Thứ Hai, 21 tháng 8, 2023

CHỐNG BIỂU HIỆN CƠ HỘI VỀ CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG - NHIỆM VỤ CẤP BÁCH, THƯỜNG XUYÊN


Cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm. Đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị là một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.


Các nhà lý luận mác-xít đã chỉ mặt những phần tử cơ hội


Ngay từ khi mới ra đời, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã phải đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch được núp bóng dưới mọi hình thức. Trong các tác phẩm của mình, C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin đã chỉ ra một loại kẻ thù hết sức nguy hiểm, đó là những phần tử cơ hội, khoác áo cộng sản nhưng lại ngấm ngầm chống phá Đảng. Đó là những con người chỉ vì lợi ích nhất thời hằng ngày mà quên đi những quan điểm chủ yếu lớn; chạy theo những thành công chốc lát và đấu tranh cho những thành công chốc lát mà không tính đến hậu quả về sau... tất cả những việc ấy có thể xuất phát từ những động cơ “thành thật”. "Nhưng đó là và sẽ vẫn là chủ nghĩa cơ hội, mà chủ nghĩa cơ hội “thành thật” có lẽ lại là thứ chủ nghĩa cơ hội nguy hiểm hơn hết cả” và nguồn gốc sinh ra chủ nghĩa cơ hội ấy từ các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng và lịch sử.


V.I.Lênin là người kế tục xuất sắc nhất sự nghiệp vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, đã phấn đấu quên mình để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại báo hiệu sự suy sụp của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của cách mạng vô sản, đưa chủ nghĩa Mác lên một bước phát triển mới, thành Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhất là những năm tháng xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết, trong bài viết “Về vấn đề thanh đảng”, V.I.Lênin vạch rõ mặt những phần tử cơ hội trong đảng, những phần tử giỏi về thủ đoạn “ngoại giao tư sản”, khả năng thích ứng “thay màu đổi sắc để ẩn nấp được dễ dàng hơn, như con thỏ rừng, về mùa đông, thay lông thành màu trắng”. Vì thế, V.I.Lênin yêu cầu, cần phải đuổi ra khỏi đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược. Theo V.I.Lênin, có như vậy sẽ làm cho đảng trở thành một đội tiền phong của giai cấp vô sản vững mạnh hơn.


Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống mọi biểu hiện cơ hội trong Đảng. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, việc đầu tiên, trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng, Người căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Để Đảng Cộng sản là một Đảng thực sự cách mạng, chân chính, tất yếu phải đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội trong Đảng, nhất là cơ hội về chính trị.


Trong bối cảnh hết sức khó khăn khi mới thành lập Đảng, nhưng nhiệm vụ đấu tranh chống những phần tử cơ hội trong Đảng luôn đặt ra yêu cầu cấp thiết. Song cũng phải nhận diện rõ và phân loại đối tượng cụ thể để có phương pháp đấu tranh phù hợp. Nghị quyết của toàn thể Hội nghị Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 20 và 30-3-1938 chỉ rõ: “Phải tẩy sạch những phần tử trotsky đã lọt vào trong Đảng”. Do đó, muốn đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị tốt, cần phải nhận diện đúng thực chất “cơ hội về chính trị”.


Nhận diện những biểu hiện cơ hội chính trị trong Đảng


Từ những nghiên cứu, luận giải trên cho thấy, cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm.


Hơn 90 năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhiều lần khẳng định trong các nghị quyết. Trong đó nhấn mạnh: “Hiện nay phải đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ Đảng, trước hết là bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn sự trong sạch của tổ chức đảng, cảnh giác và tỉnh táo không để cho những phần tử cơ hội về chính trị, phản động chui vào hàng ngũ Đảng”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định phải: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”.


Nhận diện những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng hiện nay qua 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đối tượng đấu tranh chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng là những cán bộ, đảng viên hiện đang làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, cơ quan đoàn thể hoặc đã nghỉ hưu được luật pháp quy định...


Biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nhiều cấp độ khác nhau, như: Nhóm đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận những nguồn tin không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng; nhóm đối tượng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, công thần, sống vụ lợi, ích kỷ; nhóm đối tượng công khai bộc lộ tư tưởng cực đoan, bất mãn, chống đối và đặc biệt nghiêm trọng là nhóm có khuynh hướng chống đối, tập hợp lực lượng, móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá cách mạng Việt Nam, khi đó từ cơ hội về chính trị đến phản bội Đảng, Tổ quốc và nhân dân là rất gần. Biểu hiện chung nhất là phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; tham vọng chức quyền...


Kiên quyết và đồng bộ giải pháp phòng, chống biểu hiện cơ hội chính trị


Trong tình hình hiện nay phải đặc biệt quan tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tăng cường đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với hệ thống các giải pháp. Trước hết, tập trung vào một số giải pháp như: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị ở nước ta hiện nay. Phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quản lý, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.


Phát huy dân chủ, sức mạnh tổng hợp đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị, nhất là biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với lộ trình, bước đi, hình thức, phương pháp, giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu, các bước trong tuyển chọn, bố trí sử dụng, không để những phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao phá hoại Đảng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử có biểu hiện cơ hội về chính trị. Thực hiện tốt công tác chính sách cho các đối tượng đúng quy định của pháp luật, kịp thời tôn vinh, động viên, đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh, đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

----------------------------------

Bài viết: Đại tá, PGS, TS HOÀNG VĂN PHAI-Thiếu tá PHẠM THANH TÙNG (Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Quân sự, Học viện Chính trị)

Nguồn: Báo QĐND

St. Trường Tồn 

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dâng hương, dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng

 Sáng 19-8, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng Đoàn công tác Trung ương đã dự các hoạt động kỷ niệm 135 năm Ngày sinh của Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20-8-1888/20-8-2023) và kỷ niệm 78 năm Ngày truyền thống của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam (19-8-1945/19-8-2023), tại tỉnh An Giang.

Cùng dâng hương còn có các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước: Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Nguyễn Xuân Phúc; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa; Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang; đại diện lãnh đạo các lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương; đại diện người thân của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Tại đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng các thành viên đoàn công tác Trung ương và tỉnh An Giang đã thành kính dành phút mặc niệm, dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, nhà lãnh đạo gương mẫu, hết lòng vì nước vì dân, người con ưu tú của quê hương An Giang, của Nam Bộ thành đồng.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước; sự trung thành, tận tụy với sự nghiệp cách mạng; tinh thần anh dũng, bất khuất; đức tính khiêm tốn, giản dị; tình thương yêu đồng chí, đồng bào; tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và tình đoàn kết quốc tế vô sản. 

Cũng tại Khu Lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, cùng các thành viên đoàn công tác Trung ương và tỉnh An Giang đã đến thăm ngôi nhà lưu niệm thời niên thiếu của Bác Tôn và tham quan nơi trưng bày hình ảnh, thông tin về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng và trồng cây lưu niệm tại khuôn viên Khu Lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

“Cột mốc vàng” kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Canada

 Sáng 20-8, tại Thảo Cầm Viên, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP Hồ Chí Minh (HUFO) và Tổng Lãnh sự quán Canada tại Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng một số đơn vị tổ chức chương trình kỷ niệm “Cột mốc vàng” và khánh thành tượng Inukshuk nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Canada (1973-2023).

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Phan Văn Mãi nhấn mạnh, kể từ khi Việt Nam và Canada chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cách đây nửa thế kỷ, quan hệ song phương đã có những bước tiến vượt bậc, nhất là từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Toàn diện vào năm 2017.

Hiện Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Canada trong ASEAN, với số vốn đầu tư từ Canada ngày càng tăng; mục tiêu tăng kim ngạch thương mại hai chiều lên 10 tỷ USD sẽ sớm trở thành hiện thực trong thời gian tới. Cùng với các hoạt động kinh tế-thương mại là trao đổi sôi động về văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân.

Đánh giá cao ý nghĩa của chương trình “Cột mốc vàng”, một trong nhiều hoạt động chào mừng kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước diễn ra tại TP Hồ Chí Minh, ông Phan Văn Mãi chia sẻ, đây là cơ hội cho người dân và cộng đồng người Canada sống tại Thành phố giao lưu. Đây còn là một hoạt động mang tính nhân văn, khi Ban Tổ chức và những người tham gia cùng chung tay chăm lo cho 1.400 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được vui Tết Trung thu và chuẩn bị cho ngày tựu trường.

Cảm ơn Tổng lãnh sự quán Canada đã trao tặng tượng Inukshuk cho TP Hồ Chí Minh, ông Phan Văn Mãi cho rằng, đây là hoạt động giao lưu văn hóa rất ý nghĩa, thiết thực giúp nhân dân hai nước tìm hiểu về văn hóa của nhau, từ đó nâng cao tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác. Những hoạt động giao lưu văn hóa, ngoại giao nhân dân sôi động sẽ là cơ sở để hai nước hướng tới một quan hệ tốt đẹp hơn trong nửa thế kỷ tiếp theo...

Tại chương trình "Cột mốc vàng", để đánh dấu 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam- Canada, Ban Tổ chức đã trao tặng 50 suất học bổng và quà (2 triệu đồng/suất) cho các học sinh nghèo học giỏi; tặng quà hữu nghị trị giá 1 triệu đồng/phần quà cho 50 học sinh Việt Nam và Canada tiêu biểu trên các lĩnh vực.

Cũng trong dịp này, Hội hữu nghị Việt Nam – Canada đã phối hợp cùng các đơn vị, nhà tài trợ tặng quà trị giá 1,5 triệu đồng/phần cho 1.400 cho các em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở TP Hồ Chí Minh, tỉnh Long An và An Giang. Đây là hoạt động thiết thực nhằm giúp các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đến trường và vui Tết Trung thu.

Tượng Inukshuk do Tổng lãnh sự quán Canada tại TP Hồ Chí Minh tặng cho TP Hồ Chí Minh được đặt trong khuôn viên Thảo Cầm Viên do một nghệ nhân Inuit của Canada xây dựng.

Biểu tượng Inukshuk bắt nguồn từ văn hóa của người thổ dân Inuit vùng Tây Bắc Canada. Tượng Inukshuk là những khối đá xếp chồng lên nhau, chủ đạo là hình người dang tay với nhiều ý nghĩa, trong đó cơ bản là thể hiện sự chỉ đường hay tình hữu nghị, sự liên kết lẫn nhau một cách bền vững. Chính phủ Canada đã tặng hoặc đóng góp xây dựng Inukshuk như một biểu tượng quốc gia tại một số nước như Hoa Kỳ, Na Uy, Mexico, Australia…

 

Chủ tịch Thượng viện Bỉ Stéphanie D'Hose đến Hà Nội bắt đầu thăm chính thức Việt Nam

 Sáng 21-8, Chủ tịch Thượng viện Vương quốc Bỉ Stéphanie D'Hose cùng Đoàn đại biểu Vương quốc Bỉ đã đến sân bay Nội Bài (Hà Nội), bắt đầu thăm chính thức Việt Nam từ ngày 21-25-8-2023 theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.

Đón Đoàn tại sân bay có: Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh; Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Đôn Tuấn Phong; Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội Nguyễn Văn Hiển.

Tháp tùng Chủ tịch Thượng viện Vương quốc Bỉ Stéphanie D'Hose thăm Việt Nam có: Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Bỉ tại Việt Nam Karl Van den Bossche; Thượng nghị sĩ Bert Anciaux; Hạ nghị sĩ Michel De Maegd; Hạ nghị sĩ Wouter Vermeersch...

Bà Stéphanie D'Hose sinh ngày 1-6-1981, tại Roeselare, Bỉ; trình độ: Tốt nghiệp trường Ngữ pháp tích hợp Các nữ tu sĩ Thánh Francis Episcopal (Ngôn ngữ hiệu đại gốc Latinh); tốt nghiệp xuất sắc Đại học Ghent (Cử nhân Khoa học Chính trị).

Bà Stéphanie D'Hose từng làm việc tại Bộ Kinh tế, Ngoại thương, Khoa học và Sáng tạo vùng Flanders từ ngày 1-9-2004/30-9-2007; Chánh Văn phòng Phó thị trưởng và Ủy viên Hội đồng Cảng và Sáng tạo thành phố Ghent từ ngày 1-10-2007/30-10-2009; Trợ lý Nghị viện vùng Flanders  từ ngày 1-11-2009/6-2014; Phó chánh Văn phòng Chính phủ vùng Flanders từ ngày 1-8-2014/1-5-2018; Thành viên Nghị viện vùng Flanders từ 1-5-2018 đến nay. Từ ngày 13-10-2020 đến nay, bà Stéphanie D'Hose là Chủ tịch Thượng viện Bỉ - Chủ tịch Ủy ban về các vấn đề thể chế.

Bà Stéphanie D'Hose là Chủ tịch Đảng Open VLD từ ngày 2-1-2019 đến nay.

Việt Nam và Vương quốc Bỉ thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác tốt đẹp giữa hai nước đang tiếp tục phát triển tích cực.

Chủ tịch Thượng viện Vương quốc Bỉ Stéphanie D'Hose là chính khách cấp cao nhất của Bỉ sang thăm Việt Nam trong năm 2023. Đây cũng là dịp hai nước kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (22-3-1973/22-3-2023) và 5 năm Đối tác chiến lược trong lĩnh vực nông nghiệp. Chuyến thăm thể hiện sự coi trọng của lãnh đạo Bỉ trong quan hệ với Việt Nam và tiếp nối chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ vào tháng 9-2021.

Chuyến thăm nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư cũng như hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Nghị viện Bỉ; tăng cường sự phối hợp giữa hai nước tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, các tổ chức liên nghị viện khu vực và quốc tế.

 

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chủ trì Lễ đón và hội đàm với Tổng thống Kazakhstan

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Tổng thống Cộng hòa Kazakhstan Kassym-Jomart Kemelevich Tokayev đã đến Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 20 đến 22-8.

Sáng 21-8, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chủ trì lễ đón chính thức Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Kemelevich Tokayev. Sau lễ đón, hai nhà lãnh đạo tiến hành hội đàm để thảo luận về hợp tác song phương và chứng kiến lễ ký các văn kiện hợp tác.

Đây là lần đầu tiên Tổng thống Kassym-Jomart Kemelevich Tokayev đến Việt Nam trên cương vị mới, cũng là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng thống Kazakhstan trong 12 năm qua, có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam-Kazakhstan, đặc biệt là về kinh tế, thương mại.

Kazakhstan là quốc gia có phần lớn diện tích nằm ở Trung Á và một phần nhỏ lãnh thổ nằm ở Đông Âu, có vị trí thuận lợi trong việc kết nối giữa châu Á và châu Âu. Kazakhstan đang hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm quá cảnh và logistics tại Trung Á, đặc biệt là trung tâm vận chuyển hàng hóa đường bộ nối liền Trung Quốc với châu Âu. 

Việt Nam và Kazakhstan thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 29-6-1992. Hai nước có quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp; phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại Liên hợp quốc và các diễn đàn quốc tế khác.

Chuyến thăm chính thức Việt Nam lần này của Tổng thống Kassym-Jomart Kemelevich Tokayev đánh dấu một chương mới trong hợp tác Việt Nam-Kazakhstan về kinh tế, thương mại và du lịch.

* Trước đó, Tổng thống Kassym-Jomart Kemelevich Tokayev đã tới đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Việt Nam và Kazakhstan ký kết nhiều văn kiện hợp tác quan trọng

 

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Cộng hòa Kazakhstan Kassym-Jomart Kemelevich Tokayev, sáng 21-8, tại Hà Nội, sau hội đàm đã diễn ra lễ ký kết các văn kiện hợp tác song phương. Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Kemelevich Tokayev chứng kiến lễ ký kết.

Trong số các văn bản hợp tác song phương quan trọng được ký kết, có: Hiệp định giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CH Kazakhstan về chuyển giao người bị kết án phạt tù; Hiệp định giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CH Kazakhstan về miễn thị thực cho người mang hộ chiếu phổ thông; Kế hoạch hành động chung nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế-thương mại giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CH Kazakhstan giai đoạn 2023-2025; Bản ghi nhớ giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Văn hóa và Thể thao nước CH Kazakhstan về hợp tác trong lĩnh vực du lịch; Bản ghi nhớ giữa Đài Truyền hình Việt Nam và Công ty Cổ phần Truyền thông Khabar.

Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 29-6-1992, mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp Việt Nam-Kazakhstan ngày càng được vun đắp và phát triển. Việt Nam là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Kazakhstan tại khu vực Đông Nam Á, còn Kazakhstan là đối tác lớn thứ hai của Việt Nam trong Liên minh Kinh tế Á-Âu. Hợp tác kinh tế hai nước còn nhiều dư địa để phát triển, nhất là trong các lĩnh vực du lịch, logistics, nông nghiệp, xây dựng… Hai nước đang nỗ lực thúc đẩy hợp tác kinh tế hướng tới mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 1,5 tỷ USD vào năm 2030.

 

Phòng, chống biểu hiện cơ hội chính trị phải kiên quyết và đồng bộ

        Trong tình hình hiện nay phải đặc biệt quan tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tăng cường đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với hệ thống các giải pháp. Trước hết, tập trung vào một số giải pháp như: 

    Tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị ở nước ta hiện nay. Phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quản lý, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

       Phát huy sức mạnh tổng hợp, tập trung dân chủ trong đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị, nhất là biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với lộ trình, bước đi, hình thức, phương pháp, giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu, các bước trong tuyển chọn, bố trí sử dụng, không để những phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao phá hoại Đảng. 

    Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử có biểu hiện cơ hội về chính trị. Thực hiện tốt công tác chính sách cho các đối tượng đúng quy định của pháp luật, kịp thời tôn vinh, động viên, đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh, đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.

Nhận diện rõ một số biểu hiện cơ hội về chính trị

         Biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng có ở nhiều cấp độ khác nhau, như: Nhóm đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận những nguồn tin không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng; Nhóm đối tượng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, công thần, sống vụ lợi, ích kỷ; Nhóm đối tượng công khai bộc lộ tư tưởng cực đoan, bất mãn, chống đối và đặc biệt nghiêm trọng là nhóm có khuynh hướng chống đối, tập hợp lực lượng, móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá cách mạng Việt Nam, khi đó từ cơ hội về chính trị đến phản bội Đảng, Tổ quốc và nhân dân là rất gần. Biểu hiện chung nhất là phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; tham vọng chức quyền…

Đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị

 

    Cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm. Đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị là một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2023

Xây dựng nông dân văn minh trong giai đoạn cách mạng ngày nay

         Xây dựng nông dân văn minh là vấn đề rất lớn, rất quan trọng của Đảng. Để người nông dân đạt đến trình độ văn minh, đảm nhận được vai trò chủ thể, vị trí trung tâm, thì phải có thời gian, phương pháp, bước đi tích cực, cụ thể. Theo đánh giá của Trung ương, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn không ngừng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, số hộ khá và giàu tăng. Tuy nhiên, “Đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn còn nhiều bất cập; lao động nông thôn có xu hướng già hóa; năng suất lao động và thu nhập bình quân của cư dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”

        Người nông dân văn minh trước hết phải là người nông dân có tri thức. Muốn vậy, cấp ủy phải lãnh đạo cả hệ thống chính trị làm tốt công tác tuyên truyền, để mỗi người nông dân chuyển biến được nhận thức của mình về vai trò chủ thể, có tâm thế tự chủ, có kiến thức, kỹ năng, năng lực, bản lĩnh làm chủ bản thân, làm chủ xây dựng, phát triển cộng đồng dân cư nông thôn. Các cơ quan thông tấn báo chí là công cụ sắc bén, thường xuyên chuyển tải thông tin đến người nông dân.Trên cơ sở đó, các ban, bộ, ngành chức năng của Trung ương, cấp ủy, chính quyền các cấp có các giải pháp đồng bộ, khoa học, sát thực tế với từng vùng, miền nông thôn, để từng bước thực hiện trang bị tri thức cho nông dân. 

        Đảng, Nhà nước sớm bổ sung cơ chế, chính sách để hỗ trợ nông dân tiếp cận; đào tạo kiến thức, huấn luyện kỹ năng, cập nhật kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, trang bị kiến thức mới, khả năng làm chủ máy móc, thiết bị công nghệ,… cho nông dân. Qua đó, người nông dân sẽ tự cập nhật các vấn đề mới phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh, để nghiên cứu, phân tích và giải quyết các yếu tố liên quan đến năng suất, chất lượng, giá thành sản phẩm; đồng thời, chủ động hơn trong xử lý tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, sử dụng hiệu quả giống mới, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm. 

        Nhà nước tiếp tục bổ sung cơ chế, chính sách để tạo môi trường, điều kiện tốt nhất cho sự gắn kết “bốn nhà”: Nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp. Sự gắn kết này ngày càng chặt chẽ, thì tri thức người nông dân được nâng cao, nông nghiệp sẽ phát triển nhanh, bền vững. Cần nghiên cứu để quy hoạch và phát triển các trường đào tạo cho nông dân, con em nông dân, vì muốn có một nền nông nghiệp chuyên nghiệp, phải có đội ngũ nông dân chuyên nghiệp hóa. Muốn có một nền nông nghiệp tri thức, người nông dân phải được trang bị tri thức cần thiết.

        Ngoài trang bị kiến thức về sản xuất, kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, hợp tác xã, cần trang bị cho người nông dân kiến thức về văn hóa để họ chủ động tham gia với cộng đồng, tổ chức các hoạt động vui chơi, thể dục – thể thao, rèn luyện sức khỏe, xây dựng đời sống tinh thần ở nông thôn; đồng thời, trang bị kiến thức để người nông dân tự chủ, tự giác đóng góp sức mình nhằm bảo vệ, tôn tạo, phát huy các di sản, truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc anh em ở các vùng, miền trong cả nước. 

        Người nông dân văn minh là người có ý thức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường, xây dựng “tình làng, nghĩa xóm”, ủng hộ, tự nguyện xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã, xây dựng các mối liên kết để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và phát triển toàn diện nông thôn./.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng nông thôn mới.

     Qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, về xây dựng giai cấp nông dân, xây dựng nông thôn mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng định hướng rõ: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội”. Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương lần thứ năm khóa XIII, “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đề ra quan điểm đúng đắn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là ba thành tố có quan hệ mật thiết, gắn bó, không thể tách rời, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nông thôn bền vững với quá trình đô thị hóa theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”; đồng thời, khẳng định nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết đưa ra nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đầu tiên là nâng cao vai trò, vị thế, năng lực làm chủ, cải thiện toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và cư dân nông thôn; bảo đảm quyền làm chủ của nông dân và cư dân nông thôn theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. 

        Để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành dân chủ ở nông thôn theo Quyết định số 263/QĐ-TTg, ngày 22-2-2022, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025”, các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp, như tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; nâng cao trình độ dân trí, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương xã hội; nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ, sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện truyền thông, công nghệ thông tin trong thực hành dân chủ ở cơ sở. 

        Các ban, bộ, ngành trung ương phối hợp chặt chẽ với các tỉnh, thành phố ban hành văn bản hướng dẫn cần thiết theo thẩm quyền; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo trong quá trình tổ chức thực hiện. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có vị trí quan trọng trong việc xây dựng và ban hành kế hoạch thực hiện, như nguồn vốn, mục tiêu, nhiệm vụ, phân công rõ trách nhiệm cho các sở, ban, ngành, các huyện, thị xã, thành phố thực hiện. Tiếp tục hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động, gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” giai đoạn 2021 – 2025, 2025 – 2030.

CÓ BAO NHIÊU ĐẢNG VIÊN KHI ĐẢNG TA THÀNH LẬP?


Có bao nhiêu đảng viên khi đảng ta mới thành lập? Đó là câu hỏi được nhiều người quan tâm.
Thực tế cho thấy, năm 1929, khi đang hoạt động ở Xiêm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được nghe báo cáo về tình hình không thống nhất giữa các tổ chức cộng sản ở trong nước và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị tan rã, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm tới Trung Quốc vào ngày 23-12-1929. Người triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng họp tại Hồng Kông để bàn việc hợp nhất việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị nhất trí tiến hành theo chương trình: Tự phê bình và phê bình về những thành kiến của các tổ chức cộng sản dẫn đến tình trạng xung đột, công kích lẫn nhau. Hội nghị thảo luận, tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, thông qua kế hoạch thành lập một Đảng cộng sản lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thống nhất phương pháp cử Ban Trung ương lâm thời: Bắc Kỳ, Trung Kỳ có 5 ủy viên do Đảng Cộng sản Đông Dương cử; Nam Kỳ có 2 ủy viên do Đảng Cộng sản Đông Dương và An Nam Cộng sản Đảng cử. Tổng số ủy viên Ban Trung ương lâm thời là 7.
Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản của đồng chí Nguyễn Ái Quốc ngày 18-2-1930, có viết ngoài Ban Trung ương lâm thời gồm có 7 ủy viên chính thức, ngoài ra còn có 7 ủy viên dự khuyết. Về các đảng viên khi tham gia thành lập trực tiếp tại Hội nghị có: “hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức cảnh, hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng là Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu. Do chưa nhận được tin Đông Dương Cộng sản Liên đoàn mới được thành lập, nên lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc không triệu tập tổ chức này dự Hội nghị”.
Theo đồng chí Hà Huy Tập trong tác phẩm “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương” cho biết: “Công việc thống nhất thực sự chỉ tiến hành vào tháng 2-1930 và kéo dài trong nhiều tuần lễ. Các tổ chức sau đây gia nhập tập thể vào Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất: Đông Dương Cộng sản Đảng (85 đảng viên), An Nam Cộng sản Đảng (61 đảng viên), Tân Việt Cộng sản Liên đoàn (119 đảng viên) và phân bộ Đảng Cộng sản Tàu ở Đông Dương (300 đảng viên). Như vậy là khi thống nhất, đảng có 565 đảng viên, phân ra làm 40 chi bộ. Cần nói thêm là khi thống nhất, còn có 40 người cộng sản Đông Dương ở Xiêm và 14 ở Hồng Công”. Báo cáo của đồng chí Hà Huy Tập cũng cho biết số lượng Ban Chấp ủy Trung ương lâm thời là 7 ủy viên chính thức và 7 ủy viên dự bị khuyết, gồm toàn đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng. (Hồng Thế Công (Hà Huy Tập), Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương, in trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.409).
Như vậy, với số Đảng viên nhỏ bé ban đầu, đến nay đảng ta đã có trên 5 triệu đảng viên sau hơn 90 năm hình thành và phát triển. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản năm 1930 đã “đóng một vai trò lịch sử to lớn” (Hồng Thế Công). Như đồng chí Hà Huy Tập đã viết: “Hội nghị đã có sáng kiến thống nhất các lực lượng cộng sản lại, đã cố gắng tập trung phong trào cộng sản, tạo cho nó một trung tâm duy nhất góp phần làm cho công cuộc tranh đấu phát triển thuận lợi, những điều ấy đã ứng đáp được một yêu cầu của lịch sử và đó là một công lao lớn” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và những lớp đảng viên đầu tiên kiên trung của Đảng. Thực tiễn đã chứng minh, với khoảng 5.000 đảng viên sau 15 năm thành lập Đảng đã lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam./.

QUẦN CHÚNG CHỈ QUÝ MẾN NHỮNG NGƯỜI CÓ TƯ CÁCH ĐẠO ĐỨC

 "Trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán chữ "Cộng sản" mà ta được mọi người yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức".

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng cao đẹp của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao tấm gương đạo đức cách mạng, Người nói :"Cũng như sông có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân". Bác lại nói :"Trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán chữ "Cộng sản" mà ta được mọi người yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức".
Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" viết tháng 10-1947 cách đây đã hơn nửa thế kỷ, Bác Hồ đã nói :"Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả, điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra, lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư". Cũng ở cuốn sách này, người chỉ rõ "thang thuốc tốt nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình".
Trong những cuộc nói chuyện và cán bộ lãnh đạo của Đảng, của Chính phủ, với đảng viên trong các lớp chỉnh huấn, với các anh hùng mới được tuyên dương, nói chuyện với công nhân trí thức, văn nghệ sĩ hoặc thăm các địa phương...ở đâu Bác cũng nhắc nhở đến việc trau dồi đạo đức cách mạng và vấn đề phê bình và tự phê bình. Bác nói :"Đảng víên và cán bộ cũng là người, ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu”. “Phê bình và tự phê bình là vũ khí rất cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm".
Người chỉ rõ :"Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh, mà Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng.
Cấp trên cũng nên thỉnh thoảng trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới, có như thế có khác gì người có vết nhọ trên mặt, được người ta đem gương cho soi, lúc đó không cần ai khuyên bảo cũng tự vội vàng đi lưa mặt...".
Bác Hồ coi những thứ bệnh quan liêu, tham nhũng, ích kỷ, hẹp hòi...là những kẻ địch bên trong và người nói :"Mỗi kẻ địch bên trong là người bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ, địch bên trong đáng sợ hơn vì nó phá hoại từ trong ra. Vì vậy ta phải hết sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những thứ bệnh đó".
Có lần Bác lại nói :"Ta có hai cách để thực hiện thống nhất tư tưởng, đoàn kết nội bộ là phê bình và tự phê bình". Phê bình và tự phê bình quan trọng như vậy, nhưng nhiều nơi nhiều lúc chúng ta chưa làm tốt, hoặc có đề ra nhưng lại làm một cách qua loa, chiếu lệ, nể nang, xuê xoa cho xong...
Trong phê bình còn thiếu dân chủ, cấp dưới không dám thẳng thắn phê bình cấp trên. Cấp trên có nơi không lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng. thậm chí còn trù úm, trả thù, coi đó là luận điệu của kẻ xấu. Trong nhân dân và cán bộ có câu nói :"Đấu tranh rồi tránh đâu”. Những điều đó làm cho việc phê bình và tự phê bình không được đến nơi đến chốn, có khi biến thành một việc hình thức.
Trong bài nói chuyện tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, năm 1950, Bác Hồ đã nói :"Tự phê bình và phê bình phải thật thà vạch khuyết điểm, có lỗi mà không vạch ra, không khác gì người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc...Vạch khuyết điểm để sửa chữa, cũng phải nêu ưu điểm để phát huy. Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp nhất là cấp cao phải noi gương trước".
Nhân ngày thành lập Đảng 3-2-1969, Bác viết bài báo "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân".. Trong bài báo đầy tâm huyết và nỗi ưu tư ấy, Bác viết :"Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng gái cũng như trai rất hăng hái dũng cảm trong mọi công tác. Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế. Song bên cạnh những đồng chí ấy, còn có số ít cán bộ đảng viên mà đạo đức và phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo :"Mình vì mọi người" mà chỉ muốn ,”Mọi người vì mình". Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, 1ãng phí xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi .thường tập thể, xem thường quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh, họ không có tinh thần vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.
Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, thiếu tinh kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.
Cũng trong bài báo cuối cùng này Người chỉ rõ :"Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên, phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng, phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ đảng viên..."
Trong bản Di chúc của mình, Bác căn dặn :"Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau". Bác căn dặn chúng ta :"Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống, nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".
Những lời dạy của Bác rất thiết thực với chúng ta, nhất là trong cuộc vận động " Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", xây dựng chỉnh đốn Đảng và trong công cuộc đưa đất nước ta trở thành một nước giầu đẹp như mong ước của Người. Ngày nay khi nhắc đến phê bình, chúng ta lại nhắc đến bài thơ của Bác :
" Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng thế
Gian nan rèn luyện mới thành công".
Nguồn: clbcbt.dn
Hình ảnh:Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, tháng 9-1960.
Do ad HT chọn đăng.
Có thể là hình ảnh về 7 người

SỰ THẬT VỀ CÁI GỌI LÀ "KHOẢNG TRỐNG QUYỀN LỰC" TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM.

 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai đã kết thúc, Nhật đầu hàng quân đồng minh; trong nước, thực dân Pháp bị Nhật đảo chính, Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim cũng không còn sức chống đỡ. Vì thế, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, có quan điểm cho rằng, lúc bấy giờ ở Việt Nam có “khoảng trống quyền lực” nên Việt Minh mới dễ dàng giành được chính quyền cách mạng.
Sự thực của quan điểm này là gì? Ở Việt Nam lúc bấy giờ có cái gọi là “khoảng trống quyền lực” hay không?
Nhiều công trình nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước đều có chung nhận định, trong thời gian từ 14-19/8/1945, không hề tồn tại một “khoảng trống quyền lực” nào ở Việt Nam.
Thực tế cho thấy, sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, phát xít Nhật đã nhanh chóng thiết lập quyền thống trị, kiểm soát trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật dựng lên đến ngày 17/8 vẫn còn nắm quyền và cho người mặc cả với Việt Minh để chia sẻ quyền lực.
Cũng có quan điểm cho rằng, Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam thành công là do Nhật đã đầu hàng đồng minh nên Việt Minh không gặp phải sự kháng cự nào. Đó là quan điểm không đúng thực tế và không có cơ sở khoa học. Bởi cho tới khi Nhật tuyên bố đầu hàng đồng minh vào ngày 14/8, các lực lượng quân đội Nhật vẫn chưa nhận được lệnh đầu hàng. Đạo quân phương Nam của Nhật tại Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn vũ khí. Mãi đến ngày 21/8, Tập đoàn quân số 38 của Nhật với hơn 1 vạn quân đóng giữ quanh Hà Nội mới chính thức nhận được lệnh ngừng bắn.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Quang Hiển, Giảng viên Cao cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, lúc bấy giờ quân Nhật tuy có hoang mang do đã bại trận, Chính phủ Nhật đã đầu hàng đồng minh nhưng quân Nhật ở Đông Dương vẫn còn rất đông, rất mạnh và cũng không phải dễ dàng gì mà họ bàn giao chính quyền cho Việt Minh.
“Đến ngày 2/9/1945 quân Nhật vẫn chiếm đóng Đài Phát thanh. Chúng ta muốn dùng đài phát thanh để phát sóng bản Tuyên ngôn độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình là rất khó khăn. Hay là chiếm đóng cầu Long Biên và ở nhiều nơi, lực lượng thân Nhật chống lại cuộc khởi nghĩa của nhân dân”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Quang Hiển thông tin.
Mặt khác, ở Việt Nam lúc đó, ngoài Mặt trận Việt Minh còn có giáo phái Cao Đài, Việt Nam phục quốc đồng minh hội, Việt Nam quốc dân đảng và rất nhiều lực lượng khác. Thế nhưng, có một sự thực là ngoài mặt trận Việt Minh, tất cả các tổ chức nói trên đều không thể tập hợp được lực lượng, không thể giành được chính quyền.
Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Sự, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị đều cho rằng, chính thực lực bên trong và quá trình chuẩn bị lâu dài của Đảng ta mới là nhân tố quyết định thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
“Tất cả các nước đều có thời cơ thuận lợi như chúng ta là Chiến tranh thế giới thứ 2 đã kết thúc, Nhật đã đầu hàng ở Đông Nam Á, thế thì tại sao chỉ có ở Việt Nam giành được chính quyền, bởi vì Đảng ta đã có 15 năm chuẩn bị, tức là phải có nội lực để chớp thời cơ. Nếu không có nội lực, thời cơ có thuận lợi đến mấy cũng không kết hợp được. Cho nên, chuẩn bị lực lượng mọi mặt của Đảng ta đóng vai trò quyết định trong Cách mạng Tháng Tám”, Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hà phân tích.
Bổ sung thêm, Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Sự cho biết, từ 1930- 1945, chúng ta đã thông qua 3 lần tổng diễn tập, nếu không có những lần tổng diễn tập như thế, khi thời cơ đến, chúng ta khó có đủ thực lực, kinh nghiệm để lãnh đạo nhân dân đứng lên chớp thời cơ giành chính quyền trong phạm vi cả nước. Đó là một quá trình chuẩn bị công phu.
Nhiều nhân chứng lịch sử và các nhà nghiên cứu sử học còn cho biết, ngày 17/8, Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim tổ chức một cuộc mít tinh lớn, hòng lôi kéo quần chúng nhưng thất bại. Trong khi, quân đội Nhật trong ngày 19/8 đã uy hiếp, đòi tước vũ khí và đàn áp cuộc khởi nghĩa. Vì thế, nếu Đảng ta không có thực lực, không có sự chuẩn bị lâu dài về lực lượng và rèn luyện quần chúng đấu tranh qua thử thách ác liệt thì không thể có được thành công.
Những người đưa ra quan điểm rằng, cách mạng Tháng Tám thành công là “ăn may”, là do có “khoảng trống quyền lực”, một mặt do chưa nhận thức rõ về sự thực lịch sử, mặt khác cũng là do các thế lực phản động, đối tượng cơ hội chính trị xuyên tạc nhằm đổi trắng, thay đen, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Giáo sư Sử học Phạm Hồng Tung nhận định: “Họ xới lên như vậy là nhằm phủ nhận ý nghĩa, tính chất chính đáng của việc Việt Nam tuyên bố độc lập, giành chính quyền. Đây là cách họ tấn công trực diện vào thành tựu cách mạng của nhân dân ta. Tôi cho rằng, quan điểm đó không có giá trị về mặt khoa học, vì ngay cả người Mỹ, người Pháp cũng không ai nói như họ nữa. Toàn thế giới, những người nghiên cứu sử học nghiêm túc, đều thừa nhận giá trị của Cách mạng Tháng Tám”.
Ngày 2/9/1945, trong lúc tại Vịnh Tokyo, Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng quân đồng minh, thì tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Tới ngày 28/9/1945, quân đội Nhật bại trận tổ chức lễ đầu hàng tại Hà Nội. Như vậy, có thể khẳng định, không hề có một “khoảng trống quyền lực” nào như rêu rao của một số đối tượng, mọi quan điểm xem nhẹ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đều không có giá trị. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi vĩ đại không chỉ đối với nhân dân Việt Nam mà với toàn thể nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới./.
ST

GIÁ TRỊ VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM TRƯỜNG TỒN CÙNG ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC



Cách mạng Tháng Tám là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc ta. Cách đây 78 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã nhất tề nổi dậy tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ chế độ thực dân và phong kiến, giành lấy chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Cách mạng Tháng Tám thành công đã tạo nên bước ngoặt trọng đại trong tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ đây, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân ta là người làm chủ đất nước, đoàn kết một lòng cùng nhau bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Cuộc cách mạng này còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, đã cổ vũ các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới vùng lên đấu tranh giành độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Nhân dân Việt Nam mãi mãi tự hào về thành quả Cách mạng Tháng Tám bởi đó là sự kết tinh của truyền thống yêu nước nồng nàn, trí tuệ và ý chí quật cường của dân tộc được phát huy lên tầm cao mới dưới sự lãnh đạo thiên tài của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Cách mạng Tháng Tám đã để lại những giá trị vĩ đại trường tồn cùng đất nước và dân tộc.
Đó là những bài học về xây dựng Đảng, về tập hợp và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường để làm nên chiến thắng…
Phát huy giá trị ấy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ lập nên những kỳ tích trong các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước, viết tiếp những trang sử vàng thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ, huy hoàng.
Tự hào về Mùa Thu Cách mạng, về truyền thống lịch sử hào hùng, chúng ta đời đời biết ơn công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam và những cống hiến, sự hy sinh xương máu của hàng triệu Anh hùng liệt sĩ, những người con ưu tú của dân tộc.
Chúng ta nguyện kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng và phát huy những giá trị lịch sử trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước giai đoạn hiện nay. Đó chính là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và những lợi ích của quốc gia, dân tộc, phát triển toàn diện và bền vững đất nước; không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn phát triển mới, xứng đáng với sự tin tưởng và kỳ vọng của nhân dân, luôn củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm nền tảng của sức mạnh đất nước.
Năm nay là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025, nêu cao tinh thần cách mạng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không ngừng nỗ lực, tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được từ đầu nhiệm kỳ đến nay, nhanh chóng tháo gỡ khó khăn, khắc phục những bất cập, hạn chế, ra sức thực hiện các nhiệm vụ còn lại, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đã đặt ra.
Mỗi cán bộ, đảng viên tiếp lửa truyền thống cách mạng, tích cực tự rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, bảo đảm hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Cùng với đó, mỗi người luôn thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương trong cuộc sống và công tác nhằm góp phần xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện, thúc đẩy việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị không ngừng thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy, tác phong làm việc của cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao.
Đất nước đang trong giai đoạn phát triển mới, hào khí cách mạng năm xưa luôn là ngọn lửa tinh thần thôi thúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nắm bắt đúng thời cơ, quyết tâm giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng giàu, đẹp, phát triển nhanh và bền vững.