Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

Cảnh giác để không bị lôi kéo vào các tổ chức bất hợp pháp

Phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội là một chủ trương quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Trong đó, nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu là đẩy mạnh giảm nghèo, nâng cao mức sống, thu nhập của nhân dân, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Trong hơn một thập kỷ vừa qua, công cuộc xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể. Ngày 28/4/2022, Báo cáo “Từ chặng đường cuối đến chặng đường kế tiếp Đánh giá thực trạng nghèo của Việt Nam năm 2022” của Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã đưa ra nhận xét: “giai đoạn 2010-2020 là thập kỷ chứng kiến mức tăng trưởng cao, thành tựu lớn về giảm nghèo, các hộ gia đình có xu hướng chuyển dịch sang trình độ học vấn cao hơn và người dân chuyển sang công việc phi nông nghiệp nhiều hơn”. Báo cáo cũng đánh giá mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 là “đầy tham vọng, nhưng phù hợp với một quốc gia có thành tích được minh chứng trong tăng trưởng bao trùm”.

Trong giai đoạn 2020-2021, tác động của đại dịch Covid-19 đã khiến tốc độ cải thiện thu nhập và chất lượng sống của người Việt Nam có phần bị chững lại. Nhưng với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hồi phục nhanh. Những chính sách hỗ trợ người lao động từng bước phát huy hiệu quả rõ rệt.

Cam kết giải quyết nhà ở, tạo công ăn, việc làm, cải thiện y tế, nâng cao chất lượng giáo dục cho người lao động đã được triển khai rộng rãi, và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến nay, cả nước đã hoàn thành 275 dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân; đang tiếp tục triển khai 339 dự án, quy mô xây dựng khoảng 372.000 căn, tổng diện tích khoảng 18,6 triệu m2. Chỉ riêng sáu tháng đầu năm 2022, cả nước đã hoàn thành 13 dự án nhà ở xã hội, quy mô 6.000 căn dành cho người thu nhập thấp ở đô thị và công nhân khu công nghiệp.

Từ ngày 1/7/2022, Nghị định số 38/2022/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 12/6/2022 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động sẽ chính thức có hiệu lực. Qua đó, người lao động có thể được hưởng thêm nhiều lợi ích như bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp,... Ngay tại các vùng kinh tế còn nhiều khó khăn như miền núi phía bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo là người dân tộc thiểu số đã giảm đáng kể.

Tuy nhiên một số hội, nhóm thiếu thiện chí, cực đoan, phản động vẫn cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành tựu của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động. Dưới bình phong tổ chức “xã hội dân sự”, xuất hiện những hội, nhóm tự xưng là đại diện “vì công lý”; “bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”; “đào tạo, thúc đẩy và liên kết các phong trào dựa vào người dân để mang lại thay đổi xã hội”.

Tuy nhiên đây đều là những tổ chức hoạt động bất hợp pháp tại Việt Nam vì vi phạm Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Đáng chú ý, phần lớn sáng lập viên, thành viên tích cực của những hội, nhóm này đều đang sống lưu vong ở nước ngoài, là gương mặt quen thuộc của phong trào chống cộng. Thậm chí có một số cá nhân đồng thời là lãnh đạo của vài ba hội, nhóm, từ đây dấy lên nghi vấn họ đang tạo ra các tổ chức chân rết để phô trương thanh thế.

Vốn là các hội, nhóm không chính danh, được lập ra với toan tính không trong sáng nên những tổ chức này thường xuyên chỉ trích lẫn nhau. Chẳng hạn, khi nói về tình hình hoạt động của một số “tổ chức xã hội dân sự” hiện nay, “nhóm bạn công nhân” đã ra sức chê bai: “Nghiệp đoàn độc lập Việt Nam không ghi cương lĩnh của nghiệp đoàn, không nêu nội quy, không nêu rõ sách lược hoạt động, không đề cập tới các cá nhân trong ban điều hành”; “tổ chức lao động Việt chỉ đăng những thông tin về tai nạn giao thông rùng rợn hay tin mang tính chất giật gân rẻ tiền”, “Công đoàn độc lập Việt Nam không để lại dấu ấn gì đặc biệt cho giới lao động”,…

Có tổ chức tự phong cho mình sứ mệnh “thay đổi xã hội và môi trường sống tại Việt Nam” nhưng hoạt động đáng chú ý nhất trong mùa dịch lại là kết hợp với đài truyền hình chống cộng ở hải ngoại để “gây quỹ bảo vệ các chiến sĩ ở tuyến đầu” tại Mỹ. Trong khi đó hoạt động gây quỹ của đài này từ lâu đã bị cộng đồng người Việt ở nước ngoài nghi ngờ về động cơ cùng tính minh bạch. Chương trình “gây quỹ bảo vệ các chiến sĩ tuyến đầu” cũng không ngoại lệ khi nhiều người chứng kiến sự việc đã bày tỏ thái độ bất bình, phẫn nộ.

Mang danh là “tổ chức bảo vệ quyền lợi người lao động và môi trường sống” nhưng hoạt động của các hội, nhóm này hầu như chỉ xoay quanh việc đăng tải, chia sẻ những thông tin sai sự thật, tiêu cực về tình hình đất nước và con người Việt Nam. Thông qua mạng xã hội, ứng dụng tin nhắn, tài khoản nặc danh, họ lôi kéo, xúi giục một bộ phận người lao động tham gia khiếu kiện, ra yêu sách vô lý, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ. Với chiêu trò này, khi cơ quan chức năng khởi tố vụ án, tiến hành công tác điều tra, những kẻ cầm đầu dễ dàng chối bỏ trách nhiệm với nhóm đối tượng bị họ xui khiến.

Đáng chú ý thời gian qua, các tổ chức này ráo riết tìm kiếm một vài nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, người dân tộc thiểu số, nhất là tại khu vực miền núi phía bắc và Tây Nguyên. Qua đó, chúng tiến hành tiêm nhiễm cho những người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết các thông tin sai sự thật, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, nhất là chính sách về đất đai và tôn giáo, khiến người dân mất lòng tin với chính quyền, từ đó kích động họ thực hiện các hành vi gây rối, biểu tình.

Mặc dù cố gắng phô trương thanh thế, các tổ chức tự xưng “xã hội dân sự”, “nghiệp đoàn độc lập” vẫn không thể lừa gạt được đại bộ phận người lao động trong xã hội. Chính vì vậy sau một thời gian hoạt động, nhiều hội, nhóm dần biến mất, “không kèn không trống”; số khác tuyên bố tự giải tán. Điều này gián tiếp thừa nhận các hội, nhóm trên gần như đã thất bại trong việc chiêu mộ vây cánh cho mình tại Việt Nam.

Thực tế, cái gọi là “tổ chức xã hội dân sự”, “nghiệp đoàn độc lập”, “công đoàn độc lập” không hề mới. Đơn cử, tháng 9/2006, Nguyễn Văn Đài (sống lưu vong tại Đức, người từng lĩnh án 15 năm tù vì hành vi Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 1999) cùng đồng bọn đã lập ra tổ chức “công đoàn độc lập Việt Nam” để thực hiện các hoạt động chống phá chính quyền.

Sở dĩ trong thời gian qua, một số cá nhân thù địch, thiếu thiện chí rục rịch lập hội, nhóm mới có chiều hướng gia tăng xuất phát từ việc chúng cố tình xuyên tạc quy định mới của Bộ luật Lao động 2019 về việc thành lập Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (Bộ luật này cho phép tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký).

Lấy cớ người lao động có quyền bầu ra tổ chức của mình, các hội, nhóm chống phá này công khai ý đồ chia rẽ giai cấp công nhân với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Chúng cố tình phớt lờ sự thật là Tổ chức Lao động Quốc tế ILO và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã định nghĩa cụ thể về tiêu chuẩn để thành lập, gia nhập, lãnh đạo tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp như sau: phải là người lao động làm việc trong doanh nghiệp; được người lao động tại doanh nghiệp bầu; không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích do phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải được thành lập trong chính doanh nghiệp nơi người lao động làm việc.

Vì một tổ chức đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn như vậy mới đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên tổ chức mình trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp, góp phần xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa, ổn định.

Đáng buồn là vẫn có hiện tượng người dân vì thiếu hiểu biết, bất mãn chế độ mà sẵn sàng trở thành công cụ chống phá đất nước của các tổ chức nguy hiểm đó. Chính vì vậy để không bị lôi kéo vào các tổ chức bất hợp pháp, có thể bị liên lụy đến bản thân và gia đình, mỗi cá nhân cần tỉnh táo nhận diện các âm mưu, thủ đoạn núp bóng “bảo vệ người lao động”, “bảo vệ môi trường” để thực hiện các mục đích đen tối./.

 

Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới hết sức quan tâm, nhất là thời gian gần đây. Một số quốc gia xác định đây là nội dung quan trọng trong hoạch định chính sách, chiến lược phát triển đất nước. Tại Việt Nam, vấn đề chủ quyền quốc gia trên không gian mạng tuy còn khá mới mẻ nhưng được Đảng, Nhà nước hết sức coi trọng, với mục tiêu đề ra là bảo đảm tốt nhất an ninh con người, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia.

Báo cáo trước Hội đồng bảo an Liên hợp quốc về vấn đề an ninh mạng, bà Izumi Nakamitsu - đại diện cấp cao về các vấn đề giải trừ quân bị cho biết: Tính đến tháng 1/2021 có hơn 4,6 tỷ người đang sử dụng internet trên toàn thế giới và ước tính có khoảng 28,5 tỷ thiết bị sẽ được kết nối internet vào năm 2022 (tăng 18 tỷ thiết bị so với năm 2017). Bà Izumi Nakamitsu cũng nhấn mạnh rằng: “Công nghệ kỹ thuật số đang ngày càng đẩy mạnh những căng thẳng pháp lý, nhân đạo và các chuẩn mực đạo đức”, và việc hạ thấp các rào cản đối với quyền truy cập đã “mở ra các tiềm năng mới cho các xung đột và các cuộc tấn công ở trong và ngoài khu vực nhà nước”.

Thời gian qua, một số đối tượng phản động, cực đoan và tội phạm có tổ chức đã lợi dụng thành tựu của khoa học, công nghệ để tấn công cá nhân, quốc gia trên chính “vùng lãnh thổ mới” này. Chúng đã lợi dụng không gian mạng để chuyển hóa chế độ chính trị như: kích động biểu tình, phá rối an ninh, tiến hành cách mạng màu, cách mạng đường phố, bạo loạn và lật đổ. Điều này thể hiện rõ trong “Mùa xuân A Rập” diễn ra tại Trung Đông và Bắc Phi từ năm 2010 đến 2012.

Từ lời kêu gọi được phát đi trên Facebook, 18 ngày sau, chính quyền của Tổng thống Mubarak tại Ai Cập bị sụp đổ sau 30 năm cầm quyền, dù trước đó ông đã ra lệnh cắt internet và sóng di động nhưng cũng không ngăn cản được làn sóng biểu tình chống đối. Biểu hiện tiêu cực khác là việc sử dụng thành tựu khoa học-công nghệ để tác động vào cử tri đi bầu; thậm chí là quảng cáo chính trị làm thay đổi nhận thức, ý thức hệ nhằm gây ra sự bất mãn trong nhân dân với những ý đồ chính trị đen tối.

Từ những diễn biến phức tạp thời gian qua, vấn đề chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đã và đang được nhiều nước hết sức coi trọng, từ đó ban hành những chính sách, biện pháp quản lý, kiểm soát phù hợp. Tại Việt Nam, từ năm 2018, Luật An ninh mạng được ban hành, trong đó xác định “An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” và “Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập, quản lý và kiểm soát”. Trước nguy cơ đe dọa chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và bảo đảm an ninh mạng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 25/7/2018 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”; Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 25/7/2018 về “Chiến lược An ninh mạng quốc gia”... Các văn kiện nêu trên thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, xác định bảo vệ an ninh mạng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị.

Phát biểu kết luận tại phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo An toàn, an ninh mạng quốc gia ngày 7/4/2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ: Bảo đảm an toàn, an ninh mạng đã được xác định trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia.

Thực tế cho thấy, không gian mạng hiện đang là một vùng lãnh thổ mới rất cần được coi trọng. Theo Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an, không gian mạng là “không gian thứ năm, chiến trường thứ năm, miền thứ năm của quốc gia, bên cạnh vùng đất, vùng trời, vùng biển và không gian vũ trụ” (1). Theo đó, chủ quyền không gian mạng cần được nhìn nhận dưới góc độ chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bảo vệ an ninh mạng là cấu thành trọng yếu của hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia. Các thông tin bịa đặt, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, công kích chế độ, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc,… cần phải được kiểm soát, ngăn chặn kịp thời. Các quốc gia, cá nhân, pháp nhân, tổ chức khác phải tôn trọng thể chế, pháp luật quốc gia trên không gian mạng.

Việt Nam là một trong số 20 quốc gia có người sử dụng internet cao trên thế giới, với hơn 68 triệu tài khoản mạng xã hội Facebook, 70 triệu người sử dụng internet và 154 triệu thiết bị kết nối internet có tỷ lệ truy cập hằng ngày chiếm 94%. Tuy nhiên, Việt Nam cũng nằm trong danh sách các quốc gia bị ảnh hưởng nhiều bởi các thách thức an ninh mạng. Không gian mạng trở thành nơi mà một số đối tượng chống đối đang lợi dụng để thường xuyên đăng tải thông tin sai lệch, tin giả nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây mất ổn định chính trị, xã hội, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, kích động biểu tình, bạo loạn, móc nối trong ngoài và tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền...

Các tổ chức mà Bộ Công an liệt kê vào danh sách là tổ chức khủng bố như “Việt Tân”, “Chính phủ Quốc gia Việt Nam Lâm Thời”, “Triều Đại Việt”,... thời gian qua thường xuyên tiến hành các hoạt động trên không gian mạng nhằm chống phá chính quyền, tổ chức, chỉ đạo hoạt động khủng bố, tài trợ hoạt động khủng bố..., tiêu biểu như vụ gây nổ tại trụ sở Cục Thuế tỉnh Bình Dương vào ngày 30/9/2019. Những hành vi nêu trên gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, nếu không kiểm soát kịp thời sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và sự ổn định của chế độ chính trị.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-công nghệ tạo ra thuận lợi, thời cơ cho đất nước ta đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, với những mục tiêu như xây dựng Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số. Tuy nhiên bên cạnh thời cơ, những thách thức, mối đe dọa từ không gian mạng đối với chủ quyền, lợi ích quốc gia, an ninh quốc gia cũng không ngừng gia tăng. Trong giai đoạn 2010-2021, với việc sử dụng hơn 8.784 web, blog có tên miền nước ngoài, 381 web, blog có tên miền trong nước, các lực lượng chống đối đã phát tán hơn 60.000 bản tin, bài viết nhằm bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động biểu tình trên không gian mạng... nhưng đã bị lực lượng an ninh mạng của Việt Nam xử lý và ngăn chặn kịp thời. Ngoài ra, lực lượng chức năng của Việt Nam cũng đã phát hiện hơn 80% số vụ lộ bí mật nhà nước là qua hệ thống thông tin.

Để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ hệ thống thông tin trọng yếu của quốc gia và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cả trong thời bình cũng như thời chiến, thời gian qua, lực lượng tác chiến không gian mạng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an làm nòng cốt đã có sự kết hợp chặt chẽ với lực lượng tác chiến không gian mạng, công nghệ thông tin trong khối các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp...

Lực lượng này đã chủ động nắm, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình an ninh mạng trong nước và thế giới; kịp thời phát hiện, tổ chức đấu tranh phòng, chống gián điệp mạng nước ngoài, triển khai các giải pháp bảo vệ an ninh hệ thống mạng thông tin trọng yếu quốc gia; phòng, chống tấn công mạng; vô hiệu hóa các hoạt động chống phá trên không gian mạng; xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng mạng internet và thông tin trên mạng...

Giai đoạn tới, dự báo tình hình diễn biến trên không gian mạng diễn ra hết sức phức tạp. Do đó để chủ động ứng phó, tác chiến trong mọi tình huống nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ an ninh mạng, lực lượng tác chiến trên không gian mạng, lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao cần tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và An ninh mạng quốc gia, trọng tâm là Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Ngoài ra, các lực lượng chiến đấu và các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học và toàn xã hội cần nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, bảo vệ an ninh mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kịp thời nhận diện các âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá và tội phạm trên không gian mạng; trên cơ sở đó chủ động tạo ra sức đề kháng trước các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch và phần tử xấu; luôn đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong chỉ đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động bảo vệ an ninh thông tin đối với hệ thống thông tin được giao phụ trách; xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, an ninh nhân dân trên không gian mạng, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nguồn lực trong nhân dân để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, vô hiệu hóa các luận điệu phản động trên không gian mạng; khẩn trương hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật nhằm thi hành Luật An ninh mạng; bảo vệ dữ liệu cá nhân; trình tự, thủ tục, thẩm quyền thu thập chứng cứ từ nguồn điện tử và biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; kịp thời ban hành những quy định pháp luật quản lý “tiền ảo”, “tài sản ảo”, các loại thẻ thanh toán dịch vụ viễn thông, trò chơi trực tuyến trái pháp luật...

Việc nhận thức và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng cần được quán triệt đến mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức nghiên cứu khoa học, bài bản để từng bước hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

Bảo đảm quyền con người tại Việt Nam: Thắng lợi của sự thật và chân lý

Quan điểm nhất quán về bảo đảm quyền con người tại Việt Nam đã được cụ thể hóa trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời cũng được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật, theo đó các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Trước đó, năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2014-2016. Để đạt được kết quả này, phía Việt Nam đã cam kết và nhấn mạnh các ưu tiên cũng như những nỗ lực đóng góp của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế và thúc đẩy quyền con người trên thế giới, thúc đẩy đối thoại, hợp tác quốc tế bằng tinh thần khách quan, phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ và thúc đẩy quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Dư luận quốc tế và trong nước rất ủng hộ khi đón nhận tin vui Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền LHQ. Ngày 14/10, Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội lên tiếng chúc mừng trên Facebook: "Chúng tôi (Phái bộ ngoại giao Mỹ) gửi lời chúc mừng Việt Nam trúng cử Thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ và hy vọng cùng làm việc để thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên toàn cầu và tại Việt Nam".

Trước đó, trên tờ Washington Times - một tờ báo uy tín của Mỹ ngày 21/9/2022 đăng tải bài viết trong đó đánh giá cao việc Việt Nam cử cán bộ tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và cộng hòa Trung Phi. Mặt khác, qua cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, Việt Nam được ghi nhận là hiệu quả chống dịch tốt, đồng thời tích cực hỗ trợ cho một số quốc gia về trang thiết bị y tế. Bài viết khẳng định từ khi tham gia chính thức là thành viên Liên hợp quốc từ tháng 9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động trong xây dựng hòa bình, phát triển và bảo đảm quyền con người. Bên cạnh việc trở thành thành viên HĐNQLHQ nhiệm kỳ 2014-2016, và nhiệm kỳ 2023-2025 sắp tới, Việt Nam còn làm tốt các vai trò khác trên trường quốc tế như: hai lần trúng cử Ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ 2020-2021); hiện là điều phối viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Hội đồng nhân quyền.

Từ 10 năm qua, khi quyết định từ Mỹ về Việt Nam sống và làm việc, tôi đã có nhiều cơ hội đi khắp các vùng miền, từ miền xuôi tới mạn ngược, từ vùng núi tới hải đảo, tôi nhận thấy, một trong những thành tựu lớn nhất, rõ ràng nhất trong việc bảo đảm quyền con người là công cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Mỗi nơi tôi đi đến để khảo sát, chứng kiến cuộc sống của người dân, sự lãnh đạo của các cấp chính quyền, qua thực tế đều thể hiện, khẳng định ý chí, coi trọng và phát huy hiệu quả nhân tố con người trong phát triển đất nước, cho thấy đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Các chính sách hỗ trợ người nghèo, cận nghèo; người dân tộc thiểu số; người tàn tật, người có công với cách mạng, hay các chính sách quốc gia nâng cao đời sống như chương trình nông thôn mới, chương trình xóa mù chữ vùng cao, vùng sâu, vùng xa, nhằm thúc đẩy và nâng cao đời sống, bảo đảm quyền sống của người dân.

Từ khi tham gia chính thức là thành viên Liên hợp quốc từ tháng 9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động trong xây dựng hòa bình, phát triển và bảo đảm quyền con người.

Trong khi cộng đồng quốc tế và người dân trong và ngoài nước vui mừng, ủng hộ việc Việt Nam được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu vào Hội đồng Nhân quyền, khẳng định sự công nhận vị thế của Việt Nam, đồng thời khẳng định và ghi nhận nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy bảo vệ quyền con người suốt thời gian qua, thì một số đối tượng phản động, thù địch, thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã tỏ ra cay cú, lợi dụng sự kiện này để ra sức xuyên tạc, phản đối, bằng mọi cách hạ uy tín Việt Nam cả trước, trong và sau khi sự kiện diễn ra.

Bất chấp những nỗ lực và thành tựu mà Việt Nam đã đạt được, các đảng phái chống cộng cực đoan ở hải ngoại đã liên tục lên tiếng bôi nhọ vị thế của Việt Nam, họ bịa đặt hoặc dựa vào những thứ gọi là "báo cáo nhân quyền" để tham gia các diễn đàn dân chủ quốc tế, liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ thuộc châu Âu, Canada, Mỹ hòng gây sức ép đối với Việt Nam. Tổ chức khủng bố "Việt tân" đã vận động được 8 tổ chức nhân quyền đề nghị Liên hợp quốc không cho Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền vì "không xứng đáng", vì "Việt Nam đang vi phạm nhân quyền"...

Tuy nhiên việc Việt Nam thuộc nhóm được sự ủng hộ cao nhất tại phiên bỏ phiếu ngày 11/10 vừa qua là kết quả khách quan, phản bác mạnh nhất, đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đang cố tình phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam. Nhiều ý kiến thẳng thắn chỉ ra rằng mục đích đánh phá uy tín Việt Nam phía sau đó còn có yếu tố vụ lợi về mặt chính trị và kinh tế. Bởi lẽ các hội nhóm phản động sẽ núp dưới danh nghĩa "đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam" để gây quỹ, bòn rút, thu tiền người dân ở hải ngoại qua nhiều hình thức như biểu tình, ký thỉnh nguyện thư, nhận tiền từ các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử chính quyền các cấp từ tiểu bang đến liên bang...

Ngoài ra, các kênh Youtube cá nhân của các đối tượng chống đối bên ngoài nước cố tình xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam nhằm khích động, với mục đích câu view, câu like, tạo dư luận trái chiều. Nhóm "truyền thông đen" này tìm mọi cách để tạo dư luận kể cả bằng những thủ đoạn bẩn thỉu, hèn hạ nhất nhằm thu hút sự chú ý của người sử dụng mạng xã hội, vì với lượng truy cập đông đảo thì đó là cách kiếm view tốt nhất, dễ nhất để phục vụ cho mục tiêu kiếm lợi của họ qua không gian mạng.

Hiện nay nhiều Youtuber đã lạm dụng quyền tự do sử dụng các nền tảng mạng xã hội để công kích, mạt sát cá nhân, tổ chức, tung tin sai, giả, bôi nhọ cá nhân, tổ chức và thậm chí cả lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Để kịp thời chấn chỉnh, ngày 15/8/2022 Chính phủ đã ban hành Nghị định 53/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng, có hiệu lực ngày 1/10/2022 nhằm kiểm soát, xóa bỏ những thông tin trái pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Ngay sau đó, ngày 14/9/2022, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh đã ký Quyết định số 1079/QĐ-TTg phê duyệt Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam giai đoạn 2023-2028. Đây là những căn cứ quan trọng cho thấy quyết tâm bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trong giai đoạn tới.

Theo ý kiến luật sư Hoàng Duy Hùng (Houston, Mỹ), từng là người chống cộng cực đoan đã thừa nhận rằng một thời gian dài do không đủ thông tin về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, lại mang thêm định kiến sẵn có cùng những luận điệu sáo mòn về chống cộng từ những kẻ cực đoan nên đã có những đánh giá sai, không chính xác về Đảng, Nhà nước Việt Nam. Cho đến khi trực tiếp về Việt Nam tìm hiểu thực tế, ông mới thấy những gì mình biết trước đây là phiến diện, sai lầm.

Nhà báo Minh Giang (kênh Trực Diện TV, Mỹ) phân tích: nếu cho rằng Việt Nam cần phải cải thiện về nhân quyền, thì các nhóm chống đối trong và ngoài nước thay vì chống đối họ phải ủng hộ, phải chúc mừng Việt Nam vì trong vai trò thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ, Việt Nam sẽ có trách nhiệm và nỗ lực để tiến bộ hơn trong vấn đề quyền con người. Nhưng thực tế họ không muốn Việt Nam tiến bộ, không muốn Việt Nam có vị thế tốt trên trường quốc tế. Họ kích động những đối tượng phản động, cực đoan gây rối trật tự, vi phạm luật pháp ở Việt Nam.

Đã có nhiều bằng chứng cho thấy họ hứa hẹn, tác động, nuôi dưỡng các phần tử bất mãn chế độ, biến những đối tượng này thành "những nhà đối lập" với mục tiêu gây bất ổn chính trị, làm ảnh hưởng đến an ninh xã hội, sự bình yên của đất nước. Tất cả các động thái trên được che đậy dưới chiêu bài kêu gọi dân chủ, nhân quyền, để thực hiện âm mưu thay thế, lật đổ chính quyền Việt Nam. Tuy nhiên, sự chống phá, cay cú từ những hội nhóm, thế lực thù địch trong nước và ngoài nước nói trên chỉ là những cản trở cục bộ, không thể xuyên tạc được sự thật, ngăn cản được sự phát triển của Việt Nam. Những thành tựu của Việt Nam đã được thế giới và bạn bè quốc tế ghi nhận. Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ là thắng lợi của sự thật và chân lý.

Trả lời phỏng vấn nhân dịp Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn khẳng định: "Là đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm, Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các nước thành viên, đóng góp thực chất vào công việc chung của Hội đồng Nhân quyền, thúc đẩy đối thoại và hợp tác quốc tế trên tinh thần tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy quyền con người, đáp ứng điều kiện, nhu cầu và lợi ích chính đáng của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển".

Việc Việt Nam là một trong 14 quốc gia trúng cử làm thành viên HĐNQLHQ với số phiếu cao, và được các thành viên ASEAN nhất trí ủng hộ là ứng viên duy nhất của ASEAN vào vị trí này là "minh chứng cho nỗ lực bền bỉ của Việt Nam trong việc thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người, mà còn khẳng định sự ủng hộ, tín nhiệm cũng như kỳ vọng của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp quan trọng và có trách nhiệm của Việt Nam vào thúc đẩy quyền con người trên thế giới". Với vai trò này, Việt Nam sẽ có thêm cơ hội đóng góp, tham gia tích cực trong các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền LHQ.

 

Lời cảnh tỉnh cho những kẻ cố tình lợi dụng tự do ngôn luận

Tòa án nhân dân TP Hà Nội vừa mở phiên xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lân Thắng (sinh năm 1975; trú tại phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, TP Hà Nội) 6 năm tù và quản chế 2 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù về tội “Làm, tàng trữ, tán phát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Bản án nghiêm minh này cũng là lời cảnh tỉnh cho những kẻ cố tình lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá Nhà nước.

Theo Điều 117 Bộ luật Hình sự, người nào có một trong những hành vi sau nhằm chống Nhà nước sẽ bị phạt tù 5-12 năm: Làm, tàng trữ, tán phát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân hoặc có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân hoặc gây chiến tranh tâm lý. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù 10-20 năm; người chuẩn bị phạm tội này bị phạt tù 1-5 năm. Căn cứ vào quy định trên, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên mức án với bị cáo Nguyễn Lân Thắng là phù hợp.

Chính vì vậy, việc Tòa án nhân dân TP Hà Nội tổ chức xét xử, tuyên phạt mức án nghiêm minh đối với Nguyễn Lân Thắng là hết sức cần thiết. Qua đó thể hiện thông điệp hết sức rõ ràng: Phản biện xã hội để đất nước tốt đẹp, văn minh hơn là cần thiết, đáng trân trọng. Song, nếu xúc phạm, bôi nhọ, xuyên tạc, chống phá Nhà nước thì rõ ràng vi phạm pháp luật, không thể dung tha. Mong rằng, sau phiên tòa xét xử bị cáo Nguyễn Lân Thắng, những đối tượng đang chống phá Nhà nước sẽ tỉnh ngộ, không lợi dụng tự do ngôn luận để làm điều sai trái.

Xây dựng đội ngũ giảng viên ở các nhà trường trong Quân đội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Quán triệt sâu sắc nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thời gian qua, các đảng ủy nhà trường Quân đội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng kế hoạch, quy hoạch đội ngũ giảng viên; xây dựng tiêu chuẩn các chức danh gắn với xây dựng đội ngũ nhà giáo; thường xuyên làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên. Đến nay, đội ngũ giảng viên ở các nhà trường Quân đội cơ bản đủ về số lượng, có chất lượng tốt, cơ cấu phù hợp, được đào tạo, bồi dưỡng đúng chuyên ngành, cương vị công tác. Đội ngũ giảng viên có trình độ sau đại học ngày càng tăng; có phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực tốt, tác phong làm việc khoa học, cụ thể, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ giảng viên ở các nhà trường Quân đội thời gian qua còn có những hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng cán bộ Quân đội trong bối cảnh hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trong đổi mới giáo dục, đào tạo được Đảng ta khẳng định: “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trên một số mặt vẫn còn bất cập về chất lượng, số lượng, cơ cấu và chính sách đãi ngộ”.Chưa phát huy hết vai trò của đội ngũ nhà giáo; chưa đào tạo, bồi dưỡng và phát huy hết tiềm năng của đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên gia đầu ngành”

Cần nhận thức đúng đắn, sâu sắc việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các nhà trường Quân đội hiện nay phải bắt đầu từ xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên. Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong các nhà trường Quân đội cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo cả về số lượng, cơ cấu, đặc biệt nâng cao về chất lượng; tạo môi trường điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giảng viên phát huy hết tâm huyết, tiềm năng sáng tạo trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo./.

 


Bộ đội giúp dân học chữ

Để hoàn thành nhiệm vụ, đơn vị xác định mấu chốt để đi đến thành công là phải tập trung nâng cao dân trí. Đại tá Chu Huy Lương, Chính ủy Đoàn KT-QP 4 cho biết: "Đơn vị đứng chân trên địa bàn hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí chưa cao, nhiều hủ tục, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Muốn giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, bên cạnh việc làm cho dân tin thì phải nói cho dân hiểu. Mà muốn dân hiểu thì bộ đội phải nói được tiếng đồng bào và đồng bào phải hiểu được tiếng dân tộc Kinh”.

Từ nhận thức đó, nhiều năm qua, đơn vị đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương mở nhiều lớp xóa mù chữ cho bà con nhân dân, đạt hiệu quả thiết thực. Ví như trường hợp chị Lữ Mẹ Khương cùng 38 học viên lớp học ở bản Pủng, xã Mường Ải (Kỳ Sơn), sau 6 tháng chăm chỉ học tập, đến nay đã biết đọc, biết viết. Khoe với chúng tôi giấy chứng nhận xóa mù chữ do địa phương cấp, chị Khương vui vẻ: “Học được cái chữ, giờ đi làm giấy tờ ở xã, mình không phải điểm chỉ nữa mà đã ghi được cái tên của mình. Biết đọc nên làm cái gì cũng thuận lợi; bán con gà, hạt ngô, củ sắn cho người ta cũng biết tính toán, không bị nhầm như trước nữa”.

Cũng như bản Pủng, Kẻm Đôn là bản vùng sâu, vùng xa của xã Tri Lễ (Quế Phong). Người dân ở bản, đặc biệt là phụ nữ, có tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ khá cao. Nhờ lớp học xóa mù chữ và chống tái mù chữ của Đoàn KT-QP 4 tổ chức, 46 chị em người dân tộc Thái đã biết đọc, biết viết và áp dụng kiến thức được học vào cuộc sống hằng ngày. Chị Lương Thị Cần, một người dân trong bản Kẻm Đôn tâm sự: "Được đi học con chữ, chị em ai cũng mừng. Khi đã biết chữ, biết tính toán, chị em đi chợ, mua bán dễ dàng, thuận lợi hơn trước rất nhiều". Chị Lương Thị Hương tiếp chuyện: “Biết chữ nên mình có thể đọc sách, báo để theo dõi tin tức, xem ti vi cũng hiểu hơn, biết học người ta cách làm ăn hiệu quả. Mình cảm ơn các chú bộ đội nhiều lắm”.

Không chỉ giúp bà con nâng cao dân trí, thoát nghèo, trong các buổi lên lớp, cán bộ của đơn vị còn lồng ghép tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về nghiêm cấm tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, vũ khí, vật liệu nổ; vấn đề chủ quyền biên giới quốc gia, di canh, di cư tự do, vượt biên, truyền đạo trái phép; vấn đề hôn nhân và gia đình; cách chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em; vệ sinh môi trường, phòng, chống dịch bệnh...

Đồng chí Nguyễn Hữu Minh, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Sơn ghi nhận: “Lớp học xóa mù chữ của bộ đội và trí thức trẻ tình nguyện Đoàn KT-QP 4 thực sự mang lại hiệu quả kép, không những giúp bà con biết đọc, biết viết, nâng cao trình độ dân trí, mà nhiều người đã biết nghe, hiểu tiếng Kinh, học tập cách làm ăn, nhờ đó tự tin hơn trong giao tiếp. Cấp ủy, chính quyền địa phương khi đối thoại, tiếp công dân hay giải quyết các thủ tục hành chính, tuyên truyền, vận động bà con cũng thuận lợi hơn”.

XEM BỘ ĐỘI ĐẶC CÔNG HUẤN LUYỆN

 Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung đoàn Đặc công 113 (nay là Lữ đoàn Đặc công 113, Binh chủng Đặc công) chiến đấu xuất quỷ nhập thần, lập nhiều chiến công vang danh sử sách.

Giai đoạn hiện nay, cùng với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, Lữ đoàn Đặc công 113 còn triển khai phương án ứng phó với các tình huống an ninh phi truyền thống. Để có được những chiến đấu viên đặc biệt tinh nhuệ, đơn vị đã triển khai phương pháp huấn luyện đặc biệt, kết hợp truyền thụ những bài học từ lịch sử và kinh nghiệm trong chiến đấu.
Tác chiến đặc biệt
Đúng 8 giờ, tôi có mặt tại phòng khách Sở chỉ huy Lữ đoàn Đặc công 113 như đã hẹn. Thượng tá Nguyễn Quang Hòa, Lữ đoàn trưởng niềm nở tiếp chúng tôi. Anh có phom người khá chuẩn so với tuổi gần 50. Cuộc trò chuyện của chúng tôi bắt đầu bên cốc trà nóng. Ngoài trời, mưa bụi bay lất phất và thỉnh thoảng vọng về tiếng hô “đánh”, “diệt” của các lực lượng đang huấn luyện ngoài sân vận động. Anh Hòa cho biết, nhiều năm nay, do yêu cầu nhiệm vụ thay đổi nên ngoài huấn luyện kỹ, chiến thuật đặc công thì Lữ đoàn tập trung khá nhiều thời gian huấn luyện chống khủng bố, giải thoát con tin và thực hiện một số nhiệm vụ đặc biệt.
Theo anh Hòa, những nhiệm vụ ấy có tính chất và yêu cầu khác so với tác chiến truyền thống. Thực tế, để có một chiến đấu viên đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ phải tổ chức huấn luyện rất nhiều thời gian, công phu, tỉ mỉ đến từng chi tiết, từng hành động. Từ việc rèn thể lực, di chuyển, vận động cho đến sử dụng thuần thục các loại vũ khí, võ thuật... ở các loại địa hình, thời tiết, nhất là trong điều kiện đêm tối. Đặc biệt, công tác hiệp đồng phải công phu, kỹ lưỡng, chính xác đến từng giây. Thế nên, cường độ huấn luyện với chiến đấu viên của đơn vị là rất cao.
Thượng tá Nguyễn Quang Hòa đã gắn bó với Lữ đoàn Đặc công 113 hơn 20 năm trong tổng thời gian gần 30 năm tại ngũ. Anh từng trải qua rất nhiều vị trí công tác, từ chiến sĩ rồi mũi trưởng... cho đến vị trí đang đảm nhận. Anh chia sẻ, trong tác chiến khu vực phòng thủ, đặc công có nhiệm vụ đặc thù so với bộ binh và các lực lượng khác... Các anh không chỉ có nhiệm vụ bí mật đánh phá mục tiêu quan trọng, hiểm yếu phía sau lưng địch mà còn đánh trận then chốt, mở màn trong các chiến dịch lớn. Thế nên, bài học đầu tiên với Bộ đội Đặc công không phải là võ thuật, chiến thuật mà là trách nhiệm chính trị, sẵn sàng đối mặt với thách thức, hiểm nguy, thậm chí cả sự hy sinh trong điều kiện độc lập tác chiến, nhưng vẫn luôn bình tĩnh, tỉnh táo để có phương án hành động mau lẹ, tối ưu.
Phải đặc biệt tinh nhuệ cả về bản lĩnh chính trị
Gần 10 giờ, tôi cùng Thiếu tá Bùi Tiến Dũng, Liên đội trưởng Liên đội 27 có mặt tại thao trường, xem mũi đặc công của Đội 1 luyện tập đội ngũ chiến thuật đề mục "Mũi đặc công tập kích bí mật địch phòng ngự". Tôi hỏi, sao nhiều cờ trắng thế. Anh Dũng bảo, đó là trận địa của địch. Mỗi chiếc cờ có các ký hiệu màu xanh với những hình vẽ khác nhau. Có cờ tượng trưng cho tên lửa chống tăng, cối và nhiều ổ hỏa lực khác. Có cờ ở giữa tượng trưng cho trung tâm chỉ huy, hầm ngủ... Nhiệm vụ của mũi đặc công là phải bí mật tiếp cận và tiêu diệt các mục tiêu theo nhiệm vụ trong khoảng thời gian ngắn nhất.
- Mũi trưởng bố trí lực lượng thế nào, ưu tiên đánh hướng nào trước? Tôi chẳng thấy họ đâu cả?
Anh Dũng nhìn tôi cười và nói, đây là bí mật, không thể nói được. Rồi anh nói tiếp: "Anh cứ chờ đi, nhanh thôi".
Tôi kiễng chân, nghển cổ căng mắt quan sát xung quanh để tìm bóng dáng bộ dã chiến nhưng chỉ thấy mưa bụi lất phất trong gió và những lùm cây đặc trưng vùng đồi trung du. Bỗng tôi nghe âm thanh tạo giả mô phỏng tiếng thủ pháo, tiếng lựu đạn và cả tiếng tiểu liên rộ từng tràng. Rồi vài bóng người lao nhanh, thoắt ẩn thoắt hiện trên trận địa. Tiếng nổ vang lên theo bước chạy của họ rồi tan vào gió. Chưa đầy 10 phút sau, âm thanh tạo giả mất hẳn. Thao trường im lặng, vắng vẻ như lúc ban đầu. Anh Dũng bảo tôi, chỉ khi chứng kiến diễn tập tổng hợp thì mới thấy tính chất quyết liệt, thiện chiến, tinh nhuệ của Bộ đội Đặc công. Lúc ấy, sẽ có nhiều bất ngờ vì đó là một trận đánh gay cấn giữa quân xanh và quân đỏ. Rất nhiều tình huống diễn ra.
Lúc này, Đại úy Nguyễn Văn Đức, Đội trưởng Đội 1 xuất hiện. Thiếu tá Bùi Tiến Dũng mời chúng tôi về liên đội bởi đơn vị đã chuyển sang nội dung huấn luyện khác. Liên đội trưởng Dũng kéo chúng tôi vào nhà chòi gần nhà chỉ huy liên đội. Ngồi chưa ấm chỗ, anh Dũng đã lấy tờ giấy trong cuốn sổ ra và vẽ lên đó mặt bằng một chiếc cầu. Anh hỏi Đội trưởng Đức: Ngay sau khi chiếm được cầu, trên yêu cầu đại đội tổ chức chốt giữ, bảo vệ. Đội trưởng triển khai thế nào?
Sau một lát suy tính, anh Đức trình bày kế hoạch sơ lược khá mạch lạc và hấp dẫn. Tôi cũng chụm đầu với hai anh trên mảnh giấy, chăm chú nhìn những hình vẽ tượng trưng cách bố trí lực lượng. Cùng với đó, hai anh thảo luận cách xử trí một số tình huống.
Bỗng chúng tôi nghe có tiếng người từ sau lưng. Quay lại, tôi thấy Thượng tá Nguyễn Quang Hòa đứng đó từ bao giờ. Nhìn tờ giấy trên bàn với những hình vẽ mô phỏng, anh cười rồi góp vào câu chuyện dở dang của chúng tôi. Anh nói: "Ai cũng nghĩ đặc công chỉ đánh lướt, tiêu diệt mục tiêu trọng yếu, chiếm được mục tiêu thì bàn giao cho đơn vị bạn và rút. Nhưng kỳ thực, trong chiến tranh, đã có những trường hợp đặc công của Lữ đoàn phải chốt giữ, bảo vệ mục tiêu nhiều ngày, vô cùng ác liệt. Thế nên hiện nay trong huấn luyện, chúng tôi luôn tập luyện nhiều phương án chiến đấu chốt giữ, bảo vệ mục tiêu, làm cơ sở cho bộ đội chuẩn bị tâm lý, kỹ thuật, chiến thuật để thực hiện tốt nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra".
Hướng mặt về phía những hạt mưa đan chéo trong không gian, anh Hòa cho biết: "Qua nghe nhiều cựu chiến binh về thăm đơn vị kể lại, chúng tôi thu được những bài học kinh nghiệm rất quý báu trong tổ chức chiến đấu. Ví như câu chuyện về Tiểu đoàn 23 của Trung đoàn Đặc công 113 phối hợp với 2 đại đội pháo phản lực ĐKB của Tiểu đoàn 174 vừa đánh chiếm, vừa chốt giữ, bảo vệ cầu Ghềnh (Biên Hòa, Đồng Nai) trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4-1975".
Chuyện là, theo kế hoạch tác chiến trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tiểu đoàn 23 của Trung đoàn Đặc công 113 sẽ phối hợp với Tiểu đoàn Pháo binh 174 đánh chiếm, chốt giữ, bảo vệ cầu Hóa An và cầu Ghềnh, bảo đảm cho lực lượng của Quân đoàn 4 cơ động vào nội đô Sài Gòn. Sáng sớm 27-4-1975, Tiểu đoàn 23 nổ súng, tấn công lực lượng bảo vệ cầu, sau 30 phút đã tiêu diệt và kiểm soát được mục tiêu và nhanh chóng xây dựng các chốt, sẵn sàng bảo vệ cầu. Gần 9 giờ, địch pháo kích dữ dội, sau đó cho bộ binh tấn công chiếm lại cầu, nhưng bị bẻ gãy. Sáng 28-4, sau khi pháo kích, địch cho trực thăng tới bắn phá, sau cùng là các đợt tấn công bằng bộ binh, xe tăng có máy bay trinh sát L-19 chỉ đường. Đến chiều cùng ngày, địch chiếm lại cầu. Tối 28-4, Tiểu đoàn 23 và Tiểu đoàn 174 phản công chiếm lại cầu. Hai bên giằng co quyết liệt từng mét mặt cầu. Mãi đến nửa đêm 29-4, Tiểu đoàn 23 mới chiếm được toàn bộ cầu và bảo vệ thành công để 11 giờ ngày 30-4, lực lượng của Quân đoàn 4 và xe tăng cơ động vào nội đô Sài Gòn. Trong trận đánh chiếm và giữ cầu Ghềnh, riêng Tiểu đoàn 23 đã có hơn 40 cán bộ, chiến sĩ hy sinh.
Cuối câu chuyện, Thượng tá Nguyễn Quang Hòa tâm tình, có lẽ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh chiếm, chốt giữ, bảo vệ cầu Ghềnh là một trong những trận chiến khốc liệt và ta bị tổn thất nhiều. Lặng đi giây lát, anh nói tiếp với giọng trầm xuống: "Mỗi năm đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Đặc công 113 luôn tổ chức nhiều hoạt động tưởng nhớ, tri ân đồng đội đã hy sinh, qua đó hun đúc tinh thần sẵn sàng hy sinh và quyết thắng cho thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay".
Qua câu chuyện lịch sử và công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu hôm nay, tôi nhận ra, Lữ đoàn Đặc công 113 không chỉ là lực lượng đặc biệt tinh nhuệ trong chiến đấu. Với tôi, họ còn đặc biệt tinh nhuệ cả về bản lĩnh chính trị và ý chí quyết chiến, quyết thắng. Sự tinh xảo của họ thật đúng với ý nghĩa của câu thành ngữ “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”./.
ST


Hội chứng chỉ trích, chê bai trên mạng xã hội

Chỉ trích, chê bai mà thiếu căn cứ tìm hiểu, thậm chí với cả những người, sự việc chưa từng gặp, tham gia rất gần với thóa mạ, xúc phạm, trong một số trường hợp còn có thể bị coi là vi phạm pháp luật. Đó không đơn thuần là hành động, thói quen xấu, mà ở mức độ nhất định còn phản ánh một tư duy, lối sống tiêu cực, thiếu văn minh trong đời sống.

Bởi khi xuất hiện quá nhiều sự chê bai, chỉ trích như vậy sẽ khiến cho xã hội mất đi nguồn năng lượng tích cực, ảnh hưởng tiêu cực tới động lực làm việc, sáng tạo, cũng như khiến giảm sút niềm tin vào cuộc sống. Do đó trước thói quen thích chê bai của không ít người thậm chí có chiều hướng lây lan, gia tăng như hiện nay, nhất là trên mạng xã hội rất cần có những giải pháp chấn chỉnh, điều chỉnh kịp thời.

Không ai có thể phủ nhận tính hữu dụng của mạng xã hội nếu người sử dụng biết khai thác để phục vụ cho nhu cầu học hỏi, kết nối, lan tỏa những giá trị tốt đẹp. Tuy nhiên thực tế đang có một bộ phận không nhỏ người Việt sử dụng mạng xã hội chỉ để thể hiện những khía cạnh thiếu văn minh, thiếu hiểu biết, làm cho môi trường mạng trở nên tiêu cực, xấu xí, gây tổn thương cho người khác. Đáng lo ngại là tình trạng thích chỉ trích, chê bai đang nguy cơ trở thành một thói quen phổ biến trong các hội nhóm mạng xã hội và ngày càng có khả năng lan rộng, trầm trọng hơn về mức độ và quy mô. Mới đây nhất có thể kể đến câu chuyện chê bai show diễn của một nam nghệ sĩ tại Ninh Bình. Việc một số khán giả chuyển nhượng lại vé đã mua nhưng hiện không còn nhu cầu của show diễn vốn là bình thường theo quy luật thị trường nhưng lại bị một số hội nhóm trên mạng đẩy lên thành cao trào, đưa ra những nghi vấn về khâu tổ chức, về chất lượng đêm diễn. Đáng buồn thay không chỉ các hội nhóm trên mạng mà thậm chí có một vài trang báo mạng cũng "hùa" theo chê bai, nghi vấn, cho đăng tải các bài viết với dụng ý nghi hoặc, soi mói bất lợi cho show diễn của nghệ sĩ. Trong khi thực tế đêm diễn đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của khán giả, và được nhiều người đánh giá cao.

Bất kỳ ai sử dụng mạng xã hội đều không lạ lẫm khi bắt gặp các hội nhóm "Anti" (chống lại, phản đối) xuất hiện nhan nhản trên mạng. Có thể thấy bản chất của không ít các hội nhóm như vậy là để bóc phốt, nói xấu, khui những chuyện đời tư của một tổ chức hay cá nhân. Đôi khi đối tượng bị chê bai còn là các nhãn hàng, hoặc sản phẩm văn hóa (như bộ phim, cuốn sách, chương trình nghệ thuật...) đang được dư luận quan tâm. Tuy nhiên thay vì đưa ra những nhận xét, đánh giá thấu đáo, công tâm, một số hội nhóm "Anti" thực chất là nơi để các "anh hùng bàn phím" trút vào đó những điều không ưng ý, không hài lòng về một đối tượng mà họ thấy... ghét.

Những "cuộc chiến chê bai" trên mạng ảo đã gây không ít hệ lụy trong đời thực. Như trong lĩnh vực điện ảnh, thời gian vừa qua có hiện tượng phim Việt bị "chết" ngay sau khi ra rạp, ngoài lý do chủ quan và khách quan như chất lượng chưa đồng đều, suất chiếu không phù hợp, còn một lý do không kém phần quan trọng đến từ việc trước đó bị khán giả dập vùi chê bai không thương tiếc. Cụ thể, một số khán giả thiếu thiện chí khi xem phim, bắt lỗi những điểm không hài lòng, thay vì góp ý mang tính xây dựng, họ dùng từ ngữ nặng nề "kết án" bộ phim trên mạng xã hội, rồi những người khác dù chưa xem phim cũng hùa theo, tạo thành một hội chứng đám đông, mặc nhiên phủ nhận công sức sáng tạo của các nghệ sĩ, nhà sản xuất. Những yếu tố đó cộng lại khiến cho một vài bộ phim phải tức tưởi chịu cảnh rời rạp chiếu sớm, chấp nhận thua lỗ.

Chứng kiến những sự việc đáng buồn ấy, nhiều người không khỏi lo lắng bởi, dường như ý thức, tinh thần trân trọng, cổ vũ các sáng tạo, cái mới để qua đó khích lệ, nâng niu khuyến khích, sử dụng các giá trị lao động của các cá nhân trong xã hội đang nguy cơ giảm sút trong lối sống, cách suy nghĩ ở không ít người Việt trẻ đang ngày đêm lướt bàn phím thể hiện "quyền lực" của mình. Đặc biệt, ở lĩnh vực văn hóa, trong khi Nhà nước ta đang cố gắng tạo mọi điều kiện để bảo vệ, phát huy, khuếch trương các sản phẩm văn hóa nội địa, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa Việt ở trong nước cũng như trên trường quốc tế thì thói quen thích chỉ trích, chê bai này đang nguy cơ gây ra những ảnh hưởng không nhỏ. Thành công trong phát triển công nghiệp văn hóa, tại một số quốc gia đã chỉ ra rằng, bên cạnh sự nỗ lực của đội ngũ sáng tạo giá trị văn hóa, cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý thuận lợi thì còn có vai trò rất lớn đó là sự động viên, khích lệ của công chúng trong nước, những người luôn sẵn sàng tiêu thụ, cổ vũ, trân trọng các sản phẩm của văn hóa dân tộc mình.

Đáng buồn là trong một số vụ việc xảy ra thời gian qua, người sử dụng mạng xã hội đã đi quá xa, để lại những hậu quả hết sức nặng nề. Thói quen hùa nhau chỉ trích, chê bai mà không cần suy xét, không cần chứng cứ là một tính xấu thể hiện sự kém văn minh của người sử dụng mạng. Tiện ích của mạng xã hội đã được chứng minh, nhưng cũng chính mạng xã hội đang là mảnh đất phơi bày nhiều lỗ hổng trong văn hóa của một bộ phận không nhỏ người sử dụng. Đã đến lúc cần quyết liệt phê phán, thậm chí có hình thức xử lý nghiêm việc một số bạn trẻ lên mạng xã hội tham gia vào các nhóm "Anti", cho mình quyền được chửi bới, thóa mạ bất cứ điều gì mình "chướng tai gai mắt" thay vì chỉ góp ý, nhắc nhở rồi cho qua. Mạng xã hội cũng như ngoài đời, khi những lời chê bai, nói xấu xuất hiện thường xuyên sẽ làm cho môi trường sống bị vẩn đục, ảm đạm, tiêu cực, ảnh hưởng đến tâm trạng và lối sống của những người chung quanh.

Cũng không nên đánh đồng việc chê bai, thóa mạ với việc "đánh giá" hay "phê bình" để rồi xuề xòa cho đó là chuyện nhỏ, là bình thường. Vì đánh giá hay phê bình đều phải dựa trên những cơ sở mang tính khách quan, khoa học, thông qua việc sử dụng ngôn ngữ chừng mực, thuyết phục, giúp cho đối tượng nhận diện vấn đề rõ ràng hơn. Người ta sử dụng cụm từ "văn hóa phê bình" là vì vậy. Còn chê bai, thóa mạ, công kích, là hành vi phản văn hóa, bởi nó không dựa trên tính khách quan khoa học, tệ hơn nữa, nó còn ẩn dưới đó những dụng ý xấu, và cái tâm không trong sáng của người phát ngôn. Trong một số trường hợp nó thậm chí trở thành "thuốc độc", có thể lấy đi danh dự, thậm chí mạng sống của người bị chê bai. Đó là loại vũ khí vô hình nhưng mang tính sát thương cao, không hề có tác dụng xây dựng cho môi trường đời sống trở nên tốt đẹp, có ích hơn. Theo số liệu khảo sát của Microsoft mới nhất, Việt Nam đứng tốp 5/25 quốc gia có hành vi ứng xử không văn minh trên môi trường internet. Con số đáng buồn này rất đáng để những người có trách nhiệm và những "cư dân mạng" suy ngẫm để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.

Trong thời đại số, đời sống của thế hệ trẻ gắn bó ngày càng chặt chẽ với môi trường internet. Đang dần hình thành những thế hệ lớn lên, trưởng thành từ mạng xã hội. Những tiếp xúc của một người mỗi ngày trong đời thường đôi khi còn ít hơn cả tiếp xúc trên mạng xã hội. Ở chiều ngược lại, cách sống, cách cư xử của một người trong đời thường đang chịu tác động mạnh mẽ từ môi trường mạng. Do vậy, rất cần đặt vấn đề nghiêm túc và sâu sắc về việc xây dựng văn hóa ứng xử trên mạng xã hội cho người sử dụng, đặc biệt là lớp trẻ. Vấn đề này không thể tách rời vấn đề xây dựng văn hóa con người trong thời đại mới. Bởi một lớp người trẻ biết ứng xử có văn hóa trên mạng có thể giúp ích rất nhiều trong lan tỏa các giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc mình, biết trân trọng những sáng tạo của người khác, biết lắng nghe và chia sẻ. Khi tham gia các diễn đàn sẽ biết phân định đúng sai, biết dùng kiến thức và khả năng phân tích để đánh giá con người, sự việc, không bị cuốn theo đám đông, không hùa vào nói xấu, lăng mạ một ai đó khi chưa có cơ sở thuyết phục. Lớp người trẻ có văn hóa sử dụng mạng xã hội sẽ tạo ra những nguồn năng lượng tích cực, giúp cho bạn bè thế giới yêu mến Việt Nam hơn, và góp phần hiệu quả để mang văn hóa Việt ra thế giới.

Việc chê bai, chửi bới, thóa mạ đến mức vi phạm pháp luật chắc chắn sẽ bị xử lý theo quy định. Nhưng xét đến cùng, mọi quy định mang tính bắt buộc chỉ là công cụ cảnh báo hoặc răn đe, quan trọng nhất vẫn là ý thức cá nhân của mỗi người khi tham gia sử dụng mạng xã hội. Gia đình và nhà trường cần phải không ngừng giáo dục thế hệ trẻ trong việc ứng xử văn hóa khi là một "công dân mạng". Theo đó, chính người lớn phải là tấm gương trong việc nhận xét, bình phẩm, đánh giá một ai đó, và có thái độ rõ ràng với con em mình khi tham gia vào các hội nhóm trên mạng. Mỗi một người phải tự nhận thức về sự nguy hại của hội chứng đám đông, nhân danh đám đông để ném đá, bôi xấu, hạ nhục, làm tổn hại dù đó là một cá nhân hay một tổ chức. Phải khách quan, trung thực, đặt mình vào vị trí của người khác trước khi phát ngôn, bình luận. Đó là cách giúp mỗi cá nhân tự nâng cao tinh thần trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội, góp phần làm cho môi trường sống ngày càng trở nên lành mạnh, văn minh hơn./.

 

Ý nghĩa và tầm quan trọng của mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân

Mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân luôn là nguồn sức mạnh to lớn, làm nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được đáng ghi nhận, thời gian qua việc tăng cường mối quan hệ này vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.

Thứ nhất, là nhân tố quyết định sức mạnh của Đảng và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”; “có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

Trong mọi giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đều gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn lấy lợi ích của nhân dân làm nền tảng cho những quyết sách, đường lối của mình; đồng hành, chia sẻ cùng nhân dân và vận động, động viên nhân dân trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng. Chính thông qua mối quan hệ mật thiết với nhân dân mà Đảng phát huy được vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đặc biệt là trong việc kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, tập hợp, phát huy được sức mạnh, trí tuệ và lực lượng to lớn của nhân dân, tiếp thu những đột phá, sáng tạo trong nhân dân để tiếp tục quá trình đổi mới có hiệu quả hơn.

 Thứ hai, là nhân tố bảo đảm cho các phong trào cách mạng của nhân dân phát triển mạnh mẽ, phát huy tốt nhất sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân.

Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là để Đảng lãnh đạo, định hướng các phong trào cách mạng của nhân dân một cách hiệu quả. Các phong trào cách mạng của nhân dân chỉ phát triển đúng hướng khi đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất, cần cù, chịu khó, đoàn kết, đồng cam cộng khổ. Đây là những nhân tố quan trọng để cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi đến thắng lợi trong các cuộc chiến tranh đầy hy sinh, gian khổ. Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nhân dân được tập hợp, được tổ chức trong những tổ chức cách mạng, nhờ đó mà sức mạnh của nhân dân lại được phát huy, nhân lên gấp bội.

Thứ ba, góp phần quyết định tính đúng đắn của chủ trương, đường lối của Đảng trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội trước hết bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách và lãnh đạo, tổ chức thực hiện thông qua các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Một mặt, chủ trương, đường lối của Đảng muốn “đi vào” cuộc sống một cách thuận lợi thì phải lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở và phải bám sát với thực tế cuộc sống; quá trình thực hiện phải vận động được sự tham gia tích cực và ủng hộ nhiệt tình của nhân dân; mặt khác, thông qua cương lĩnh, đường lối của Đảng để thu hút, tập hợp lực lượng nhân dân đi theo Đảng. Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân mà nhân dân phản ánh, góp ý, phản biện đường lối, chủ trương, chính sách cho Đảng, Nhà nước; thông qua ý kiến của nhân dân mà Đảng chắt lọc, chọn lọc thông tin để đề ra, hoàn thiện, điều chỉnh chủ trương, đường lối cho phù hợp. Đó là con đường và quá trình hoàn thiện cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của một đảng cộng sản cầm quyền chân chính.

Thứ tư, là điều kiện bảo đảm cho công tác tuyên truyền, thuyết phục của Đảng đạt hiệu quả cao nhất.

Hiệu quả công tác tuyên truyền phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ gắn bó, sự hiểu biết, tin tưởng giữa chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền. Đối tượng tuyên truyền là nhân dân khi đã tin vào Đảng, gắn bó mật thiết với Đảng, thì mọi thông tin tuyên truyền sẽ đến với nhân dân một cách nhanh chóng, đầy đủ hơn. Ngược lại, nếu mối quan hệ giữa chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền không gắn bó chặt chẽ, thiếu sự tin cậy, nếu cán bộ, đảng viên chỉ tuyên truyền lý thuyết suông, giáo điều, tuyên truyền một chiều, nói không đi đôi với làm, không tiên phong, gương mẫu... thì dù có cố gắng bao nhiêu, nhân dân cũng không tin theo.

Thứ năm, góp phần nâng cao vai trò, uy tín và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, đội ngũ cán bộ, đảng viên thể hiện vị trí, vai trò, trách nhiệm trước nhân dân, sẵn sàng để nhân dân đánh giá, kiểm tra, giám sát, góp ý; từ đó, tiến hành sàng lọc đảng viên, để nhân dân giới thiệu cho Đảng những nhân tố mới, tiêu biểu. Bên cạnh đó, thông qua mối quan hệ mật thiết với nhân dân để Đảng phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ sáu, tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Thông qua mối quan hệ mật thiết với nhân dân để Đảng nắm thông tin về đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng trong việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nắm rõ phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, để có thể phát hiện những tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy công quyền. Trong thực tế hiện nay, hơn 70% các vụ việc tiêu cực, tham nhũng được phát hiện là do báo chí và người dân cung cấp thông tin. Điều đó cho thấy, nếu Đảng, chính quyền thực sự dựa vào nhân dân, tin nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân thì cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ đạt được kết quả cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Với Đảng, “Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết”. Bởi vậy, “một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng”.

Thứ bảy, là cơ sở để phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân để nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, để các tổ chức này thể hiện được vai trò, trách nhiệm và sự tín nhiệm của mình trước nhân dân; đồng thời, để nhân dân thể hiện được ý chí, chính kiến của mình, thể hiện được quyền làm chủ và vai trò giám sát, phản biện chính sách của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc./.

"CHỈ SỢ LÒNG DÂN KHÔNG YÊN"

 Trong di sản Hồ Chí Minh có những từ “sợ”, “lòng dạ”, “lòng dân”, “lương tâm”, “chính tâm”, “niềm tin”. Đáng chú ý nhất khi Người nói “chỉ sợ lòng dân không yên”.

Có mấy trường hợp điển hình Bác nói đến những cụm từ trên. Thứ nhất, chuyện kể rằng sau Cách mạng Tháng Tám thành công, có cán bộ cao cấp hỏi Bác: “Thưa Bác, cách mạng thành công rồi, chính quyền về tay nhân dân, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Bác có điều gì sợ không ạ?” Bác trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi trả lời: “Bác vẫn còn một điều sợ, đó là sợ các chú làm bậy, ảnh hưởng đến uy tín của Chính phủ, dẫn đến mất lòng tin của nhân dân”.
Đối chiếu câu chuyện ở trên với những bài viết, bài nói của Bác ngay sau Cách mạng Tháng thành công nhận thấy rất logic, rất hợp lý. Đúng nửa tháng sau Tuyên ngôn độc lập, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, Người đã nói đến việc đề phòng hủ hóa, cán bộ lên mặt làm quan cách mạng, độc hành độc đoán, hoặc dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng), v.v.. Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lung lay. Trong bài “Sao cho được lòng dân” Người viết: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”. Ngày 17-10-1945, trong bài “Gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” đăng báo Cứu quốc, sau khi nêu thành tích nhiều người làm theo đúng chương trình của Chính phủ và rất được lòng dân, Bác chỉ ra sáu lầm lỗi rất nặng nề như: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Những người mắc lỗi lầm đó tưởng mình là thần thánh, coi khinh dân gian, huênh hoang, khoác lác, kiêu ngạo, cử chỉ vác mặt “quan cách mạng”, làm mất lòng tin cậy của dân, hại đến uy tín của Chính phủ.
Thứ hai, tháng 6-1949, trong tác phẩm Cần Kiệm Liêm Chính, khi bàn về chữ Liêm, Bác viết “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Thứ ba, tháng 9-1950, trên đường đi chiến dịch Biên giới, ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong, Bác làm bài thơ có 4 câu: “Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/Quyết chí ắt làm nên”. Thứ tư, tại kỳ họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1966, Bác nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng/ Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Thứ năm, tháng 6-1968, khi nêu ý kiến về làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, Bác nói: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.
Một lần duy nhất khi trả lời một nhà báo nước ngoài của báo Frères D’armes, khi được hỏi: “Chủ tịch sợ gì nhất?”, Bác trả lời: “Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì”. Như vậy theo Bác, một người yêu nước, người cách mạng thì không sợ gì cả, chỉ sợ lòng dân không yên, vì lòng dân không yên, mất lòng dân là mất tất cả.
Xâu chuỗi những bài viết, bài nói của Bác liên quan tới những cụm từ trên cần nhận thức thấu đáo rằng Bác cho ta thấy sức mạnh của nhân dân gồm hệ thống một nguồn lực như tài dân, sức dân, của dân, quyền hành, lực lượng; khôn khéo, trí tuệ, thông minh, sáng tạo, hăng hái, anh hùng, dũng cảm, cần cù. Đó là sức mạnh chúng ta có thể nhìn thấy. Còn một nguồn “sức mạnh mềm” tiềm ẩn bên trong có ý nghĩa nền tảng, động lực, tiền đề của những sức mạnh trên, đó là lòng tốt, lòng trung thành của nhân dân. Lòng dân là sức mạnh vô biên, vô địch, có ý nghĩa quyết định thành bại của cách mạng. Bác viết “dân rất tốt”. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Cán bộ, đảng viên phải ghi tạc vào đầu cái chân lý ấy. Nếu cán bộ, đảng viên có tâm trong sáng, chính trực, biết nuôi dưỡng, vun bồi, khơi dậy lòng tốt của dân - tuyệt đối không được lạm dụng, lợi dụng lòng tốt đó - thì dân sẽ ủng hộ, giúp đỡ ta. Nói với Công an nhân dân, Bác chỉ rõ ta được lòng dân thì không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì không thể làm tốt công tác. Nói về Chính phủ lo phấn đấu cho lợi ích của nhân dân nên nhân dân hăng hái, hoàn toàn tin tưởng và nhiệt liệt ủng hộ Chính phủ, Bác kết luận: “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được; trái ý dân thì chạy ngược chạy xuôi”.
Khi Bác nói “nước lấy dân làm gốc”, “dân là gốc” cần được hiểu lõi cốt của gốc là lòng dân. Việc gì đúng với nguyện vọng và hợp lòng dân thì được quần chúng ủng hộ và hăng hái đấu tranh. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thành công hoàn toàn.
2. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay khi bước vào sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm đầu tiên là trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2021), nghị quyết các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII nhấn mạnh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Trong thời gian gần đây, Tổng Bí thư Đảng ta trăn trở nhiều về hai chữ “lòng dân” bởi nó liên quan tới vận mệnh của Đảng, của Tổ quốc, dân tộc và chế độ. Ông viết: “Cần khẳng định, ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả” (Nguyễn Phú Trọng: Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2019, tr.80). Từ đó, ông nhấn mạnh: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm” (Nguyễn Phú Trọng: Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Sđd, tr.116-117). Gần đây, khi bàn về một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, người đứng đầu Đảng ta suy nghĩ nhiều về các giải pháp thúc đẩy công cuộc đổi mới. Cùng với việc chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, ông nhấn mạnh hai nhân tố có ý nghĩa quyết định. Đó là cùng với việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển.
Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, Đại hội XIII rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó bài học thứ hai có tinh thần, nội dung cốt lõi là lòng dân, sức dân, niềm tin của nhân dân. Đảng ta khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.
Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người viết Di chúc được coi như cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh theo tinh thần đổi mới (quốc bảo). Theo Bác, xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn là một nhiệm vụ hết sức to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này, cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cho thấy chỉ có dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân, làm hợp lòng dân thì mới đi tới thắng lợi hoàn toàn./.
ST


Về năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm lãnh đạo nhưng nhìn chung lãnh đạo được quan niệm là quá trình chủ thể ra quyết định (tức là xác định được mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển của tổ chức); tổ chức lực lượng, phương tiện, hình thành cơ chế, bộ máy... để thực hiện quyết định nhằm thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển, mục tiêu chiến lược đã đề ra; tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyết định; tổng kết việc thực hiện quyết định và rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc ra quyết định tiếp theo.

Theo đó, năng lực lãnh đạo bao gồm năng lực ra quyết định; năng lực tổ chức thực hiện quyết định; năng lực tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyết định; năng lực tổng kết việc thực hiện quyết định và rút ra các bài học kinh nghiệm để điều chỉnh quyết định, tức là điều chỉnh mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển, mục tiêu chiến lược.

Đảng lãnh đạo trong điều kiện nắm giữ chính quyền được gọi tắt là đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là đảng chính trị giành được quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước thông qua và bằng pháp luật cùng các công cụ, phương tiện khác để thực hiện tầm nhìn, định hướng phát triển, mục tiêu chiến lược của đảng. Năng lực cầm quyền của đảng là năng lực giữ chính quyền nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước hợp lý để đề ra được chủ trương, đường lối, mục tiêu phát triển đúng đắn, lãnh đạo nhà nước và nhân dân thực hiện được mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển của đảng.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, sự cầm quyền của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mục tiêu chiến lược của Đảng là xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hiện nay, tình hình thế giới có những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, khó dự báo, đặt ra yêu cầu đối với đảng cầm quyền là phải nắm bắt kịp thời những vấn đề của thời đại như: vấn đề an ninh phi truyền thống, vấn đề biến đổi khí hậu, tác động đa chiều của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thế giới đang có xu hướng chuyển sang đa cực, sự tranh giành quyền lực giữa các nước lớn, v.v.. Từ đó, có những chủ trương, chính sách phù hợp.

Ở trong nước, nền kinh tế đang phục hồi nhưng vẫn còn nhiều vấn đề xã hội đặt ra; vẫn còn những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, v.v.. Những vấn đề này đang đặt ra yêu cầu mới đối với Đảng trong lãnh đạo, cầm quyền.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thì phải nâng cao năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định.

Hai năng lực này liên hệ, tác động lẫn nhau. Năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước sẽ tăng cường năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Ngược lại, năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định sẽ góp phần củng cố, tăng cường năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước.

Để thực hiện tốt các giải pháp trên, toàn Đảng cần phải nâng cao trình độ tư duy lý luận, trau dồi, rèn luyện phương pháp biện chứng duy vật cho cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, phương pháp biện chứng duy vật với các nguyên tắc khách quan, phát triển, lịch sử cụ thể, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn sẽ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng có cơ sở, căn cứ để nâng cao năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Hai nhóm giải pháp cho việc giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định có mối quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau.

Nâng cao được năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước là cơ sở tiền đề nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định là củng cố, tăng cường năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước trong mọi thời kỳ cách mạng./.