chức các sinh hoạt văn hóa chung bổ ích để tạo điều kiện cho các dân tộc có thêm nhiều cơ hội giao lưu, hòa hợp, xích lại gần nhau.

Quan hệ trong nội bộ từng tộc người ở Việt Nam hiện nay

 


Quan hệ này được thể hiện chủ yếu thông qua các mối quan hệ trong gia đình, giữa các gia đình trong dòng họ và cộng đồng (láng giềng), giữa các dòng họ, giữa các làng bản đồng tộc. Trong đó, các yếu tố nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng, quan hệ họ tộc, sinh kế vừa là các thành tố văn hoá tộc người, vừa là những nhân tố cố kết các thành viên và bảo vệ bản sắc văn hoá của tộc người. Về Quan hệ về nguồn gc lịch sử tộc người: Các thành viên trong một tộc người đều có chung nguồn gốc, có thể sinh sống lâu đời hay mới di cư đến, cư trú cùng nhau hoặc phải phân ly do quá trình tộc người và biến đổi lịch sử, có thể cùng kết hôn hay kết nghĩa và nhận con nuôi... nhưng hầu hết các thành viên đều có ý thức về cội nguồn dân tộc, từ đó lưu giữ mối quan hệ đồng tộc. Có thể nói, tất cả các tộc người đều có ý thức về cội nguồn của mình, tâm lý gắn kết các thành viên cùng tộc, nhất là cùng dòng họ rất cao. Chẳng hạn như người Hmông, dù ở đâu cũng luôn coi người cùng họ (không nhất thiết phải cùng huyết thống) là anh em ruột thịt có thể sống, chết trong nhà của nhau; quan hệ giữa các thành viên cùng tộc người, mặc dù không được chặt chẽ như cùng họ, nhưng cũng luôn bền chặt bởi tâm lý chung của người Hmông là hướng nội, ưu tiên các quan hệ trong nội bộ tộc người. Về Quan hệ kinh tế: Từ trước đến nay, các gia đình thành viên nội tộc người, nhất là xóm giềng thân thiết, họ hàng thân thích gặp khó khăn luôn hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong các hoạt động sinh kế, về nhân lực thì đổi công, giúp công; về vật lực thì giúp giống cây con, đất đai, công cụ sản xuất, lương thực, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất và các sản vật khai thác từ tự nhiên. Những quan hệ kinh tế này thường được thực hiện một cách vô tư, nhất là trước đây khi một gia đình gặp phải khó khăn như neo đơn, ốm yếu, đói kém.. sẽ nhận được sự giúp đỡ mà không cần phải hoàn trả, cho vay tiền không phải trả lãi, đất đai có thể cho mượn sử dụng hoặc cho luôn... Về Quan hệ xã hội: Sự đổi mới cơ chế kinh tế và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đã tác động mạnh mẽ đến việc mở rộng các mối quan hệ xã hội giữa các đồng tộc sinh sống trên các địa bàn khác nhau. Về Quan hệ văn hóa. Các tộc người thiểu số ở Việt Nam tuy có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, nhất là trong đời sng tín ngưỡng, tôn giáo, tập quán, lễ hội của cộng đồng, dòng họ và gia đình. Tuy nhiên, ở mỗi một tộc người lại có những sắc thái văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo riêng, như quan niệm và nghi lễ thờ cúng tổ tiên, dòng họ của người Hmông khác với thờ cúng Bàn vương của người Dao và cũng khác với nghi lễ thờ cúng ‘Phi’ của người Thái…Đây là các yếu tố quan trọng tạo ra và giữ vững bản sắc văn hóa tộc người, tăng cường tính cố kết cộng dồng, dòng họ và gia đình.

Quan hệ giữa các tộc người với quốc gia - Tổ quốc Việt Nam

 


Được thể hiện ở quan hệ giữa người dân với Đảng, Nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác xây dựng hệ thống chính trị, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Nhờ có chính sách đúng đắn này, đến nay nhiều địa phương các tỉnh miền núi đã xây dựng được đội ngũ cán bộ dân tộc đông đảo, chất lượng ngày càng được nâng cao, họ là nhân tố quan trọng và là cầu nối giữa người dân với Đảng và Nhà nước. Trong các cơ quan Trung ương, nhiều vị trí chủ chốt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ, ngành là người dân tộc thiểu số. Đại biểu Quốc hội là người dân tộc cũng chiếm tỷ lệ khá cao và liên tục tăng theo các khóa. Nhiều cơ quan xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc ở Trung ương và hệ thống chính trị các cấp đều do người dân tộc nắm giữ những trọng trách quan trọng. Tuy nhiên, do trình độ giáo dục có sự khác biệt giữa các tộc người, nên ở một số nơi tỷ lệ cán bộ cấp xã của từng dân tộc không tương xứng với số lượng dân số của dân tộc đó.

Như vậy, có thể thấy mức độ tham gia, đóng góp của các dân tộc trong toàn hệ thống chính trị ngày càng lớn, thể hiện tầm quan trọng và sự bình đẳng trong quan hệ giữa các dân tộc thiểu số với hệ thống chính trị cả nước nói chung và với dân tộc đa số - người Kinh nói riêng ngày càng được đề cao. Rõ ràng, đây là cơ sở để xây dựng mối quan hệ đoàn kết, tin tưởng giữa các dân tộc và của người dân với hệ thống chính trị các cấp. Được thể hiện ở quan hệ giữa người dân với Đảng và Nhà nước thông qua việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và chính sách dân tộc. Chỉ tính từ khi thực hiện đổi mới đến nay, Chính phủ đã triển khai thực hiện khá nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá, nhất là đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới đặc biệt khó khăn như các chương trình, dự án 327, dự án 661, chương trình 135, chương trình 134 và nhiều chương trình, dự án kinh tế - xã hội khác. Các chính sách, chương trình, dự án này đã và đang tạo cơ sở thực tế cho việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng phát triển của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy sự nghiệp giáo dục, chăm lo sức khỏe đối với đồng bào cả nước nói chung và đối với đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng. Các chính sách đó khá toàn diện, từ miễn, giảm học phí, mở rộng hệ thống trường dân tộc nội trú; cử tuyển vào các trường chuyên nghiệp; xây dựng hệ thống y tế địa phương, miễm giảm bảo hiểm y tế. Có thể nói, các chính sách đó rất phù hợp với nguyện vọng và điều kiện thực tiễn của các dân tộc, thực sự đi vào đời sống, góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao ở vùng miền núi và vùng dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Quan hệ dân tộc ở Việt nam hiện nay

 


Quan hệ dân tộc được hiểu là các mối quan hệ, giao lưu, hợp tác gắn bó và tác động lẫn nhau giữa các tộc người trong một quốc gia đa tộc người và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, quan hệ dân tộc được đề cập trên hai phương diện: quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia và quan hệ giữa các quốc gia dân tộc.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, thuật ngữ quan hệ dân tộc thường được hiểu/đồng nhất là quan hệ tộc người. Quan hệ tộc người được hiểu là các mối liên hệ, giao lưu, hợp tác, liên kết, phân ly giữa các cá nhân hay các tổ chức khác nhau trong các cộng đồng của một tộc người hoặc giữa các tộc người. Do đó, khái niệm “quan hệ dân tộc ở Việt Nam cần phải được hiểu là quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia đa tộc người và quan hệ đồng tộc xuyên biên giói. Trên thực tế, quan hệ dân tộc diễn ra ờ mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi trong đời sống của tất cả các tộc người và giữa các tộc người nên rất đa dạng và phức tạp, gồm nhiều chiều, nhiều hình thức, nhiều cấp độ và không gian khác nhau.

Nếu xét theo không gian, các mối quan hệ dân tộc ở Việt Nam diễn ra cả trong vùng nội biênxuyên biên giới. Xuất phát từ đặc điểm cấu trúc dân tộc ở Việt Nam có một tộc ngưòi đa số (người Kinh) và 53 tộc người còn lại là thiểu số (hơn 300 nhóm địa phương), cùng với sự khác biệt về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ phát triển kinh té„ văn hóa, xã hội, quan hệ dân tộc cần được phân biệt/xác định theo các trục quan hệ cơ bản như sau: (1) Quan hệ giữa các tộc người với quốc gia - Dân tộc (nation); (2) Quan hệ giữa tộc người đa số (người Kinh) với các tộc người thiểu số; (3) Quan hệ giữa các tộc người thiểu số và trong nội bộ từng tộc người thiểu số; (4) Quan hệ tộc người xuyên biên giới.

Các mối quan hệ này tuy có vị trí và mức độ ảnh hường khác nhau, nhưng đều có mối liên quan chặt chẽ. Với xu thế cùng cộng cư, hôn nhân hỗn hợp, quan hệ làm ăn và nhiều yếu tổ khác, nhất là dưới tác động của đường lối, chính sách dân tộc tiến bộ của Đảng và Nhà nước Việt Nam đang dần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc. Vì vậy, phạm vi của các mối quan hệ tộc người ở Việt Nam hiện nay không chỉ diễn ra giữa các thành viên trong cùng một tộc người mà cả với các tộc người khác. Trong đó, mối quan hệ giữa người Kinh - tộc người đa số với các tộc người thiểu số được xem là trục quan hệ quan trọng, nhất là sự có mặt của người Kinh ở vùng dân tộc và miền núi hiện nay với số lượng ngày càng gia tăng và có ảnh hường quan trọng đến phát triển bền vững. Bên canh đó, mối quan hệ của từng tộc người với quốc gia dân tộc cũng là nội dung quan trọng cần được nghiên cứu bi nó phản ánh nhận thức, vị thế và sự tham gia của từng tộc người trong sự phát triển chung của quốc gia dân tộc.

Quan hệ dân tộc ở Việt Nam dù trên phạm vi hay lĩnh vực nào cũng luôn hướng tới một hoặc nhiều mục đích: trao đổi kinh tế (bao gồm buôn bán, làm thuê, hợp tác kinh doanh...); duy trì sự gắn kết họ hàng, đồng tộc; chia sẻ các giá trị lịch sử, văn hóa tộc người và các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng; và có thể vì mục tiêu hay lý do chính trị khác... Do đó, nghiên cứu làm rõ vấn đề quan hệ dân tộc ở Việt Nam, cần phải xem xét/phân tích một cách cận trọng các mối quan hệ theo các trục quan hệ, chiều cạnh quan hệ, cấp độ quan hệ và không gian của các mối quan hệ.

CÔNG AN ĐÀ NẴNG BẮT GIAM ĐỐI TƯỢNG TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC!

     Chiều 07/9, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Đà Nẵng đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm (SN 1984, trú phường Thanh Bình, quận Hải Châu) về “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.
     Bùi Tuấn Lâm là thành viên của một số tổ chức gọi là “Tổ chức xã hội dân sự”, mà thực chất là các hội, nhóm chống Đảng, Nhà nước và các tổ chức phản động lưu vong.
     Bùi Tuấn Lâm từng tham gia khóa huấn luyện về “xã hội dân sự”, “đấu tranh bất bạo động”; thường xuyên tham gia các buổi thảo luận về học thuyết xã hội nhằm đào tạo lực lượng hình thành xã hội dân sự; tham gia với các đối tượng chống đối chính trị viết bài xuyên tạc chính quyền, câu kết hoạt động kích động biểu tình gây rối...
     Từ 2013 đến nay, Bùi Tuấn Lâm thường xuyên sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, video, livestream có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; cổ xuý các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, Bùi Tuấn Lâm còn đăng tải, chia sẻ các bài viết xúc phạm lãnh tụ, xúc phạm uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân thực thi pháp luật với mong muốn, mục đích thay đổi chế độ Nhà nước XHCN ở Việt Nam, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân.
     Mặc dù Công an TP Đà Nẵng và chính quyền địa phương nhiều lần nhắc nhở, giáo dục, cảnh báo, tuy nhiên Bùi Tuấn Lâm bày tỏ thái độ bất hợp tác, thách thức. Không từ bỏ hoạt động vi phạm mà ngày càng công khai, quyết liệt chống phá.
     Việc Bùi Tuấn Lâm bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra là kết cục tất yếu của một chuỗi quá trình hoạt động vi phạm pháp luật và chống phá Nhà nước với ảo tưởng thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam./.


Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN ĐÚNG NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề nguyên tắc, là một trong những quan điểm cơ bản, trọng yếu, xuyên suốt và bao trùm trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng, liên quan trực tiếp đến hệ tư tưởng của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Vai trò, tầm quan trọng của tư tưởng, lý luận đã được Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định từ đầu trong tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng Sản lãnh đạo. Ngay từ khi Đảng còn chưa ra đời, năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh, “phải giữ chủ nghĩa cho vững”, “Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt” và chủ nghĩa chân chính, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác - Lênin” Không giữ vững chủ nghĩa thì không thể có phương hướng chính trị đúng, không thể vạch rõ đường lối và phương pháp cách mạng, chiến lược và sách lược cách mạng để tập hợp lực lượng, gây dựng phong trào, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đấu tranh thực hiện lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở nước ta.
     Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề hệ trọng đầu tiên để giữ vững bản chất của một Đảng cách mạng chân chính, liên quan trực tiếp, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Đảng ta đã xác định: Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là đổi mới có nguyên tắc, là kiên định con đường đã lựa chọn - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng ta nêu rõ, nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải ra sức bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh kiên quyết, phản bác sự xuyên tạc, truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối và phản động ở trong và ngoài nước nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta. Phải kiên trì lý tưởng và mục tiêu, kiên định con đường đã lựa chọn, giữ vững vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản, bất luận trong hoàn cảnh và tình huống nào./.




Yêu nước ST.

NHẬN THỨC ĐÚNG N.VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY!

     Kế thừa, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ kinh nghiệm truyền thống của dân tộc dựng nước phải đi đôi với giữ nước và từ thực tiễn của đất nước qua các thời kỳ, dấu ấn lịch sử quan trọng, từ bối cảnh quốc tế, khu vực và từ yêu cầu, khả năng về quốc phòng, an ninh và sự phát triển kinh tế Đảng ta xác định: Quan điểm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong GĐ cách mạng mới.
     Thứ nhất, Đại Hội XIII của Đảng xác định ngày càng đầy đủ, toàn diện về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong nhận thức, lãnh đạo, chỉ đảo của Đảng về mục tiêu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có sự mở rộng và bao trùm hơn so với trước đây, đó là: Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc...
     Thứ hai, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng.
     Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt.
     Thứ ba, Đại hội XIII của Đảng có bước tiến mới về xây dựng và phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang, đó là: Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; vững mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp và có sức mạnh chiến đấu cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống./.




Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 08 THÁNG 9 NĂM 1962!

     “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”.
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội nhà báo Việt Nam”, ngày 08 tháng 9 năm 1962, được đăng trên Báo Nhân dân, số 3089, ra ngày 09 tháng 9 năm 1962.
     Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam diễn ra trong bối cảnh cách mạng nước ta đang trên đà phát triển; miền Bắc đang tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Trong sự nghiệp cách mạng đó, báo chí giữ một vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của nhân dân ta. Tới dự và phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý kiến chỉ đạo sâu sắc, định hướng cho sự phát triển của báo chí cách mạng trong thời kỳ này. Câu nói của Bác khẳng định vai trò của tiếng nói, là một tài sản quý báu của dân tộc, không chỉ những người làm công tác báo chí, mà mỗi người chúng ta đều phải có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị to lớn của tiếng Việt trong sự nghiệp cách mạng. Lời Bác dạy năm xưa đến nay vẫn có giá trị, ý nghĩa sâu sắc, có tác dụng định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ sao cho đúng, chuẩn xác và phải có ý thức bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó lan tỏa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển của nền văn hóa mới trong xu thế hội nhập và phát triển.
     Hiện nay, quá trình hội nhập và sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến việc sử dụng ngôn ngữ, tiếng nói. Bên cạnh những tác động tích cực, tình trạng sử dụng tiếng Việt chưa chuẩn xác, thậm chí kết hợp với các từ ngữ nước ngoài diễn ra phổ biến. Bên cạnh đó, sự du nhập của nhiều yếu tố ngoại lai, việc sử dụng ngôn ngữ tự sáng tác trên mạng xã hội của một bộ phận giới trẻ hoặc như ý tưởng đề xuất thay thế tiếng Việt đang sử dụng thành bản tiếng Việt mới nhưng thiếu thực tế của một vài cá nhân đã xâm hại một cách nghiêm trọng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Để giữ gìn tài sản quý báu của dân tộc không bị mai một, mỗi người chúng ta phải luôn nêu cao ý thức trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và làm phong phú hơn vốn ngôn ngữ của mình, cả trong văn nói và văn viết. Không ngừng trau dồi, nâng cao trình độ sử dụng ngôn từ thuần Việt, trước hết là sử dụng chính xác, hạn chế việc dùng tiếng nước ngoài khi không cần thiết. Đặc biệt cần phải kiên quyết loại bỏ việc pha trộn bừa bãi giữa tiếng Việt với tiếng nước ngoài, sử dụng các từ ngữ méo mó, biến dạng, làm mất đi giá trị vốn có của ngôn ngữ dân tộc.
     Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị to lớn của tiếng Việt. Trước hết, phải sử dụng ngôn ngữ trong sáng trong giao tiếp hằng ngày, không dùng từ ngữ thô tục. Trong quá trình công tác, nhất là trong công tác tuyên truyền, vận động phải căn cứ vào đối tượng và mục đích tuyên truyền để sử dụng ngôn từ cho phù hợp, dễ nghe, dễ hiểu. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn có ý thức tự học, nâng cao trình độ nói và viết sao cho chặt chẽ, logic, tránh dùng những từ đa nghĩa, khó hiểu. Có như vậy, mới hạn chế được những sai sót, góp phần bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt./.
Môi trường ST.

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH!

CHỐNG CHỦ NGHĨA
CƠ HỘI
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Chủ nghĩa cơ hội là hệ thống quan điểm chính trị không theo một định hướng, một đường lối rõ rệt, không có chính kiến hẳn hoi, ngả nghiêng nhằm mưu lợi trước mắt.
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì; Chủ nghĩa cơ hội là chủ nghĩa của những người chủ trương và hành động vô nguyên tắc, hy sinh cái cơ bản để đặt lợi ích cục bộ, trước mắt sẵn sàng thoả hiệp chính trị. 

Bản chất chủ nghĩa cơ hội là trào lưu tư tưởng đối lập với chủ nghĩa Mác- Lênin, là tàn dư tư tưởng tư sản, tiểu tư sản trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Là sự hy sinh lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp công nhân, của dân tộc, vì lợi ích trước mắt của một nhóm, một bộ phận, là sự đầu hàng trước những trào lưu tư tưởng tư sản và phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lênin. 

Chủ nghĩa cơ hội về lý luận đó là sự chiết trung (chủ nghĩa chiết trung), ngụy biện, sẵn sàng thay đổi quan điểm tư tưởng cơ bản để trục lợi chính trị, về kinh tế thể hiện tư tưởng thực dụng sẵn sàng đánh đổi tất cả vì lợi ích trước mắt của một người hay một nhóm người. Về hành động là phiêu lưu thụ động, lúc tả, lúc hữu, lúc nóng vội, lúc chủ quan, không kiên quyết, vô nguyên tắc, không rõ ràng, lờ mờ, quanh co. Về thủ đoạn thì lươn lẹo lắt léo, luồn lách, sẵn sàng thỏa hiệp vô nguyên tắc với mọi trào lưu khi có lợi.

V.I.Lênin khi nói về tính không kiên quyết, vô nguyên tắc, không rõ ràng, lờ mờ, quanh co của chủ nghĩa cơ hội cũng cho rằng; Những người cơ hội chủ nghĩa là những người do dự, thiếu kiên định, dao động và lừng chừng, họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế”(1). 
Vốn bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa cơ hội, những người cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng, dứt khoát, tìm cách thoả hiệp giữa quan điểm này với quan điểm kia, để đứng trung dung giữa những quan điểm đối chọi nhau. Do đó, đối với họ, chỉ luôn là những lời nói bóng gió và giả thiết trống rỗng, là lời nói không đi đôi với việc làm, "cái thói nói cách mạng suông mà không ngượng miệng”.

Theo V.I. Lênin, trong phong trào công nhân và trong Đảng, vẫn còn đó những thủ đoạn, biểu hiện của những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những người mang danh mácxít song lại ưa chuộng những lợi ích nhỏ nhặt, rẻ tiền, nhất thời của “lối sĩ diện” tư sản. Đó là những người sẵn sàng hy sinh lợi ích lâu dài, bền vững của giai cấp vô sản để mưu lợi cho sự "hào nhoáng bề ngoài và chốc lát của mình"; sẵn sàng thoả hiệp với mọi cái xấu để đạt được lợi ích cá nhân. Và thực tế cũng cho thấy rằng, nơi nào có quyền lực, có nhiều lợi ích thì chủ nghĩa cơ hội càng dễ phát sinh; đồng thời ở nơi đó, cũng không thể thiếu những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những kẻ "lập lờ","ẩn mình" dưới những lời nói hay nhưng trong việc làm thì vô nguyên tắc, chỉ chăm chăm lo lợi ích của chính mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

Chủ nghĩa cơ hội có hai khuynh hướng chủ yếu: 
• Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, có tính chất cải lương, thiên về thỏa hiệp, muốn "cải biến" một cách hòa bình. Về thủ đoạn thì lươn lẹo lắt léo, luồn lách, sẵn sàng thỏa hiệp vô nguyên tắc với mọi trào lưu khi có lợi.
Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh làm mờ nhạt, suy yếu, thủ tiêu nội dung cách mạng của Chủ nghĩa Mác, nó “tuyên truyền trong công nhân thứ chủ nghĩa xã hội lửng lơ bên trên lợi ích giai cấp của họ, bên trên đấu tranh giai cấp và ra sức điều hòa theo tinh thần nhân đạo cao cả những lợi ích của hai giai cấp đang đấu tranh với nhau”(2), biến Chủ nghĩa Mác thành cái mà ngay cả giai cấp tư sản cũng có thể chấp nhận được. Vì thế, Ph.Ăng-ghen đã nói rằng, chủ nghĩa cơ hội biến Chủ nghĩa Mác thành một thứ “Chủ nghĩa Mác” bị xuyên tạc méo mó”(3). Chúng ta cần đặc biệt lưu ý chỉ dẫn sau đây của Ph.Ăng-ghen: “Vì những lợi ích nhất thời hàng ngày mà quên đi những quan điểm chủ yếu lớn, chạy theo những thành công chốc lát và đấu tranh cho những thành công chốc lát mà không tính đến những hậu quả về sau, hy sinh tương lai của phong trào vì hiện tại, tất cả những việc ấy có thể xuất phát từ những động cơ “thành thật”. Nhưng đó là và sẽ vẫn là chủ nghĩa cơ hội, mà chủ nghĩa cơ hội “thành thật” có lẽ lại là thứ chủ nghĩa cơ hội nguy hiểm hơn hết cả”(3)(5).

• Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh, là sự pha trộn giữa cực đoan và phiêu lưu, giáo điều, manh động, chủ quan, sùng bái bạo lực, không đếm xỉa tới tình thế khách quan. 
Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh khư khư biến Chủ nghĩa Mác thành một thứ giáo lý chết cứng như kinh thánh của tôn giáo, làm cho Chủ nghĩa Mác mất sức sống, cứng nhắc và không sáng tạo, xa rời đời sống thực tiễn, gần gụi với chủ nghĩa giáo điều, máy móc, rập khuôn. Nó ảo tưởng trong một thời gian ngắn có thể tạo ra một phong trào bất chấp những điều kiện chủ quan và khách quan thực tế hiện có, làm cho Đảng thoát ly quần chúng, mạo hiểm làm bừa. Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh làm cho những nhà lãnh đạo phong trào công nhân rất dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí, không nắm vững quy luật khách quan.(5)

Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi những phần tử cơ hội chủ nghĩa là bọn đầu cơ "Bọn đầu cơ thực ra chỉ là bọn cơ hội chủ nghĩa thực dụng, chúng không có lý luận, chúng chỉ tìm cách “thích nghi” và luồn lách xuất phát từ bản chất của nó là mưu lợi cá nhân, là thói ích kỷ, vụ lợi". Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng bọn đầu cơ cũng giống như là bọn phản động, nó “là địch nhân lọt vào trong Đảng để phá hoại”(4). Nó dùng mọi thủ đoạn như xu nịnh, đút lót, hối lộ, tâng bốc, bênh che, cánh hẩu, ô dù, phe cánh, gian dối... để chui sâu, leo cao, miễn sao nắm được quyền lực để mưu vinh thân phì gia...(5)

QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cơ hội chính là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân “xuất phát từ bản chất của nó là mưu lợi cá nhân, là thói ích kỷ, vụ lợi". Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức cách mạng để chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Người coi đó là cuộc đấu tranh trực tiếp liên quan tới vận mệnh của Đảng và Dân tộc, quyết định đến thành công của sự nghiệp cách mạng. Người chỉ ra rằng:

“Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (6)

Người khái quát : “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó. Những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(9)

Người viết: “Có một số ít cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng”. “Họ tự xem mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền và giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”

Người khẳng định: “Cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá nhân”. Người cũng chỉ rõ về đạo đức cách mạng, trong đó hai tiêu chí “Nhận rõ phải-trái. Giữ vững lập trường” được Người đưa lên hàng đầu, vì hai tiêu chí này đánh giá phẩm chất của người cán bộ cách mạng;

“Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không...”(7)
----------------------------------------
(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 239, (2) Sđd, tập 21, tr.382, (3) Sđd, tập 22, tr.113, 346, (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H.2002, tr.264, (5) Báo QĐND 16/7/2021, (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập12, tr.557-558, (7) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 480), 8 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập12, tr.438-439, (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 9, tr.292./.
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

Ô HAY CHỈ NGA PHẢI CÓ TRÁCH NHIỆM THANH TOÁN CÒN MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY THÌ KHÔNG PHẢI THANH TOÁN SAO?

Mới đây, trong phiên họp Liên Hợp quốc, Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc Rosemary di Carlo yêu cầu Nga phải chuyển điện sản xuất tại nhà máy điện hạt nhân Zaporozhye thuộc về Ukraine : "Như Tổng Thư ký LHQ đã nói rõ, điện sản xuất tại nhà máy điện hạt nhân Zaporozhye thuộc về Ukraine."
     Đại diện Nga tại LHQ ông Nebenzya đáp trả: "Chúng tôi đã nghe những lời nói rằng điện của nhà máy điện hạt nhân Zaporozhye thuộc về Ukraine. Chúng tôi muốn chỉ ra rằng chúng tôi chưa nghe những lời như vậy từ Ban Thư ký Liên Hợp Quốc liên quan đến tài sản tài chính của Nga bị đóng băng ở phương Tây, hoặc liên quan đến dầu mỏ của Syria, thứ đang bị đánh cắp bởi chính quyền Mỹ, những người đang chiếm đóng bất hợp pháp một phần lãnh thổ của Syria. Chưa bao giờ nghe thấy điều đó!".
     Đấy, may nhờ Đại sứ Nga nói, nếu không đến cả Ban Thư ký của Liên Hợp quốc cũng không biết gì về những khuất tất của Mỹ và phương Tây trong chiếm đoạt tài sản của nước khác. Mà xin bổ sung cho Đại sứ Nga, còn nhiều hành động chiếm đoạt khác, như Mỹ vẫn còn cầm hộ hàng chục tỷ USD của người dân Afpaghixtan hay Anh vẫn đang giữ vài chục tấn vàng của Venezuena, dù người dân các nước này đang ch.ết đói.
Văn minh quá mà!

Môi trường ST.