Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

Cảnh giác với những chiêu trò chống phá Đảng theo giải pháp "Tập hợp dân chủ Đa nguyên"

 Mới đây, trên Vietstudie. com, Việt Hoàng, một kẻ bất mãn “theo đóm ăn tàn” bọn cơ hội chính trị và phản động, âm mưu kêu gọi trí thức và nhân dân chuẩn bị tinh thần thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam. Để thực hiện âm mưu, y dùng thủ đoạn kích động với chiêu trò nêu ra “Giải pháp nào sẽ thay thế cho giải pháp cộng sản?”. Với cách đặt vấn đề này, y đã tìm cách khơi mào, bới móc một số sự vụ tiêu cực xã hội đổ lỗi cho hệ thống lãnh đạo của Đảng ta. Cho rằng Đảng không còn phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước, tiếp theo, y lèo lái dư luận xã hội và nhân dân ta lựa chọn theo giải pháp “Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên” mà y và tổ chức phản động của y hướng tới. Vậy, bản chất của cái Tập hợp… này là gì? Nó có phù hợp với chế độ xã hội ở Việt Nam hiện nay hay không?

Thứ nhất, có thể khẳng định bản chất của cái gọi là giải pháp “Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên” thực chất là âm mưu kêu gọi thực hiện “Dân chủ đa nguyên”, ở Việt Nam không cần và không chấp nhận chế độ đa nguyên. Đảng Cộng sản Việt Nam – đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân và của cả dân tộc; lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Do vậy, ở Việt Nam không có chỗ đứng cho chủ nghĩa đa nguyên – một thứ cơ sở lý luận cho việc thực hiện chế độ đa đảng.

Thứ hai, thực tiễn 92 năm qua đã khẳng định tính đúng đắn duy nhất lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt đất nước phát triển ngày càng giàu mạnh, dân chủ, văn minh. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và tồn tại là quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử. Ngay thời kỳ 1930 – 1945, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không cần thêm bất cứ một tổ chức, đảng phái chính trị nào khác lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi. Tuy có thời điêm, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn có những đảng phái khác nhưng duy nhất chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam được lịch sử và nhân dân giao phó sứ mệnh nắm quyền lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam. Với bản lĩnh, trí tuệ, “là đạo đức, là văn minh”, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đưa nước ta từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, vượt qua khủng hoảng về kinh tế – xã hội, dịch bệnh và đang phát triển năng động.

Trên thế giới hiện nay, có không ít những nước đa đảng, nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển; ngược lại cũng có những nước chỉ một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ vẫn được bảo đảm, kinh tế – xã hội phát triển, đời sống nhân dân sung túc. Điều đó minh chứng là đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển, càng không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn. Chính Giáo sư Paul Mishler (Đại học bang Indiana, Mỹ) đã chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng phân hóa xã hội ở Mỹ: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học… đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra; nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là Đảng Cộng hòa hay Đảng Dân chủ.

Như vậy, quan điểm một đảng thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển là hoàn toàn sai trái. Vì vậy, chúng ta cần phải vạch trần chiêu trò kích động của Việt Hoàng với giải pháp “Tập Hợp…” trước nhân dân, để mọi người nâng cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chúng./.

Phòng, chống âm mưu, thủ đoạn hoạt động “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch ở Việt Nam hiện nay

 Thời gian gần đây, hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch được tiến hành dưới nhiều hình thức, phương thức mới. Đặc biệt, chúng hô hào với lời lẽ rằng, “Lối thoát cho Việt Nam – bất tuân dân sự”, hoặc “Bất tuân dân sự – con đường tự do cho Việt Nam”.

Điểm lại một số vụ việc thời gian qua ở Việt Nam có mang bóng dáng của “bất tuân dân sự” cho thấy, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, nham hiểm của chúng… Vì vậy, để đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn phong trào “bất tuân dân sự” ở Việt Nam cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ để nắm vững và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, tạo sự đồng thuận xã hội và chấp hành nghiêm hiến pháp, pháp luật. Trước hết là phải nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật cho mọi cá nhân và tổ chức, làm cho mọi người dân có giác ngộ cao về pháp luật, tin tưởng tuyệt đối vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền phải được đổi mới, phù hợp với thực tế để mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành (đặc biệt chú ý đến phương pháp, phù hợp với trình độ dân trí, tập quán…). Coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn để người dân nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục, phương pháp, cách thức tiến hành phản biện xã hội theo pháp luật; tránh để bị kẻ địch lợi dụng phát động “bất tuân dân sự”. Đây cũng là một biện pháp rất quan trọng, không tạo khoảng trống để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, kích động chống phá.

Hai là, vạch trần bản chất phản động, âm mưu, thủ đoạn hoạt động, chống phá của các thế lực thù địch trong việc cổ súy cho phong trào “bất tuân dân sự” ở Việt Nam.

Ba là, cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức, đoàn thể… phải kịp thời phát hiện, giải quyết dứt điểm mâu thuẫn, không để vụ việc kéo dài để các thế lực thù địch phản động lợi dụng để chống phá. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện “bất tuân dân sự”. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những biểu hiện, dấu hiệu chống phá từ khi chúng còn manh nha, mới hình thành không để lây lan, trở thành những điểm nóng phức tạp, kéo dài… Khi xảy ra các vụ việc “bất tuân dân sự”, cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo…

Bốn là, phát huy dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; gắn dân chủ với tăng cường kỷ cương, kỷ luật, pháp luật của nhà nước.

Năm là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và cải cách hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là việc thực thi các quy định của pháp luật trên các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường…

Sáu là, chăm lo xây dựng cấp ủy, cơ quan vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng , chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý nghiêm các sai phạm, củng cố lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước.

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC DÂN TỘC, TÔN GIÁO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc những thành tựu của Việt Nam trên các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; vu cáo “chính quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”, “phân biệt đối xử với các dân tộc thiểu số”, “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận”, “bắt giam và xét xử không theo chuẩn mực quốc tế” đối với những người mà họ gọi là “hiệp sĩ đi đầu” “trong sự nghiệp đấu tranh” bảo vệ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”.

Ngoài ra, các phần tử phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước còn ra sức câu kết, lợi dụng một số chức sắc, người có uy tín trong các cộng đồng tôn giáo, dân tộc, văn nghệ sỹ,... để tuyên truyền, tập hợp lực lượng, hình thành tổ chức đối lập chống chính quyền nhân dân; kích động quần chúng, tổ chức các cuộc biểu tình trái pháp luật, với mưu đồ gây rối trật tự an toàn xã hội, gây bạo loạn chính trị.

Mục đích của các hoạt động trên là nhằm làm mơ hồ và thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cực đoan dẫn đến hình thành tâm lý xã hội bất ổn, mong muốn và trông chờ một sự thay đổi chính trị; thậm chí tổ chức, thúc đẩy sự biến động ấy bằng bạo loạn, lật đổ. Kịch bản đó đã từng diễn ra ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 thế kỷ XX.

Không chỉ chống phá các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền trên bình diện chung, các thế lực thù địch đã khai thác triệt để sự khác biệt về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng... ở các vùng miền của nước ta như các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh khu vực Tây Thanh Hóa - Nghệ An, khu vực miền Trung - Tây Nguyên, Tây Nam Bộ... để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền; chia rẽ đồng bào các dân tộc và mối đoàn kết giữa các tôn giáo, phá hoại mối đoàn kết lương - giáo. Đây là những âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi, nguy hiểm và không thể chủ quan, xem nhẹ.

NHẬN DIỆN ĐÚNG MỤC ĐÍCH ĐẢNG TA LÃNH ĐẠO LÀ VÌ NHÂN DÂN!

         Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định, mục tiêu hoạt động là phụng sự nhân dân, vì độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, trong tất cả các hoạt động của Đảng, Nhà nước luôn lấy lợi ích của nhân dân làm đích hướng đến. Đảng và Nhà nước luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Xác định nhân dân là trung tâm, là chủ thể, mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, nguyện vọng của nhân dân nhằm mục tiêu bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đảng, Nhà nước thường xuyên quan tâm củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân; luôn dựa vào dân và tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và quản lý xã hội theo luật pháp.
     Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều chính sách, pháp luật nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động sức lực và trí tuệ của nhân dân trong mọi hoạt động của đất nước theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
     Vì lẽ đó, những chiêu trò như cắt ghép sự kiện, phỏng vấn người nọ người kia để xuyên tạc, chống phá Đảng, nhà nước, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, nhằm hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước. Mỗi chúng ta cần nâng cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh loại bỏ./.
Môi trường ST.

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2022

THAY ĐỔI CƠ CHẾ GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT NHẰM THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM ĐẤT ĐAI THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN, GIAO CHO NHÀ NƯỚC LÀ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU, THỐNG NHẤT QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ HIỆN NAY

 


Cần thay đổi cơ chế giao đất, cho thuê đất; thu hẹp các đối tượng được giao đất và mở rộng đối tượng được thuê đất; việc quy định giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với doanh nghiệp, Nhà nước chủ yếu thực hiện theo cơ chế “xin - cho”. Thực chất là chưa chú trọng các yếu tố kinh tế của đất đai, chưa thực sự thấy được đất đai là hàng hóa đặc biệt trong cơ chế thị trường. Việc giao đất không thu tiền sử dụng đất cũng tạo điều kiện cho tham nhũng, hối lộ gia tăng trong khi Nhà nước không thu được thuế cho ngân sách. Cần xác định hợp lý, rõ ràng quyền và nghĩa vụ của chủ thể sử dụng đất. Thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất khi sắp xếp lại trụ sở, cơ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước để chuyển sang mục đích phát triển kinh tế.

Chủ thể sử dụng đất được quyền tham gia góp ý kiến vào việc quy hoạch sử dụng đất, được công khai phổ biến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền chính thức thông qua; được giao quyền sử dụng đất lâu dài, chỉ có thời hạn đối với đất thuê; được giao sử dụng không hạn mức, nhưng phải nộp thuế sử dụng đất đối với phần diện tích vượt quy định như hiện nay; được quyền cho thừa kế; được quyền bảo vệ lợi ích chính đáng từ đất, đảm bảo lợi ích thu được phải lớn hơn và chổ ở từ bằng đến tốt hơn trước khi bị thu hồi.

Đất đã được giao chỉ bị thu hồi theo quyết định hành chính nhằm mục đích công ích, hoặc phục vụ những dự án có ý nghĩa lớn đối với quốc kế dân sinh, khi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết nghị, nhưng phải được bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng để đảm bảo có cuộc sống từ bằng đến tốt hơn trước khi bị thu hồi.

Hoàn thiện cơ chế khuyến khích hỗ trợ tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn, công nghệ cao, gắn với bảo đảm việc làm và thu nhập bền vững của nông dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn. Giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; tính toán một cách căn cơ, giải quyết từ gốc là trả đủ thu nhập, đảm bảo an sinh người có đất bị thu hồi cũng như cơ chế giải quyết chấm dứt tình trạng khiếu kiện kéo dài; tiếp tục thể chế rõ hơn vai trò giám sát của Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Xây dựng chiến lược, hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, trọng tâm là đất đai. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về đất đai, nâng cao chất lượng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hiện đại hóa lĩnh vực địa chính, dịch vụ công về đất đai. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, bền vững, hiệu quả, tiết kiệm trong sử dụng đất. Phát triển lành mạnh thị trường quyền sử dụng đất, chú trọng thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp, khắc phục tình trạng đầu cơ đất. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách thúc đẩy tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, khắc phục tình trạng manh mún, tạo điều kiện thu hút đầu tư, ứng dụng cơ giới hóa và công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ngăn chặn tình trạng để đất hoang hóa, sử dụng đất lãng phí, tăng cường quản lý, khắc phục suy thoái đất. Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả đất công, đất có nguồn gốc nông, lâm trường. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất, kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm các vi phạm, tranh chấp, lấn chiếm đất đai. Kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, trục lợi, làm thất thoát nguồn thu ngân sách liên quan đến đất. Hoàn chỉnh công tác điều tra cơ bản, đánh giá, xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất, nước, rừng, biển, khoáng sản và đa dạng sinh học”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, H., 2021, tập 1, tr. 152-153.

CẦN LÀM RÕ NỘI HÀM VỀ QUYỀN ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI VÀ TRÁCH NHIỆM TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG CÔNG

 


Làm rõ hơn nội hàm về quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước đối với đất đai, cũng như trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý, sử dụng đất công, đất giao cho cộng đồng và doanh nghiệp nhà nước trực tiếp góp phần thực hiện quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý và sử dụng hiệu quả hiện nay.

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì cần có cơ chế quản lý và phân định rõ các quyền, đảm bảo hài hòa lợi ích của quốc gia và người sử dụng. Xác định rõ, cụ thể cơ quan Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân là ai; khắc phục tính chất danh nghĩa của sở hữu toàn dân, hình thức của quản lý nhà nước và sở hữu thực chất của một số cá nhân lạm quyền, đầu cơ trục lợi.

Cần xác định rõ, cụ thể cơ quan nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đất đai, có quyền sử dụng, định đoạt, hưởng lợi từ đất và Nhà nước là cơ quan công quyền thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Theo đó, đại diện chủ sở hữu đất đai phải là Quốc hội. Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước; quyết định việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định khung giá đất và việc sử dụng nguồn tài chính thu được từ đất; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước; Quốc hội cũng phải có nghĩa vụ bảo đảm đầu tư nâng cao chất lượng, giá trị và sử dụng có hiệu quả quỹ đất quốc gia. Do vậy cần chế định rõ vai trò của chủ sở hữu toàn dân; làm rõ quyền lực của Nhân dân, quyền lực của Quốc hội và quyền lực của Chính phủ.

CẦN CÓ QUAN ĐIỂM THỰC TIỄN TRONG NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ SỞ HỮU NHẰM THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM ĐẤT ĐAI THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN, GIAO CHO NHÀ NƯỚC LÀ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU, THỐNG NHẤT QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ HIỆN NAY

 


Để nhận thức rõ quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; nâng cao tinh thần trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân, đưa việc quản lý, bảo vệ và sử dụng đất đai vào quy chế chặt chẽ, khai thác tài nguyên đất hợp lý và có hiệu quả, đáp ứng tốt yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển đất nước nhanh và bền vững. Trong đó, cần phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và giải quyết vấn đề sở hữu.

Điều này đòi hỏi việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề về sở hữu phải xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn lịch sử - cụ thể của đất nước, của từng lĩnh vực ngành nghề; phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chí để xem xét, giải quyết và nhằm phục vụ những yêu cầu của thực tiễn. Theo đó, phải nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền và người dân về tầm quan trọng của nguồn lực đất đai. Cần nhận thức rõ đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là nguồn vốn nội lực to lớn của đất nước, là tư liệu sản xuất đặc biệt. Các quan điểm, chủ trương, chính sách và pháp luật về đất đai phải nhằm mục tiêu quản lý chặt chẽ và khai thác, sử dụng đất tiết kiệm, đạt hiệu quả tối ưu. Đòi hỏi phải có quan điểm, chính sách đúng đắn, chú ý đầy đủ tới các mặt kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng, an ninh; phải xây dựng quy hoạch, kế hoạch phù hợp, khoa học và quản lý, sử dụng đúng quy hoạch, kế hoạch; phải phân phối hợp lý, đáp ứng yêu cầu tích tụ và tập trung đất ngày càng cao; phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư, người sử dụng, trong đó phải đặc biệt chú ý đến lợi ích của xã hội và người sử dụng có hiệu quả.

 

ĐẤT ĐAI THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN, GIAO CHO NHÀ NƯỚC LÀ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU, THỐNG NHẤT QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ

Vấn đề sở hữu đất đai là vấn đề hệ trọng được các nhà lãnh đạo quản lý, các nhà khoa học và nhân dân đặc biệt quan tâm. Hiện nay, Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn về quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý để có những chủ trương, chính sách đất đai đúng đắn, phù hợp với tình hình mới nhằm quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai, đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

V.I.Lênin cho rằng: “Ruộng đất phải là sở hữu của toàn dân, và một chính quyền có tính chất toàn quốc phải quy định điều đó”[1]. Song “Người nông dân muốn sử dụng có hiệu quả đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì phải có điều kiện, như phải có vốn và tư liệu sản xuất khác, phải có chuyên gia kỹ thuật và cuối cùng phải có tổ chức”[2]. Sở hữu là một phạm trù lịch sử, xu hướng khách quan của sở hữu là vận động theo hướng xã hội hóa và quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng...

Quan điểm của Đảng ta là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giao cho Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý và sử dụng hiệu quả. Quan điểm này được Nhà nước thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật. Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nuyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều 54 quy định: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ, Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai”. Và Điều 4 Luật đất đai năm 2013 quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều này thể hiện sự vận dụng sảng tạo, đúng đắn các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề đất đai vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, bởi đất đai là tài sản cực kỳ quý báu, là một nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay...

Theo Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng hoặc cho phép người sử dụng đất chuyển sang sử dụng vào mục đích khác. Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nhằm đảm bảo cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển; đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng đất cả trong nước và nước ngoài. Có thể thấy, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là một trong những chế định quan trọng nhất; thể hiện tính đặc thù của pháp luật đất đai Việt Nam. Chế định này ra đời trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai...

Nhà nước ta với tư cách là cơ quan quyền lực, đại biểu cho lợi ích của Nhân dân, đóng vai trò người đại diện cho chủ sở hữu toàn dân. Nhà nước có quyền và trách nhiệm tổ chức quản lý, giao cho các chủ thể khác sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo tồn và phát triển các nguồn lực thuộc đối tượng của sở hữu toàn dân. Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế cần nhận thức rõ, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Khẳng định như vậy là phù hợp với bản chất của đất đai là lãnh thổ, là tài nguyên và tài sản chung vô cùng quý giá của quốc gia, được tạo nên bởi công sức và xương máu của toàn dân tộc qua nhiều thế hệ. Đa dạng hóa, tư nhân hóa sở hữu đất đai có thể gây ra những rối ren chính trị - xã hội khó lường trước hậu quả, đe dọa mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng XHCN.

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thu ngân sách thông qua việc thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, các loại thuế liên quan đến đất đai và các loại phí, lệ phí quản lý và sử dụng đất,…tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, các TPKT và các vùng kinh tế phát triển, tạo cơ sở điều tiết phân phối thu nhập, đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế.

Để đảm bảo chủ sở hữu đất đai là toàn dân, những trường hợp quan trọng như phân bổ sử dụng đất có ảnh hưởng lớn, cho nước ngoài thuê đất để đầu tư với quy mô lớn, hoặc ban hành những chính sách lớn về đất đai... cần phải trưng cầu ý dân. Mặt khác, mỗi người dân cụ thể phải được quyền sử dụng và hưởng lợi ích từ đất; người sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp được giao đất lần đầu không thu tiền sử dụng đất với diện tích phù hợp từng địa phương hoặc được chuyển nhượng không phải nộp thuế; đồng thời phải có nghĩa vụ đầu tư bồi bổ đất đai, bảo vệ và sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả.

Nhận thức rõ quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cần; nâng cao tinh thần trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân, đưa việc quản lý, bảo vệ và sử dụng đất đai vào quy chế chặt chẽ, khai thác tài nguyên đất hợp lý và có hiệu quả, đáp ứng tốt yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển đất nước nhanh và bền vững.



[1] I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 32, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr.220.

[2]  V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 31, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr.227-230

NHẬN DIỆN VÀ CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐịCH VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ YÊU CẦU CẤP THIẾT

 


Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ trương lớn của Đảng, là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay; đồng thời, còn là nhiệm vụ và trách nhiệm thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên, vì đây là vấn đề không chỉ liên quan đến uy tín và tính chính danh của Đảng, mà còn liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng Đảng, xây dựng xã hội trong sạch, vững mạnh, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” với nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, Đảng ta xác định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, Đảng ta yêu cầu các cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động cần nhận thức sâu sắc, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc, phê phán, bóp méo. Họ cho rằng, không có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản,... Chính vì vậy, việc nhận diện và chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khẳng định đây là mô hình kinh tế sáng tạo riêng có của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VẪN DUY TRÌ VÀ BẢO ĐẢM TÍNH ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Các thế lực thù địch cho rằng, những năm gần đây, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã bị “chuyển hướng”, “xoay trục”. Đây là luận điểm xuyên tạc xuyên tạc, bóp méo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực sự phản khoa học, xa rời thực tiễn và hết sức phản động.

Chúng ta đều biết, mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa chính là một trong chín mối quan hệ lớn mà Đảng ta đã chỉ ra và yêu cầu “cần phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế...; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”[1]. Bản chất của kinh tế thị trường là luôn luôn năng động, luôn luôn khả biến, luôn luôn mở, vì vậy, trong hoạt động của nó bao giờ cũng gắn liền với xã hội hóa, xem đó là một trong những phương thức cơ bản để thu hút nguồn lực của xã hội, mở rộng quy mô, tăng cường khả năng thích ứng với sự biến động của quá trình sản xuất kinh tế - xã hội và với tiến trình phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, xã hội hóa không đồng nhất với tư nhân hóa. Chủ thể tham gia vào việc xã hội hóa có thể là tư nhân, có thể là tập thể, cũng có thể là doanh nghiệp nhà nước, thậm chí cả Nhà nước. Hơn thế nữa, quá trình xã hội hóa ở Việt Nam luôn luôn được quản lý theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, nghĩa là luôn luôn bám sát và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Rõ ràng, trong triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, chúng ta vẫn duy trì và bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ không có sự “chuyển hướng”, “xoay trục” hoàn toàn sang kinh tế thị trường tư nhân tự do như một số luận điệu đã xuyên tạc.

          Thực tiễn phát triển và lý luận kinh điển của C. Mác đều khẳng định tính tất yếu và phổ biến của kinh tế thị trường trong quá trình phát triển của mọi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, kinh tế thị trường không phát triển theo một phương án duy nhất (phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa), cũng không theo một mô hình đơn nhất (thị trường tự do). Thực tiễn đã xác nhận những phương án và mô hình phát triển kinh tế thị trường khác nhau mang tính đặc thù, phụ thuộc vào những điều kiện xác định, hoàn cảnh phát triển cụ thể của quốc gia - dân tộc. Một quốc gia đi sau không được vận dụng cứng nhắc các nguyên lý lý luận; cũng không nên rập khuôn các mô hình kinh tế thị trường có sẵn ở đâu đó, dù là mô hình hiệu quả, để giải quyết các vấn đề phát triển mang nhiều nét đặc thù của mình. Việc khẳng định tính đặc thù trong các mô hình kinh tế thị trường hàm ý rằng, việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là đúng với xu hướng chung của loài người; đồng thời, là mô hình thiết thực, hiệu quả phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - xã hội của dân tộc. Do đó, việc xuyên tạc, bóp méo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chỉ là những luận bàn không mang tính khoa học và tính thực tiễn.




[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 128.

MỘT GIỜ, MỘT PHÚT CHÚNG TA KHÔNG CÓ HỌ, XÃ HỘI ĐÂU CÓ THỂ BÌNH YÊN!

     Việc đánh tội phạm, thậm chí chúng ta hay nói đùa "cho ăn kẹo đồng" đối với cảnh sát nước ngoài, nhất là cảnh sát Mỹ xảy ra như cơm bữa. Còn ở Việt Nam, một xã hội đạo đức, đến cả công cụ bảo vệ pháp luật cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc đạo đức như ngành Công an Việt Nam thì việc đánh kẻ vi phạm pháp luật quá giới hạn cũng là sai rồi.
     Tuy nhiên câu chuyện Công an đánh 2 thanh niên đánh võng, lạng lách, chạy xe tốc độ bàn thờ trên đường Nam Sông Hậu tỉnh Sóc Trăng vừa rồi dư luận cũng nên dừng lại. 
     Tại sao thì các bạn biết rồi, câu chuyện 2 thanh niên kia và 4 anh Công an đã có pháp luật, quy định, điều lệ công tác ngành công an xử lý. Đất nước nào cũng có pháp luật, chẳng thể kẻ nào ngồi trên pháp luật để làm điều sai cả. Bênh vực cho anh Công an cũng không được mà hùa theo "những con thiêu thân" trên đường phố kia lại càng sai, như thế khác gì chúng ta đang cổ súy cho tội phạm đua xe, đánh võng, lạng lách gây tai nạn cho người tham gia giao thông. Những vụ tai nạn kinh hoàng do các ác nhân tác quái kia cũng đang đầy rẫy ở Việt Nam đấy.
     Mặt khác, các thế lực thù địch đang hàng ngày hàng giờ lấy cái tiểu tiết về tiêu cực trong xã hội, nhất là ngành Công an để thổi phồng, bôi nhọ làm xấu hình ảnh Công an nhân dân đang diễn ra hết sức tinh vi xảo quyệt. Do vậy, chúng ta cổ súy, lôi kéo thành Drama trên mạng xã hội khác gì chúng ta vô tình tiếp tay cho giặc phá hoại.
     Thực ra, trong môi trường công tác vì nước quên thân, vì dân phục vụ, hàng ngày hàng giờ rất nhiều những hình ảnh đẹp của người Công an nhân dân vẫn hiện hữu, chúng ta vẫn thấy gần đây như ở Hà Nội, Tổ bảo đảm TTATGT tại Ngã tư Khuất Duy Tiến - Nguyễn Xiển, phát hiện xe một phụ nữ điều khiển đang chở hơn 1 tạ cá gặp sự cố, bị đổ toàn bộ ra đường, các anh đã xông vào nhặt giúp trong bao ánh mắt đứng nhìn và xem, hay như gần đây trên một số diễn đàn mạng xã hội chia sẻ hình ảnh một số chiến sĩ CSGT số 3, Cục CSGT (Đội 3) và Phòng CSGT Nghệ An cũng nhặt tôm cá rơi vãi trên đường giúp người dân do bị ngã xe máy, và rất nhiều chiến sĩ Công an hy sinh trong chiến đấu với giặc lửa, với tội phạm...  
     Thế nên, mọi lời lẽ miệt thị những chiến sĩ Công an cũng vì nhiệm vụ mà bức xúc vô tình đánh lại người vi phạm, dù là trái với đạo đức ngành Công an nhưng cộng đồng mạng xã hội, những người đang bàn tán về họ cũng nên dừng lại. Hãy lấy điều tốt tuyên truyền, đàm đạo để hình ảnh tốt đẹp trong ngành Công an nhân lên thay vì dùng những lời lẽ không chuẩn mực đối với họ. Bởi vì, một giờ, một phút chúng ta - nhân dân không có họ, xã hội đâu có thể bình yên.....
----------------------------------------
Ảnh1: Các chú công an phát sữa, chiếu, gối, lo lắng từng miếng ăn giấc ngủ, đảm bảo an toàn tránh bão cho nhân dân Đà Nẵng trong cơn bão Noru.
Ảnh 2: Công an Hà Nội nhặt cá cho dân bị ngã xe. 
Ảnh 3: Công an Cục Cảnh sát Đường Bộ và Công an Nghệ An nhặt tôm cho người dân bị tai nạn đổ ra đường 
Ảnh 4: Các chiến sĩ Cảnh sát PCCC chữa cháy ở Hà Nội thẫn người sau khi hoàn thành nhiệm vui 
Ảnh 5: Một chiến sĩ Công an băng bó vết thương cho người dân bị tai nạn.
     P/s: Sao chúng ta không chia sẻ những hành động đẹp đẽ này thay vì Công an đánh thanh niên đánh võng trên đường?

Yêu nước ST.

KINH TẾ TƯ NHÂN LÀ ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Các thế lực thù địch cho rằng, định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường là bóp nghẹt, là loại bỏ kinh tế tư nhân. Đây là luận điểm xuyên tạc và hết sức phản khoa học và phản động. Về bản chất, nền kinh tế thị trường có cấu trúc đa sở hữu. Trong cấu trúc đó, sở hữu tư nhân luôn luôn là thành tố tất yếu, bắt buộc. Phủ nhận sở hữu tư nhân có nghĩa là bác bỏ kinh tế thị trường trên thực tế. Bên cạnh sở hữu tư nhân, còn có các dạng sở hữu khác là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và dạng đồng sở hữu của các chủ thể khác như, sở hữu công ty cổ phần, doanh nghiệp tư bản nhà nước,... Về nguyên tắc, các chủ thể sở hữu và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường là độc lập và bình đẳng với nhau trước pháp luật và trong hoạt động kinh doanh. Nhưng mỗi hình thức sở hữu và mỗi chủ thể sở hữu lại có vai trò, vị thế và chức năng đặc thù trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất, trong đó, chế độ công hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Không thể có nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu trong nó, chế độ công hữu không đóng vai trò nền tảng. Đây là một cấu trúc đặc thù của nền kinh tế thị trường theo nghĩa: Thứ nhất, không loại trừ các quan hệ sở hữu tư nhân và sở hữu tư bản chủ nghĩa, thừa nhận tính chất “hỗn hợp” sở hữu như bất cứ nền kinh tế thị trường nào; thứ hai, khu vực kinh tế nhà nước chứ không phải bất cứ lực lượng kinh tế nào khác đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. 

Trước đây, quan niệm các hình thức sở hữu là đơn nhất: nhà nước, tập thể hoặc tư nhân. Sau 35 năm đổi mới, kinh tế hỗn hợp đang được hình thành và từng bước phát triển mạnh; chế độ cổ phần đang dần trở thành hình thức tổ chức chủ yếu của kinh tế công hữu. Vì thế, công hữu không chỉ bao gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể đơn nhất mà còn bao gồm cả phần sở hữu của Nhà nước và tập thể trong kinh tế hỗn hợp. Cũng như vậy, tư hữu không chỉ bao gồm sở hữu tư nhân đơn nhất, mà còn bao gồm cả phần sở hữu của tư nhân trong kinh tế hỗn hợp.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao”[1]. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế tư nhân không hề bị bóp nghẹt, càng không bị loại bỏ; trái lại, kinh tế tư nhân còn là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung.



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 130,.

KINH TẾ NHÀ NƯỚC HOÀN TOÀN CÓ THỂ ĐÓNG VAI TRÒ CHỦ ĐẠO TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Các thế lực thù địch cho rằng, trong kinh tế tư nhân lẫn kinh tế nhà nước gọi chung là kinh tế quốc dân không có kinh tế nào là chủ đạo cả, nghĩa là kinh tế nhà nước không thể đóng vai trò chủ đạo?! Đây không những là quan điểm phản khoa học mà còn là phản động khi chúng không ngừng rêo rao để chống phá cách mạng. Chúng ta đều biết, thị trường có những “khuyết tật” và cơ chế thị trường có thể bị thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề phát triển, như khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường,... Để khắc phục những hạn chế đó và tránh khỏi thất bại thị trường, Nhà nước phải tham gia quản lý, điều tiết sự vận hành nền kinh tế. Nhà nước tham gia vào các quá trình hoạt động của kinh tế thị trường vừa với tư cách là bộ máy quản lý xã hội, vừa là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế. Với các tư cách đó, Nhà nước thực hiện ba chức năng: Thứ nhất, quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển; thứ hai, phân phối lại thu nhập quốc dân; thứ ba, bảo vệ môi trường. Để thực hiện ba chức năng đó, nhà nước phải giải quyết các nhiệm vụ, như cung cấp khuôn khổ pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực và phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường; kiến tạo và bảo đảm môi trường vĩ mô ổn định, có tính khuyến khích kinh doanh; cung cấp kết cấu hạ tầng (gồm hạ tầng “cứng” - giao thông vận tải, cung cấp điện, nước,... và hạ tầng “mềm” - dịch vụ thông tin, bưu chính - viễn thông; tài chính,...), cũng như các dịch vụ và hàng hóa công cộng (chăm sóc sức khỏe, giáo dục - đào tạo, bảo vệ môi trường,...); hỗ trợ nhóm người nghèo các điều kiện tối thiểu để tham gia thị trường bình đẳng.

Ngay kể cả quốc gia được xem là điển hình của “thị trường tự do” như Mỹ, nhưng một nghiên cứu gần đây của GS. Mariana Mazzacato trong cuốn “Nhà nước khởi tạo” đã minh chứng rằng đằng sau thành công của các tập đoàn tư nhân đều có vai trò to lớn của chính phủ. Rằng “Kẻ rao giảng về vai trò tối thiểu của nhà nước hay học thuyết về thị trường tự do, thực tế trong hàng thập kỷ qua đã và đang đầu tư công lớn vào công nghệ và đổi mới sáng tạo, là tiền đề cho thành công của kinh tế Mỹ trong quá khứ và hiện tại[1]. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”[2]. Đại hội X của Đảng khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”[3]. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng cũng nhấn mạnh: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”[4]. Kinh tế nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo ở một số lĩnh vực then chốt. Đó là những “đài chỉ huy”, là huyết mạch chính của nền kinh tế. Đây là điều kiện có tính nguyên tắc bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó thể hiện sự khác biệt về bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với các mô hình kinh tế thị trường khác. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được thể hiện trước hết và chủ yếu ở sức mạnh định hướng, hỗ trợ phát triển và điều tiết nền kinh tế chứ không phải ở quy mô và sự hiện diện của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở tất cả hoặc hầu hết các ngành, các lĩnh vực.

Đồng thời, với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vai trò điều tiết của Nhà nước, cần coi trọng vai trò của các thành phần kinh tế khác. Các thành phần này gắn bó hữu cơ với nhau trong một thể thống nhất, không tách rời kinh tế nhà nước ở tất cả các giai đoạn phát triển và đều là những thực thể của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi chủ thể kinh tế với nguồn gốc sở hữu khác nhau đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật; quyền bình đẳng về cơ hội phát triển và lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ. Quả thực, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo, chứ không phải như luận điểm sai trái cho rằng, trong nền kinh tế thị trường thì không cần kinh tế nhà nước hay kinh tế tư nhân đóng vai trò chủ đạo.




[1] Mariana Mazzacato: Nhà nước khởi tạo, Nxb. Thế giới, 2020, tr. 21.

[2] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2014, Hà Nội, Điều 51, Khoản 1, tr. 25.

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 83.

[4] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 129.

RONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ ĐƯỢC TỰ DO CẠNH TRANH

 

T

Thật phản khoa học và phản động khi các thế lực thù địch xuyên tạc cho rằng, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không có tự do cạnh tranh. Trên thực tế, nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Các chủ thể này hoàn toàn độc lập, tự chủ trong việc quyết định các vấn đề, như sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Họ tự chịu trách nhiệm đối với quyết định sản xuất, kinh doanh dựa trên những tín hiệu thị trường.

Mọi nền kinh tế thị trường đều có các yếu tố cấu thành cơ bản là các thị trường, bao gồm các thị trường đầu vào (như thị trường đất đai, thị trường sức lao động, thị trường tài chính, thị trường máy móc thiết bị, thị trường khoa học - công nghệ) và thị trường hàng tiêu dùng. Không có cạnh tranh tự do, không thể nói đến kinh tế thị trường. Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh. Do vậy, nó còn được gọi là “bàn tay vô hình”. Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng mỗi khi bị trục trặc. Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế thị trường. Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực và địa điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và thu được hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận cao hơn.

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế;... thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường”[1].

Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tuân thủ nghiêm ngặt các quy luật của kinh tế thị trường, các thành phần kinh tế được tự do cạnh tranh. Nếu nói rằng, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không có tự do là xuyên tạc trắng trợn.



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,  Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 102 – 103.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 04 THÁNG 10 NĂM 1945!

         “Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04 tháng 10 năm 1945. Ngày này, trên báo Cứu Quốc đăng hai bài viết của Bác. Trong bài “Chống nạn thất học”, nhân danh Chủ tịch Chính phủ lâm thời, tác giả viết: “Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí... Quốc dân Việt Nam! Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ...”.
     Còn trong bài “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân”, Bác đã phân tích thực tiễn đang tồn tại trong các Ủy ban nhân dân để đưa ra những nhận định và giải pháp khắc phục tình trạng lộn xộn, kém khoa học: “Có kế hoạch làm việc nhưng sắp đặt công việc không khéo, phân công không sáng suốt thì việc cũng đến hỏng. Người nói giỏi lại cho vào việc chỉ cần khéo chân tay, người viết giỏi lại cho làm việc về lao động thì nhất định không thể nào thành công được. Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe... Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ... Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”.
     Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.
     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam.
     Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại./.
Môi trường ST.