Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

Công tác thông tin đối ngoại với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn hiện nay.

  Một nhiệm vụ rất quan trọng của công tác thông tin đối ngoại là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, thu hút sự ủng hộ, chia sẻ của cộng đồng quốc tế. Công tác thông tin đối ngoại cần phát huy tinh thần chủ động, đổi mới nội dung và hình thức, huy động sự tham gia tích cực của tất cả các lực lượng ở lĩnh vực trọng yếu này.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng và các đại biểu thăm gian trưng bày ảnh tại Lễ trao Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ VIII _Ảnh: TTXVN

Vị thế của công tác thông tin đối ngoại trong thời kỳ đổi mới

Từ khi bắt đầu khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đến nay, trước những tác động, biến đổi mạnh mẽ, phức tạp của tình hình mới, với những yêu cầu mới thường xuyên đặt ra, Đảng ta luôn chủ động kịp thời lãnh đạo, định hướng công tác thông tin đối ngoại, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, ngày 13-6-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW, “Về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại”, nêu rõ nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại là: “Đường lối, chính sách và thành tựu đổi mới toàn diện của nước ta, những chủ trương quan trọng của ta nhằm giải quyết một số vấn đề lớn hoặc đáng chú ý về kinh tế, chính trị, xã hội... Kịp thời phê phán, bác bỏ những thông tin xuyên tạc, sai lệch về tình hình Việt Nam, nhất là về tình hình dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn việc truyền bá vào nước ta những quan điểm tư tưởng, lối sống, văn hóa phản động, đồi trụy, kích động bạo lực”(1). Đồng thời, cần phải thông tin về chính sách đối ngoại, những khả năng to lớn của Việt Nam trong quan hệ hợp tác với các nước; con người, lịch sử, văn hóa lâu đời hết sức phong phú của các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Trên cơ sở sơ kết Chỉ thị số 11-CT/TW; nhằm phát huy hơn nữa vai trò của công tác thông tin đối ngoại, ngày 29-12-1998, Thường vụ Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 188/TB-TW, “Về công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới”, yêu cầu công tác thông tin đối ngoại cần chú trọng thực hiện nhiệm vụ: “Ngoài việc tiếp tục quan hệ và chủ động xúc tiến công tác thông tin, tuyên truyền hướng vào các đối tượng và địa bàn đã xác định tại Chỉ thị 11, ưu tiên cung cấp thông tin đúng định hướng cho người nước ngoài đến Việt Nam sinh sống, làm việc, du lịch, học tập và các nhà Việt Nam học trên thế giới. Tranh thủ họ để qua đó đưa thông tin giới thiệu về Việt Nam ra thế giới”(2).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001) đề ra chủ trương: “Đẩy mạnh công tác thông tin phục vụ nghiên cứu, làm tốt công tác dự báo tình hình khu vực và thế giới, kịp thời có những chủ trương, chính sách đối ngoại thích hợp khi tình hình thay đổi... Tăng cường hơn nữa công tác thông tin đối ngoại và văn hóa đối ngoại”(3). Hiện thực hóa mục tiêu, yêu cầu của Đại hội IX, ngày 27-12-2001, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX ban hành Quyết định số 16-QĐ/TW, về việc thành lập Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại với nhiệm vụ giúp Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thủ tướng Chính phủ theo dõi tình hình, điều hành, chỉ đạo, phối hợp công tác thông tin đối ngoại.

Ngày 28-6-2007, Ban Bí thư ra Thông báo Kết luận số 85-TB/TW, về Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, nêu rõ nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại là: “Phối hợp chặt chẽ giữa thông tin đối ngoại với thông tin tuyên truyền trong nước, chủ động thông tin kịp thời, chính xác tình hình mọi mặt của đất nước, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta tới bạn bè quốc tế, tới đồng bào ta sinh sống, làm việc, học tập ở nước ngoài, bà con Việt kiều về thăm quê hương và người nước ngoài đến Việt Nam”(4).

Ngày 10-9-2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 26-CT/TW, về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới, nêu bật yêu cầu: “nâng cao tính chủ động, sáng tạo, tính linh hoạt, sự phong phú và sắc bén của các hoạt động thông tin đối ngoại”(5). Ban Bí thư nêu rõ, phải coi đây là nhiệm vụ của hệ thống chính trị, tập trung giới thiệu, quảng bá, làm nổi bật thế và lực của đất nước sau 20 năm đổi mới; nâng cao tính chủ động, thuyết phục và hiệu quả trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các phần tử cơ hội, phản động,...

Ngày 14-2-2012, Bộ Chính trị khóa XI ban hành Kết luận số 16/KL-TW thông qua Đề án Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 - 2020, tiếp tục khẳng định thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền và công tác tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; công tác thông tin đối ngoại tập trung tuyên truyền, làm rõ phương châm đối ngoại của Đảng là đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Để tiếp tục quán triệt và triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại, nhiều văn bản đã được các cấp có thẩm quyền ban hành(6), qua đó bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ trong công tác đối ngoại giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng - an ninh; giữa các ban, bộ, ngành liên quan; chủ động phối hợp, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền để giải quyết các vấn đề phát sinh trong công tác đối ngoại.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng đặt ra yêu cầu mạnh mẽ: “đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại”(7) nhằm phục vụ mục tiêu nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Với mục tiêu kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đẩy mạnh quan hệ với các đối tác, đặc biệt là đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, Đại hội XIII của Đảng đề ra chủ trương: “Tăng cường và nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ truyền thông mới, mạng xã hội trong thông tin đối ngoại và đấu tranh dư luận”(8); trong những năm tới, cần “tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(9). Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác đối ngoại, khẳng định công tác đối ngoại có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và sự phát triển của đất nước.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, Đảng ta luôn chủ động, kịp thời, thường xuyên ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận nhằm nâng cao vai trò của công tác thông tin đối ngoại; định hướng đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mọi mặt trận, trong đó có mặt trận thông tin đối ngoại. Bên cạnh đó, Đảng cũng nêu rõ cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, của nhân dân, của toàn xã hội, trong đó các bộ, ban, ngành, như Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông,... đóng vai trò chủ chốt; các cơ quan báo chí lớn, như Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan báo chí đối ngoại Việt Nam,... đóng vai trò là lực lượng xung kích.

Thông qua các con đường ngoại giao Đảng, Nhà nước, nhân dân, Việt Nam đã thiết lập được quan hệ ngoại giao với 189/193 nước thành viên Liên hợp quốc; có quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và khu vực, có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ(10).

Công tác thông tin đối ngoại của Đảng góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các đảng, các nước, các đối tác trên thế giới hết sức coi trọng, nhận thức đầy đủ, rõ ràng về hệ thống chính trị của Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị. Các chuyến thăm nước ngoài của lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước được lãnh đạo các nước đón tiếp trọng thể, đóng vai trò hết sức quan trọng và mang tầm chiến lược trong việc triển khai đường lối đối ngoại, tạo đột phá, xử lý các vấn đề đặt ra và thúc đẩy quan hệ với các nước, đưa quan hệ đối tác đi vào chiều sâu, tạo ra cục diện quốc tế thuận lợi. Các đảng chính trị ở hầu hết các nước, không phân biệt hệ thống chính trị, nhận thức rất rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đều mong muốn củng cố và mở rộng quan hệ với Đảng ta. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát triển quan hệ ở nhiều mức độ khác nhau với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, trong đó có 96 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính(11).

Công tác thông tin đối ngoại bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Đấu tranh, phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước là nhiệm vụ xuyên suốt và thống nhất của Đảng. Ngay từ năm 1962, khi đất nước còn bị đế quốc Mỹ xâm lược, bên cạnh nhiệm vụ nêu cao tính chính nghĩa trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Đảng chủ trương trong tuyên truyền đối ngoại phải “Vạch một cách liên tục và có hệ thống những âm mưu đen tối của đế quốc Mỹ và tay sai đối với Việt Nam”(12). Sau khi đất nước thống nhất, bước vào công cuộc đổi mới đất nước toàn diện, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, ngày 29-3-1989, khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan điểm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển, chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin”(13).

Trước tình hình thế giới diễn biến hết sức nhanh chóng và phức tạp, thiết chế, mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, Đảng xác định phải tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ngày 13-6-1992, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 11-CT/TW, “Về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại”, nêu rõ nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới là: “Kịp thời phê phán, bác bỏ những thông tin xuyên tạc, sai lệch về tình hình Việt Nam, nhất là về tình hình dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn việc truyền bá vào nước ta những quan điểm, tư tưởng, lối sống văn hóa phản động, đồi trụy, kích động bạo lực”(14). Ngày 18-2-1995, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 09-NQ/TW, “Về một số định hướng trong công tác tư tưởng hiện nay”, nhấn mạnh phải rút kinh nghiệm công tác đấu tranh chống những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch, nhất là trên báo, đài; có kế hoạch chủ động, kịp thời chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...(15).

Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thế và lực, uy tín quốc tế được nâng lên. Trên thế giới, quá trình toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, mặc dù hòa bình, hợp tác vẫn là xu thế lớn, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp; các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá Đảng và Nhà nước ta. Do đó, ngày 10-9-2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 26-CT/TW, “Về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới”, xác định một nhiệm vụ trọng tâm của thông tin đối ngoại là: “Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch một cách chủ động, có tính thuyết phục và hiệu quả hơn”(16).

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng, Nhà nước có những yêu cầu mạnh mẽ đối với công tác thông tin đối ngoại trong lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ngày 21-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, khẳng định đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhằm bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ, Nhà nước; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Võ Văn Thưởng, Thường trực Ban Bí thư; GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ ra mắt ấn phẩm “Tạp chí Cộng sản - Chuyên đề” và khai trương “Trang tiếng Tây Ban Nha” trên Tạp chí Cộng sản điện tử. Hiện nay, Tạp chí Cộng sản điện tử có các trang tiếng Anh, Lào, Trung Quốc, Tây Ban Nha, góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại những vấn đề lý luận chính trị của Đảng _Ảnh: TTXVN

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực chuyển biến sâu sắc, có mặt diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đang lợi dụng những tiến bộ của các ứng dụng công nghệ mới, tuyên truyền chống phá Việt Nam. Do đó, việc xác định nội dung thông tin đối ngoại một cách chính xác, trọng tâm, bao quát để thông tin với bạn bè quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết sâu sắc hơn nữa về Việt Nam là điều vô cùng quan trọng.

Nội dung căn cốt và quan trọng của công tác thông tin đối ngoại là bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức tuyên truyền xuyên tạc, đưa những thông tin lệch lạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trên không gian mạng và trên các phương tiện truyền thông mới; lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, lôi kéo, tập hợp lực lượng dưới nhiều danh nghĩa, hình thức khác nhau để chống đối. Các hoạt động chống phá đó đều nhằm phủ nhận, xóa bỏ hệ tư tưởng vô sản, cổ xúy cho tư tưởng tư sản và các trào lưu chính trị đối lập chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Dù âm mưu, thủ đoạn, phương thức thực hiện khác nhau, nhưng mục tiêu chính của chúng đều hướng vào “tuyên truyền phủ nhận các giá trị lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội là học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đả kích, bôi nhọ các lãnh tụ cách mạng, cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; ... ra sức tuyên truyền các học thuyết tư sản, đặc biệt là chủ nghĩa đa nguyên (đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập); ... mở rộng ảnh hưởng của tôn giáo trong xã hội, đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng theo chủ nghĩa hiện sinh,...”(17).

Do đó, nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại, trên cơ sở nhận diện các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị, là đưa ra các nội dung thông tin chính xác, kịp thời, nhấn mạnh sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước, để đưa ra những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp, góp phần phát triển đất nước; phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lạc hậu, lỗi thời; làm rõ sự phát triển, sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; sự sáng tạo trong vận dụng học thuyết này của Đảng Cộng sản Việt Nam như lời chỉ dạy của V.I. Lê-nin: “Chúng ta không thể coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(18).

Cùng với việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung của thông tin đối ngoại đã tập trung đưa những thông tin bảo vệ Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thông tin đối ngoại luôn chủ động, kịp thời giới thiệu với bạn bè quốc tế những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt trên các lĩnh vực dân chủ, nhân quyền; đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn sắc bén để phản bác các luận điệu sai trái, lệch lạc; có những công trình khoa học, những bài viết chính luận sắc sảo “tấn công trực diện mạnh hơn nữa vào những luận điệu xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh ”(19).

Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị thường núp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền, tôn giáo”, đưa những thông tin sai lệch, xuyên tạc, bóp méo sự thật, mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khai thác các ứng dụng công nghệ truyền thông kỹ thuật số; các nhóm đối tượng, chủ yếu là nhóm đối lập về hệ tư tưởng, nhóm thù địch, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa, nhóm các phần tử cơ hội chính trị - nhiều người vốn là đảng viên, nhưng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,... thường xuyên và liên tục cố gắng bịa đặt, đưa ra những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc, chống phá trên các bình diện thông tin đối ngoại. Trên một số trang mạng xã hội, các cá nhân và một số hãng truyền thông nước ngoài, vì mục tiêu chính trị hoặc mang nặng định kiến, thiếu thiện chí với Việt Nam tập trung đăng tải các thông tin sử dụng những ngôn từ kích động thù hằn dân tộc, khoét sâu vào những hạn chế, vướng mắc trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, các đối tác quan trọng, bất chấp thực tế là các bên liên quan đều đang có những nỗ lực để vượt qua khó khăn, rào cản với thiện chí cao; núp dưới bóng những “nhà dân chủ, trí thức, học giả, người dân yêu nước chân chính” để phê phán, đả kích, chỉ ra những “khuyết điểm, sai lầm” trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước(?!).

Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị  ra sức tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch trên mọi mặt trận, trong đó có mạng xã hội với mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ, làm giảm niềm tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, từ đó làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta(20). Các luận điệu tinh vi, thâm độc, thông tin sai lệch, xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động hòng gây tâm lý hoang mang, lo lắng và quan ngại trong dư luận trong và ngoài nước, gây cách nhìn nhận thiếu thiện chí của cộng đồng quốc tế đối với uy tín, vai trò của Đảng; hòng cản trở, tạo sức ép dư luận nhằm “hướng” quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước “ngả theo quốc gia này hoặc quốc gia khác”; mưu toan làm suy giảm niềm tin của nhân dân trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới đối với Việt Nam.

Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các ban, bộ, ngành của Trung ương, hệ thống báo chí đối ngoại đã nỗ lực đưa những thông tin chính xác, kịp thời, sinh động ở mọi lúc, mọi nơi, cung cấp cho bạn bè quốc tế những cái nhìn khách quan, toàn diện, đúng đắn về tình hình Việt Nam. Nhiều cơ quan báo chí đã mở chuyên mục với nội dung đa dạng, phong phú, trong đó nổi bật là các bài phân tích, bình luận, phê phán các thông tin không đúng sự thật, bịa đặt, các quan điểm sai trái, thù địch, các phần tử cơ hội chính trị; phản bác những lời nói, hành động thiếu thiện chí, mưu toan hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với quần chúng; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phản bác sự vu cáo về việc Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”, phê phán những quan điểm lệch lạc về phát triển kinh tế, văn hóa, đạo đức, lối sống, thông tin sai lệch về dịch bệnh COVID-19,...

Lực lượng làm công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam ngày càng trưởng thành về số lượng và nâng cao về chất lượng(21). Phương thức thông tin đối ngoại phong phú, đa dạng; bên cạnh mặt trận thông tin truyền thống, đã sử dụng tốt hơn các phương thức thông tin dựa trên ứng dụng công nghệ số để nhanh chóng, kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thông tin đối ngoại xây dựng những tài khoản mạng xã hội chính thống để tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động cung cấp thông tin chính thống, đầy đủ, kịp thời về tình hình đất nước với những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng một hình ảnh Việt Nam năng động, phát triển trong sự nhìn nhận của bạn bè quốc tế, của người Việt Nam ở nước ngoài. Phương thức thông tin đối ngoại ngày càng đổi mới, đa dạng và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước.

Qua hơn 35 năm đổi mới, với  đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, Việt Nam đã phá thế bị bao vây, cấm vận, cô lập, bình thường hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả. Công tác thông tin đối ngoại được Đảng đề ra với nhiều chủ trương, chính sách phù hợp, nhằm mang đến cho nhân dân thế giới hình ảnh đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, hữu nghị và hợp tác; một dân tộc giàu truyền thống văn hóa, lịch sử, cần cù lao động, sáng tạo, thân thiện và mến khách... Những yếu tố cốt lõi đó được thông tin đối ngoại truyền tải dưới nhiều hình thức, nhiều phương tiện, đã thu hút được sự quan tâm, đồng tình, ủng hộ và yêu mến của bạn bè quốc tế, từ đó, nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế tin tưởng, giao lưu, hợp tác và đầu tư vào Việt Nam. Kết quả đạt được trong công tác thông tin đối ngoại, xuất phát từ nhận thức của Đảng về vai trò và tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại, với mục tiêu cao nhất là “mang Việt Nam ra thế giới và mang thế giới đến với Việt Nam”; sự chủ động triển khai, tổ chức quản lý và nhanh nhạy kịp thời của Nhà nước, các cơ quan bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương; sự ý thức về hình ảnh đất nước trong mỗi thông điệp của các nhà lãnh đạo, mỗi tổ chức, cá nhân khi có các cuộc tiếp xúc ngoại giao, giao lưu, đầu tư, hợp tác trên các lĩnh vực./.

---------------------------

(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 2007, t. 52, tr. 58
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2015, t. 57, tr. 571
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 122
(4) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2018, t. 66, tr. 340
(5) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2018, t. 67, tr. 994
(6) Như: Quyết định số 272-QĐ/TW, ngày 21-1-2015, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại”; Kết luận số 33-KL/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị khóa XII về việc tiếp tục thực hiện Quy chế thống nhất các hoạt động đối ngoại ban hành kèm theo Quyết định số 272-QĐ/TW; Hướng dẫn số 05-HD/BĐNTW, ngày 26-3-2019, của Ban Đối ngoại Trung ương về hướng dẫn thực hiện Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại ban hành kèm theo Quyết định số 272-QĐ/TW;...
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 156
(8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 284, 162
(10) Xem: Nguyễn Thị Mai: “Công tác thông tin đối ngoại trong quá trình hội nhập quốc tế”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4-2022, tr. 97
(11) Ban Tuyên giáo Trung ưong - Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại: Rạng danh Tổ quốc cơ đồ Việt Nam 
Dấu ấn 2021, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 108
(12) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2002, t. 23, tr. 525
(13) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2007, t. 49, tr. 591
(14) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2007t. 52, tr. 58
(15) Văn kiện Đàng toàn tập, Sđd, 2007, t. 54, tr. 233 - 234
(16) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2018, t. 67, tr. 995
(17) Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự: Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 36
(18) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, t. 20, tr. 99
(19) Mạch Quang Thắng: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo sự chỉ dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2022, tr. 313
(20) Xem: Mai Đức Ngọc (chủ biên): Định hướng, giải pháp báo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 227 – 228
(21) Năm 2019, Việt Nam có 58 văn phòng thường trú báo chí Việt Nam tại nước ngoài. Lực lượng thông tin đối ngoại phối hợp có các ban, bộ, ngành Trung ương và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 100% các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho 1 đơn vị đầu mối về thông tin đối ngoại, giao lãnh đạo cấp vụ là cán bộ phụ trách thông tin đối ngoại; 100% các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành kế hoạch thông tin đối ngoại hằng năm, thành lập, kiện toàn Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại; 100% số cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có đầu mối phối hợp liên hệ trong việc triển khai Quy chế phối họp giữa Bộ Ngoại giao và các cơ quan trong nước về công tác thông tin đối ngoại của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài;... (Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông: Sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam 2021, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2021, tr. 154).

VIỆT NAM LUÔN THỰC HIỆN NHẤT QUÁN CHÍNH SÁCH TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến các hoạt động tôn giáo và đã ban hành những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động đúng tôn chỉ mục đích và Hiến pháp, pháp luật. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân, thực hiện bình đẳng giữa các tôn giáo; bảo đảm sinh hoạt tôn giáo đúng pháp luật, đúng Hiến chương và điều lệ của các tôn giáo được Nhà nước công nhận. Qua đó, giữ gìn, phát huy phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước, không ngừng chăm lo đời sống cho Nhân dân, tạo điều kiện cho đồng bào có đạo, chức sắc các tôn giáo thực hiện tốt việc tu hành chân chính và làm tròn bổn phận của công dân đối với Tổ quốc. Trong tiến trình cách mạng của đất nước, để khẳng định chính sách nhất quán, những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân, được khẳng định trên nguyên tắc Hiến định tại các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980,1992 đến Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, tiệm cận luật pháp quốc tế và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị, năm 1966 (ICCPR) mà Việt Nam đã tham gia thành viên, nhằm bảo đảm cho mọi người được thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng tốt hơn trên thực tế bằng các văn bản pháp luật như: Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH 11 “Quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo”; Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 01/3/2005 Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh; Chỉ thị số 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân… Thế nhưng, các thế lực xấu chưa bao giờ từ bỏ âm mưu “diễn biến hoà bình”, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, móc nối với một số đối tượng bất mãn chế độ, có tư tưởng định kiến với Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, quy chụp những điều không có thật, yêu cầu thả người “đấu tranh cho tự do tôn giáo”. Trong khi đó, thực tế ở Việt Nam là tự do tôn giáo, chưa thấy người dân phản ứng chính sách, pháp luật của Nhà nước nghiêm cấm giáo dân, tín đồ hành lễ tại cơ sở thờ tự... Các thế lực này xuyên tạc quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo “việc đăng ký điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung” là nhằm “kìm kẹp hoạt động tôn giáo”, lợi dụng những vấn đề xã hội như: ô nhiễm môi trường, công tác cán bộ, công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước để xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Việt Nam với mục tiêu là gây rối loạn lòng dân, bao gồm cả chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, gây sự hoài nghi, giảm sút niềm tin với Đảng, Nhà nước ta. Trong tình hình hiện nay, xu thế hội nhập và phát triển, tác động của cách mạng khoa học công nghệ, bên cạnh thời cơ để xây dựng và phát triển đất nước, cũng đặt ra nhiều thách thức. Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định, động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, không phân biệt đối xử về thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tôn trọng ý kiến khác nhau, không trái với lợi ích đất nước, dân tộc, đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, vì sự ổn định, phát triển của đất nước. Mỗi khi Đảng có chủ trương, quan điểm mới về tôn giáo thì Nhà nước kịp thời thể chế bằng những văn bản pháp luật để đưa vào thực tiễn. Đảng, Nhà nước ta kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh để công tác tôn giáo đi vào nề nếp, đúng hướng, tạo sự tin tưởng trong giới chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo để xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần đã khẳng định “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước như ngày nay”, đó là do sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, trong đó có sự đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật là vấn đề hết sức quan trọng, góp phần bảo đảm cho quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được hiện thực hóa, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

1 - Nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao và cấp bách nhằm đáp ứng sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ trao đổi với các đại biểu dự Toạ đàm chuyên gia một số nội dung phục vụ việc xây dựng chuyên đề hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 _Ảnh: Tư liệu

Mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của Đảng là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, mà trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một nội dung quan trọng. Để đạt được mục tiêu đó, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cơ quan lập pháp đã tập trung thực hiện công tác xây dựng pháp luật, trong đó, chú trọng sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhiều bộ luật, xây dựng các luật quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, môi trường, dân tộc, tôn giáo, y tế, quốc phòng - an ninh, trật tự, an toàn xã hội phù hợp với tình hình thực tiễn... nhằm tạo lập hệ thống pháp lý vững chắc, lành mạnh, hiệu lực, hiệu quả, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24-5-2005, “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 2-6-2005, “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, công tác xây dựng pháp luật đã có những kết quả rất tích cực, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, từ tháng 5-2005 đến tháng 8-2021, Quốc hội đã ban hành hơn 300 văn bản pháp luật (mỗi năm trung bình khoảng 19 văn bản); trong khi, 20 năm đổi mới trước đó (1986 - 2005) mới ban hành tổng số 140 văn bản pháp luật, trung bình mỗi năm khoảng 7 văn bản (1).

Xây dựng pháp luật là hoạt động phức hợp bao gồm nhiều hoạt động nối tiếp nhau theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền với chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Mỗi giai đoạn trong quy trình xây dựng pháp luật được hoàn thành là một lần củng cố thêm tính logic, khoa học, phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội. Xây dựng pháp luật là một trong những phương diện hoạt động quan trọng nhất của Nhà nước, nhằm mục đích trực tiếp tạo ra các quy phạm pháp luật, cũng như sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy phạm một cách phù hợp nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đang diễn ra. Hiểu một cách khái quát, xây dựng pháp luật là hoạt động soạn thảo, ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định của pháp luật cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội.

2 - “Diễn biến hòa bình” là khái niệm đã được nhiều công trình nghiên cứu, đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Hiểu một cách phổ biến và khái quát: “Diễn biến hòa bình” là diễn biến dần dần, đi đến cuối cùng chuyển sang một chế độ chính trị khác, không qua bạo lực (thường nói về chiến lược không dùng chiến tranh mà dùng hàng loạt phương thức và thủ đoạn, nhằm tạo ra một quá trình diễn biến hòa bình để lật đổ chế độ chính trị ở nước khác) (2).

“Diễn biến hoà bình” trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam là hoạt động của các thế lực thù địch thông qua các phương thức, thủ đoạn phi quân sự tác động, can thiệp, gây sức ép vào quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam, từ đó, hướng lái, chuyển hóa, tiến tới thay đổi bản chất hệ thống pháp luật và chế độ chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, các thế lực thù địch tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với nước ta trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, hiện nay, lĩnh vực xây dựng pháp luật được coi là tâm điểm công phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Bởi, pháp luật không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề sống còn của chế độ chính trị, của thượng tầng kiến trúc xã hội.

Hệ thống pháp luật nước ta thể hiện vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng; ý chí, bản chất chính trị của Nhà nước, là công cụ để quản lý, điều hành xã hội, duy trì trật tự, kỷ cương, pháp chế của Nhà nước. Do đó, thế lực thù địch luôn hướng tới mục tiêu chi phối quá trình lập pháp, gây sức ép, tác động, chuyển hóa, hướng lái hệ thống pháp luật Việt Nam theo ý đồ của chúng là thay đổi bản chất hệ thống pháp luật Việt Nam theo quan điểm giá trị dân chủ, nhân quyền phương Tây; tạo cơ sở, hành lang pháp lý cho việc thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, thay đổi bản chất giai cấp, bản chất chế độ chính trị của hệ thống pháp luật, tiến tới thay đổi chế độ chính trị của Nhà nước ta (?!).

3 - Trong thực tiễn hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực xây dựng pháp luật ở Việt Nam với các phương thức, thủ đoạn rất đa dạng, có thể chỉ ra các thủ đoạn phổ biến sau:

Thứ nhất, thông qua tài trợ các chương trình, dự án hợp tác về xây dựng pháp luật với nguồn kinh phí lớn trong vỏ bọc hỗ trợ xây dựng pháp luật nhưng lại đưa ra những yêu cầu, khuyến nghị sửa đổi pháp luật, can thiệp, tác động vào quá trình xây dựng, ban hành pháp luật của Việt Nam, nhất là trong giai đoạn dự thảo chương trình, đề án, dự án xây dựng luật, giai đoạn soạn thảo luật và thảo luận, giai đoạn tiếp thu, chỉnh lý, thông qua dự án luật. Mặt khác, các thế lực thù địch lợi dụng việc triển khai các dự án, chương trình tài trợ, hội nghị, hội thảo với vỏ bọc hỗ trợ các cơ quan có chức năng lập pháp Việt Nam xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật để thu thập thông tin có giá trị về hệ thống pháp luật Việt Nam phục vụ cho mục đích tác động, hướng lái pháp luật Việt Nam theo ý đồ của họ…

Thứ hai, tìm cách quan hệ, móc nối, tiếp xúc với cán bộ làm việc tại các cơ quan tham mưu, hoạch định, xây dựng chính sách, pháp luật, với mục đích tác động, hướng lái pháp luật Việt Nam, như mời cán bộ thuộc các cơ quan lập pháp, tư pháp của Việt Nam đi tham quan, nghiên cứu mô hình hệ thống tư pháp ở nước ngoài nhằm tác động làm thay đổi quan điểm, tư tưởng, nhận thức; thậm chí tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Thứ ba, tác động, kích động các đối tượng chống đối, bất mãn tuyên truyền, phê phán việc xây dựng nhà nước pháp quyền nói chung, hệ thống pháp luật nói riêng và công cuộc cải cách tư pháp của Nhà nước ta nhằm làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Chẳng hạn, hoạt động lấy danh nghĩa tài trợ cho giới luật gia Việt Nam mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng quản lý cho luật sư trong nước để tác động, khuyến khích họ phát biểu, phê phán hệ thống pháp luật Việt Nam; lôi kéo số luật gia có trình độ, có uy tín nhưng có tư tưởng đa nguyên, những đối tượng chống đối, có dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tuyên truyền, xuyên tạc quan điểm, chính sách, pháp luật Việt Nam, tuyên truyền các quan điểm pháp lý tư sản.

Thứ tư, lợi dụng các hiệp định thương mại, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia để tác động, yêu cầu sửa đổi pháp luật. Gần đây nhất là việc nước ta ký kết tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó cài ẩn một số điều khoản tạo tiền đề pháp lý để các “tổ chức xã hội” trong nước phát triển, dần tự do và thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước Việt Nam, tiến tới hình thành tổ chức chính trị đối lập.

Thứ năm, đưa ra các tuyên bố, kiến nghị tập thể, kích động biểu tình, gây rối để tuyên truyền, gây sức ép đến các cơ quan nhà nước mỗi khi có những chính sách, pháp luật mới được ban hành hoặc trong quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật nhằm mục đích gây bất ổn tình hình chính trị - xã hội. Thông qua các cơ chế dân chủ, nhân quyền, các phiên đối thoại song phương, các tổ chức nước ngoài đưa ra những đánh giá sai lệch rằng, pháp luật Việt Nam không bảo đảm các cam kết quốc tế, yêu cầu Việt Nam phải sửa đổi pháp luật theo ý đồ của họ. Chẳng hạn, như yêu cầu Việt Nam phải sửa đổi, ban hành các luật liên quan đến thể chế chính trị, thể chế kinh tế, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, quyền con người... Bên cạnh đó, lợi dụng các vụ, việc phức tạp về an ninh, trật tự trong nước, các đối tượng phản động bên ngoài móc nối với các đối tượng chống đối trong nước tuyên truyền, xuyên tạc tình hình, tạo dư luận tiêu cực, phản đối chính sách, pháp luật, kích động biểu tình, bạo loạn…

Thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, các cơ quan, ban, ngành và các lực lượng chức năng, mà nòng cốt là lực lượng an ninh nhân dân, đã chủ động tổ chức công tác phòng ngừa, phát hiện, sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp đấu tranh hết sức linh hoạt và hiệu quả đối với hoạt động “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật. Nhờ đó, các đơn vị chức năng đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động can thiệp, tác động, chuyển hóa quá trình xây dựng pháp luật ở nước ta. Cũng qua thực tiễn công tác phòng ngừa, đấu tranh, đã góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về âm mưu, phương thức, thủ đoạn, sự nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” đối với lĩnh vực xây dựng pháp luật mà các thế lực thù địch đang tiến hành. Trên cơ sở đó, từng bước đổi mới tư duy, quan điểm, biện pháp để vừa phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả mà vẫn có thể góp phần phục vụ tích cực cho chủ trương đẩy mạnh hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút các nguồn lực, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội nói chung và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng.

Trong 5 năm qua, với các biện pháp nghiệp vụ, lực lượng an ninh Việt Nam đã phát hiện một số cá nhân, tổ chức có hoạt động “diễn biến hòa bình” đối với lĩnh vực xây dựng pháp luật cụ thể và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền không gia hạn, yêu cầu sửa đổi giấy đăng ký hoạt động đối với hàng ngàn lượt tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam; kiến nghị không cấp giấy đăng ký hoạt động hoặc rà soát, loại bỏ hàng chục tổ chức phi chính phủ nước ngoài vì lý do an ninh. Trong đó có nhiều hoạt động, dự án tiềm ẩn nguy cơ cao về an ninh quốc gia; phát hiện một số chuyên gia, cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “chệch hướng tư tưởng”…

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật ở nước ta còn có một số hạn chế nhất định. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được một số cơ quan, ban, ngành chức năng quan tâm đúng mức. Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đối với hoạt động xây dựng pháp luật còn chưa thực sự chặt chẽ nên chưa phát hiện từ xa, từ sớm âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trên là do: Nhận thức của một số cán bộ, lãnh đạo cơ quan, ban, ngành về âm mưu, hoạt động, phương thức, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam của các thế lực thù địch vẫn chưa đầy đủ, sâu sắc, thậm chí còn lơ là, mất cảnh giác trước các hoạt động có dấu hiệu can thiệp, tác động, chuyển hóa; công tác quản lý nhà nước, công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp tiến hành phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật còn chưa kịp thời và hiệu quả; việc triển khai các biện pháp phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật chịu áp lực từ yếu tố chính trị, đối ngoại…

4 - Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật thời gian tới, các cơ quan, ban, ngành chức năng, trong đó, nòng cốt là lực lượng an ninh nhân dân các cấp cần nghiên cứu, triển khai thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, quán triệt đầy đủ, sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật. Cần quán triệt đầy đủ và sâu sắc hơn nữa các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp theo Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”; Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật, hướng đến xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa,… gắn với chủ động phòng ngừa các nguy cơ đe dọa xâm hại an ninh quốc gia, đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Trong đó, hoàn thiện đồng bộ thể chế, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là một trong những đột phá chiến lược; bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng, an ninh và liên quan đến quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới.

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân _Nguồn: baovephapluat.vn

Hai là, làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật. Tham mưu cho các cơ quan, ban, ngành trong việc soạn thảo, ban hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp. Tham mưu, đề xuất sửa đổi, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về an ninh, trật tự trong hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật, quản lý hoạt động của các cơ quan, tổ chức nước ngoài,… và kiên quyết loại bỏ những chương trình, dự án có dấu hiệu vi phạm, xâm phạm đến an ninh quốc gia. Tham mưu nội dung về bố trí, sử dụng nhân sự đối với các cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách, pháp luật và đại biểu các cơ quan dân cử có chức năng xây dựng, sửa đổi pháp luật.

Chủ động kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền loại bỏ các yếu tố có thể trở thành điều kiện để các thế lực thù địch gia tăng hoạt động móc nối, tác động, can thiệp vào quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật ở nước ta. Đồng thời, các cơ quan tư pháp, cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật cần chú trọng nắm tình hình những yếu tố liên quan tới dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “chệch hướng tư tưởng” của một số cán bộ, đảng viên trong nội bộ, vấn đề “dân chủ nghị trường”, “phản biện chính sách” để kịp thời tham mưu lãnh đạo các cấp có các biện pháp phòng ngừa, răn đe, chấn chỉnh, xử lý, tránh gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị nội bộ, ảnh hướng đến công tác xây dựng pháp luật.

Ba là, chú trọng công tác vận động quần chúng, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về âm mưu, hoạt động, phương thức, thủ đoạn, sự nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong xây dựng pháp luật ở nước ta. Thời gian tới, các cơ quan chức năng cần phối hợp chỉ đạo các cơ quan báo chí tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong quần chúng nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần của Đại hội XIII của Đảng. Tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là phổ biến rộng rãi các dự thảo luật đang được xây dựng, định hướng dư luận xã hội về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của các văn bản luật đối với xã hội, với người dân; đồng thời, vạch trần âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch lợi dụng quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật để thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam. Chú trọng việc tổ chức tập huấn, tọa đàm, sinh hoạt chính trị nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên làm việc tại các cơ quan lập pháp, tư pháp; cơ quan tiếp nhận, thụ hưởng các chương trình, dự án hợp tác với nước ngoài về xây dựng pháp luật; cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật; cơ quan tiến hành hợp tác quốc tế về xây dựng pháp luật; luật sư trong các liên đoàn luật sư, hội luật gia... Tích cực phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật.

Bốn là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong xây dựng pháp luật, đặc biệt là về hợp tác quốc tế trong xây dựng pháp luật. Các cơ quan, ban, ngành hữu quan cần thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong xây dựng pháp luật. Quản lý chặt chẽ hoạt động của các tổ chức nước ngoài, nhất là các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và trong nước đã, đang hoặc chuẩn bị đầu tư thực hiện các dự án, chương trình về xây dựng pháp luật của Việt Nam. Các cơ quan chức năng cần phối hợp, tham gia thẩm định các dự án, chương trình có dấu hiệu phức tạp trong việc hỗ trợ xây dựng pháp luật, cảnh báo, khuyến nghị kịp thời âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch đến các cơ quan, đơn vị hoạch định chính sách. Quản lý chặt chẽ công tác hợp tác quốc tế trong xây dựng pháp luật, các hội nghị, hội thảo quốc tế, các chương trình tài trợ, dự án liên quan đến xây dựng pháp luật tại Việt Nam. Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư và các tổ chức nghề nghiệp, nhất là số đối tượng khoác áo “cấp tiến” trong nước có mối quan hệ, tiếp xúc với cá nhân, tổ chức nước ngoài; các đối tượng xấu, có quan điểm sai trái, thù địch./.

---------------------------

(1) Xem: Báo cáo tổng kết Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24-5-2005, của Bộ Chính trị khóa IX, “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”
(2) Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2003, tr. 256

Nguy hại từ sự thờ ơ, vô cảm của cán bộ, công chức

 

Trong khi dư luận nói nhiều đến tình trạng cán bộ, công chức sợ trách nhiệm, không dám làm khiến hàng loạt công việc đình trệ thì một hiện tượng khá phổ biến và cũng là “trọng bệnh” của đội ngũ cán bộ, công chức, đó là tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm với công việc, nhất là giải quyết công vụ. Đây là vấn đề đáng lo ngại bởi những hệ lụy mà nó gây nên.

Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

 

1-Hoàn thiện Luật phòng, chống tham nhũng.

Cần tiếp tục sửa đổi để quy định một cách toàn diện, bao quát, nhất là quy định cụ thể các biện pháp để bảo đảm thực hiện việc công khai, minh bạch đầy đủ, kịp thời các hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị để mọi người biết. Cần quy định rõ các nguyên tắc, hình thức, nội dung, thời gian, trách nhiệm thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, để từ đó hạn chế sự tham nhũng.

Cần quy định các biện pháp hữu hiệu để quản lý, xác minh các tài sản, thu nhập của những người có chức vụ, quyền hạn; cần có các cơ quan, tổ chức chuyên trách quản lý, xác minh các bản kê khai tài sản, thu nhập xem có đúng không, có trung thực, chính xác không. Đặc biệt, cần quy định một cơ chế hữu hiệu theo dõi sự biến động tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và trách nhiệm giải trình, làm rõ tài sản, thu nhập gia tăng không hợp lý, không rõ ràng.

Hoàn thiện các quy định tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng.

2-Hoàn thiện pháp luật hình sự

Hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp để tăng hiệu quả chế tài xử lý tham nhũng. Thực chất, hình sự hóa hành vi này là đảo ngược trách nhiệm chứng minh; nghĩa là trách nhiệm chứng minh tài sản có bất minh hay không được chuyển từ các cơ quan tố tụng sang người nắm giữ tài sản.

Bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội phạm đưa hối lộ và xây dựng chế tài thích hợp với pháp nhân.

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kiện dân sự để thu hồi tài sản tham nhũng.

Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

 

Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thật sự coi công tác phòng, chống tham nhũng là một nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.

Nâng cao vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải cam kết về sự liêm khiết và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Các cấp ủy quản lý chặt chẽ đảng viên, cán bộ; thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở, ngăn ngừa và phát hiện cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Ủy ban Kiểm tra các cấp cần làm tốt công tác tham mưu giúp cấp ủy kiểm tra, giám sát trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao, dễ xảy ra sai phạm. Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các ban cán sự đảng, các tổ chức đảng và đảng viên ở các cơ quan nhà nước. Tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty nhà nước, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước. Cơ quan kiểm tra của Đảng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng của Nhà nước để kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời và công khai kết quả xử lý tổ chức, cán bộ, đảng viên có vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Chớ có bốc đồng

 

Vừa dắt xe ra khỏi nhà thì điện thoại của Cảnh đổ chuông. Người gọi là Hương, cô bạn gái mà anh đang định đón đi chơi.

Hướng đến “Kỷ niệm 69 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ”!

 


Với 300 tài liệu tiêu biểu được lựa chọn trong số hàng nghìn các bài

Thư viện Quân đội tổ chức trưng bày chuyên đề “Kỷ niệm 69 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ”

Với 300 tài liệu tiêu biểu được lựa chọn trong số hàng nghìn các bài viết, bài nói về Chiến dịch Điện Biên Phủ đã được Thư viện Quân đội tổ chức trưng bày nhân Kỷ niệm 69 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2023).

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã trở thành một trong những chiến công chói lọi, như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thế kỷ XX trong lịch sử dân tộc; là kết quả sự hội tụ của nhiều nhân tố, trong đó có bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. 69 năm đã trôi qua, song tầm vóc, ảnh hưởng và ý nghĩa của Chiến thắng Điện Biên vẫn còn nguyên giá trị, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với cả nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Trưng bày là hoạt động ý nghĩa, nhằm tuyên truyền cho cán bộ, chiến sĩ hiểu sâu sắc hơn về sự lãnh đạo tài tình của Đảng, Bác Hồ và Quân ủy Trung ương; sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh chống thực dân Pháp. Qua đó khơi dậy lòng tự hào, truyền thống yêu nước, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ Việt Nam.

Sách được trưng bày từ ngày: 25/4/2023 đến 20/5/2023.

Tại: Phòng trưng bày chuyên đề - tại sảnh tầng 1 - Tòa nhà chính Thư viện Quân đội - 83 Lý Nam Đế - Hoàn Kiếm - Hà Nội. St

 

ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT: ĐƯỢC CÔNG KHAI CÓ BA, CÓ MÁ

 


Cái Tết đầu tiên Bắc Nam sum họp của gia đình Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Trần Văn Lai. Để tạo vỏ bọc hoạt động Cách mạng, các con không được nhận cha và mẹ thì đóng vai không có chồng để che mắt quân thù. Đất nước thống nhất, cả gia đình mới được đoàn tụ, những người con được công khai có ba, có mẹ, có ông bà và những người thân. Và từ đó, họ mới chính thức được làm giấy khai sinh.

BẢO VỆ CÁN BỘ NĂNG ĐỘNG, SÁNG TẠO

 

Thể chế hóa Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về “Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”, Bộ Nội vụ đã xây dựng và đang lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Nghị định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Theo Bộ Nội vụ, trước yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế trong tình hình mới, cần có những cơ chế, chính sách mới để tạo niềm tin, khát vọng, ý chí phấn đấu vượt khó, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ. Vấn đề cần kíp hiện nay là phải làm sao để chủ trương quan trọng của Đảng sớm đi vào thực tiễn, trở hành động lực quan trọng hàng đầu để thúc đẩy phát triển đất nước.

Đồng thời, quy định trách nhiệm của các cấp có thẩm quyền trong việc tạo lập môi trường chính trị, xã hội để khuyến khích cán bộ năng động, sáng tạo và bảo vệ đội ngũ cán bộ này khi họ gặp rủi ro do những yếu tố khách quan, chủ quan.

Thực tế, trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có một bộ phận cán bộ có tư tưởng vo tròn, sợ sai, nhụt trí, giữ mình an toàn nên chần chừ, ngại đổi mới, sáng tạo. Đơn cử, tình trạng giải ngân vốn đầu tư công rất thấp tại nhiều bộ, ngành, địa phương thời gian qua có một phần nguyên nhân nhiều cán bộ, lãnh đạo e ngại sợ làm sai, sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm.

Những năm qua, Nhà nước ta đã xác định thúc đẩy thể chế để đổi mới, sáng tạo là một trong những nội dung cốt lõi trong đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế để phát triển. Dù vậy, việc phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung của cán bộ vẫn còn hạn chế nhất định.

Thực tiễn lãnh đạo, quản lý, điều hành công việc của không ít cán bộ còn nhiều vướng mắc do một số quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn chưa hoàn thiện, thậm chí nhiều quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu tính thống nhất, đồng bộ hoặc không còn phù hợp với thực tiễn. Nhiều vấn đề mới nảy sinh chưa được quy định dễ gây rủi ro, sai sót hoặc dễ bị lợi dụng để làm trái trong quá trình triển khai thực hiện. Trong khi đó, thiếu cơ chế để bảo vệ cán bộ trong những trường hợp quyết định sáng tạo, đột phá có sai sót.

Điều này khiến cho cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng còn chưa phát huy được hết năng lực, tinh thần đổi mới, sáng tạo, thậm chí chùn bước, không dám làm vì sợ sai, sợ bị xem xét trách nhiệm hoặc xử lý kỷ luật khi có hạn chế, thiếu sót. Không ít cán bộ chỉ căn cứ vào các quy định pháp luật để làm, không dám sáng tạo nghĩ ra kế sách, quyết sách có lợi cho nước, cho dân. Nhiều cán bộ có tư duy mới, dám đột phá nhưng không được khuyến khích, bảo vệ do ranh giới giữa “đúng” và “sai” chưa được minh định.

Do đó, việc cụ thể hóa các cơ chế, chính sách để khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm có thể coi là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Dư luận đánh giá cao dự thảo Nghị định quy định rõ nguyên tắc, điều kiện, trình tự thực hiện và cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ. Trong đó, cán bộ có ý tưởng, cách làm mới tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt và những vấn đề chưa có quy định thì được khuyến khích và bảo vệ nhưng phải bảo đảm không trái Hiến pháp, Điều lệ Đảng.

Đặc biệt, dự thảo Nghị định quy định cụ thể một số trường hợp cán bộ thực hiện đề xuất đã được cấp có thẩm quyền quyết định cho thực hiện nhưng không đạt, hoặc chỉ đạt một phần mục tiêu, hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì được miễn xử lý trách nhiệm kỷ luật Đảng và xử lý trách nhiệm trước pháp luật...

Thiết nghĩ, Nghị định khi đi vào cuộc sống sẽ góp phần hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ; quản lý cán bộ, công chức, tạo cơ sở phát huy sức mạnh trong đội ngũ cán bộ giàu năng lực, có phẩm chất lâu nay chưa được kích hoạt. St.

 

ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG!


Đạo đức của quân nhân là: “Trí, nhân, tín, dũng, liêm”

Đây là lời dạy của Bác được trích trong thư gửi Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn (Trường Sĩ quan Lục quân 1) ngày 27-4-1949 nhân Lễ tốt nghiệp khoá 4 .

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta một di sản tư tưởng cao cả và tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng: “Trí, nhân, tín, dũng, liêm”. Tấm gương đạo đức cách mạng của Người là chuẩn mực tiêu biểu về đạo đức của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.

Theo Người, cán bộ, sĩ quan trong Quân đội phải có các phẩm chất: “Trí, nhân, tín, dũng, liêm”.

“Trí, nhân, tín, dũng, liêm” là sự hội tụ đầy đủ các phẩm chất cần thiết của người cán bộ, sĩ quan quân đội, mỗi phẩm chất có nội dung cốt cách riêng, song có mối quan hệ chặt chẽ, tác động hỗ trợ lẫn nhau tạo nên phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, trí tuệ sáng tạo, trung dũng kiên cường của người cán bộ, sĩ quan quân đội. Nếu thiếu một trong các phẩm chất trên thì người cán bộ, sĩ quan chưa đủ phẩm chất, năng lực toàn diện.

Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... đòi hỏi sự cần thiết tiếp tục học tập, rèn luyện phẩm chất “Trí, nhân, tín, dũng, liêm” của người cán bộ, sĩ quan quân đội theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.Từ thực trạng đạo đức, lối sống của một số cán bộ, sĩ quan còn chưa tự giác học tập rèn luyện; có đồng chí còn vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, điều đó đã ảnh hưởng đến hiệu quả công tác tuyên truyền học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất “Trí, nhân, tín, dũng, liêm” theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho người cán bộ, sĩ quan quân đội hiện nay là rất quan trọng và cấp thiết, góp phần nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, hoàn thiện những phẩm chất cần thiết của người cán bộ, sĩ quan quân đội trong giai đoạn cách mạng mới. St.

  

TỰ HÀO - VIỆT NAM

 


“Hình ảnh các bạn tiếp viên hàng không với trang phục mang màu cờ sắc áo Việt Nam - hình ảnh cờ Tổ quốc đẹp quá, từ ở sân bay đến trên tàu bay, rồi khi giai điệu ca khúc Hello Việt Nam vang lên càng khiến tôi cảm động và tự hào về Tổ quốc mình hơn", một hành khách đi máy bay chia sẻ.


Tại khắp các đầu sân bay tại Việt Nam và quốc tế, thay vì mặc bộ đồng phục đỏ truyền thống, các tiếp viên Vietjet dịp này rạng rỡ trong đồng phục mới, tự hào khi lan toả tinh thần ngày vui của đất nước đến với các khách hàng tại khắp các đầu sân bay.

ĐOÀN KẾT!

     “Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ. Làm mọi việc phải đi sâu, đi sát, phải tránh chủ quan, phải có kế hoạch chu đáo, phải có quyết tâm bền bỉ”.

Trích trong bài nói chuyện của Bác tại Hội nghị cán bộ ngành Công an ngày 29/4/1963.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện Công an nhân dân thành một lực lượng trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt. Người luôn nhắc nhở rằng, người chiến sĩ công an sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân chiến đấu là người lính có lý tưởng cao cả, kiên quyết hăng hái làm tròn nhiệm vụ. Thực tế lịch sử đã chứng minh, dưới lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, lực lượng công an luôn dũng cảm trong chiến đấu, giữ vững bản chất cách mạng, ý chí chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong cuộc chiến giữ gìn an ninh nội bộ và xây dựng thế trận an ninh nhân dân.

Nội dung, ý nghĩa trong lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dành riêng cho lực lượng công an, mà còn dành cho các cấp, các ngành, các lực lượng; trong đó có Quân đội nhân dân. Sức mạnh chiến đấu của quân đội phải được bắt đầu từ sức mạnh đoàn kết nội bộ. Nội bộ thống nhất, chặt chẽ mới có thể đưa mọi việc được triển khai đồng bộ; phải nghiên cứu kỹ mọi việc, lập kế hoạch sâu sát, tỉ mỉ trước khi thi hành để đảm bảo chắc chắn thành công. Nghiên cứu công việc kỹ lưỡng chưa đủ, khi thực thi còn phải thận trọng và không được chủ quan mới có thể đi đến đích thắng lợi. Suy rộng ra, đoàn kết nội bộ ở đây cũng có nghĩa là đoàn kết nội bộ Đảng, đoàn kết dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Muốn làm được điều đó mỗi tổ chức, mỗi cá nhân, mà trước tiên là cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp phải tiền phong gương mẫu chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, giữ gìn đoàn kết nội bộ tốt, có tác phong lãnh đạo dân chủ, quần chúng, sâu sát, cụ thể, tới nơi, tới chốn và thực hành nêu gương trước cấp dưới và quần chúng. Kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, chủ nghĩa kinh nghiệm, độc đoán, gia trưởng, xa rời, lãnh cảm với cấp dưới và quần chúng. St