Thứ Ba, 8 tháng 8, 2023

 

VỀ NHIỆM VỤ ĐẤU TRANH

CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH


1. Các thế lực thù địch đã và đang sử dụng nhiều phương tiện, bằng nhiều con đường và với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt tấn công chúng ta trên các hướng chính sau:

- Một là, xuyên tạc, bài bác, phủ định học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác, cho rằng, lý luận Mác - Lênin chỉ đúng cho thời kỳ tư bản công nghiệp (nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX), nay loài người đã qua giai đoạn văn minh công nghiệp, bước vào thời kỳ văn minh hậu công nghiệp, văn minh tin học - kỹ thuật số, nên lý luận của hai ông không còn phù hợp. Họ nguỵ biện cho rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa  ở Liên Xô, châu âu (1989-1991) là thể hiện sự lạc hậu, bất cập của học thuyết Mác - Lênin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; Việt Nam phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là đi vào ngõ cụt, không có tiền đồ.

- Hai là, xuyên tạc tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam, phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân ta trong quá trình đổi mới, đồng thời, thổi phồng những yếu kém, khuyết điểm của Nhà nước ta trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, coi tệ quan liêu, tham nhũng là khuyết tật không thể khắc phục được trong xã hội xã hội chủ nghĩa; quy mọi yếu kém đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; đòi ra báo tư nhân; đòi hình thành các đảng phái chính trị đối lập với Đảng Cộng sản...

- Ba là, xuyên tạc lịch sử, “hạ bệ thần tượng”, phủ nhận thắng lợi lịch sử có tính quốc tế của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã được loài người tiến bộ, các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc, UNESCO xác nhận và tôn vinh, ca ngợi.

- Bốn là, xuyên tạc tình hình thực tế Việt Nam, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, cố tình đổi trắng thay đen, dựng chuyện Việt Nam đàn áp tôn giáo, kỳ thị, phân biệt đối xử với các dân tộc thiểu số.

- Năm là, bằng mọi cách tác động vào nội bộ ta, dựng chuyện có phái này, phái nọ (phái bảo thủ, phái cấp tiến) trong các cơ quan đảng, nhà nước nhằm, làm cho nội bộ nghi ngờ nhau, suy giảm đoàn kết trong các cơ quan đảng, nhà nước và trong nhân dân...

Để thực hiện những việc trên, các thế lực thù địch đã huy động "sức mạnh tổng hợp": Hệ thống thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, báo chí), các ấn phẩm văn hoá (sách, tạp chí, băng, đĩa...), mạng Internet để chuyển tải các thông tin sai lệch, phản động đến các tầng lớp nhân dân Việt Nam, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp, tầng lớp thanh niên, sinh viên, học sinh, văn nghệ sĩ, trí thức, đồng bào dân tộc thiểu số...Họ hậu thuẫn và hỗ trợ cho các phần tử chống đối và bọn phản động trong nước để truyền bá các tư tưởng, luận điệu phản động nói trên. Thông qua con đường hợp tác kinh tế, trao đổi văn hoá, du lịch,... để truyền bá các tư tưởng thù địch, phản động vào các tầng lớp nhân dân và xâm nhập hệ thống chính trị các cấp.

Toàn bộ các hoạt động nói trên của các thế lực thù địch đều hướng vào mục tiêu là làm cho đại đa số nhân dân Việt Nam nghi ngờ thành quả cách mạng trong quá khứ, nhìn vào thực tại xã hội chỉ thấy tiêu cực, bất ổn, nhìn về tương lai mờ mịt, từ đó suy giảm, thậm chí mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đi đến hình thành tâm lý xã hội bất ổn, bất bình, mong muốn và trông chờ có sự thay đổi về chính trị. Với các bài bản, thủ đoạn đã nêu ở trên, các thế lực chống cộng quốc tế đã tạo ra được trạng thái tâm lý xã hội nói trên ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở châu Âu cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Chúng ta tuyệt đối không được chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.

2. Trong cuộc đấu tranh này, cần có nhận thức đúng đắn, thống nhất và thực hiện tốt một số nhiệm vụ lớn sau đây:

- Trước hết, về nhận thức: Bằng mọi cách, phải tạo ra được nhận thức đúng đắn, thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân về những vấn đề liên quan đến cuộc đấu tranh này, nhận diện đầy đủ, đúng đắn âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, để không chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác; đồng thời, thấy rõ trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên, của từng cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, cơ sở trong cuộc đấu tranh trên mặt trận nóng bỏng này. Đây là một cuộc đấu tranh hết sức gay go, phức tạp, là một công tác trọng tâm, thường xuyên của thường vụ cấp uỷ và những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Chỗ nào, khi nào mà thường vụ cấp uỷ và người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo thì ở chỗ đó, mới có thể huy động được cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia phản bác tư tưởng phản động của các thế lực thù địch.

- Hai là, phải đặc biệt coi trọng công tác phòng ngừa, trong đó, việc khắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, khắc phục tệ quan liêu, tệ tham nhũng phải được xem là nội dung chủ yếu của hoạt động phòng ngừa. Chính những yếu kém, khuyết điểm của chúng ta, chính "tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên"(1) đã và đang bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để vu cáo, xuyên tạc và góp phần làm giảm lòng tin trong nhân dân, gây bất bình trong xã hội... Vì lẽ đó, Đại hội IX của Đảng (tháng 4 - 2001) đã nghiêm túc nhìn nhận "tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. gây bất bình và giảm lòng tin trong nhân dân"(2). Nếu không đẩy lùi được tệ quan liêu, tham nhũng và không khắc phục được sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, thì chúng ta chắc chắn không thể giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh phản bác lại luận điệu phản động của các thế lực thù địch. Do đó, phải xem cuộc đấu tranh để đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng và khắc phục sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có liên quan chặt chẽ, thậm chí cũng là một nội dung cực kỳ quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị. Nói cách khác, đây là một điều kiện bảo đảm cho cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng của chúng ta giành được thắng lợi.

- Ba là, cần tổ chức tốt hơn công tác tuyên truyền giáo dục về tư tưởng, chính trị, lịch sử văn hiến Việt Nam, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước, giữ nước. Phải tổ chức tốt hơn công tác giáo dục đạo đức, lối sống, trách nhiệm và nghĩa vụ công dân trong hệ thống trường học, từ tiểu học đến đại học và sau đại học. Phải nghiêm túc thừa nhận rằng nội dung, phương pháp tuyên truyền mảng kiến thức này hiện nay còn rất kém trong hệ thống trường học của chúng ta. Đó là hậu quả của nhiều năm buông lỏng giáo dục đạo đức, lối sống, trách nhiệm và nghĩa vụ công dân trong toàn bộ hệ thống nhà trường chúng ta. Chúng ta đã không lường hết tác động tiêu cực trong quá trình chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, chúng ta còn lúng túng bị động đối phó với hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, với những suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; vừa chủ quan, bảo thủ, trì trệ, vừa hữu khuynh, né tránh (hữu khuynh, né tránh là chủ yếu).

Trên cơ sở có nhận thức đúng đắn thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân, cần đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức, lối sống, trách nhiệm và nghĩa vụ công dân trong hệ thống nhà trường, đổi mới nội dung, phương pháp công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức, lối sống trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội. Đó là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc để tiến hành cuộc đấu tranh chống lại âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị.

- Bốn là, phải tổ chức tốt hơn cuộc đấu tranh phản bác lại các luận điệu phản động của các thế lực thù địch. Chúng ta thiếu những công trình lớn, có giá trị (sách, tài liệu chuyên khảo trong lĩnh vực này), thiếu cả những bài viết có thông tin sắc bén thuyết phục. Trách nhiệm trước hết thuộc về các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu, cán bộ lãnh đạo, quản lý lĩnh vực văn hoá, tư tưởng, chính trị. Các cơ quan đảng, nhà nước cần cung cấp các điều kiện làm việc và thông tin cho cán bộ khoa học, cán bộ nghiên cứu để họ có điều kiện sáng tạo những công trình có giá trị. Tổ chức vẫn là khâu quyết định. Các cơ quan hữu trách của Đảng và Nhà nước phải có trách nhiệm quy tụ được các nhà khoa học, các cán bộ nghiên cứu và tạo điều kiện cho họ làm việc, phải thảo luận trao đổi dân chủ, cởi mở với họ về những vấn đề mà Đảng và Nhà nước quan tâm trong cuộc đấu tranh này. Các cơ quan truyền hình, báo chí, phát thanh cần dành đủ vị trí cần thiết (thời lượng phát sóng, diện tích mặt báo) để chuyển tải các công trình khoa học phản bác lại hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Các đài truyền hình, phát thanh của chúng ta thiếu hẳn những người bình luận chính trị - xã hội sắc sảo, có sức truyền cảm, thuyết phục. Chính họ là những chiến sĩ thông minh, tài ba, dũng cảm trên mặt trận tư tưởng chính trị. Cần nghiên cứu xây dựng chính sách đãi ngộ thoả đáng cho những chiến sĩ trực tiếp chiến đấu trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, xem đó như một "cú hích" để cỗ máy của chúng ta vận hành với một tốc độ lớn hơn, hiệu quả hơn. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về tài chính và các điều kiện cần thiết cho việc nghiên cứu, in và phát hành các công trình (sách, tài liệu chuyên khảo...) trong lĩnh vực tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống.

Đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị là nhiệm vụ to lớn, phức tạp và khó khăn. Cuộc đấu tranh này, quan hệ đến sinh mệnh chính trị của Đảng, đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa, đến sự thịnh suy của đất nước. Do đó, nhất thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Thường vụ cấp uỷ và người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, cơ sở phải nắm lấy việc này, phải xem là một nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của mình trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, không nên chỉ giao khoán cho các cơ quan chuyên môn giúp việc. Là đảng viên, là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mọi người đều có trách nhiệm trực tiếp, gián tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh phản bác luận điệu phản tuyên truyền, phản động của các thế lực thù địch. Cấp uỷ và chính quyền các cấp, trước hết là những cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp phải vững vàng về tư tưởng chính trị, có lối sống trong sáng, lành mạnh, tôn trọng và gắn bó mật thiết với quần chúng. Đó là những điều kiện cần và đủ để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch./.



(1) Đảng Cng sn Vit Nam: Văn kin Đại hi đại biu toàn quc ln th IX, NXB Chính tr quc gia, Hà Ni 2001, tr.67

(2) Sđd, tr.76

 

 GÓP PHẦN VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐÒI XÓA BỎ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội hiện thực bị sụp đổ ở nhiều nơi trên thế giới. Nhân cơ hội này, các thế lực thù địch càng tích cực tấn công vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tấn công vào các Đảng Cộng sản, nhằm xoá bỏ phần còn lại của chủ nghĩa xã hội ở các nước, trong đó có Việt Nam. Một trong những thủ đoạn rất thâm độc của họ là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, vạch trần những thủ đoạn đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ góp phần củng cố lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Để thực hiện xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng những luận điệu cơ bản sau:

Thứ nhất, họ cho rằng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là ý muốn chủ quan của Đảng hoặc cho rằng Đảng đã hết vai trò lịch sử  

Để đập tan luận điệu này, chúng ta cần khẳng định, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một tất yếu khách quan. Thực tiễn đấu tranh cách mạng đã chứng minh, ngoài Đảng ta không có  một đảng chính trị nào đưa ra được cương lĩnh, đường lối cho cách mạng Việt Nam có thể đáp ứng được đồng thời hai mục tiêu dân tộc và dân chủ. Đó hoàn toàn không phải là ý muốn chủ quan của Đảng. Trong Cương lĩnh Chính trị của mình, Đảng khẳng định là “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”[1]. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam sinh ra là để thực hiện mục đích đó, gánh vác trách nhiệm đó trước giai cấp, trước nhân dân, trước dân tộc.

Nhân loại tiến bộ đều biết rằng, chính chủ nghĩa đế quốc, thực dân đã xâm lược, đô hộ đất nước ta, gây ra cho nhân dân ta biết bao nhiêu tội ác, khổ đau. Và cũng chính dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đánh đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, đế quốc mở ra thời kỳ phát triển mới của dân tộc. Lịch sử dân tộc Việt Nam hơn 80 năm qua gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực tiễn đó đã khẳng định: Đảng ta là đại diện chân chính, duy nhất của dân tộc mà cho tới nay chưa có tổ chức chính trị nào khác có thể thay thế. Mặc dù đây đó còn có ý kiến phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, nhưng vượt lên trên tất cả, bao trùm nhất vẫn là sự kỳ vọng, thiện cảm và tin tưởng của hầu hết người dân Việt Nam yêu nước chân chính và những người có thiện chí đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và tương lai của đất nước Việt Nam. Thực tiễn là thước đo chân lý, với những thay đổi lớn lao của đất nước, gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản hơn 80 năm qua, trong đó, thành tựu của 25 năm đổi mới đã trở thành một đảm bảo hàng đầu để người dân Việt Nam tiếp tục gửi gắm niềm tin và kỳ vọng của mình đối với thắng lợi của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bằng cách gán cho nó là nguồn gốc của chế độ “độc tài”, “cực quyền”, “mất dân chủ”.

Lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” các thế lực thù địch cho rằng: “Việt Nam là nơi chưa có tự do bày tỏ chứng kiến”, họ cố tình xuyên tạc tình hình thực tế Việt nam, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, cố tình đổi trắng thay đen, dựng chuyện Việt Nam kỳ thị, phân biệt đối xử với đồng bào các dân tộc thiểu số… Nhưng thực tế lại không phải như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân lao động được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và thực sự được phát huy quyền làm chủ xã hội, làm chủ đất nước. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”1. Đây là mục tiêu cao cả, hoàn toàn phù hợp với lợi ích của nhân dân và dân tộc. Những biểu hiện vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền” như các thế lực thù địch xuyên tạc chỉ là những khuyết điểm, biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên chứ không phải là bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam, không nằm trong bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.

Thứ ba, họ cho rằng những sai lầm, vấp váp trong xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa qua là do Đảng gây ra, nhưng không thừa nhận

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội…, chúng ta vẫn còn nhiều khuyết điểm, yếu kém cần phải sửa chữa, khắc phục. Đây cũng chính là kẽ hở mà các thế lực thù địch khoét sâu, chống phá chúng ta, nhằm chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Chúng xuyên tạc tình hình kinh tế xã hội Việt Nam, phủ nhận những thành tựu của nhân dân ta trong quá trình đổi mới, đồng thời thổi phồng những yếu kém khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội.

Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lạc hậu, điểm xuất phát thấp, một công việc mới mẻ, đầy khó khăn và phức tạp. Cho nên, trong lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam khó tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm. Nhưng từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần công khai thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm của mình trước nhân dân và kiên quyết sửa chữa nó. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) là một dẫn chứng điển hình, Đảng Cộng sản Việt Nam dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, thừa nhận sự chủ quan, nóng vội, duy ý chí, không nắm vững quy luật khách quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam là một thực thể xã hội, bao gồm những con người đảng viên cụ thể, có hoạt động thì có sai lầm, khuyết điểm. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Người đời không phải thần thánh, không ai tránh khỏi khuyết điểm”1. Vấn đề đặt ra, Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm. Còn mỗi người dân yêu nước chúng ta cũng cần thấy rõ trách nhiệm của mình, giúp Đảng khắc phục sai lầm, khuyết điểm và không quy kết những sai lầm, khuyết điểm là thuộc về bản chất của Đảng để hoài nghi, bài bác, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng mà mắc phải những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch.

Thứ tư, trước thềm các kỳ Đại hội của Đảng, nhất là Đại hội XI, họ lại càng tấn công quyết liệt hơn vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng cách đòi xoá bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và công khai kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Theo họ đa nguyên, đa đảng là “chiếc đũa thần” để chấn hưng và phát triển đất nước.

Trước năm 1930, ở Việt Nam đã thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nhưng sự đa nguyên, đa đảng không thể mang lại độc lập, tự do cho nhân dân Việt Nam. Năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với cương lĩnh, đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành lại được độc lập tự do cho Tổ quốc. Khi chính quyền được thiết lập, thì ngay lập tức những phần tử cơ hội bám theo gót kẻ thù lại đòi chia quyền lãnh đạo, đòi tham gia vào chính phủ. Nhưng rồi không lâu, kẻ thù lại một lần nữa quay trở lại xâm lược đất nước chúng ta, một lần nữa họ lại lùi bước. 

Thực tiễn trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, để tập hợp lực lượng cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức ra Đảng Xã hội Việt Nam và Đảng Dân chủ Việt Nam. Đây không phải là đa nguyên chính trị, vì các đảng này có chung mục tiêu với Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến đấu cho độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, tự đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, cũng không có nghĩa là sự tồn tại nhiều đảng lúc đó là đa nguyên chính trị và sự thật là không có đa nguyên chính trị.

Trong sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cũng không thể chấp nhận hệ thống chính trị nhiều cực, nhiều đảng, nhiều phe phái đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là đối lập với sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Chiêu bài “dân chủ” của chế độ đa nguyên, đa đảng chỉ là trò ảo thuật đã và đang được các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội sử dụng để xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng, nhằm xoá bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mục tiêu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam được các thế lực thù địch tiến hành suốt hơn 80 năm qua, nhưng họ đã không làm được điều đó. Bởi vì, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta, dân tộc ta làm nên những sự tích thần kỳ: Giành chính quyền trong cách mạng Tháng Tám, đưa nhân dân ta từ thân phận của người nô lệ trở thành người chủ đất nước; đánh đuổi hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ giành lại độc lập cho dân tộc; tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, làm cho cuộc sống của nhân dân lao động được cải thiện, nâng lên, vị thế quốc gia, dân tộc ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Sự thực đó khẳng định, không một lực lượng chính trị nào có thể thay thế được.    

Do đó, để chống lại những luận điệu của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, chúng ta cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

Một là, công khai vạch trần những âm mưu, thủ đoạn lừa bịp của các thế lực thù địch, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một vấn đề có tính nguyên tắc, bất di, bất dịch - không một lực lượng chính trị, một đảng phái nào có thể thay thế được. Cần tuyên truyền mạnh mẽ và khơi dậy lòng yêu nước và niềm tự hào vào chế độ xã hội chủ nghĩa, vào tương lai tươi sáng của dân tộc cho các tầng lớp nhân dân. Luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận diện, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động chống phá của các thế lực chống cộng, không mơ hồ, chủ quan.

Hai là, chăm lo xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự “là đạo đức, là văn minh” theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng Cộng sản Việt Nam không coi vai trò lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đó là một lẽ đương nhiên, bất chấp phẩm chất và năng lực của Đảng.Vai trò tất yếu lịch sử đó chỉ có thể trở thành hiện thực và luôn luôn được giữ vững, khi Đảng thực sự là đội tiền phong của giai cấp và của dân tộc. Không có được phẩm chất và năng lực của đội tiên phong chính trị thì vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ không dễ dàng được các lực lượng trong xã hội thừa nhận. Do đó, Đảng phải có năng lực đề ra đường lối đúng đắn trong sự nghiệp đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, đưa lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng phải loại trừ mọi suy thoái, biến chất trong Đảng, trong bộ máy chính quyền, mọi tiêu cực trong xã hội, không để hình thành một tầng lớp cửa quyền, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng trong số cán bộ, đảng viên có chức có quyền, làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa thực sự là một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Ba là, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, chăm lo đời sống, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ nhân dân. Nhờ có cơ sở xã hội sâu rộng trong nhân dân mà Đảng được nhân dân nuôi dưỡng, được bảo vệ và trưởng thành. Liên hệ mật thiết với nhân dân, “lấy dân làm gốc” là vấn đề sống còn để giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng phải không ngừng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo điều kiện tốt nhất để nhân dân thực sự phát huy quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực. Có như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa sẽ được quần chúng nhân dân tin tưởng và ghi sâu vào trong con tim, khối óc của họ./.

 

 




[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011, tr.88

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011, tr.70.

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2009, tr.166.

 

SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU PHẢI CHĂNG

DO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN?

Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, một loạt các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc dẫn tới thay đổi thể chế chính trị từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa tư bản. Tại sao lại như vậy, có phải chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời cần phải xoá bỏ như những thế lực phản động từng rêu rao?

Đã có nhiều công trình nghiên cứu phân tích nhằm tìm ra nguyên nhân của sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu và đều có chung một nhận xét, nguyên nhân không ai khác, ngoài sự tiến công bằng chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch từ bên ngoài vào Liên Xô và Đông Âu thì một trong những nguyên nhân sâu xa thuộc về chính những người đứng đầu Đảng Cộng sản, Nhà nước Liên Xô và Đông Âu lúc bấy giờ là xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, có nhận thức không đúng về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, nóng vội chủ quan duy ý chí trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội và tiến hành các biện pháp cải tổ, cải cách sai nguyên tắc không phù hợp với tình hình thực tế của mỗi nước dẫn tới rối loạn xã hội làm thay đổi chế độ.

Như mọi người đều biết, sau khi Lênin mất năm 1924, chính sách kinh tế mới NEP do Người vạch ra không được tiếp tục thực hiện, thay vào đó là nền sản xuất kế hoạch hoá tập trung theo pháp lệnh từ bên trên dội xuống. Công bằng mà nói, chính sách này phát huy được tác dụng trong một giai đoạn nhất định, nhất là trong thời kỳ chiến tranh vệ quốc vĩ đại, huy động cao và nhanh về sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng bước vào thời kỳ hoà bình, chính sách này tỏ ra không còn phù hợp nữa vì nó không động viên được năng lực, sức sáng tạo của người lao động, sản xuất không gắn liền với thị trường, thậm chí phủ định sạch trơn quan hệ sản xuất hàng hoá. Nền sản xuất kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp được duy trì từ trước chiến tranh thế giới thứ 2 và kéo dài đến tận những năm 70 của thế kỷ XX, mặc dù đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết nhưng vẫn không được khắc phục. Tình trạng tham nhũng, cửa quyền của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền ở các cấp trong bộ máy lãnh đạo của Liên Xô và các nước Đông Âu rất phổ biến, gây mất lòng tin của nhân dân, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ngày càng rạn nứt. Trong khi đó, thay vì phải sớm cải tạo quan hệ sản xuất cho phù hợp với sức phát triển của lực lượng sản xuất, tuân thủ theo đúng quy luật của giá trị sản xuất hàng hoá, phát huy năng lực, sức sáng tạo của toàn xã hội thì những người đứng đầu Đảng và Nhà nước Liên Xô lại đề ra đường lối cải tổ về chính trị, đây là bước đi mạo hiểm, một sai lầm nghiêm trọng không có cơ hội cứu chữa. Do chưa được chuẩn bị kỹ về mọi mặt, nhất là công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chưa tạo được sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân trước những quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước chưa thật sự thấu đáo, thêm vào đó, quá trình thực hiện lại thiếu những biện pháp đồng bộ nên ngày càng đi vào ngõ cụt.

Ngay trong nội bộ Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, có nhiều sơ hở trong công tác tổ chức và cán bộ, để các phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao vào các cơ quan trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, móc nối với các phần tử phản động từ bên ngoài do Mỹ và phương Tây hậu thuẫn, chống phá Nhà nước Liên Xô và Đông Âu cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm tê liệt bộ máy lãnh đạo của Đảng. Vì thế, khi đất nước có nguy biến, Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản và công nhân ở các nước Đông Âu để mất vai trò lãnh đạo, nhanh chóng tan rã, tuyên bố tự giải tán, trao quyền lãnh đạo đất nước cho các lực lượng đối lập. Nhiều Đảng Cộng sản sau khi giải tán còn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, cấm hoạt động như Đảng Công nhân Thống Nhất Ba Lan, Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Đức…

Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể với những khuyết tật vốn có không thuộc bản chất của chủ nghĩa xã hội, được duy trì quá lâu làm kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và cả nhận thức lệch lạc, giáo điều cứng nhắc về chủ nghĩa xã hội, sự vận dụng một cách dập khuôn, máy móc vào tình hình Liên Xô và Đông Âu lúc bấy giờ. Do đó, sự sụp đổ của những mô hình này là không thể tránh khỏi. Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin, một học thuyết cách mạng, khoa học và sáng tạo. Chính nhờ học thuyết cách mạng ấy mà giai cấp vô sản toàn thế giới những năm đầu của thế kỷ XX đã làm nên cuộc cải biến vĩ đại chưa từng có trong lịch sử xã hội loài người được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với sự ra đời nhà nước công công đầu tiên trên thế giới, đưa nhân loại bước vào thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Noi gương Cách mạng Tháng Mười, một loạt các nước ở khắp các châu lục trong đó có Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và lực lượng cánh tả kiên quyết đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, con đường mà Mác - Ănghen - Lênin đã chỉ ra.

Bài học thành công trong cải cách mở cửa, đổi mới của Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Triều Tiên và Cu Ba những năm qua đã minh chứng cho việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của từng nước. Đó cũng chính là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin trước những giọng điệu chống phá của các thế lực thù địch.

Đối với Việt Nam, trong một thời gian dài tìm mọi cách bôi nhọ, nói xấu, nhằm hạ bệ thần tượng, thân thế, sự nghiệp và tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bị thất bại, hiện nay, các thế lực thù địch lại quay sang tuyên truyền kích động, lôi kéo những cá nhân có biểu hiện bất mãn với chế độ hoặc thiếu am hiểu tình hình để gửi đơn, thư, kiến nghị tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đề nghị từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng. Đây chính là cái bẫy nguy hiểm của kẻ địch; vì chúng biết rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là hệ thống những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, về Đảng Cộng sản Việt Nam, về đại đoàn kết dân tộc, về vấn đề Nhà nước và pháp luật, đạo đức và nhân văn, về văn hoá và quân sự được Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và sau đó cùng những người yêu nước, những người cộng sản Việt Nam truyền bá và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, nhờ đó mà có thắng lợi như ngày hôm nay. Cho nên, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin chính là bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh và ngược lại, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin nền tảng tư tưởng chỉ đường cho dân tộc ta tiến lên, chúng ta không một chút lơ là mất cảnh giác trước mọi hành động chống phá của các thế lực thù địch./.

                                                                                 La Quang Mão

 

“ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP”

KHÔNG PHẢI LÀ LỰA CHỌN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM


 

Lịch sử đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội đã chứng minh: giai cấp nào tiến bộ hơn, lý tưởng nào cao đẹp hơn, hướng tới phục vụ lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động và được dẫn dắt bởi một đảng chính trị có đường lối phù hợp với hoàn cảnh đương thời thì tất yếu sẽ giành thắng lợi. Ở Việt Nam, từ khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược (1858) và hoàn thành việc áp đặt ách đô hộ lên đất nước ta, nô dịch nhân dân ta (1885), các phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ theo nhiều lập trường, quan điểm khác nhau như: phong trào Cần Vương của Vua Hàm Nghị; phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám; phong trào yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh; phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo đường lối tư sản của Nguyễn Thái Học,… Song tất cả các phong trào ấy đều thất bại hoặc bị dìm trong biển máu, bởi vì không có đường lối đúng, không phù hợp với bối cảnh lịch sử đương thời và xu thế thời đại.

Tuy nhiên, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và tìm thấy con đường cách mạng Việt Nam - Con đường cách mạng vô sản, Người chủ trì hợp nhất ba tổ chức cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930). Từ đây, cách mạng Việt Nam chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối, nhân dân Việt Nam sau “đêm dài bế tắc không có đường ra” đã tìm thấy lý tưởng, ngọn cờ lãnh đạo, lực lượng lãnh đạo và dẫn đường chỉ lối cho toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Cũng từ khi có Đảng lãnh đạo, cách mạng Việt Nam giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, đế quốc Pháp và Mỹ, các thế lực ngoại bang xâm lấn biên cương bờ cõi, và ngày nay đang giành nhiều thắng lợi trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, cùng với những thắng lợi và thành tích vẻ vang Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân giành được trên tất cả các lĩnh vực hơn 88 năm qua, song hành với thời gian ấy là cuộc đấu tranh không kém phần gay go, quyết liệt để chống lại các biểu hiện nhận thức và hành động không đúng; các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch phủ nhận, xuyên tạc, tấn công nhằm hạ thấp vai trò, vị thế, uy tín của Đảng, nhằm lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới nhiều chiêu bài, thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Đặc biệt, chúng vu khống Đảng ta độc đoán chuyên quyền, tham quyền, cố vị; phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; phủ nhận hệ tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu cầu thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam… Chúng đẩy mạnh các hoạt động phá hoại về tư tưởng, chống phá về tổ chức, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh, vu khống, bôi nhọ các lãnh tụ và cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước ta; cổ vũ, “hà hơi tiếp sức” cho các quan điểm sai trái, đối lập, các phần tử cơ hội chính trị chống phá cách mạng Việt Nam cả ở trong nước và ở hải ngoại. Kết hợp giữa chống phá công khai, bán công khai với bí mật, sử dụng nhiều lực lượng tham gia, chống phá dưới nhiều hình thức, nhiều phương tiện, nhất là lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, internet, các trang mạng xã hội để tuyên truyền, chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch là thông qua các hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, “xâm lăng về văn hóa”,… nhằm phá hoại tư tưởng, thay đổi nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân, kể cả đội ngũ cán bộ, đảng viên vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào tính tất yếu sự ra đời và lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam; đòi xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ đó lôi kéo các tầng lớp nhân dân, trước hết là thanh thiếu niên, đồng bào các dân tộc thiểu số, kiều bào ta đã từng học tập, làm việc ở nước ngoài và các phần tử chống đối, phản động nghe theo, tin theo, đi theo con đường chống đối lại mục tiêu, lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành tư tưởng, quan điểm đối lập, phần tử đối lập, thành lập nên các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập tại Việt Nam, tiến tới thiết lập các đảng phái chính trị mới nhằm hướng tới mục tiêu thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam.

Trước hết, chúng ta khẳng định rằng: quan điểm đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam là sai trái và phản động, không phải là lựa chọn của tuyệt đại đa số nhân dân ta, không phải là sự lựa chọn của lịch sử, không phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và không có cơ sở khoa học và hiện thực. Vì vậy, nghiên cứu nhận diện đầy đủ về mục đích, bản chất của luận điệu trên để đấu tranh phản bác lại quan điểm sai trái trên một cách khoa học, có sức thuyết phục là nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết, là trách nhiệm chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của các tổ chức đảng và của toàn xã hội.

Một là, ở Việt Nam hiện nay không cần thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.

Mục tiêu cao nhất của con người nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng là “Độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc”. Mục tiêu ấy đã từng trao cho tất cả các giai tầng trong xã hội, các đảng phái, các cá nhân,… trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Và trên thực tế, các phong trào yêu nước, các cuộc cách mạng theo các quan điểm, lập trường phi vô sản đã được tiến hành ở Việt Nam dưới nhiều hình thức song đều thất bại. Cùng với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, trong thế kỷ XX ở nước ta đã từng xuất hiện và tồn tại nhiều đảng phái khác nhau như: Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mệnh đồng minh hội (Việt Cách), Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam,… Tuy nhiên, những đảng phái khác trên thực tế đã không vượt qua được những đòi hỏi khách quan và thử thách gay gắt của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh dân chủ. Vận mệnh và sứ mệnh lịch sử thiêng liêng của dân tộc ta chỉ do Đảng Cộng sản Việt Nam đảm trách. Những lần vượt qua khó khăn, thách thức đã thể hiện bản lĩnh vững vàng, trách nhiệm lớn lao, trí tuệ tuyệt với của Đảng đối với vận mệnh của dân tộc và cuộc sống, quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Do đó, chính lịch sử cũng đã chứng minh, ngoài Đảng Cộng sản, không có và không thể có một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào có thể đưa ra được cương lĩnh, đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, có thể đồng thời giải quyết những mục tiêu về dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc, “ruộng đất cho dân cày” và chủ nghĩa xã hội, “ấm no, tự do, hạnh phúc” cho nhân dân,... Tuy nhiên, lịch sử vốn rất công bằng, nhân dân luôn là lực lượng khách quan, công bằng, chính xác nhất khi xem xét, đánh giá công lao của các tổ chức và cá nhân với dân tộc. Và lẽ dĩ nhiên, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam đã thống nhất lựa chọn cho mình duy nhất một con đường đúng đắn (cách mạng xã hội chủ nghĩa), một sự nghiệp vẻ vang (xây dựng và bảo vệ Tổ quốc), một đảng cách mạng, chân chính, duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, (Đảng Cộng sản Việt Nam). Trong đó, sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là sự lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam và phù hợp với quy luật, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế thời đại.

Thực tiễn đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước ta là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của toàn thể nhân dân. Bởi lẽ, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật đặc thù phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phù hợp với xu thế thời đại, nó đã giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối cách mạng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân, đó là “độc lập cho dân tộc”, “ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân”. Từ khi thành lập và cho đến tận ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”. Do vậy, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, đảng duy nhất lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội, đảng là bộ phận của hệ thống chính trị và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Nhân dân Việt Nam không muốn và không cần có một đảng phái chính trị nào khác trên đất nước Việt Nam. Vì vậy, ở Việt Nam hiện nay không cần thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.

Hai là, ở Việt Nam nhân dân không muốn và không có cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.

Dân chủ, phát triển, ổn định và tiến bộ là những mục tiêu thuộc về lý tưởng của loài người, có giá trị phổ quát chung của toàn nhân loại. Tuy nhiên, những mục tiêu này có được không đồng nghĩa với vấn đề phải nhất quyết thực hiện “đa nguyên, đa đảng”. Và thực tế hiển nhiên là ở nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay đã và đang thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” cũng không đồng nghĩa với việc ở đó sẽ có dân chủ triệt để, đất nước và con người phát triển, chính trị ổn định và tiến bộ, công bằng xã hội được thực thi theo đúng nghĩa. Đây là hai vấn đề không tỷ lệ thuận với nhau, không quan hệ biện chứng với nhau, do đó, không phải là tiền đề, cơ sở bảo đảm duy nhất cho nhau cùng tồn tại.

Thế giới quan của “chủ nghĩa đa nguyên” là phủ nhận tính thống nhất của thế giới, cho thế giới là sự kết hợp các nguyên thể, các yếu tố độc lập và tồn tại riêng biệt. Họ cường điệu và thổi phồng cái riêng, coi cái riêng là cái duy nhất, cái phong phú đa dạng và vĩnh hằng, là cái vốn có. Chủ nghĩa đa nguyên chủ yếu gắn liền với những vấn đề xã hội, phát triển mạnh ở phương Tây và lấy xã hội tư sản trên nền tảng của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu làm cơ sở vật chất để tồn tại. Họ cho rằng: xã hội luôn được chia nhỏ thành cơ số các cá thể, nhóm, tầng lớp, tập đoàn; phân biệt nhau trong xã hội chủ yếu phải bằng tài sản và thu nhập, tín ngưỡng, tôn giáo, đảng phái, nghề nghiệp và do đó, họ cố tình che đậy tính chất đối kháng về lợi ích giai cấp trong xã hội, làm lu mờ vấn đề lợi ích chung, mục tiêu chung cao đẹp của con người trong xã hội, mà chủ yếu bảo vệ và cổ vũ cho tư tưởng cá nhân, cục bộ, ích kỷ, hẹp hòi. Cao hơn là phủ nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp đối kháng, phủ nhận đấu tranh giai cấp, phủ nhận sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản trong xã hội.

Trên thực tế, nhiều nước đã và đang thực hiện cái gọi là “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” song thực chất xã hội cũng không phát triển, dân chủ cũng không triệt để, đời sống vật chất và tinh thần của quảng đại quần chúng nhân dân lao động vẫn còn rất nhiều khó khăn. Tuy một vài nước có thu nhập bình quân đầu người cao, GDP hàng năm cao, song phần lớn tài sản và sự thụ hưởng giá trị vật chất và tinh thần lại không thuộc về đa số nhân dân lao động, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân mà lại nằm chủ yếu trong tay của một bộ phận người trong xã hội - Đó là giai cấp tư sản. Một vài nước tư bản phương Tây đang tồn tại nhiều đảng phái chính trị với tên gọi khác nhau, song thực chất các đảng chính trị cầm quyền vẫn chỉ thuộc đảng của giai cấp tư sản mà thôi, các chính đảng này không bảo vệ cho quyền lợi, không phản ánh nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Do đó, khẩu hiệu “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mà họ rêu rao cũng chỉ là luận điệu tuyên truyền có dụng ý chính trị mỵ dân, thực chất ở các nước này cũng không có “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.

Có thể thấy rằng, chủ nghĩa đa nguyên là sản phẩm của giai cấp tư sản với thế giới quan phản khoa học, là một trong những “công cụ lý luận”, “vũ khí tư tưởng” để các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, phủ nhận vai trò duy nhất lãnh đạo xã hội của các đảng cộng sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận lợi ích chung, mục tiêu chung cao cả, tốt đẹp, nhân văn; chúng đang muốn hướng lái con người và xã hội vào chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, ích kỷ, hẹp hòi. Và do vậy, bản thân nó không phù hợp với thực tiễn Việt Nam, bản chất nhân văn, nhân đạo của con người Việt Nam, không có cơ sở lý luận và thực tiễn tồn tại “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam.

Ba là, yêu cầu thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” thực chất là âm mưu, thủ đoạn nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục thu được những thành tưu có ý nghĩa lịch sử, đời sống vất chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định vững chắc. Chính vì lẽ đó, để chống phá cách mạng Việt Nam, để ngăn chặn và phá hoại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, hạ thấp uy tín, vị thế, vai trò của Đảng ta, sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, thực dụng đã, đang và vẫn sẽ tìm mọi cách tấn công và chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam.

Về mục tiêu và bản chất của các thế lực thù địch là nhằm gây chia rẽ nội bộ từ trong Đảng, chia rẽ và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây bất ổn về chính trị-xã hội, tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và “công khai hóa”, “hợp pháp hóa” các tư tưởng đối lập, hình thành và phát triển các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, giành giật quần chúng và từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đời sống chính trị, mở đường cho việc đưa nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nghiêm khắc và có trách nhiệm cao với sứ mệnh lãnh đạo của mình, gắn vận mệnh của mình với vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Đảng không bảo thủ, độc đoán, chuyên quyền, xa rời những nguyên lý và nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của mình. Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, tập thể lãnh đạo gắn với cá nhân phụ trách, quan hệ gắn bó máu thịt với quần chúng nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và xứ mệnh lịch sử cao cả của mình và sứ mệnh và nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam tin tưởng, giao phó.

Như vậy, xét cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, yêu cầu thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam là phản khoa học, phi thực tế. Nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam hiện nay và mãi mãi mai sau không muốn, không cần thiết phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Các quan điểm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở nước ta là sai trái, phản động, phải bị lên án, đấu tranh, phê phán và bác bỏ./.

 

CÓ PHẢI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ HẾT THỜI?

Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc dẫn tới sự sụp đổ và thay đổi thể chế chính trị từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa tư bản, từ đó cách mạng xã hội chủ nghĩa và phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới vì những giá trị chung, phổ quát như “Tự do - Dân chủ - Công bằng - Văn minh” cũng gặp nhiều song gió. Tại sao lại như vậy, có rất nhiều ý kiến khác nhau luận giải phân tích đi tìm nguyên do, trong đó có không ít ý kiến đổ lỗi cho rằng: “Chủ nghĩa Mác-Lê nin” nền tảng tư tưởng của cách mạng ở các nước XHCN đã hết thời”; “Chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp”. Vậy có phải chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời cần phải xoá bỏ như những thế lực phản động từng rêu rao?

Đã có nhiều công trình nghiên cứu phân tích nhằm tìm ra nguyên nhân của sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu và đều có chung một nhận xét, nguyên nhân không ai khác, ngoài sự tiến công bằng chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch từ bên ngoài vào Liên Xô và Đông Âu thì một trong những nguyên nhân sâu xa thuộc về chính những người đứng đầu Đảng Cộng sản, Nhà nước Liên Xô và Đông Âu lúc bấy giờ là xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, có nhận thức không đúng về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, nóng vội chủ quan duy ý chí trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội và tiến hành các biện pháp cải tổ, cải cách sai nguyên tắc không phù hợp với tình hình thực tế của mỗi nước dẫn tới rối loạn xã hội làm thay đổi chế độ.

Như mọi người đều biết, sau khi Lênin mất năm 1924, chính sách kinh tế mới NEP do Người vạch ra không được tiếp tục thực hiện, thay vào đó là nền sản xuất kế hoạch hoá tập trung theo pháp lệnh từ bên trên dội xuống. Công bằng mà nói, chính sách này phát huy được tác dụng trong một giai đoạn nhất định, nhất là trong thời kỳ chiến tranh vệ quốc vĩ đại, huy động cao và nhanh về sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng bước vào thời kỳ hoà bình, chính sách này tỏ ra không còn phù hợp nữa vì nó không động viên được năng lực, sức sáng tạo của người lao động, sản xuất không gắn liền với thị trường, thậm chí phủ định sạch trơn quan hệ sản xuất hàng hoá. Nền sản xuất kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp được duy trì từ trước chiến tranh thế giới thứ 2 và kéo dài đến tận những năm 70 của thế kỷ XX, mặc dù đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết nhưng vẫn không được khắc phục. Tình trạng tham nhũng, cửa quyền của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền ở các cấp trong bộ máy lãnh đạo của Liên Xô và các nước Đông Âu rất phổ biến, gây mất lòng tin của nhân dân, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ngày càng rạn nứt. Trong khi đó, thay vì phải sớm cải tạo quan hệ sản xuất cho phù hợp với sức phát triển của lực lượng sản xuất, tuân thủ theo đúng quy luật của giá trị sản xuất hàng hoá, phát huy năng lực, sức sáng tạo của toàn xã hội thì những người đứng đầu Đảng và Nhà nước Liên Xô lại đề ra đường lối cải tổ về chính trị, đây là bước đi mạo hiểm, một sai lầm nghiêm trọng không có cơ hội cứu chữa. Do chưa được chuẩn bị kỹ về mọi mặt, nhất là công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chưa tạo được sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân trước những quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước chưa thật sự thấu đáo, thêm vào đó, quá trình thực hiện lại thiếu những biện pháp đồng bộ nên ngày càng đi vào ngõ cụt.

Ngay trong nội bộ Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, có nhiều sơ hở trong công tác tổ chức và cán bộ, để các phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao vào các cơ quan trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, móc nối với các phần tử phản động từ bên ngoài do Mỹ và phương Tây hậu thuẫn, chống phá Nhà nước Liên Xô và Đông Âu cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm tê liệt bộ máy lãnh đạo của Đảng. Vì thế, khi đất nước có nguy biến, Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản và công nhân ở các nước Đông Âu để mất vai trò lãnh đạo, nhanh chóng tan rã, tuyên bố tự giải tán, trao quyền lãnh đạo đất nước cho các lực lượng đối lập. Nhiều Đảng Cộng sản sau khi giải tán còn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, cấm hoạt động như Đảng Công nhân Thống Nhất Ba Lan, Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Đức…

Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể với những khuyết tật vốn có không thuộc bản chất của chủ nghĩa xã hội, được duy trì quá lâu làm kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và cả nhận thức lệch lạc, giáo điều cứng nhắc về chủ nghĩa xã hội, sự vận dụng một cách dập khuôn, máy móc vào tình hình Liên Xô và Đông Âu lúc bấy giờ. Do đó, sự sụp đổ của những mô hình này là không thể tránh khỏi. Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin, một học thuyết cách mạng, khoa học và sáng tạo. Chính nhờ học thuyết cách mạng ấy mà giai cấp vô sản toàn thế giới những năm đầu của thế kỷ XX đã làm nên cuộc cải biến vĩ đại chưa từng có trong lịch sử xã hội loài người được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với sự ra đời nhà nước công công đầu tiên trên thế giới, đưa nhân loại bước vào thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Noi gương Cách mạng Tháng Mười, một loạt các nước ở khắp các châu lục trong đó có Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và lực lượng cánh tả kiên quyết đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, con đường mà Mác - Ănghen - Lênin đã chỉ ra.

Bài học thành công trong cải cách mở cửa, đổi mới của Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Triều Tiên và Cu Ba những năm qua đã minh chứng cho việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của từng nước. Đó cũng chính là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin trước những giọng điệu chống phá của các thế lực thù địch.

Đối với Việt Nam, trong một thời gian dài tìm mọi cách bôi nhọ, nói xấu, nhằm hạ bệ thần tượng, thân thế, sự nghiệp và tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bị thất bại, hiện nay, các thế lực thù địch lại quay sang tuyên truyền kích động, lôi kéo những cá nhân có biểu hiện bất mãn với chế độ hoặc thiếu am hiểu tình hình để gửi đơn, thư, kiến nghị tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đề nghị từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng. Đây chính là cái bẫy nguy hiểm của kẻ địch; vì chúng biết rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là hệ thống những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, về Đảng Cộng sản Việt Nam, về đại đoàn kết dân tộc, về vấn đề Nhà nước và pháp luật, đạo đức và nhân văn, về văn hoá và quân sự được Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và sau đó cùng những người yêu nước, những người cộng sản Việt Nam truyền bá và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, nhờ đó mà có thắng lợi như ngày hôm nay.

Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Cũng từ đó, nhiệm vụ bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin cũng quan hệ gắn bó chặt chẽ hơn với bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong một thể thống nhất và ngược lại. Càng những giai đoạn bước ngoặt của cách mạng, nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng quyết liệt và cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong điều kiện và tình hình hiện nay, thắng lợi của hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới của Việt Nam, thành công sau hơn 40 năm cải cách ở Trung Quốc hay chính sách mới của Triều Tiên, của Cu Ba trong thời gian gần đây đã mang lại những thành công mới, bài học minh chứng rõ rang hơn cho thấy quan điểm của các lực lượng, thế lực cơ hội chính trị, phản động, xuyên tạc cho rằng “Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã hết thời” là hoàn toàn sai trái, phản động, phản khoa học. Vì vậy, từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, người dân yêu nước chúng ta không một chút lơ là mất cảnh giác trước mọi hành động chống phá của các thế lực thù địch./.

 

PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

CHỈ ĐÚNG VỚI CHÂU ÂU VÀ THỜI KỲ SƠ KHAI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

 

                                                                

          Cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại của dân tộc ta thành công cách đây đã 78 năm. Song ý nghĩa thắng lợi của nó còn vượt xa hơn trong thời gian và không gian. Một trong những ý nghĩa đó là mà ngày nay chúng ta càng phải nói đến là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cũng là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta. Chúng ta hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam.

          Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và phong kiến mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra chính là chủ nghĩa Mác - Lênin: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1]. Đi theo con đường đó, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh đổ chủ nghĩa thực dân, phong kiến, kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thắng lợi, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và đi lên chủ nghĩa xã hội.

          Đành rằng, trên thế giới thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ không nhất thiết chỉ gắn liền với vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản. Song, trong thực tế lịch sử nước ta, thì cuộc Cách mạng Tháng Tám đã gắn liền với sứ mệnh của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam. Đấy là hiện thực đanh thép chứ không thể giả định khác thế. Công cuộc đổi mới đất nước ta trong những năm qua sở dĩ đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng bởi vì Đảng ta kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

          Chỉ từng ấy vấn đề cũng đã cho thấy chủ nghĩa Mác - Lênin đã từng cần thiết cho chúng ta như thế nào, chứ không phải nó là “hàng xa xỉ, chẳng ăn nhập gì ở Việt Nam” như một số người mưu toan đánh tráo, hạ thấp và phủ nhận. Và sự thật ở nước ta cũng đã từng cho thấy không phải học thuyết của Mác chỉ đúng với châu Âu, và cũng không phải chủ nghĩa Mác chỉ đúng với thời kỳ sơ khai của chủ nghĩa tư bản.

          Không phải vì C. Mác, V.I Lênin là người con của nước Đức và nước Nga mà chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ đúng với hai nước đó. Thật ra, chính nhờ phát hiện đúng đắn quy luật vận động của thế giới mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã có sức sống vượt qua biên giới châu Âu, đúng cả trên năm châu bốn biển.

          Một trong những quy luật vận động đó là trong xã hội có phân chia giai cấp thì đấu tranh giai cấp đóng vai trò là động lực phát triển xã hội. Đương nhiên không phải là động lực duy nhất, đấy là một trong những cái cốt lõi nhất trong hệ thống học thuyết của Mác, của Lênin mà hàng trăm năm nay hết thảy các thế lực thù địch với giai cấp công nhân, với Đảng Cộng sản, với chủ nghĩa xã hội đều liên tục công kích. Thật ra, họ càng công kích dữ dội bao nhiêu thì chỉ càng chứng minh cho sự đúng đắn của luận thuyết đấu tranh giai cấp bấy nhiêu. Kinh nghiệm đau đớn cho thấy chính vì từ bỏ học thuyết đấu tranh giai cấp, tiến hành phi tư tưởng hóa trong quan hệ quốc tế mà nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã lâm vào “diễn biến hòa bình” và nhanh chóng sụp đổ. Lịch sử bao giờ cũng vẫn là một người thầy vĩ đại. Sự kiện Liên Xô tan vỡ, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ không phải là một minh chứng cho sự lạc hậu của chủ nghĩa Mác - Lênin, trái lại chỉ càng chứng tỏ rằng hễ khi nào và ở đâu bắt đầu từ bỏ học thuyết Mác thì khi ấy và ở đó Đảng Cộng sản cầm quyền không tránh khỏi mất chính quyền. Vấn đề “dân tộc”, “quốc gia” đã tồn tại lâu đời và chắc chắn còn tồn tại rất lâu dài, song từ xưa đến nay người ta giải quyết vấn đề dân tộc, quốc gia bao giờ cũng theo những quan điểm giai cấp nhất định, trên những lập trường, những lợi ích giai cấp nhất định. Ngày nay ở nước ta chúng ta nói độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghiã xã hội, còn các thế lực thù địch nói độc lập dân tộc phi giai cấp mà thực chất là gắn liền với con đường tư bản chủ nghĩa, là đã nói theo những quan điểm giai cấp khác nhau.

          Chúng ta cũng không còn ấu trĩ để hiểu đấu tranh giai cấp một cách giải đơn, thô thiển. Không phải bất cứ lúc nào, đấu tranh giai cấp cũng có hình thù rõ riệt hai giai cấp có lợi ích đối kháng trực diện với nhau. Trước đây, Lênin đã từng nói về thế lực tự phát của tiểu tư sản ở nước Nga là một cái gì không có hình thù rõ riệt nhất, không tự giác nhất, không cố định nhất; như thế Người đã cho ta một quan niệm rất tinh tế về đấu tranh giai cấp. Đối với nước ta, các thế lực âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” muốn chuyển hóa chế độ xã hội hiện nay, còn nhân dân ta lại nâng cao cảnh giác, chống “diễn biến hòa bình” muốn chuyển hóa chế độ hiện nay, bảo vệ và kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa. Sự thật đang có cuộc đấu tranh giữa “diến biến hòa bình” và chống “diễn biến hòa bình”. Đó là một hình thức mới, một nội dung mới của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta. Đương nhiên, đấu tranh giai cấp không chỉ có thế, mà nó diễn ra trên khắp các lĩnh vực, tư tưởng đến kinh tế, từ văn hóa đến chính trị.

          Nếu như chủ nghĩa tư bản bắt đầu hình thành từ đầu thế kỷ 16, thì C.Mác viết bộ “Tư bản” vào nửa cuối thế kỷ 19, trong thời điểm chủ nghĩa tư bản có bước chuyển từ “cạnh tranh tự do” thống trị sang giai đoạn “độc quyền” thống trị. Khi Ph.Ăngghen sưu tầm bản thảo của C.Mác biên tập đề xuất bản Quyển II bộ “Tư bản”, thì Ăngghen cũng đã chứng kiến chủ nghĩa tư bản độc quyền. Vì thế, không phải chủ nghĩa Mác bị giới hạn ở thời kỳ hoang sơ của chủ nghĩa tư bản. Tuy chủ nghĩa tư bản hiện đại có những điều chỉnh, thay đổi đáng kể, song học thuyết giá trị thặng dư vẫn luôn luôn chỉ rõ được cái bản chất kinh tế, từ đó hiểu thấu chính trị của chủ nghĩa tư bản. C. Mác đã bắt đầu từ phân tích hàng hóa - một hình thái tế bào, giản đơn nhất, điển hình nhất, phổ biến nhất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa để nghiên cứu chủ nghĩa tư bản. Xuất phát từ lý luận hành hóa sức lao động, Mác đã vạch ra được cái bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản là bóp lặn giá trị thặng dư, rằng bóc lột giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Chính mục đích giá trị thặng dư đã xuyên qua tất cả các hiện tượng, các thời kỳ phát triển khác nhau của chủ nghĩa tư bản. Nhờ nắm cái bản chất bóp lặn giá trị thặng dư mà chúng ta hiểu biết được các vấn đề về tích lỹ, tuần hoàn chu chuyển tư bản, tái sản xuất mở rộng, các hình thái biểu hiện bề ngoài của giá trị thặng dư như lợi nhuận, lợi tức, địa tô của chủ nghĩa tư bản. Tất cả những vấn đề đó cho thấy cho dù ngày nay chủ nghĩa tư bản có thay da đổi thịt, biến đổi màu cờ sắc áo như thế nào, thì học thuyết giá trị thăng dư - cái học thuyết đã chỉ ra được cái cốt lõi, cái bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản - vẫn còn nguyên giá trị. Không thể nói về phương diện lý luận này, chủ nghĩa Mác đã lạc hậu. Đương nhiên, chúng ta không phủ nhận rằng ngày nay những hình thức, phương pháp tạo ra giá trị thặng dư, ăn chia phân phối giá trị thặng dư cũng có những thay đổi nhất định, có những biểu hiện cụ thể khác nhau ngay giữa các nước tư bản. Đó chính là nhiệm vụ kế tục nghiên cứu của chúng ta dưới ánh sáng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác.

          Vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của Mác, Lênin đã chỉ rõ được giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, đó là chủ nghĩa tư bản độc quyền, mà nấc thang cao của nó là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Cho dù hình thức có những sự thay đổi từ xanh-đi-ca, tơ-rớt công-xooc xi-om trước đây hay hình thức công-giô-mê-ra ngày nay thì vẫn là tư bản độc quyền. Mai đây có thể xuất hiện những hình thức tổ chức mới hơn nữa về doanh nghiệp tư bản, nhưng vẫn không ra ngoài giai đoạn tư bản độc quyền - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, với bản chất bóc lột giá trị thặng dư hình thức lợi nhuận độc quyền cao. Cho dù lợi nhuận thu được trên một đơn vị hàng hóa có thể giảm, thì khối lượng lợi nhuận vẫn không vì thế mà giảm đi, vì tổng hàng hóa vẫn tăng, rút cuộc nhà đại tư bản vẫn thu được lợi nhuận độc quyền cao. Chủ nghĩa tư bản phát triển càng cao thì mâu thuẫn cơ bản của nó càng sâu sắc, đó là mâu thuẫn giữa nền sản xuất có trình độ xã hội hóa cao với chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Đây là học thuyết Mác về chủ nghĩa tư bản. Mặc dù ngày nay chủ nghĩa tư bản hiện đại đã tự điều chỉnh, tự cải tiến, tự thích nghi, song vẫn không thể tự khắc phục được những mâu thuẫn của chế độ tư bản chủ nghĩa. Như thế, học thuyết Mác vẫn đầy sức sống, và là ước mơ, hoài bão, lý tưởng của con người, của loài người vươn tới chủ nghĩa xã hội là có tính hiện thực. Trước nay, các đảng tiên phong của giai cấp công nhân thường nhận thức tự giác về sứ mệnh lịch sử của mình, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Vì thế, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lâu đã trở thành cái tên chung biểu hiện hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, cái tên chung của một hệ thống các học thuyết về thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận, về chính trị xã hội... chỉ dẫn cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới làm cách mạng, tiến lên làm chủ vận mệnh của mình. Nói đến chủ nghĩa Mác thì phải kể đến Ph. Ăngghen thiên tài, người bạn vĩ đại của C. Mác. Nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin thì phải kể đến sự đóng góp làm phong phú và phát triển sáng tạo của những bậc cách mạng tiền bối của phong trào cộng sản và công nhân trên thế giới, của các Đảng chân chính của giai cấp công nhân, mà ở Việt Nam ta thì trước hết phải kể đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên tinh thần ấy, Đảng ta trong Cương lĩnh của mình đã xác định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[2].

          Từ lâu, chúng ta đã hiểu rằng không phải chủ nghĩa Mác - Lênin đã sẵn có đẩy đủ hết mọi câu trả lời cho cuộc sống cách mạng vô cùng sinh động. Phải từ những dự báo của Mác, của Ăngghen, của Lênin, của Hồ Chí Minh mà biết vận dụng và phát triển sáng tạo, tiếp tục góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác - Lênin, phải nắm lấy phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để đi tìm câu trả lời đúng đắn. Điều quan trọng nhất là bằng thực tiễn kiểm nghiệm, chúng ta có đủ lý trí và tình cảm để khẳng định: trên những quan niệm cơ bản, những nguyên lý, nguyên tắc, quy luật vận động cơ bản thì chủ nghĩa Mác - Lênin còn nguyên giá trị, hơn nữa vẫn luôn luôn nóng hổi với cuộc sống của chúng ta hôm nay. Theo tinh thần ấy, hơn lúc nào hết phải ra sức bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong đời sống hiện thực, đồng thời chúng ta nghiêm túc đổi mới phương pháp và nội dung nghiên cứu và học tập chủ nghĩa Mác - Lênin.

          Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, mà còn là nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam./.




[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H. 2009, tr. 314.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội. 2011. tr. 88.