Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2022

Đâu phải một đảng “đẻ ra” tham nhũng

 

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam có những bước tiến quan trọng, rất đáng ghi nhận. Thế nhưng, với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, các thế lực thù địch vẫn ra sức phủ nhận thành quả phòng, chống tham nhũng của Đảng và dân tộc Việt Nam. Chúng quy chụp rằng: Tham nhũng ở Việt Nam là hệ quả của việc Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo và việc phòng, chống tham nhũng  thực chất chỉ là một cuộc thanh trừng nội bộ. Đây là luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Mới đây, RFA đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế”. Bài viết có nhiều nội dung lật lọng, đả kích, cho rằng: Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không? Trên cơ sở đó, tác giả bài viết hồ đồ “hiến kế”, cho rằng ở Việt Nam muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi hoàn toàn cơ chế hiện tại.

Với ý đồ tương tự, một số bài viết đăng trên báo mạng nước ngoài đặt điều cho rằng, ở Việt Nam nên có sự cạnh tranh lãnh đạo giữa các đảng phái mới có thể phát hiện ra những “ung nhọt” hạn chế, yếu kém của nhau; qua đó mới giúp công tác phòng, chống tham nhũng chuyển biến thực chất. Cùng với đó, chúng còn vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị, rồi giả danh những người yêu nước để hiến kế “một cách nghĩa hiệp”...

Các bài viết trên cũng tập trung phủ nhận kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta. Chúng rêu rao, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang ra sức phát động phòng, chống tham nhũng , tiêu cực nhưng đều không thành công, thậm chí, vấn nạn này ngày càng gia tăng rộng khắp. Bởi “bới” chỗ nào cũng ra tham nhũng, sờ đến đâu thì kỷ luật cán bộ đến đấy. Viện dẫn bằng chứng cho những suy diễn đó, chúng chắp vá một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, rồi quy chụp hiện tượng thành bản chất, quy chụp những sự vụ đơn lẻ thành lỗi hệ thống.

Những lập luận, suy diễn trên hoàn toàn thiếu cơ sở; với mưu đồ gây nhiễu loạn thông tin dư luận, gây bất lợi cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam. 

NHẬN DIỆN ĐÚNG MỤC ĐÍCH ĐẢNG TA LÃNH ĐẠO LÀ VÌ NHÂN DÂN!

     Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định, mục tiêu hoạt động là phụng sự nhân dân, vì độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, trong tất cả các hoạt động của Đảng, Nhà nước luôn lấy lợi ích của nhân dân làm đích hướng đến. Đảng và Nhà nước luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Xác định nhân dân là trung tâm, là chủ thể, mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, nguyện vọng của nhân dân nhằm mục tiêu bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đảng, Nhà nước thường xuyên quan tâm củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân; luôn dựa vào dân và tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và quản lý xã hội theo luật pháp.
     Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều chính sách, pháp luật nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động sức lực và trí tuệ của nhân dân trong mọi hoạt động của đất nước theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
     Vì lẽ đó, những chiêu trò như cắt ghép sự kiện, phỏng vấn người nọ người kia để xuyên tạc, chống phá Đảng, nhà nước, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, nhằm hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước. Mỗi chúng ta cần nâng cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh loại bỏ./.


Yêu nước ST.

Lộ trình tăng lương đối với cán bộ, công chức, viên chức

Lộ trình tăng lương đối với cán bộ, công chức, viên chức Chế độ cải cách tiền lương 2 Lộ trình tăng lương đối với cán bộ, công chức, viên chức Lộ trình tăng lương đối với cán bộ, công chức, viên chức là các mốc thời gian cải cách tiền lương qua các năm cho các bạn cùng tham khảo nắm được các lộ trình cải cách tiền lương chi tiết. >> Tham khảo: Từ 2021 - 2025, cải cách cơ bản chế độ tiền lương của công chức. Đây là nội dung nằm trong mục tiêu phấn đấu đạt được, được nêu ra tại Nghị quyết 107/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp. Theo đó, năm 2021: - Thực hiện áp dụng chế độ tiền lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị; - Tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp. Năm 2025: - Thực hiện nâng mức tiền lương của khu vực công phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước; - Tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức cao hơn mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp. - Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Năm 2030: - Thực hiện nâng mức tiền lương của khu vực công phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước; - Tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc cao hơn mức lương thấp nhất của vùng cao nhất của khu vực doanh nghiệp. Tất cả các tài liệu về Văn bản Giáo dục đào tạo, Chế độ quyền lợi của giáo viên, công chức, viên chức được VnDoc cập nhật và đăng tải thường xuyên. Chi tiết nội dung của các Văn bản, Thông tư mời các bạn cùng theo dõi và tải về sử dụng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức cách mạng. Tư tưởng về đạo đức của Người bao gồm những quan điểm cơ bản về vai trò, nội dung và những nguyên tắc trong xây dựng đạo đức mới, thể hiện qua các tác phẩm cô đọng và sâu sắc. Nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng không những là một đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng mà còn góp phần quan trọng trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng (ĐĐCM). Theo tư tưởng của Người, ĐĐCM mang bản chất giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ với truyền thống đạo đức dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại để đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách mệnh (năm 1927) đến bản Di chúc cuối cùng (hoàn chỉnh vào tháng 5/1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng. ĐĐCM trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính logic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam. Thứ nhất, đạo đức là gốc, nền tảng của người cách mạng. Khi bàn về vai trò quan trọng của đạo đức, Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức là yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội loài người và đối với cá nhân con người. Đối với người cách mạng, đạo đức có một vai trò vô cùng quan trọng, Người chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân”1. Với cán bộ, đảng viên (CBĐV), càng phải yêu cầu cao về đạo đức, bởi: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”2. Như vậy, tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là phẩm chất đạo đức: “Đạo đức là gốc”, người cán bộ phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mới có thể trở thành người cán bộ chân chính, “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”3. Trong bài “Đạo đức cách mạng” năm 1958, Hồ Chí Minh khái quát: “Nói tóm tắt thì đạo đức cách mạng là: quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”4. Rõ ràng, đạo đức là động lực to lớn giúp người cách mạng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hiểm nguy. Nhận thức đúng đắn vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của đạo đức đối với người cách mạng cho nên ngay từ đầu cũng như trong suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Hồ Chí Minh đã rất quan tâm, coi trọng xây dựng đạo đức mới – ĐĐCM cho CBĐV và Nhân dân ta. Thứ hai, ĐĐCM được thể hiện ở các phẩm chất: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Những phẩm chất đó có mối quan hệ tác động qua lại biện chứng với nhau, thiếu một phẩm chất thì người CBĐV không thể làm tròn nhiệm vụ do Đảng, Nhân dân và cách mạng giao phó. Vấn đề ĐĐCM và giáo dục ĐĐCM cho đội ngũ CBĐV được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập tới trong nhiều tác phẩm quan trọng. Trong thời kỳ mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, vào năm 1947, Người viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” và “Đời sống mới”. Sau đó, vào năm 1949, Người viết tác phẩm “Cần kiệm liêm chính” và “Dân vận”, nêu bật yêu cầu đạo đức trong tiêu chuẩn cán bộ. Hơn mười năm sau, kể từ khi viết “Sửa đổi lối làm việc” và “Đời sống mới”, vào năm 1958, Người viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng”. Cho đến cuối đời, vào năm 1969, Người viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và “Di chúc”, lại một lần nữa, Người đặt lên hàng đầu ĐĐCM, theo đó, phải ra sức quét sạch “giặc nội xâm” là chủ nghĩa cá nhân – kẻ thù nguy hiểm nhất, ẩn nấp trong lòng mỗi người. Người đã đi sâu, cụ thể hóa các tiêu chuẩn về ĐĐCM, đó là: (1) Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân: đây là phẩm chất, chuẩn mực có ý nghĩa quan trọng hàng đầu của người cách mạng, là tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá đạo đức của con người, của mỗi chiến sỹ cách mạng. Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”5. “Trung với nước”, “hiếu với dân” được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng ĐĐCM của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và Nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, phải đặt lợi ích của cách mạng, của Tổ quốc lên trên hết, trước hết và quyết tâm đấu tranh cho sự phồn vinh của đất nước, đem lại ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. Do đó, theo Hồ Chí Minh, “trung với nước” cũng là “trung với Đảng”, trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với sự nghiệp cách mạng của dân tộc do Đảng lãnh đạo, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. “Hiếu với dân” – theo Hồ Chí Minh là phải tôn trọng, yêu kính Nhân dân, gắn bó máu thịt với Nhân dân, khẳng định sức mạnh to lớn của Nhân dân và phải coi dân là gốc, nền tảng của sự nghiệp cách mạng. Vì “dân” trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dân phải gắn liền với nước, dân là chủ của đất nước, dân có quyền quyết định vận mệnh quốc gia, “bao nhiêu quyền hành, lực lượng đều thuộc về dân”. Vì vậy, hiếu với dân là phải một lòng, một dạ “phụng sự Nhân dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân”6. Ở Người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân. (2) Yêu thương con người: nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với Nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hằng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với người khác. Người từng dạy: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”7. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình. Bác Hồ với bà con Cao Bằng (Ảnh: tư liệu). (3) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: có thể nói đây chính là phẩm chất trung tâm của ĐĐCM trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”8. Theo Hồ Chí Minh, “cần” là phải lao động cần cù, siêng năng, sáng tạo, năng suất, hiệu quả cao, không lười biếng; “kiệm” là phải tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tài sản, tiền bạc của dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, phô trương, hình thức…; “liêm” là phải luôn tôn trọng giữ gìn của công, không tham địa vị, tiền tài, danh vọng…; “chính” là không tà, thẳng thắn, đúng đắn, chân thành, khiêm tốn, không tự cao, tự đại, không dối trá, lừa lọc; việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh. Cần, kiệm, liêm, chính còn là thước đo trình độ văn minh, tiến bộ của một dân tộc. Theo Người: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”9. “Chí công vô tư” là đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của Tổ quốc và của Nhân dân lên trên lợi ích của bản thân; lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Cho nên, thực hành chí công vô tư cũng có nghĩa là kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao ĐĐCM. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Người vẫn căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”10. Như vậy, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư có mối quan hệ mật thiết, khăng khít với nhau, tạo nên sự thống nhất trong phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Đây là phẩm chất được Người đề cập nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Về thực chất, chí công vô tư là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người cho rằng những CBĐV có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách. (4) Tinh thần quốc tế trong sáng: tinh thần quốc tế trong sáng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, là một phẩm chất quan trọng trong tư tưởng đạo đức của Người. Hồ Chí Minh coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cho nên theo Người: “Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả. Đã là đồng chí, thì sung sướng cực khổ phải có nhau”11. Đó là cơ sở bền vững để xây dựng tình cảm cách mạng trong sáng, thuỷ chung giữa các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, vì nền độc lập của mỗi quốc gia dân tộc và quyền tự do, hạnh phúc của mỗi con người. Tinh thần quốc tế trong sáng phải được thể hiện trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, gắn mục tiêu cách mạng của mỗi nước với mục tiêu chung của thời đại: hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhận thức rõ điều đó nên trong quá trình tìm đường cứu nước cũng như sau này trở thành lãnh tụ của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục chủ nghĩa quốc tế vô sản cho Nhân dân ta. Người nhắc nhở: “Tinh thần yêu nước chân chính khác với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế”12. Có thể nói, từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện ĐĐCM cho CBĐV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác xây dựng đội ngũ CBĐV và công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay. Dưới tác động của nhiều yếu tố: sự cám dỗ của lợi ích vật chất, mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, sự kiểm tra, giám sát của tổ chức chưa chặt chẽ, việc tự rèn luyện kém… làm cho một bộ phận không nhỏ CBĐV, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc… Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”13. Chính vì vậy, việc rèn luyện ĐĐCM cho đội ngũ CBĐV càng cần được coi trọng hơn bao giờ hết, nhất là khi chúng ta đang đứng trước thềm Đại hội XIII của Đảng. Để việc rèn luyện phẩm chất ĐĐCM cho đội ngũ CBĐV theo tư tưởng Hồ Chí Minh có hiệu quả thiết thực, cần chú trọng một số nội dung sau: Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBĐV về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐCM. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, tập trung xây dựng ĐĐCM cho CBĐV: tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên hết; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, thật sự là công bộc của Nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội. Mỗi CBĐV cần nhận thức rõ, ĐĐCM sẽ tạo cơ sở vững chắc để người cán bộ giữ vững phẩm cách của mình trước mọi cám dỗ tầm thường, giúp người cán bộ hình thành và củng cố phương pháp, tác phong làm việc khoa học, nâng cao chất lượng công việc đảm nhiệm. Hai là, mỗi CBĐV cần không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”14. Do đó, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi CBĐV vừa phải tích cực, thường xuyên, liên tục, đồng thời phải được gắn liền với mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người trên cương vị, chức trách được giao. Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy đảng các cấp và người đứng đầu trong việc tu dưỡng, rèn luyện ĐĐCM cho đội ngũ CBĐV. Cấp ủy đảng và người đứng đầu phải luôn quán triệt và thực hiện tốt việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ CBĐV ở mọi nơi, mọi lúc, mọi công việc và trong các mối quan hệ. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, thẳng thắn chỉ rõ khuyết điểm, đề cao tinh thần “tự soi”, “tự sửa” trong mỗi CBĐV và tổ chức đảng. Cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, đảng viên làm gương trước quần chúng. Tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), Đảng ta đã ban hành Quy định về trách nhiệm nêu gương của CBĐV, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương (Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018), trong đó yêu cầu CBĐV, nhất là người đứng đầu phải “không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành”. Như vậy, xây dựng đội ngũ CBĐV có lập trường, quan điểm vững vàng; luôn gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, phát huy tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực công tác, phong cách lãnh đạo, sâu sát quần chúng, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân là vô cùng cần thiết. Chú trọng rèn luyện cho cán bộ tinh thần chủ động khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, cần sớm xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của CBĐV với tổ chức đảng và với Nhân dân, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới để mỗi CBĐV lấy đó làm tiêu chí tự giác phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện theo chuẩn mực ĐĐCM. Hằng năm, người đứng đầu và từng CBĐV có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Bốn là, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực toàn diện cho đội ngũ CBĐV, giúp họ vươn lên chiếm lĩnh tri thức, làm chủ khoa học công nghệ, vững vàng chuyên môn nghiệp vụ. Trong một xã hội vận động và biến đổi nhanh chóng, đất nước hội nhập sâu rộng với thế giới đã và đang đặt ra yêu cầu, đòi hỏi rất cao về năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất, đạo đức, bản lĩnh chính trị đối với mỗi người CBĐV, công chức, viên chức. Do vậy, để tránh tụt hậu, đáp ứng được yêu cầu của công việc, tiến tới có đủ năng lực làm việc được trong môi trường quốc tế, mỗi người cần có tinh thần cầu thị, không ngừng cố gắng, nỗ lực học tập, rèn luyện để tự hoàn thiện bản thân. Có như vậy, chúng ta mới xây dựng được một đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

CNXH và con đường đi lên CNXH - Nhìn từ thực tiễn Việt Nam

CNXH và con đường đi lên CNXH - Nhìn từ thực tiễn Việt Nam Đó là chủ đề bài nói chuyện của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Trường Đảng cao cấp Ni -cô Lô -pết nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa Cu -ba. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn bài nói chuyện này... QĐND - Đó là chủ đề bài nói chuyện của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Trường Đảng cao cấp Ni -cô Lô -pết nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa Cu -ba. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn bài nói chuyện này. Thưa các đồng chí và các bạn, Nhân dịp sang thăm Cu -ba, hôm nay Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam hết sức vui mừng đến thăm Trường Đảng Cao cấp Ni -cô Lô -pết - một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ rất quan trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Cu -ba. Thay mặt các đồng chí trong Đoàn và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi tới các đồng chí và các bạn lời chào đoàn kết và hữu nghị. Chúc mối quan hệ tốt đẹp của chúng ta ngày càng phát triển, mãi mãi gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau, cùng vững bước trên con đường đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong không khí tin cậy, thắm tình đồng chí anh em, tôi xin trao đổi với các đồng chí một số ý kiến chung quanh vấn đề CNXH và con đường đi lên CNXH. Đây là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học. Tôi chỉ xin đề cập một số khía cạnh từ góc nhìn thực tiễn của Việt Nam để các đồng chí tham khảo, cùng trao đổi. Và cũng chỉ tập trung vào trả lời mấy câu hỏi: CNXH là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN)? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được CNXH ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên CNXH ở Việt Nam trong 25 năm qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì? Như chúng ta biết, CNXH thường được hiểu với ba tư cách: CNXH là một học thuyết; CNXH là một phong trào; CNXH là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. CNXH đề cập ở đây là CNXH khoa học dựa trên học thuyết Mác – Lê -nin trong thời đại ngày nay. Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước XHCN thế giới thì vấn đề đi lên CNXH ở Việt Nam chúng tôi dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi Liên Xô tan rã, chế độ XHCN sụp đổ ở nhiều nước, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên CNXH lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác -Lê-nin, CNXH. Từ đó, họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác -Lê-nin và con đường XHCN! Có phải như vậy không? Có phải hiện nay CNTB, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản (CNTB) chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Tuy nhiên, nó không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, CNTB thế giới đã một lần nữa bộc lộ rõ bản chất của mình bằng việc thúc đẩy các chính sách "tự do mới" trên quy mô toàn cầu. Và hôm nay chúng ta đang chứng kiến những diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế, bắt đầu từ năm 2008 ở nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm TBCN khác và tác động đến hầu hết các nước ở các châu lục. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng chưa thành công. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội TBCN: Đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu nghèo càng lớn. Những tình huống "phát triển xấu", những nghịch lý "phản phát triển", từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn vào lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật đơn giản là bản thân thị trường tự do của CNTB không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình "đồng thuận Oa -sinh-tơn" vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý. Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng TBCN. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững cả về kinh tế, xã hội và sinh thái của nó; như Mác đã từng nói, CNTB đang hủy hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động và tài nguyên. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ TBCN. Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị TBCN. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề đảm bảo để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát phần lớn nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là "tự do" dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản. Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải cạnh tranh thắng - thua vì lợi ích vị kỷ của cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng đó chính là những giá trị đích thực của CNXH. Đó cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Hồ Chí Minh, Phi-đen Ca -xtrô và nhân dân hai nước chúng ta đã lựa chọn và đang kiên trì, kiên định theo đuổi. Thưa các đồng chí, Như các đồng chí và các bạn đã biết, nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc, để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do". Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc. Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: CNXH là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: "Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên CNXH, bỏ qua giai đoạn TBCN". Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới CNXH hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước XHCN không còn, phong trào XHCN đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Mới đây, tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng tôi một lần nữa khẳng định: "Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử". Tuy nhiên, CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào? Đó là điều mà chúng tôi luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm, làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về CNXH và thời kỳ quá độ đi lên CNXH; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: Đồng nhất mục tiêu cuối cùng của CNXH với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ; đồng nhất kinh tế thị trường với CNTB; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản... Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng tôi đã nhận thức rằng: Xã hội XHCN mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng tôi phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam càng nhận thức được rằng, quá độ lên CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ TBCN, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột TBCN; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ XHCN, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển CNTB. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải trên quan điểm phát triển, có chọn lọc. Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng chúng tôi, là thành quả lý luận quan trọng qua hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng tôi, kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Nó là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây không phải là nền kinh tế thị trường TBCN và cũng chưa phải là kinh tế thị trường XHCN (vì chúng tôi còn đang trong thời kỳ quá độ). Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế; kinh tế hỗn hợp, đa sở hữu, nhất là các doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để đảm bảo sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng XHCN. Đảng chúng tôi coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và xác định phát triển văn hóa đồng bộ, tương xứng với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội cũng là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Nền văn hóa mà Việt Nam xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Chúng tôi xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh. Xã hội XHCN là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng tôi chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Chúng tôi nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ TBCN về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng tôi xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng XHCN, chúng tôi đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ XHCN. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đảng chúng tôi kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hóa v.v..., nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa v.v.. trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị. Thưa các đồng chí, Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã thực sự đem lại những thay đổi tích cực cho đất nước chúng tôi trong hơn 25 năm qua. Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái. Tôi chỉ nêu thí dụ, cho đến nay vẫn có hàng triệu người chịu các bệnh hiểm nghèo và hàng trăm nghìn trẻ em bị dị tật bẩm sinh bởi tác động của chất độc da cam /đi-ô-xin do quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Theo các chuyên gia, phải mất đến hơn 100 năm nữa Việt Nam mới có thể dọn sạch hết bom mìn còn sót lại sau chiến tranh; riêng tại tỉnh Quảng Trị, nơi mà đồng chí Phi -đen đến thăm năm 1973, vẫn có đến 45% diện tích đất nông nghiệp còn có bom mìn sót lại. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng tôi. Lương thực, hàng hóa nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ. Đó là một thực tế ở Việt Nam trong thời kỳ trước đổi mới. Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 25 năm qua với mức tăng trưởng trung bình đạt 7 - 8% mỗi năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng gấp gần 11 lần; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không chỉ đã đảm bảo được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 80% GDP. Xuất khẩu cũng tăng mạnh, đạt xấp xỉ 100 tỷ USD năm 2011. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 200 tỷ USD vào cuối năm 2011. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 34% từ kinh tế nhà nước, 5% từ kinh tế tập thể, 31% từ kinh tế hộ, 11% từ kinh tế tư nhân trong nước và 19% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện dân số của Việt Nam là hơn 86 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 70% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỷ lệ người nghèo trung bình mỗi năm giảm từ 2 - 3% và cứ 10 năm giảm còn một nửa; giảm từ 75% năm 1986 xuống còn 9,5% năm 2010. Đến nay, hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại. Trong khi chưa có điều kiện để đảm bảo giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 9 lần trong 25 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em giảm gần 3 lần; tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm khoảng 6 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73 tuổi năm 2010. Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng tôi đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có khoảng 25 triệu người sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến hết sức tích cực ở Việt Nam: Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, an ninh được đảm bảo; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ X của chúng tôi đã nhận định, sự nghiệp đổi mới đã giành được "những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử". Trên thực tế, xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đó là một trong những lý do giải thích vì sao sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo được toàn dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng và tích cực phấn đấu thực hiện. Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng XHCN không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước TBCN có cùng mức phát triển kinh tế. Thưa các đồng chí, Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng tôi cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước. Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng còn thấp, thiếu bền vững; hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi; công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập. Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác còn nhiều hạn chế; văn hoá, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Đặc biệt, hiện tượng tham nhũng, lãng phí, sa sút về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống có xu hướng lan rộng trong không ít cán bộ, đảng viên. Điều không thể không nhắc đến là các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình" nhằm xóa bỏ CNXH ở Việt Nam. Chúng tôi nhận thức rằng, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên CNXH, hướng tới CNXH. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN, gồm cả các nhân tố TBCN trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và tiến tới không thể đảo ngược được. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Hiện nay, chúng tôi đang đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chú trọng hơn chất lượng và tăng tính bền vững với các khâu đột phá là phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển nguồn nhân lực và cải cách hành chính. Về xã hội, chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hóa cho nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Vừa qua, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" với quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài. Vì vậy, bên cạnh việc bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy nó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển. Mặt khác, Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình mà còn phải từ thực tiễn thế giới và thời đại. Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, ở bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng tôi chủ trương phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi. Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và đứng vững trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Thưa các đồng chí và các bạn, Trên đây tôi đã giới thiệu vắn tắt với các đồng chí và các bạn một số vấn đề về CNXH và con đường đi lên CNXH từ thực tiễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam để các đồng chí tham khảo. Chúng tôi ý thức được rằng, đây là công việc vô cùng phức tạp đối với chúng tôi, là công việc chưa có tiền lệ, phải vừa làm vừa mò mẫm, rút kinh nghiệm; vừa qua mới chỉ là những bước đi ban đầu, còn rất hạn chế. Rất mong được các đồng chí góp ý. Vả lại, chúng ta đều biết, mục tiêu của CNXH có thể giống nhau nhưng biện pháp, cách đi đến các mục tiêu đó có thể rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước. Đó là cả một không gian sáng tạo to lớn, đầy sức sống. Sau khi CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông âu, một số nhà tư tưởng phương Tây đã tuyên bố về "sự cáo chung của lịch sử". Nhiều chính khách và phần tử cơ hội đã dự báo về sự sụp đổ tiếp theo của các nước XHCN còn lại trên thế giới. Nhưng lịch sử đã không diễn ra như họ nghĩ. Trung Quốc, Việt Nam, Lào, …đang đổi mới thành công, giành được nhiều thành tựu và tiếp tục vững bước đi lên CNXH. Cu -ba vẫn hiên ngang đứng vững, vẫn là tấm gương sáng về tiến bộ và công bằng xã hội, về đoàn kết quốc tế, về tinh thần bất khuất vì tự do cho các dân tộc và phẩm giá con người. Và những bước tiến cách mạng đang diễn ra ở Vê -nê-xu-ê-la, Bô-li-vi-a, ê-cu-a-đo... cùng sự lớn mạnh của các phong trào cánh tả tại nhiều nước Mỹ La -tinh khác thể hiện trào lưu hướng tới CNXH đang nổi lên mạnh mẽ tại Tây Bán cầu này. Các nước XHCN khác tại châu á vẫn tiếp tục con đường tiến lên phía trước. Nhiều đảng cánh tả, các phong trào nhân dân tiến bộ các nước tại các châu lục ngày càng giương cao khẩu hiệu đấu tranh vì CNXH và xác định ngày càng rõ rằng đây là sự lựa chọn duy nhất đúng để vượt qua những bế tắc của mô hình phát triển đang khủng hoảng hiện nay. Đó là những bằng chứng đầy khích lệ về sức sống của CNXH. Thưa các đồng chí, Chúng tôi rất vui mừng được biết, Đảng Cộng sản Cu -ba tại Đại hội VI (tháng 4-2011) và Hội nghị toàn quốc của Đảng (tháng 01-2012) vừa qua, đã có những quyết sách chiến lược quan trọng để tạo động lực mới phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng, nhân dân Cu -ba dũng cảm, anh hùng trong chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, sáng tạo và năng động trong xây dựng đất nước nhất định sẽ đạt được những thành tựu to lớn, đưa Cu -ba vượt qua những khó khăn trên con đường phát triển, xây dựng thành công CNXH ở Cu -ba. Chúng tôi mong muốn, hai Đảng và hai nước chúng ta sẽ tiếp tục cùng sát cánh bên nhau vững bước trên con đường vì độc lập dân tộc và CNXH.

Xây dựng hình mẫu con người mới xã hội chủ nghĩa có tri thức, đạo đức, thế lực, lối sống và thẩm mỹ cao, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Xây dựng hình mẫu con người mới xã hội chủ nghĩa có tri thức, đạo đức, thế lực, lối sống và thẩm mỹ cao, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (ĐCSVN) - Trong niềm tự hào và xúc động kỷ niệm 131 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tác phẩm nghiên cứu "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng như một thông điệp khẳng định mạnh mẽ ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục hành trình và vững bước trên con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Ảnh minh họa. Nguồn: tuyengiao.vn Bài viết của đồng chí Tổng Bí thư sau khi được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng đã nhận được rất nhiền phản hồi mang tính tích cực, sự đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao của dư luận xã hội; đặc biệt là của các học giả, các nhà nghiên cứu lý luận ở trong và ngoài nước, bởi đây là một công trình nghiên cứu rất sâu sắc về chủ nghĩa xã hội, có giá trị về cả phương diện lý luận và chỉ đạo thực tiễn. ÔngDenis Rondepierre, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Pháp (PCF) nhận định bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bao hàm những giá trị xuyên suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh(1). Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư đã nói rõ rằng việc lựa chọn các mô hình phát triển phải đảm bảo lợi ích cho tất cả mọi người, giải phóng xã hội và con người, theo đó xã hội cần phát triển để phục vụ con người, chứ không phải là một xã hội chỉ theo đuổi lợi nhuận và bóc lột, làm phương hại đến phẩm giá con người(2). Do đó, trong công cuộc đổi mới đất nước,việc xây dựng, đào tạo thế hệ trẻ là việc quan trọng, cấp bách, đòi hỏi một kế hoạch kỹ lưỡng, chiến lược bền bỉ và mang tính lâu dài, bền vững bởi vì đó là nhiệm vụ đào tạo thế hệ cách mạng kế cận, góp phần tạo nên con người mới xã hội chủ nghĩa. Trên nền tảng bài nghiên cứu của Tổng Bí thư, trong bài viết này, tôi xin phép được nêu những nhận thức và quan điểm của mìnhvề tính cấp thiết, vai trò, nhu cầu, và giải pháp của việc đào tạo thế hệ trẻ - những con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. 1. Vai trò của con người mới xã hội chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng đất nước Chúng ta biết rằng, có một nội dung bao chứa rộng lớn cả về lý luận và thực tiễn nằm xây dựng chế độ mới và giải phóng con người, vì con người ở trong kho tàng lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”(3). Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh Cách mạng, minh triết đó không chỉ đã trở thànhphương châm hành động mà còn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Trong công trình nghiên cứu của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhấn mạnh:“Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh”(4). Do đó, chúng ta thấy rằng, muốn xây dựng một xã hội đương đại thì yếu tố con người luôn luôn đóng vai trò then chốt bởi vì những con người tiêu biểu đại diện cho sự phát triển xã hội của nó. Lịch sử thường gọi nó là “thời đại” và “con người của thời đại”. Kể từ khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ thì vấn đề tiến lên xã hội chủ nghĩa lại trở thành tâm điểm của nhiều cuộc bàn luận, thảo luận. Rất nhiều ý kiến tranh luận, thậm chí tranh cãi gay gắt được đưa ra. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, cực đoan đã thừa cơ xuyên tạc, công kích, bội nhọ, bài trừ, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta. Mặc dù lịch sử đã chứng minh rằng: việc lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là đúng đắn, do nhân dân Việt Nam lựa chọn, nhưng vẫn còn có một bộ phận còn có “tư tưởng xét lại”, nghi ngờ thành quả của Cách mạng Việt Nam. Thực tế chứng minh rằng, tư bản chủ nghĩa tuy có đạt được rất nhiều thành tựu lớn nhưng cũng có rất nhiều thiếu sót, đặc biệt về sự phân hóa giàu/nghèo, các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị và cả khủng hoảng y tế dưới tác động của những điễn biến phức tạp trong các đợt bùng phát đại dịch Covid-19. Theo học thuyết Marx-Lenin thì chủ nghĩa xã hội là xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, việc định hướng và xác định con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là cần thiếtvà chúng ta cần phải kiên định với con đường đã chọn. Do đó, con người mới xã hội chủ nghĩa phải là con người được đào tạo bài bản, sống có lý tưởng Cách mạng, tư tưởng chính trị, lập trường vững vàng, sẵn sàng chung tay, vững bước cùng xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh. Lãnh thổ đất liền của đất nước chúng ta trải dài trên khoảng 15 vĩ độ, trên đó có 54 dân tộc anh em cùng chung sống. Quy mô dân số nước ta là hơn 97 triệu dân(5). Theo UNFPA, Việt Nam chúng ta hưởng thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” và sẽ kết thúc vào năm 2040(6). Mặt khác, cùng với cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư, không chỉ Việt Nam chúng ta mà tất cả các nước trên thế giới cùng đang vận động và thay đổi từng ngày. Với thời kỳ cơ cấu dân số vàng, không khó có thể nhận ra rằng Việt Nam đang đứng trước một cơ hội chưa từng có để có thể thực hiện những bước chuyển mình nhanh chóng về các mặt: kinh tế – xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục,… Do đó, chúng ta phải tận dụng thời cơ này một cách triệt để để thu hẹp lại khoảng cách với các cường quốc trên thế giới. Trong giai đoạn từ nay đến khi kết thúc thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, đất nước chúng ta sẽ hướng tới những ngày lễ kỷ niệm lớn như 100 năm ngày thành lập Đảng vào năm 2030, xa hơn nữa là 100 ngày thành lập nước vào năm 2045.Vì vậy, để công cuộc đổi mới, con đường lên xã hội chủ nghĩa Việt Nam đạt được những thành quả như kỳ vọng, nói cách khác, tất cả những tiềm năng đang có của đất nước ta có phát huy và tỏa sáng rực rỡ được hay không thì công tác chú trọng tới thế hệ trẻ phải được chuẩn bị ngay từ bây giờ. Đứng trước“giai đoạn vàng” này, chúng ta đã có đầy đủ trong tay tất cả về mặt thời điểm cũng như cơ hội, nhưng yếu tố con người luôn đóng vai trò quan trọng nhất. Như lời Bác Hồ kính yêu đã căn dặn:“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, nếu không có sự đào tạo, chuẩn bị thì chúng ta sẽ mất đi một lực lượng kế cận, một nguồn chất xám cần thiết để xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, trong cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ tư hiện nay, tất cả mọi thứ đều phát triển và thay đổi rất nhanh và đòi hỏi chúng ta phải thích ứng kịp thời với thời đại. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải thừa nhận một thực tế rằng thời gian không trừ một ai và trong tương lai ngắn, thế hệ trẻ - những con người mới xã hội chủ nghĩa này sẽ trực tiếp nắm trong tay vận mệnh đất nước, cùng nhau chèo lái con thuyền Việt Nam vượt qua khó khăn, sóng gió, vững bước trên con đường chủ nghĩa xã hội đã được lựa chọn. Vậy nên, cần khẳng định rằng công tác xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa hiện nay nắm vai trò cực kỳ quan trọng, bởi vì những hạt giống tốt thôi chưa đủ, chúng cần phải được ươm mầm, vun vén và chăm sóc kỹ càng thì mới có thể phát triển tốt, đủ sức chống chọi với những mầm bệnh. 2. Thực trạng xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước - từ góc nhìn đào tạo thế hệ trẻ Như đã phân tích ở trên, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa phải dựa trên nền tảng là đào tạo ra một lớp thế hệ trẻ kế cận được trang bị một cách toàn diện. Đây cũng mục tiêu giáo dục con người không chỉ ở Việt Nam mà còn là ở tất cả các nước trên toàn thế giới. Việc phát triển con người một cách toàn diện thực chất là xây dựng con người mới có đủ năng lực làm chủ bản thân và xã hội. Tư tưởng coi trọng nhân tố con người này của Đảng ta đã được cụ thể hóa trong các văn kiện, có thể ví dụ như: - Nghị quyết 33 (Số 33-NQ/TW) về Định hướng xây dựng và phát triển văn hóa, con người đã xác định rõ mục tiêu là “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”. - Vấn đề “phát triển con người toàn diện” trong các văn kiện của Đại hội XII được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016-2020,đó là xây dựng “con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. - Trong văn kiện của Đại hội XIII của Đảng, khi đề cập đến quan điểm về văn hóa, Đảng ta luôn nhấn mạnh việc phát huy vai trò con người, xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam. Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư cũng đã khẳng định: con người là một khối tổng hòa của các yếu tố tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ và con người mới xã hội chủ nghĩa phải được trang bị đầy đủ các yếu tố đó. Nếu thiếu đi một yếu tố nào đó thì vấn đề phát triển toàn diện sẽ không còn được đảm bảo. Những yếu tố trên sẽ được phân tích dưới đây: Một là, yếu tố tri thức đóng vai trò quan trọng bởi tri thức là sức mạnh. Việc tiếp thu, lĩnh hội các văn minh, tiến bộ của nhân loại là điều cần thiết bởi đó là hành trang cho con người mới xã hội chủ nghĩa có tri thức, khoa học, công nghệ tự tin sánh đưa đất nước ngang các nước phát triển. Nói cách khác, tri thức là chìa khóa giúp con người bước ra thế giới bên ngoài. Như nhà vật lý thiên tài Albert Einstein đã nói:“Khi chúng ta hiểu biết càng nhiều thì cái tôi cá nhân càng bé lại”, khi đó mong muốn tiếp thu tri thức của con người mới xã hội chủ nghĩa sẽ ngày càng mạnh và những tri thức đó sẽ được vận dụng để đóng góp không chỉ để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà còn cho cả cộng đồng nhân loại thế giới. Hơn nữa, trí lực có tốt thì con người mới đủ tỉnh táo để chống lại mọi thông tin giả, không đúng sự thật và phản bác lại được những luận điệu sai trái, thù địch. Hai là, Bác Hồ đã nói:“Có tài mà không có đức là người vô dụng”. Bác căn dặn muốn trở thành người giúp ích cho xã hôi, đất nước thì phải có đạo đức tốt. Trong cuộc sống, chúng ta đã thấy có những cá nhân biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa; có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho cộng đồng, xã hội, bức xúc trong dư luận, làm giảm lòng tin của nhân dân vào quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.Vì vậy, người có tài mà không có đức, không đặt lợi ích quốc gia dân tộc trên lợi ích cá nhân sẽ là nguy cơ gây ra những hậu quả khôn lường, nghiêm trọng; không chỉ cho bản thân mà còn cho cả cộng đồng. Ba là, thể lực tốt và lối sống lành mạnh sẽ giúp cho con người mới xã hội chủ nghĩa có đủ tỉnh táo để chống lại mọi cám dỗ của cuộc sống, tránh xa các tệ nạn xã hội. Rèn luyện thể lực là không ngừng chú trọng tập luyện, nâng cao thể chất, vóc dáng, sức mạnh của con người. Mọi người lao động dù ở bất kỳ ngành nghề nào đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất. Hơn nữa, cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau và trong những thử thách hết sức khó khăn và khắc nghiệt. Vậy, muốn có thể lực tốt thì ngoài việc rèn luyện thể thao thường xuyên, cũng cần có một chế độ sống, lối sống hợp lý, tránh xa các chất kích thích gây tổn hại cho cơ thể và hệ thần kinh. Bốn là, tính thẩm mỹ cao mang lại cái đẹp cho con người, mang lại nhiều vẻ đẹp cho xã hội. Tính thẩm mỹ ở đây không đơn thuần là vẻ đẹp bên ngoai mà còn là tính nhân văn, nhân đạo của con người. Vẻ đẹp trong cuộc sống luôn có muôn sắc thái khác nhau và được thể hiện ra trong từng hành động, từng lời nói, từng cử chỉ của con người trong các mối quan hệ, giao tiếp xã hội. Như lúc sinh thời, Bác Hồ cũng đã dặn dò:“Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”. Để xã hội tốt hơn, chất lượng cuộc sống cao hơn thì thẩm mỹ của con người cũng cần chú trọng. Xét tới hiện nay thì công cuộc đào tạo thế hệ trẻ - những con người mới xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta đã có thành quả đáng khích lệ. Tuy chưa có điều kiện để đảm bảo giáo dục miễn phí cho tất cả các cấp học nhưng Việt Nam tập trung hoàn thành xóa nạn mù chữ, phổ cập giáo dục và có tới 95% người lớn biết đọc, biết viết(7). Số sinh viên học cao đẳng, đại học và sau đại học tăng lên hằng năm với chất lượng ngày càng được cải thiện. Cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo ngày càng được mở rộng, nâng cấp và cải thiện. Các chương trình hợp tác quốc tế mở ra tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên dễ dàng tiếp cận được với tri thức nước ngoài. Đội ngũ giảng viên được đào tạo bài bản ở trong và ngoài nước, nắm chắc chuyên môn, có những phương pháp đào tạo khoa học đã cải thiện đáng kể chất lượng sinh viên Việt Nam, rất nhiều sinh viên Việt Nam đi du học và tỏa sáng rực rỡ trên đất bạn. Về mặt thể chất thì sức vóc người Việt có sự cải thiện đáng kể. Chúng ta dần có nhiều những thành tích cao trên đầu trường thể thao quốc tế. Điều đó cho thấy rằng công cuộc giáo dục con người đã được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm và chú trọng. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng còn có nhiều điểm cần cải thiện, đặc biệt vấn đề phân hóa, chênh lệch trình độ giữa các vùng miền trên Tổ quốc bởi với hơn 60% dân số sống nước ta ở nông thôn(8). Tóm lại, nhìn chung tất cả những gì chúng ta đã, đang có là cơ sở tiền đề tốt, vững chắc để có thể đáp ứng được công cuộc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. 3. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo thế hệ trẻ góp phần hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa Trong cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư hiện nay, Việt Nam không thể là một đất nước đứng ngoài cuộc. Việc ứng dụng các giải pháp công nghệ cao hiện nay vào cuộc sống đã giải phóng sức lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm thời gian cũng như tiền bạc. Sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã len lỏi vào mọi góc cạnh của cuộc sống khiến chất lượng cuộc sống được cải thiện đáng kể. Người dân được tiếp cận nhanh, dễ dàng với những gì mình muốn, vì vậy chúng ta cần tiếp tục phát huy những gì đang có và đổi mới, sáng tạo vì cuộc sống chất lượng hơn. Bên cạnh đó, những nghiên cứu mang tính ứng dụng nên được đầu tư mạnh mẽ. Mô hình nghiên cứu 5 nhà bao gồm : nhà trường - nhà khoa học - nhà đầu tư - nhà kinh doanh - nhà nước sẽ góp phần đẩy mạnh sự phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ở đất nước ta. Mô hình liên kết này đã được trình bày và giới thiệu ở Diễn đàn Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu lần thứ 3 năm 2020 do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức. Bài toán nguồn lực cũng là bài toán hóc búa bởi lực lượng trí thức trẻ - những con người mới xã hội chủ nghĩa sẽ là nhân tố quan trọng trong việc vận dụng và thực hiện các hoạt động đưa Việt Nam vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa. Phát triển nguồn lực chất lượng và lâu dài là điều kiện cần thiết bởi nội lực có mạnh thì đất nước mới phát triển mạnh. Các quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Israel,… trở nên giàu có nhờ họ đã xây dựng được lực lượng thế hệ trẻ chất lượng. Ngoài nguồn nhân lực trong nước thì những người Việt Nam ở nước ngoài (lực lượng kiều bào) cũng là nguồn lực không thể bỏ qua. Người Việt Nam sống ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc, rất nhiều nhà khoa học, học giả, nhà kinh doanh,… người Việt trên thế giới luôn sẵn sàng góp công sức, ý kiến của mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Họ cũng truyền cho thế hệ người Việt sau khi sinh ra ở nước ngoài tinh thần hướng về nguồn cội cha ông. Vì vậy, đất nước ta phát triển được sẽ có phần không nhỏ từ khối đại đoàn kết dân tộc và lực lượng này cũng sẽ góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra ngoài thế giới. Cuối cùng là nên tạo cơ hội để các bạn trẻ có chuyên môn, có năng lực được cống hiến, dấn thân, đảm nhận công việc và có môi trường để phát triển toàn diện. Việc này sẽ giải quyết đồng thời hai vấn đề: kế thừa và phát huy. Thế hệ trẻ Việt Nam sẽ kế thừa những thành quả, lĩnh hội những kinh nghiệm, bài học quý báu do thế hệ trước truyền lại. Cùng với đó, những năng lực của bản thân, tri thức cũng như đạo đức đã được trau dồi, những người trẻ sẽ phát huy được những tiềm năng của bản thân và sẵn sàng đảm nhiệm vai trò làm chủ đất nước, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, dân tộc Việt Nam quyết tâm hiện thực hóa khát vọng xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Dựa vào những phân tích trên, mục tiêu chúng ta phấn đấu là xây dựng được một thế hệ thanh niên Việt Nam sống có tri thức, có đạo đức phẩm chất tốt đẹp, lối sống văn minh, lành mạnh, vóc dáng đẹp và có nét đẹp về tâm hồn, sống nhân văn. Đó cũng là động lực để chúng ta hiện thực hóa mục tiêu này bởi vì tương lai của đất nước chính là tương lai của mỗi con người chúng ta, và công việc này cần sự chung tay, đoan kết của tất cả mọi người chứ không phải riêng mình ai. Vì vậy, có thể nói rằng việc xây dựng một đội ngũ con người mới xã hội chủ nghĩa vừa hồng, vừa chuyên là mục tiêu, cũng là động lực trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam./.

 

TÍCH CỰC CHỐNG TIN GIẢ VỚI CÔNG TÁC ĐẤU TRANH

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Trên các nền tảng mạng xã hội, số lượng bài đăng vượt ra khỏi khả năng xử lý hay kiểm tra thông tin của nhà quản lý. Các dạng bài này pha trộn đủ loại thông tin: thật, giả, sai lệch ngữ cảnh và cả thông điệp tuyên truyền.

Đừng vội ấn nút Share (chia sẻ). Phương tiện truyền thông xã hội được xây dựng để người dùng nhanh chóng chia sẻ các nội dung mà chưa chắc họ đã kịp đọc xong. Cho dù 1 video trên TikTok, Tweet hay YouTube có sức tàn phá, kinh ngạc hay đáng phẫn nộ thế nào, bạn cũng nên chậm lại trước khi đưa nó vào mạng lưới của mình. Những điều cần làm trước khi đặt lòng tin hoặc Share thông tin

Kiểm tra nguồn

Trong cuộc xung đột vũ trang trên thực địa, cả hai bên đều tung ra nhiều thông tin gây nhiễu. Người đọc nên tiếp cận từng bài đăng với thái độ hoài nghi, khi rất nhiều chuyên gia chính trị, các nhân vật nổi tiếng trên Internet cũng đang đăng những thông tin không chính xác. Ngay cả khi người đăng là người có chuyên môn hay một chuyên gia, cũng cần nhớ rằng phải có sự xác nhận từ nhiều nguồn khác nhau. Dấu tích xanh (chứng nhận tài khoản chính chủ) cũng không khiến nội dung được đăng từ tài khoản đó trở nên đáng tin cậy trong trường hợp này.

Hãy cảnh giác với những thứ kiểu như các ảnh chế từ chụp màn hình khi chúng có thể tạo ra phản ứng cảm xúc đặc biệt mạnh. Thông tin biến dạng có thể là mồi nhử để người đọc lan truyền nội dung sai lệch.

“Soi” video và hình ảnh

Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn những gì bạn thấy, hãy bắt đầu với việc tìm kiếm dấu hiệu video, hình ảnh đã bị chỉnh sửa, cắt ghép, lắng nghe âm thanh kỹ lưỡng và dùng một phần mềm bên thứ 3 để kiểm tra. Mặc dù vậy, với các video được phát trực tiếp (live stream) thì điều này sẽ khó khăn hơn. Để kiểm tra hình ảnh, chỉ cần kéo vào ô tìm kiếm hình ảnh trên Google, bạn có thể xác định hình ảnh này đã từng được lưu hành hay chưa.

đây là một số cách thức cơ bản để người đọc có thể tỉnh táo không chia sẻ những thông tin sai lệch, nhằm giữ an toàn khi sử dụng mạng xã hội.

 

 

 

HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 6 QUYẾT ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG!

     Hôm nay (3/10), Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chính thức khai mạc tại Hà Nội. Dự kiến trong một tuần làm việc, Trung ương thảo luận và quyết định nhiều vấn đề quan trọng.
     Một trong những nội dung lớn dự kiến trình Trung ương lần này là Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”.
     Để xây dựng Đề án trên, Ban Chỉ đạo đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc gia, lấy ý kiến các tỉnh ủy, thành ủy và nhiều cuộc tọa đàm chuyên sâu để lấy ý kiến rộng rãi. Quá trình xây dựng Đề án được đánh giá cao về cách làm bài bản, dân chủ, khoa học, tạo được sự đồng thuận cao trong các tập thể, cá nhân tham gia xây dựng Đề án.
     Bên cạnh đó, dự kiến Trung ương nghe và thảo luận về Đề án “Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”; Đề án “Chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
     Trong cuộc họp gần đây, Ban Chỉ đạo cho biết, các nội dung chính của Đề án “Chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” gồm: Đánh giá về kết quả thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; về nội hàm, bản chất của công nghiệp hóa, đề xuất khái quát về mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đề xuất khung tiêu chí đánh giá kết quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đề xuất quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, nhiệm vụ, giải pháp về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
     Ngoài những nội dung trên, Trung ương sẽ nghe và thảo luận về tình hình kinh tế, xã hội; ngân sách Nhà nước và một số vấn đề quan trọng khác.
     Kể từ sau Hội nghị Trung ương 5 đến nay, tình hình kinh tế, xã hội đất nước có nhiều khởi sắc. GDP quý III tăng cao, đạt 13,67%, góp phần đưa tăng trưởng 9 tháng đầu năm đạt 8,83% (cao nhất từ năm 2011 đến nay). Trong khi đó, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh. Các vụ án, vụ việc nổi cộm được dư luận quan tâm như vụ Việt Á, vụ chuyến bay giải cứu tiếp tục được điều tra, xử lý nghiêm minh./.


Yêu nước ST.

Quản lý biến đổi xã hội ở Việt Nam

 


 Xã hội Việt Nam đang diễn ra quá trình biến đổi xã hội nhanh chóng và sự vận động phức tạp khó lường. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển đổi mô hình, phương thức quản lý xã hội từ truyền thống sang hiện đại. Để đảm bảo sự biến đổi đúng định hướng cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia của mọi giai tầng xã hội một cách chủ động, sáng tạo, dựa trên nền tảng tri thức khoa học và nhìn thẳng vào sự thật xã hội. Có thể dễ nhận thấy ở cấp độ vi mô, có nhiều biến đổi tích cực hơn là ở cấp độ trung và vĩ mô; biến đổi xã hội ở tầm ngắn hạn có nhiều biểu hiện tích cực hơn là nhìn biến đổi xã hội trong chiều canh dài hạn; so sánh sự biến đổi xã hội trước năm 1986 so với giai đoạn hiện nay có nhiều thay đổi nhanh chóng, tích cực nhưng so với yêu cầu của thực tiễn và so với các quốc gia có cùng điều kiện tương tự thì chúng ta lại thấy sự biến đổi xã hội ờ Việt Nam hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải tăng cường các hoạt động quản lý biến đổi xã hội.

Những vấn đề cơ bản về quản lý biến đổi xã hội

 


Có thể hiểu quản lý biến đổi xã hội là việc sử dụng hệ thống giá trị chuẩn mực xã hội, chính sách và các thể chế, thiết chế xã hội, thông qua đó các chủ thể tham gia vào hoạt động quản lý biến đổi xã hội. Quá trình này diễn ra trong môi trường tương tác xã hội giữa chủ thể thuộc hệ thống chính trị và khu vực bên ngoài hệ thống chính trị. Chẳng hạn, nhà nước ban hành các quy tắc, quy định cho biến đổi xã hội; trong khi xã hội xác định rõ lợi ích và hành động tập thể để thúc đẩy biến đổi xã hội theo hướng tích cực. Như vậy, quản lý biến đổi xã hội là đem những tác động của thể chế chính sách, của các nhân tố điều kiện vào đối tượng sao cho đủ sức kích thích tích cực, phát triển đồng thời ngăn chặn hoặc ít ra cũng làm giảm thiểu mặt tiêu cực, thoái triển.

Ngày nay quá trình hiện đại hóa là xu hướng thống lĩnh xã hội đã và đang làm thay đổi thang bậc giá trị, chuẩn mực trong xã hội, nhiều giá trị và quy tắc được định hướng và xác lập trong quá khứ nhưng không còn được chấp nhận trong thời kỳ hiện đại và ngược lại.

Biến đổi xã hội ở Việt Nam

 


Biến đổi xã hội ở Việt Nam là một quá trình “biến đổi kép”, không chỉ là chuyển đổi từ nền văn minh nông nghiệp cổ truyền sang nền văn minh công nghiệp và hiện đại mà đồng thời còn là sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước. Nghiên cứu biến đổi xã hội ở Việt Nam qua hơn 35 năm vừa qua là nghiên cứu những biến đổi xã hội gắn liền với tiến trình đổi mới đất nước. Biến đổi xã hội ở Việt Nam vừa chịu sự tác động to lớn của lực hút và lực đẩy của bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội trong nước và trên thế giới; của truyền thống và hội nhập quốc tế; của quy luật phát triển không đều giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, lĩnh vực; đặc biệt là định hướng xã hội chủ nghĩa chưa có tiền lệ... Trong đó có thể dễ dàng nhận diện biến đổi xã hội trên các chiều cạnh: Biến đổi cấu trúc xã hội; biến đổi phân tầng xã hội; biến đổi thiết chế xã hội/thể chế xã hội; biến đổi quan hệ xã hội; biến đổi hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội; biến đổi nhu cầu lợi ích; biến đổi tâm lý xã hội, mô hình hành vi và lối sống; biến đổi cấu trúc lao động; biến đổi hệ thống phúc lợi xã hội và mạng lưới an sinh xã hội là những biến đổi xã hội điển hình nhất ở Việt Nam trong đổi mới. Đặc biệt, trong cấu trúc xã hội đã và đang biến đổi mạnh mẽ, với sự xuất hiện của các giai tầng xã hội mới. Hiện nay, cấu trúc giai tầng xã hội ở Việt Nam được xác định, bao gồm: (i) công nhân; (ii) nông dân; (iii) tri thức; (iv) doanh nhân; (v) thanh niên; (vi) phụ nữ; (vii) quân đội; (viii) người cao tuổi; (ix) người về hưu; (x) tôn giáo; (xi) dân tộc (các tộc người thiểu số); (xii) công chức, viên chức; (xiii) người Việt Nam ở nước ngoài.

Các khía cạnh của biến đổi xã hội

 


Các khía cạnh trong biến đổi xã hội bao gồm: (i) Biến đổi về dân số, (ii) Biến đổi về môi trường, (iii) Biến đổi về chính trị, (iv) Biên đổi về kinh tế, (v) Biến đổi về tư tưởng, (vi) Biến đổi về văn hóa và tôn giáo, (vii) Biến đổi về công nghệ và kỹ thuật. Qúa trình biến đổi xã hội là quá trình chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó hoạt động quản lý xã hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Điều này thể hiện ở chỗ, hệ thống lý thuyết về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường tạo nên mô hình bền vững, hài hòa cho sự biển đổi xã hội; hệ thống chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường bảo đảm những điều kiện cụ thể cho sự biến đổi xã hội; đội ngũ những con người thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường bảo đảm những điều kiện thực hiện sự cam kết của xã hội cho biến đổi xã hội; hệ thống thể chế, thiết chế xã hội kiểm soát việc thực hiện các quá trình biến đổi xã hội... Đây là những điều kiện ràng buộc đối với việc thực hiện các điều kiện biến đổi xã hội vì con người, vì sự tiến bộ. Nhận diện những biến đổi xã hội, tức là xem xét nội dung, nguyên nhân, quy mô, xu hướng và tính phức tạp của những biến đổi đó một cách cụ thể.

Các cấp độ của biến đổi xã hội hiện nay


Ba cấp độ biến đổi xã hội là biến đổi vĩ mô; biến đổi xã hội trung mô; biến đổi xã hội vi mô. Biến đổi xã hội ở cấp độ vi mô thể hiện rõ nhất là biến đổi nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân và các nhóm nhỏ. Biến đổi xã hội ở cấp độ trung mô thể hiện rõ nhất là sự biến đổi mô hình tổ chức, cấu trúc tổ chức, chức năng vai trò của tổ chức. Sự biến đổi xã hội ở cấp độ vĩ mô thể hiện rõ nhất là biến đổi của hệ thống cấu trúc xã hội, ví dụ từ truyền thống sang hiện đại, từ nông nghiệp sang công nghiệp . Biến đổi xã hội không song hành, thuận chiều và đồng nhất tự nhiên với phát triển và tiến bộ. Biến đổi xã hội vừa bao hàm những biến đổi nội tại của lĩnh vực xã hội, của từng yếu tố cấu thành lĩnh vực này lại vừa bao hàm, phản ánh những biến đổi với tư cách là hệ quả xã hội từ những biến đổi ngoài lĩnh vực xã hội, của kinh tế, chính trị văn hóa và môi trường tác động vào con người, vào các quan hệ và cấu trúc xã hội. Và những biến đổi trong các lĩnh vực này không phải là tương dung mà trong không ít trường hp lại mâu thun với nhau. Rõ nhất là kinh tế tăng trưởng và có những biên đổi tích cực nhưng không tự động dẫn tới những biến đổi xã hội tích cực tương ứng.