Thứ Ba, 22 tháng 8, 2023

Xây dựng Quân đội hiện đại - quan điểm đúng đắn, xu thế tất yếu không thể đảo ngược

 Xây dựng Quân đội hiện đại là quan điểm, chủ trương chiến lược, đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhằm bảo đảm cho Quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Vậy mà, hiện nay các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, chống phá hòng làm chậm tiến trình, chệch hướng mục tiêu hiện đại hóa, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thủ đoạn này cần phải được nhận diện, đấu tranh, loại bỏ để bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ trương, định hướng trên; đồng thời, đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa Quân đội.

Xuyên suốt các kỳ Đại hội Đảng (từ Đại hội VI đến Đại hội XII), mặc dù câu chữ thể hiện có khác nhau, nhưng Đảng ta đều nhất quán quan điểm: “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Đặc biệt, trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, quan điểm về “Xây dựng Quân đội hiện đại” tiếp tục được bổ sung, phát triển, thể hiện rõ nét hơn với mục tiêu, lộ trình, bước đi cụ thể: “Xây dựng Quân đội nhân dân,… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội… tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”1. Đây là quan điểm, chủ trương, phương hướng hoàn toàn đúng đắn, khoa học, vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài; là đòi hỏi tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế thời đại, khả năng nền kinh tế đất nước, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới - vấn đề đang được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng hết sức quan tâm, Nhân dân vô cùng mong mỏi, nhằm tăng cường chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch

Thực hiện chủ trương đó, những năm gần đây, Quân đội được điều chỉnh, xây dựng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, một số lực lượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu không ngừng được nâng lên, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Vậy mà, với dã tâm phá hoại sự nghiệp xây dựng Quân đội, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, công kích chủ trương đúng đắn đó, chúng cho rằng: Thời bình không cần thiết phải xây dựng lực lượng vũ trang, hiện đại hóa Quân đội, đó là sự “lãng phí, tốn kém”, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế đất nước; đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, hợp tác toàn diện, sâu rộng với các nước, các đối tác, tổ chức quốc tế,... thì càng không có nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh, nên không cần xây dựng Quân đội hiện đại. Chúng soi mói, chĩa mũi vào hiệu quả tiến trình hiện đại hóa, phủ nhận vai trò của Quân đội, lợi dụng các vấn đề an ninh phức tạp trên Biển Đông để kích động, tuyên truyền Quân đội “vô dụng”, chi phí, tiêu tốn nhiều ngân sách Nhà nước, nhưng khi có tình huống thì “không dám động binh”,… nhằm làm cho tình hình Biển Đông “nóng” lên, Nhân dân hiểu sai lệch đường lối, chủ trương hiện đại hóa Quân đội của Đảng, từ đó làm chậm tiến độ, chệch hướng, tiến tới không thực hiện được mục tiêu hiện đại hóa Quân đội.

Thậm chí, lợi dụng sai phạm của một số cán bộ, sĩ quan cao cấp trong Quân đội thời gian qua, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc: xây dựng Quân đội hiện đại chính là môi trường, “mảnh đất màu mỡ” cho nạn tham nhũng trong Quân đội “đâm chồi, nảy lộc”. Thâm độc hơn, chúng khuyên nhủ: “Để hiện đại hóa Quân đội, nên liên minh, liên kết với cường quốc có nhiều vũ khí, trang bị hiện đại, đang muốn giúp đỡ Việt Nam xây dựng theo mô hình quân đội kiểu phương Tây - quân đội nhà nghề”. Nguy hiểm hơn, chúng còn rắp tâm quy kết: Việt Nam xây dựng Quân đội hiện đại là “khơi mào cho cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực”, làm cho tình hình an ninh, chính trị, quốc phòng khu vực trở nên phức tạp hơn, v.v.

Những luận điệu trên nghe qua có vẻ là yêu nước, có thái độ phẫn nộ với hành động sai trái, nhưng nghiên cứu kỹ bản chất thì thấy đó vừa là sự ngộ nhận, vừa thâm độc và cực kỳ nham hiểm, phản động; không dựa trên bất cứ cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học nào; vừa thiếu khách quan, vừa sai lệch về bản chất; thậm chí xuyên tạc, bóp méo sự thật. Chúng không hiểu mục đích hiện đại hóa Quân đội của Việt Nam là để tự vệ; không hiểu chính sách “bốn không” trong đó có “không liên minh quân sự”; không hiểu nghệ thuật “kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao” của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc và càng không hiểu cặn kẽ, bản chất của quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” - vấn đề quyết định sự tồn tại và phát triển của quốc gia - dân tộc trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc Việt Nam. Động cơ của các thế lực thù địch, phản động lộ rõ bản chất cố tình gây nhiễu, cản trở sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; kích động, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, gây bất lợi cho nước ta trong quan hệ quốc tế và hợp tác quốc phòng, nhất là với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các nước lớn.

Để khẳng định những luận điệu đó là phản động, thiếu cơ sở lý luận, sai bản chất cách mạng, thực tiễn khoa học, thiếu khách quan, chúng ta cùng nghiên cứu, phân tích, luận giải làm rõ vấn đề này.

Về cơ sở lý luận

Quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” của Đảng ta được nghiên cứu, kế thừa trên cơ sở những tư tưởng, bài học kinh nghiệm quý về xây dựng quân đội trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, như: “Binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, “quân lính thì cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ không cốt nhiều”2, “quân hùng, tướng mạnh, thống soái tài ba”, “phụ tử chi binh”, “cả nước là lính, toàn dân đánh giặc”, v.v. Nhờ những tư tưởng, quan điểm nổi bật về xây dựng quân đội đó mà các triều đại phong kiến Việt Nam đã xây dựng và phát huy được sức mạnh của những đội quân thiện chiến, đánh tan mọi thế lực xâm lược ngoại bang, giữ yên bờ cõi, mang lại nền “thái bình, thịnh trị” cho muôn dân.

Không chỉ kế thừa những tư tưởng, bài học kinh nghiệm quý về xây dựng quân đội trong lịch sử dân tộc, Đảng ta còn kế thừa, phát triển lý luận về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản mà V.I. Lênin đã chỉ ra. Trong đó, chú trọng nghiên cứu, vận dụng luận điểm: giai cấp vô sản muốn giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc, thì phải tổ chức ra quân đội của mình và xây dựng lực lượng đó đủ mạnh để chiến thắng chủ nghĩa đế quốc, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, thấy rõ sự cần thiết phải nâng cao khả năng chiến đấu cho quân đội: “Quân đội của chúng ta là một bảo đảm thực sự khiến cho các cường quốc đế quốc chủ nghĩa không dám có chút mưu toan hành động gì, mưu toan xâm phạm gì đối với chúng ta được”3. Có thể nói, lý luận về xây dựng quân đội kiểu mới của V.I. Lênin là cơ sở quan trọng, nền tảng để Đảng ta xác định chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời hoạch định kế hoạch, lộ trình, bước đi phù hợp, vững chắc trong quá trình hiện đại hóa Quân đội.

Đặc biệt, chủ trương “Xây dựng Quân đội hiện đại” còn được Đảng ta kế thừa, phát triển, vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về tổ chức xây dựng Quân đội hiện đại. Ngay từ năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”4.

Đây là cơ sở, định hướng cơ bản để Đảng ta nhận thức, phát triển tư duy lý luận về xây dựng, hiện đại hóa Quân đội trong điều kiện cách mạng mới. Những cơ sở lý luận quan trọng đó khẳng định: xây dựng và hiện đại hóa Quân đội là nguyên tắc tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng, mang tính tất yếu, khách quan, phù hợp với xu thế thời đại và thực tiễn tình hình đất nước.

Cơ sở thực tiễn

Đối với thế giới, lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, mọi quốc gia, dân tộc đều chú trọng xây dựng quân đội lớn mạnh, nhằm nâng cao năng lực quốc phòng để bảo vệ đất nước, bảo vệ nền hòa bình. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, chủ nghĩa phát xít trỗi dậy, tăng cường chạy đua vũ trang để tiến hành chiến tranh xâm lược. Trong vòng 02 năm (1940 - 1941), nền công nghiệp chiến tranh Đức đã ưu tiên sản xuất, cung cấp cho thị trường khoảng 10.000 đến 20.000 máy bay, xe tăng mỗi năm. Trước nguy cơ bị đe dọa tấn công bởi chủ nghĩa phát xít, Liên Xô đã chủ động xây dựng lực lượng quân đội (Hồng quân) hùng mạnh, trang bị hiện đại, đủ sức đánh bại phát xít Đức, bảo vệ vững chắc tổ quốc, giữ vững nền độc lập. Không chỉ trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, mà trong thời kỳ Chiến tranh lạnh và những năm gần đây, việc xây dựng, phát triển, hiện đại hóa quân đội, tăng ngân sách chi tiêu cho quốc phòng trở thành xu thế phổ biến trên thế giới. Chỉ tính riêng năm 2022, chi tiêu quốc phòng toàn cầu tăng cao nhất trong lịch sử, điển hình là Mỹ gần 900 tỉ USD (lớn hơn tổng ngân sách quốc phòng của 10 nước có chi tiêu quốc phòng lớn của thế giới cộng lại), tăng hơn 5% so với năm 2021; Nhật Bản hơn 5.000 tỉ Yên (hơn 47,2 tỉ USD), con số lớn hơn nhiều lần so với năm 2021, v.v.

Đối với Việt Nam, thời nhà Trần đã xây dựng lực lượng quân thường trực bao gồm: quân Cấm vệ, quân các Lộ, quân Vương hầu; ngoài bộ binh, kỵ binh còn tổ chức lực lượng thủy binh hùng hậu, cùng với sức mạnh toàn dân tộc ba lần đánh tan quân Mông -Nguyên , bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Nhà Tây Sơn tổ chức xây dựng quân đội theo hướng: thủy bộ hóa, nâng cao khả năng tác chiến trên sông, trên biển và trên bộ; trang bị cho quân đội nhiều vũ khí hiện đại thời bấy giờ, như:   đại bác, hỏa mai, hỏa cần, hỏa hổ,... trở thành một quân đội mạnh, hiện đại trong khu vực - quân đội “bách chiến, bách thắng”.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, từ 34 cán bộ, chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, trang bị giáo mác nhiều hơn súng đạn đã phát triển thành một tổ chức vũ trang hùng mạnh, từng bước chuyển từ đánh nhỏ lẻ lên đánh lớn, từ đánh du kích lên đánh chính quy; từ tác chiến ở cấp chiến thuật lên tác chiến ở quy mô chiến dịch, chiến lược, càng đánh càng mạnh, làm nên kỳ tích Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta từng bước phát triển thành quân đội chính quy, hùng mạnh, có đủ các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các đơn vị quân chủng, binh chủng; phát huy sức mạnh tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng đánh địch cả trên bộ, trên không, trên biển. Bằng sự phối hợp, hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng Phòng không rộng khắp với các sư đoàn phòng không chủ lực biên chế vũ khí, trang bị hiện đại cùng lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam, quân và dân Hà Nội cùng với quân và dân cả nước đã làm nên trận “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, đánh bại hoàn toàn sức mạnh của không lực Hoa Kỳ. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, bằng sức mạnh hiệp đồng quân, binh chủng, ta tổ chức 05 cách quân tiến vào tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà còn được khẳng định trong chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Như vậy, trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, mặc dù chúng ta luôn phải đương đầu với các thế lực ngoại xâm có tiềm lực, sức mạnh kinh tế, quân sự hơn ta gấp nhiều lần, song nhờ có đường lối chính trị đúng đắn, có Quân đội hùng mạnh cùng quyết tâm chiến đấu dũng cảm và nghệ thuật quân sự đặc sắc, chúng ta đã giành thắng lợi.

Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là những năm gần đây, Quân đội tiếp tục được xây dựng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hiện nay, Quân đội đang đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa một số lực lượng: Hải quân, Phòng không - Không quân, Tác chiến điện tử,… một số lực lượng đang tiếp tục được đầu tư tiến lên hiện đại, tăng cường sức mạnh quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Thực tiễn trên khẳng định, chủ trương: Xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, chính là sự kế thừa và phát triển những giá trị lịch sử to lớn của dân tộc, trở thành tất yếu, khách quan trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là chìa khóa, nhân tố đặc biệt quan trọng để chúng ta hoàn thành thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, bảo vệ vững chắc Tổ quốc sẽ tạo điều kiện, môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước nhanh, bền vững; ngược lại, đất nước phát triển, kinh tế vững mạnh sẽ là cơ sở, tiền đề để đầu tư hiện đại hóa Quân đội, gia tăng tiềm lực, sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Vì vậy, để phát huy vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Quân đội phải được xây dựng hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ; ngăn chặn, đẩy lùi, hóa giải các nguy cơ xung đột, chiến tranh, giữ vững hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Cùng với đó, chúng ta có thể khẳng định, Việt Nam có đủ điều kiện và khả năng để xây dựng Quân đội hiện đại vào năm 2030. Chủ trương đó hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế đất nước và có tính khả thi cao, do kinh tế - xã hội phát triển, công cuộc đổi mới đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực và còn sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa. Quy mô nền kinh tế nước ta hiện nay đạt hơn 400 tỷ USD, đứng thứ 04 khu vực ASEAN, thứ 11 châu Á5, cho phép chúng ta đầu tư xây dựng, phát triển, hiện đại hóa Quân đội, củng cố quốc phòng. Bên cạnh đó, nền công nghiệp quốc phòng của chúng ta đã làm chủ được một số công nghệ lõi, nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất được nhiều chủng loại vũ khí công nghệ cao,... góp phần tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đó là những bằng chứng khoa học, thuyết phục, đập tan luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khi chúng rêu rao rằng: “Hiện đại hóa quân đội quá tốn kém và Việt Nam không đủ điều kiện để thực hiện, có chăng chỉ hiện đại hóa được một số lực lượng nhỏ”. Thực tiễn, qua hơn 10 năm thực hiện chủ trương “ưu tiên hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng”, chúng ta cũng đạt được những kết quả quan trọng và thu được nhiều kinh nghiệm quý. Đây là cơ sở vững chắc để Quân đội tiếp tục điều chỉnh theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng hiện đại.

Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, quan hệ, hợp tác quân sự, quốc phòng ngày càng mở rộng, phát triển; xu hướng hiện đại hóa quân đội của các nước ngày càng trở nên phổ biến, tạo ra môi trường, thời cơ, điều kiện thuận lợi để chúng ta thực hiện chủ trương hiện đại hóa Quân đội. Nếu không có nhận thức đúng, không nắm bắt được thời cơ và xu thế của thời đại, không có tư duy chiến lược, thực hiện “đi tắt, đón đầu” thì Quân đội sẽ tụt hậu và không đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn khách quan của tình hình thế giới, khu vực. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, nhất là sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại, đã, đang và sẽ làm thay đổi cơ bản tổ chức quân đội, hình thái và phương thức tiến hành chiến tranh. Cùng với môi trường tác chiến trên bộ, trên không, trên biển, trên vũ trụ; không gian mạng đã trở thành môi trường tác chiến thứ năm, với sự ra đời của chiến tranh mạng, tác động sâu sắc đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và mỗi quốc gia. Xu hướng chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh ủy nhiệm, phi tiếp xúc, phi đối xứng,… sẽ là phổ biến; không gian và thời gian tác chiến cũng như ranh giới giữa ta và địch khó phân định. Những vấn đề đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về quốc phòng, về xây dựng và hiện đại hóa Quân đội để thích ứng với điều kiện chiến tranh hiện đại, nhằm đánh bại đối phương, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là một tất yếu, khách quan.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh chưa từng có tiền lệ, vượt khả năng kiểm soát, dự báo của các nước, các tổ chức quốc tế; nguy cơ chạy đua vũ trang, kể cả chiến tranh hạt nhân ngày càng lớn. Các nước lớn đẩy mạnh lôi kéo, tập hợp lực lượng, gia tăng đối đầu, cạnh tranh quyết liệt. Xung đột vũ trang, nhất là xung đột quân sự ở Ukraine; chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố, ly khai,… diễn ra ở nhiều nơi, tác động sâu sắc, toàn diện đến mọi quốc gia. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó, Đông Nam Á với vị trí ngày càng quan trọng, trở thành tâm điểm cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên,… diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Trước tình hình đó, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đột phá, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại, nhằm gia tăng tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đi đôi với đẩy mạnh các giải pháp đấu tranh bảo vệ quan điểm “xây dựng Quân đội hiện đại” của Đảng.

Trước hết, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại”. Sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc nói chung, nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” nói riêng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước. Vì vậy, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ quan trọng này, đòi hỏi các cấp, ngành, lực lượng vũ trang và cả hệ thống chính trị, trực tiếp là Quân đội nhân dân phải quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, Nhà nước về xây dựng, điều chỉnh lực lượng, hiện đại hóa Quân đội, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức xây dựng Quân đội hiện đại với các biện pháp đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của quan điểm, chủ trương này. Chú trọng tăng cường hiệu quả cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nói chung, nhiệm vụ hiện đại hóa Quân đội nói riêng; tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp, nghệ thuật đấu tranh bảo vệ quan điểm; lấy hiệu quả xây dựng và hiệu quả đấu tranh bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” của các lực lượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại làm tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chỉ huy các cấp.

Cùng với đó, Quân đội cần tiếp tục nghiên cứu, tham mưu với Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại”; chú trọng kiện toàn, bồi dưỡng lực lượng, điều chỉnh phương pháp đấu tranh; định hướng, quản lý nội dung đấu tranh và đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động đấu tranh. Có cơ chế, chính sách hợp lý để khuyến khích, động viên các lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm tham gia đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương “Xây dựng Quân đội hiện đại”.

Tăng cường giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm, phát huy vai trò nòng cốt của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ toàn quân đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội hiện đại và đấu tranh bảo vệ quan điểm này. Xây dựng Quân đội hiện đại và đấu tranh bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” là nhiệm vụ quan trọng, nặng nề với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng rất vẻ vang, nên phải tiến hành lâu dài, bền bỉ, không chỉ một sớm, một chiều. Trước hết, cần thống nhất về mặt nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, các cấp, ngành, lực lượng và toàn dân, trong đó lực lượng Quân đội là nòng cốt. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhất là các lực lượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại cần tập trung quán triệt, giáo dục cho bộ đội nắm chắc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, trọng tâm là quan điểm, đường lối, phương hướng, phương châm, nguyên tắc,… tổ chức xây dựng Quân đội hiện đại. Trong đó, tập trung đi sâu quán triệt, giáo dục cho bộ đội thấy rõ vị trí, ý nghĩa, sự cần thiết phải hiện đại hóa Quân đội trong giai đoạn hiện nay; nắm chắc cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học, nhất là kết quả hiện đại hóa một số lực lượng thời gian qua; mục tiêu, yêu cầu, kế hoạch, lộ trình hiện đại hóa Quân đội giai đoạn tới; bản chất của quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” được cụ thể hóa thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác, phát huy trách nhiệm trong xây dựng Quân đội hiện đại theo tinh thần “7 dám”6, nhất là “dám nói”, quyết tâm đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn, khoa học, tính tất yếu khách quan của quan điểm, chủ trương này. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục theo hướng phù hợp với đối tượng, thiết thực, hiệu quả; thường xuyên cập nhật thông tin mới về sự chống phá của địch để có giải pháp đấu tranh trực diện, đáp trả kịp thời. Kết hợp giáo dục theo chương trình cơ bản với tổ chức tọa đàm, hội thảo, diễn đàn thanh niên, giáo dục chuyên đề,… nhằm nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ đối với nhiệm vụ hiện đại hóa Quân đội; tăng cường bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng đấu tranh và phát huy vai trò nòng cốt của Lực lượng 47 tại các cơ quan, đơn vị toàn quân trong đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương hiện đại hóa Quân đội.

Tập trung xây dựng kế hoạch, lộ trình hiện đại hóa khoa học, phù hợp; triển khai chặt chẽ, đồng bộ, vững chắc, đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Đây là giải pháp hết sức quan trọng, nhằm bảo đảm cho quá trình hiện đại hóa Quân đội đúng định hướng của Đảng, phù hợp với xu thế thời đại, khả năng, tiềm lực đất nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, nhất là lực lượng tiến thẳng lên hiện đại cần rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ điều chỉnh lực lượng, vũ khí, trang bị, phương tiện,… hiện đại hóa theo nghị quyết, chương trình, lộ trình đề ra và triển khai kế hoạch thực hiện giai đoạn tiếp theo, bảo đảm đồng bộ, thống nhất theo chủ trương, phương hướng hiện đại hóa từng phần, từng lực lượng, từng giai đoạn của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng.

Trước mắt, cần tập trung đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm những lực lượng đang triển khai lộ trình hiện đại hóa, như: Phòng không - Không quân, Hải quân, Cảnh sát biển, Tác chiến điện tử,… cả những mặt đã đạt được, chưa đạt được, nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, làm cơ sở nghiên cứu, đề xuất hiện đại hóa các lực lượng tiếp theo. Tiếp tục triển khai Kế hoạch số 1228/KH-BQP, ngày 25/4/2022 của Bộ Quốc phòng về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo, bảo đảm đồng bộ với chủ trương, chiến lược trang bị vũ khí hiện đại, nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự, phát triển công nghiệp quốc phòng, v.v. Quá trình thực hiện, tuyệt đối không nóng vội, chủ quan, duy ý chí,... mà phải có kế hoạch, lộ trình khoa học, có công tác chuẩn bị chu đáo, toàn diện, đáp ứng đầy đủ điều kiện cần thiết mới tổ chức thực hiện. Chú trọng công tác thẩm định, nghiệm thu, chuyển giao công nghệ các loại vũ khí, trang bị, phương tiện hiện đại; tuyệt đối không để thất thoát, lãng phí trong quá trình hiện đại hóa Quân đội. Kết hợp các bước cơ bản, vững chắc, đồng bộ với các giải pháp đột phá “đi tắt, đón đầu”, nhằm đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa Quân đội. Kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức, chính sách,… bảo đảm không những không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ mà còn gia tăng sức mạnh của từng cơ quan, đơn vị, tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Cùng với các giải pháp trên, phải tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tăng cường các biện pháp đấu tranh, làm thất bại mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ quan điểm, tiến trình, mục tiêu hiện đại hóa Quân đội. Tập trung nhận diện, đánh giá toàn diện âm mưu, thủ đoạn, chỉ rõ bản chất, mục tiêu, phương thức, biện pháp, công cụ, ý định hoạt động nhằm đạt được mục đích sâu xa, nguy hiểm phía sau của các thế lực thù địch; từ đó, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, tạo khả năng “miễn dịch”, “vô hiệu hóa” thủ đoạn xâm nhập, tấn công, phá hoại của các thế lực thù địch. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, sức mạnh rộng khắp của lực lượng 47 trong đấu tranh phản bác các thông tin xấu độc, bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ trương “Xây dựng Quân đội hiện đại” - xu thế tất yếu, khách quan “không thể đảo ngược”.

Như vậy, “xây” và “chống” là hai mặt của một vấn đề. Xây dựng Quân đội hiện đại xét về bản chất chính là làm cho tiềm lực quân sự đất nước mạnh lên, các thế lực thù địch suy yếu, dè chừng, không dám tấn công, chống phá dẫn đến thất bại; ngược lại, sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa các đòn tấn công, phá hoại của các thế lực thù địch chính là bảo vệ và tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại. Tiếp tục khẳng định: “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” là chủ trương nhất quán, phù hợp với xu thế thời đại; là tất yếu, khách quan “không thể chối cãi”; hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Hai mặt này cần được kết hợp khoa học, bài bản, hài hòa, chặt chẽ, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng về “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, gia tăng sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

ĐỨC PHÚ – VIẾT VƯƠNG

Nhận diện và phê phán các quan điểm sai trái về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Nhằm phủ nhận đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc đường lối đó với nhiều quan điểm sai trái. Vì vậy, nhận diện đúng và tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái về vấn đề này là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tổng kết quá trình thực hiện những đổi mới cục bộ, từng phần theo hướng xóa bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, tạo môi trường và điều kiện mở rộng các quan hệ thị trường1, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà Đại hội IX của Đảng xác định: “đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”2.

Chủ trương đó đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tư duy và quan niệm của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đến Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”3. Đây là kết quả được rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới; đồng thời, là sự kế thừa và phát triển những thành quả lý luận của 07 kỳ đại hội đã qua; phản ánh tư duy nhất quán và sự phát triển nhận thức của Đảng ta về vấn đề này ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn. Những thành tựu của hơn 35 năm đổi mới đất nước đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước vẫn ra sức xuyên tạc đường lối này với nhiều quan điểm sai trái. Có thể nhận diện những quan điểm sai trái đó dưới hai nhóm vấn đề sau đây:

Một là, họ cho rằng không có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “sự gán ghép chủ quan, duy ý chí”, là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, là “đầu Ngô, mình Sở”(!), v.v. Theo họ, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập, loại trừ nhau, như “nước với lửa”(!).

Hai là, họ cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận phát triển kinh tế thị trường là “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”, “gác lại mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ bỏ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội”(!), không khác gì “vỏ đỏ, ruột xanh”(!).

Những quan điểm sai trái nói trên đều xuất phát từ sự đồng nhất sai lầm giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản, khi quan niệm rằng: “kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản; kinh tế thị trường vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa với định hướng xã hội chủ nghĩa”(!). Từ đây, họ đòi Đảng ta phải công khai tuyên bố lựa chọn mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà thực chất là đòi Đảng từ bỏ con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Cần khẳng định ngay rằng, việc các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, coi đây là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, khi mà đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều được thực hiện thông qua thị trường. Kinh tế thị trường chỉ là một kiểu tổ chức kinh tế mà xã hội loài người sáng tạo ra, tồn tại ở nhiều chế độ xã hội khác nhau và được chủ nghĩa tư bản sử dụng làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Chính sự phát triển của sức sản xuất đạt đến một trình độ nhất định sẽ làm xuất hiện những điều kiện khách quan cho kinh tế hàng hóa - điểm khởi đầu của kinh tế thị trường tồn tại. Đó là phân công lao động xã hội và những hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Những điều kiện ấy đã xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản và vẫn tiếp tục tồn tại trong chủ nghĩa xã hội, nên việc duy trì và phát triển kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta là đúng với quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chứ không phải là sự “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”. Bởi, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển tất yếu của quá trình phát triển từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là “bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư, tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản”4, trong đó có thành tựu về phát triển kinh tế thị trường.

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Ảnh: tuyengiao.vn

Trên phương diện thực tiễn, trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô - viết, V.I. Lênin đã sớm nhận thấy sai lầm khi đồng nhất kinh tế hàng hóa với chủ nghĩa tư bản, không sử dụng các quan hệ thị trường để thúc đẩy sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân. Người đã đề ra và tổ chức thực hiện “Chính sách kinh tế mới” (NEP), mà nội dung cơ bản là duy trì và phát triển các quan hệ thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước vô sản. Việc thực hiện chính sách đó đã nhanh chóng đưa nước Nga thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm 20 của thế kỷ XX; đồng thời, khẳng định tính hiện thực của mô hình kinh tế chứa đựng sự dung hợp giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội. Lý luận về phát triển kinh tế hàng hóa thời kỳ thực hiện NEP là một cống hiến xuất sắc của V.I. Lênin trong phát triển chủ nghĩa Mác về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước có nền kinh tế còn kém phát triển. Khai thác những di sản đó, từ những năm cuối thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, Trung Quốc và Việt Nam đã căn cứ vào thực tiễn của nước mình, tiến hành “cải cách”, “đổi mới” theo hướng duy trì và phát triển kinh tế thị trường, đem lại những kết quả tích cực, cho phép hiện thực hóa từng bước các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.

Đối với nước ta, việc tổ chức thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hơn 35 năm qua đã đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kinh tế kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989, thì đến năm 2022 đã đạt 409 tỉ USD, đứng thứ 37 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và trong nhóm 14 nước hàng đầu châu Á. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Văn hóa - xã hội có bước phát triển tích cực; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng. Các vấn đề an sinh xã hội luôn được chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19, trở thành một trong những điểm sáng của Việt Nam được quốc tế ghi nhận. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Nền kinh tế quốc gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc tế với nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường thế giới. Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thành viên của hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới với những cam kết rất cao về tự do hóa thương mại và phát triển bền vững (liên quan đến lao động và bảo vệ môi trường), đã chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam ngày càng thích ứng với các điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế; đồng thời, đưa nước ta trở thành nền kinh tế có độ mở cao - tới 200% GDP. Điều đó được thể hiện bằng các con số ấn tượng, nếu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2005 mới đạt 20,7 tỉ USD/năm, thì riêng năm 2022 đã đạt 732,5 tỉ USD; cán cân thương mại hàng hóa đã chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu 07 năm liên tục kể từ năm 2016, riêng năm 2022 xuất siêu đạt 11,2 tỉ USD. Giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam (do Công ty tư vấn định giá thương hiệu hàng đầu thế giới - Brand Finance công bố) liên tục tăng trưởng với tốc độ nhanh. Nếu năm 2019, giá trị đó là 274 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt 431 tỉ USD, được xem là quốc gia có tốc độ tăng trưởng giá trị nhanh nhất thế giới (tăng 74%) trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2022.

Thực tiễn đó đã chứng minh rõ những lợi ích mà sự phát triển kinh tế thị trường đem lại phù hợp với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Nó không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà ngược lại, còn thúc đẩy việc thực hiện những nhiệm vụ đó hiệu quả hơn. Tuy nhiên, chúng ta không chọn phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà chọn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ”5. Nói cách khác, đó là nền kinh tế thị trường của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế đó có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; nhưng kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “nền kinh tế thị trường hiện đại”, được điều tiết, vận hành bằng “bàn tay” của cơ chế thị trường kết hợp với “bàn tay” của nhà nước, nhưng đây là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chế độ phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế; đồng thời, theo mức góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội được quan tâm giải quyết ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển; chính sách kinh tế luôn thống nhất và gắn chặt với chính sách xã hội. Theo đó, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, người có hoàn cảnh khó khăn. Đó là những điểm khác biệt rất căn bản của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Qua 37 năm đổi mới, bằng nỗ lực của toàn Đảng và toàn dân ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng nói trên đã từng bước hình thành và phát triển. “Thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước được xác lập”6; “Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển, gắn với thị trường khu vực và thế giới”7. Hầu hết các loại giá cả hàng hóa được xác lập theo nguyên tắc thị trường. Vai trò của nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc huy động và phân bổ các nguồn lực gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng bước phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt. Những tiến bộ nói trên là cơ sở để đến nay đã có 90 quốc gia công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ8.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta. Việc thực hiện thành công đường lối đó sẽ góp phần bổ sung, phát triển lý luận Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước có nền kinh tế còn kém phát triển; đồng thời, là minh chứng sinh động bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch.

NGUYỄN NGỌC HỒI 

Cán bộ sợ trách nhiệm - “căn bệnh” cần chữa trị ngay

 I. Sự nguy hại từ “căn bệnh” sợ trách nhiệm của cán bộ

II. “Phương thuốc” trị “căn bệnh” cán bộ sợ trách nhiệm

Cán bộ và công tác cán bộ luôn là nhân tố đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, bởi “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém,… vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”1. Vì thế, sự nguy hại từ “căn bệnh” sợ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay cần phải “chữa trị” dứt điểm, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Để “chữa trị” hiệu quả “căn bệnh” này, đòi hỏi phải có cơ chế, chính sách phù hợp, nhằm khuyến khích, động viên cán bộ, đảng viên phát huy năng động, sáng tạo; khắc phục tư tưởng chưa làm đã sợ sai, sợ trách nhiệm, phạm vi phần này đề xuất một số giải pháp khắc phục trên hai góc độ tổ chức và cá nhân, như sau:                                    

Đối với tổ chức

Trước hết, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực chất của công tác cán bộ. Với vị trí là “then chốt” của “then chốt”, công tác cán bộ phải được thực hiện hết sức nghiêm túc, công phu; kiên quyết loại bỏ những tiêu cực, như: chạy chức, chạy quyền, bổ nhiệm người nhà, người thân, “cánh hẩu” vào vị trí lãnh đạo, quản lý khi chưa đủ uy tín, tiêu chí, tiêu chuẩn, v.v. Đảng ta xác định rõ: “thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”2. Có thể khẳng định: công tác cán bộ có “sạch”, tổ chức mới mạnh; tổ chức có mạnh, quốc gia mới hưng thịnh.

Để công tác cán bộ được thực hiện có hiệu quả, cấp ủy các cấp cần tăng cường lãnh đạo trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Từng khâu, bước của công tác cán bộ phải được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc, dân chủ, công khai, chính xác, mà trước hết là khâu đánh giá cán bộ. Đánh giá cán bộ phải thực sự khách quan, phản ánh đúng phẩm chất, năng lực, sở trường, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ; không vì nể nang, tình cảm riêng tư mà thổi phồng chất lượng hoặc giấu giếm hạn chế, khuyết điểm của cán bộ. Quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, khen thưởng cán bộ phải trên cơ sở kết quả đánh giá cán bộ; không vì bất kỳ sự chi phối, áp lực nào mà cất nhắc sai cán bộ. Việc bổ nhiệm những cán bộ thiếu bản lĩnh, thiếu tu dưỡng phẩm chất đạo đức, thiếu năng lực, có biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bất kỳ yếu tố nào trong đó tất yếu sẽ dẫn đến hệ luỵ cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm. Đồng thời, các cấp ủy đảng cần làm tốt công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có đầy đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng với yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao.

Hai là, tổ chức cần có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Ngay từ tháng 10/1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: muốn cán bộ làm được việc, phải “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến3, và “Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc”4 . Và, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”5. Đó là những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp rất quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Thực hiện chủ trương, giải pháp này, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt và thực hiện nghiêm Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Định kỳ, cấp ủy các cấp cần có đánh giá thực chất kết quả thực hiện; kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ có tư duy đổi mới, cách làm đột phá, sáng tạo, hiệu quả cao và lấy đó là một tiêu chí quan trọng để đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Đồng thời, nghiêm túc kiểm điểm, phê bình, thậm chí miễn nhiệm đối với những cán bộ “an phận thủ thường”, không dám nói, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm, không hành động vì lợi ích chung, mà chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân.

Ba là, xây dựng quy chế làm việc chặt chẽ; tăng cường kiểm tra, giám sát, đề cao tự phê bình và phê bình việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, nhất là những cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Đây là giải pháp thiết thực để bộ máy của tổ chức hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế, yếu kém của đội ngũ cán bộ. Xây dựng quy chế làm việc cần phân rõ thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác, để mỗi thành viên trong tổ chức, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt chiểu theo đó mà thi hành. Kiểm tra, giám sát để thấy cán bộ đã thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ hay chưa, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh trách nhiệm hay không. Công điện số 280/CĐ-TTg, ngày 19/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ: “Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động công vụ, nhất là kiểm tra đột xuất. Kịp thời rà soát, thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác đối với cán bộ, công chức năng lực yếu, không dám làm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, để trì trệ và không đáp ứng yêu cầu công việc được cấp có thẩm quyền giao”6. Đây là cách làm rất thiết thực để ngăn ngừa, khắc phục tình trạng sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ hiện nay.

Cùng với đó, các tổ chức, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng cần đề cao tự phê bình và phê bình việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ. Trong sinh hoạt thường kỳ phải làm rõ những biểu hiện sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, có hay không, ở mức độ nào, nguyên nhân do đâu, cách khắc phục ra sao và phải có thái độ kiên quyết phê bình, sửa chữa. Đặc biệt, cần nghiên cứu đưa tiêu chí tinh thần trách nhiệm của cán bộ với những định lượng cụ thể vào trong bình xét, đánh giá chất lượng cán bộ; nhất định không để những cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm được đánh giá ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

Đối với cá nhân cán bộ

Trước hết, phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh và đạo đức cách mạng. Đây là cái gốc của người cán bộ, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước”7. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng”8.

Bản lĩnh của người cán bộ được thể hiện ở ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, kiên cường, dũng cảm, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung. Người cán bộ có bản lĩnh sẽ bình tĩnh, tự tin, sáng suốt giải quyết những vấn đề đặt ra. Vì vậy, bản lĩnh là phẩm chất thiết yếu của mỗi cán bộ, trong đó bản lĩnh chính trị (lòng trung thành, tận tuỵ với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân) được đặt lên hàng đầu.

Cùng với bản lĩnh, đạo đức cách mạng là nền móng, là “điều kiện cần” của người cán bộ. Người cán bộ có đạo đức cách mạng sẽ luôn định hướng mình hành động vì lợi ích chung, không thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc đặt ra, không tư lợi, hủ hóa. Người cán bộ có đạo đức cách mạng sẽ luôn có liêm sỉ trong suy nghĩ và hành động; họ tự biết xấu hổ khi công việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của mình chưa hoàn thành, công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình lại đem giao cho người khác, tổ chức khác thực hiện; họ biết hổ thẹn khi không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Do đó, người cán bộ có đạo đức cách mạng sẽ đề cao trách nhiệm trước tổ chức, trước cấp trên, cấp dưới và nhân dân.

Rèn luyện bản lĩnh và đạo đức cách mạng cho cán bộ là việc làm thường xuyên, liên tục của cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, trong đó phải lấy tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ làm cốt. Đảng ta đặt lên hàng đầu việc nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Cán bộ có chức vụ, quyền hạn càng cao càng phải tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh và đạo đức cách mạng, phải thường xuyên “tự soi, tự sửa” tự soi rọi với các chuẩn mực đạo đức cách mạng để gột rửa những sai lầm, khuyết điểm, giống như việc rửa mặt hằng ngày. Có như vậy, mỗi cán bộ mới có “sức đề kháng cao”, để “bệnh sợ trách nhiệm” không có cơ hội phát sinh, lây nhiễm.

Hai là, không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Trình độ, năng lực, kinh nghiệm là những yếu tố đặc biệt quan trọng, là “điều kiện đủ”, giúp người cán bộ thực thi chức trách, nhiệm vụ, giải quyết công việc một cách khoa học, đúng đắn, hiệu quả. Người cán bộ có trình độ, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn thường năng nổ, nhiệt tình, hăng hái trong thực hiện nhiệm vụ được giao sẽ tạo ra niềm tin và chỗ dựa vững chắc cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền, làm cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền không hoài nghi, dao động trước những quyết định của mình; từ đó làm cho tổ chức, cơ quan, đơn vị luôn có bầu không khí sôi nổi, tự tin trong mọi hoạt động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nơi nào cán bộ xoàng, thì vùng đó, như đang ngủ say”9. Để không tự biến mình thành cán bộ “xoàng”, cùng với tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh và đạo đức cách mạng, đòi hỏi mỗi cán bộ phải không ngừng học tập nâng cao trình độ mọi mặt, trước hết là trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ; nâng cao năng lực trong chỉ đạo, tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ; tích cực học hỏi và tự mình đúc rút kinh nghiệm thực tiễn để vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong công tác. Khi những yếu tố này được tích lũy đầy đủ, người cán bộ sẽ luôn phát huy tốt tinh thần “bảy dám: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lới ích chung”, sẵn sàng nhận những việc khó, việc mới và tìm tòi, sáng tạo để thực hiện tốt những công việc đó; theo đó, họ sẽ không sợ trách nhiệm, né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm.

Ba là, tích cực học tập và làm theo tư tưởng “Dĩ công vi thượng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ phải đặt công việc của tập thể, lợi ích của tập thể lên trên hết, trước hết, tất cả vì lợi ích của đất nước, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, không mảy may tư lợi cá nhân.

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ công vi thượng” trong bối cảnh tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường là một việc khó khăn, phức tạp, nếu như mỗi cán bộ không có ý chí quyết tâm cao, vượt qua sự cám dỗ vật chất, tiền tài và danh vọng. Do đó, mỗi cán bộ phải thấm nhuần tinh thần và nêu cao ý chí trong thực hiện “Dĩ công vi thượng”, mà trước hết là trau dồi chủ nghĩa tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa tập thể đòi hỏi mỗi cá nhân phải kết hợp một cách hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân trong hoạt động của mình theo phương châm “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, nhằm xây dựng tổ chức, cộng đồng vững mạnh, góp phần tích cực của mỗi người vào sự nghiệp chung. Chủ nghĩa cá nhân là chỉ chăm lo vun vén lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Mắc vào chủ nghĩa cá nhân, người cán bộ sẽ sinh ra nhiều “căn bệnh”, thói hư, tật xấu trong tư cách của mình.

Khi chủ nghĩa tập thể được trau dồi, chủ nghĩa cá nhân được quét sạch, thì cán bộ sẽ mạnh dạn làm, mạnh dạn đổi mới sáng tạo mà không sợ trách nhiệm, dù việc làm của họ, việc đổi mới sáng tạo của họ bước đầu có thể chưa đạt mục tiêu đề ra, thậm chí gây thiệt hại cho tập thể. Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) quy định: “Khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm”10. Thấm nhuần và thực hiện tốt tư tưởng “Dĩ công vi thượng”, cùng với những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, sẽ là “lá chắn” ngăn chặn “bệnh sợ trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ sinh sôi, nảy nở.

Trước thực trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, ở mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân vì đâu mà có, mức độ thế nào, hậu quả ra sao, để từ đó đề ra giải pháp khắc phục triệt để. Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp thiết thực, vừa có tính giáo dục, thuyết phục, vừa có tính kỷ luật, kỷ cương nghiêm khắc để nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ. Đó là những chủ trương, giải pháp nền tảng đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ phải quán triệt, vận dụng triển khai thực hiện ở cấp mình với tinh thần quyết tâm cao nhất, thái độ quyết liệt nhất, kiên quyết không để yếu kém kéo dài. Bằng không, những chủ trương đó chỉ dừng lại trên giấy tờ, hội nghị, để rồi thực trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm vẫn tiếp tục có đất sống và tồn tại; nguy hại hơn đó là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng kích động, chống phá đối với đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ và nền tảng tư tưởng của Đảng. Bởi, xây dựng nội bộ tốt, đội ngũ mạnh luôn là ưu tiên hàng đầu để ngăn ngừa và làm thất bại mọi sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

ĐÌNH PHIẾM – NAM CƯỜNG

QUAN HỆ MỸ - TRUNG, THỜI THẾ NAY ĐÃ KHÁC XƯA!

 Hình thứ nhất, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger thăm Bắc Kinh năm 1971, lúc này Trung Quốc và Hoa Kỳ có quan hệ nồng ấm. Trung Quốc cần Mỹ vì họ muốn đổi mới và họ cần người Mỹ để phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ...Mỹ cần Trung Quốc trong những nỗ lực cuối cùng hòng cứu vãn ngụy Sài Gòn, cứu chính binh lính Mỹ đang sa lầy, không lối thoát ở Việt Nam. Sau cuộc gặp này và chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Nickson năm 1972, miền Bắc nước ta bị ném bom và chính Kissinger tuyên bố "giờ đây chúng ta chỉ cần nhìn sang Mát Cơ Va để nghiền nát Hà Nội". Đổi lại , Mỹ làm ngơ để Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trong tay ngụy Sài Gòn năm 1974. Tóm lại cả hai đều vì lợi ích quốc gia họ nhưng lúc này người Trung Quốc ở thế cửa dưới. Khi đó Henry Kissinger 48 tuổi.

Hình thứ hai, vẫn là Henry Kissinger nhưng là Henry của 2023, một cụ già 100 tuổi người Mỹ, không chức tước. Ông ấy đến Trung Quốc để hàn gắn mối quan hệ cơm không lành, canh không ngọt Mỹ - Trung. Trung Quốc từ chối các nhà ngoại giao, quan chức Hoa Kỳ và cực chẳng đã cụ già 100 tuổi Henry Kissinger phải lặn lội ngàn dặm để đến Bắc Kinh, vì quốc gia đại sự. Thế kèo trên của Mỹ trước Trung Quốc đã không còn. Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ như dự đoán của Napoleon đại đế của nước Pháp năm xưa "Trung Quốc là một người khổng lồ đang ngủ. Hãy để nó nằm ngủ, bởi khi nó thức dậy nó sẽ làm cả thế giới ngạc nhiên''. Giờ đây, người khổng lồ đó đã thức dậy!
Nếu là lãnh đạo Việt Nam sang giao hảo, cầu cạnh Trung Quốc như cách Mỹ đang làm thì chắc chắn sẽ bị cho là "sang chầu Trung Quốc", "sang xin ý kiến của Thiên triều". Trung Quốc như con Rồng lớn, ẩn mình chờ thời khá lâu và bây giờ trỗi dậy. Chỉ lợi ích quốc gia là vĩnh cửu, Việt Nam giao hảo với cả Mỹ và Trung Quốc, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Hợp tác là để phát triển theo xu hướng của thời đại, đấu tranh là để giữ vững độc lập, tự do, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Bài Trung Quốc hay bài Hoa Kỳ đều là thất sách, là sai lầm chiến lược. Nga và Ukraine là anh em, láng giềng nhưng trở mặt thành thù. Hậu quả thì ai cũng rõ. Người Mỹ không muốn Trung Quốc vượt họ nhưng khó để kiềm chế và hai con hổ to nhất thế giới buộc phải bắt tay nhau thay vì đối đầu. Mỹ - Trung vừa ghét nhau nhưng cũng nể nhau, sợ nhau. Thời thế nay đã khác./.


NGÀY TRI ÂN 27/7 - SAO PHẢI SỢ "PHÍA BÊN KIA CHẠNH LÒNG"?

 Năm 2019, Bộ Lao động - TBXH đã tham mưu cho Chính phủ đề xuất Quốc hội cho chọn ngày 27-7 làm ngày nghỉ lễ nhằm tưởng nhớ, tri ân các anh hùng liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc, các thương bệnh binh, người có công với đất nước. Rất tiếc là đề xuất này đã không thành hiện thực, vì ý kiến phản đối của thiểu số Đại biểu Quốc hội. Một số vị Đại biểu Quốc hội cho rằng: "với ý nghĩa như mệnh đề đặt ra của Bộ LĐ-TBXH, bởi lịch sử nước ta có giai đoạn nhạy cảm, tuy đất nước thống nhất đã hơn 40 năm nhưng trong xã hội vẫn còn nhiều gia đình "ở phía bên này, bên kia".

"Chọn đó là ngày tri ân thì những người từng là cha mẹ, vợ con của người tử trận trong chiến tranh, nhưng họ ở phía bên kia, thì không được tri ân? Như vậy, ý nghĩa của tri ân không bao trùm xã hội được", ông Trí nói. Xin có lời như sau:
Một số vị cho rằng: "Chọn đó là ngày tri ân thì những người từng là cha mẹ, vợ con của người tử trận trong chiến tranh, nhưng họ ở phía bên kia, thì không được tri ân? Như vậy, ý nghĩa của tri ân không bao trùm xã hội được". Có phải các vị đang nhắc đến cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ cứu nước của dân tộc ta? Thật nực cười và xót lòng, đau ruột khi nghe một vị Đại biểu Quốc hội phát biểu với “tầm nhìn chiến lược” kiểu “loạn ngôn, xảo ngữ” như thế.
Thưa với các vị rằng: Từ cổ chí kim dân tộc ta, nhân dân ta luôn rạch ròi về khái niệm người yêu nước, anh hùng dân tộc với bè lũ phản quốc, làm tay sai cho ngoại bang để giày xéo dân ta. Trải qua hơn 4000 năm lịch sử dựng và giữ nước, Quốc sử vẫn còn ghi; nhân dân ta khi nhắc đến Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Lê Lợi, Quang Trung, Hồ Chí Minh …Tên tuổi của họ và những anh hùng gắn với thờ đại của họ tuy khác nhau về thời điểm lịch sử nhưng điểm chung là họ đều là những tượng đài, anh hùng dân tộc; dù có trãi qua hàng ngàn đời đi nữa thì chân lý đó sẽ chẳng thay đổi; nhân dân ta mãi mãi biết ơn, lấy đó làm tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước để ngàn đời cháu con tôn thờ, noi theo.
Ngược lại, khi nhắc đến Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Hoàng Văn Hoan… và bè lũ tay sai, bán nước hoặc vì lợi ích cá nhân mà can tâm, tình nguyện làm ưng khuyển, làm tôi tớ cho giặc để chống lại đất nước. Là người Việt Nam nhưng lại chém vào tổ quốc những nhát chém ngang lưng, chí tử. Những người mà các vị cho là "gia đình họ sẽ chạnh lòng" là những kẻ như thế, muôn đời cháu con khi nhắc đến tên họ thì không ngừng phỉ nhổ, nguyền rủa; là gương xấu muôn đời để cho con dân nước Việt nhìn vào đó mà tự răn mình. Và cũng chẳng ai “tri ân” lũ loạn loạn thần, tặc tử này, điều này là lẽ đương nhiên; các vị không phải lao tâm, khổ tứ, vắt óc để bàn!
Mỹ xâm lược nước ta, dựng nên đám bù nhìn tay sai ngụy Sài Gòn; chúng là lũ phản quốc khi thờ ngoại bang để giết hại, để chống lại Tổ quốc; chúng theo ngoại bang đi giết người dân của mình và bị người giết; những kẻ đó chẳng việc gì phải khiến cho một số vị Đại biểu Quốc hội của nước CHXHCNVN phải động lòng trắc ẩn cả, chẳng có gì để các vị thấy chạnh lòng! Việc gì các vị phải sợ “ý nghĩa không tri ân được trong toàn xã hội”? Hòa hợp dân tộc không phải là đánh đồng, cào bằng giữa người yêu nước và lũ phản tặc, ai tri ân lũ bán nước trong lịch sử dân tộc này? Không bao giờ! Đối với ngụy Sài Gòn muôn đời là giặc của nước Việt chúng ta, không thể rửa mặt cho giặc! Anh hùng và tội đồ dân tộc phải phân biệt rạch ròi, phải tuyên truyền cho thế hệ sau rõ mà ngày nghỉ lễ 27/7 là cách tuyên truyền tốt nhất, thiết thực nhất.
Hãy nhìn ra thế giới, Canada, Pháp chọn ngày 11/11 hằng năm để tưởng niệm tất cả những người hy sinh vì Tổ quốc, với phương châm tưởng nhớ, đoàn kết và khoan dung. Nước Mỹ chọn ngày thứ hai cuối cùng của tháng 5 là ngày tưởng niệm liệt sỹ. Nước Nga chọn ngày 9/5 là ngày lễ mừng Chiến thắng phát xít Đức, trong lễ mừng có tưởng nhớ đến những người đã hy sinh. Hàn Quốc, từ năm 1956 chọn ngày 6/6 là ngày tưởng niệm những người lính Hàn Quốc đã hy sinh. Indonesia chọn ngày 10/11 là Ngày anh hùng…không lý lịch sử dân tộc ta không đủ huy hoàng bằng đất nước bạn? Không lẽ những quốc gia đó sợ "chạnh lòng phía bên kia"?
Mong một số Đại biểu Quốc hội của nước CHXHCNVN suy nghĩ lại. Ủng hộ đề xuất của Bộ Lao động - TBXH và đa số Đại biểu Quốc hội./.
--------

CHƯA THỂ GỌI LÀ VĂN MINH, THANH LỊCH! --------

 Ngày 31/7, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Sỹ Thanh đã có thư cảm ơn gửi tới Ban nhạc BlackPink, khán giả hâm mộ ban nhạc và các lực lượng chức năng thành phố Hà Nội. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cảm ơn các khán giả tham gia hai đêm diễn một cách sôi động, văn minh, thanh lịch góp phần quan trọng vào sự thành công của các đêm diễn...

Việt Nam là đất nước có 100 triệu dân, với nhiều lứa tuổi, thế hệ khác nhau. Vậy nên sở thích vì thế cũng hoàn toàn khác biệt. Các cháu thích và mến bộ ban nhạc BlackPink hay bất cứ hình thức giải trí nào, đó là quyền của các cháu. Miễn không vi phạm pháp luật, đạo đức, luân lý và không ảnh hưởng đến văn hóa, thuần phong, mỹ tục. Nếu Ronaldo hay Messi, những huyền thoại sống của bóng đá thế giới đến Việt Nam thì chắc chắn cũng sẽ có hàng vạn người hâm mộ muốn gặp gỡ thần tượng bằng xương, bằng thịt của mình...tóm lại, sở thích, thần tượng là quyền mỗi người trong thời đại nền văn hoá giao thoa mạnh mẽ toàn cầu.
Cái mà dư luận quan tâm, phản ứng chính là việc Ban Tổ chức BlackPink có quảng bá đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc. Dù họ đã lên tiếng xin lỗi nhưng rõ ràng đây là sự cố hết sức đáng tiếc. Với người Việt Nam thì Hoàng Sa và Trường Sa là máu thịt của Việt Nam, đó là bất biến. Chủ quyền Quốc gia là tối thượng, cao hơn tất cả và không một thứ gì có thể đánh đổi, so sánh được. Hy vọng các tổ chức, cá nhân đến Việt Nam hay phim ảnh, ấn phẩm...khi du nhập vào nước ta cần phải được kiểm duyệt chặt chẽ, rút kinh nghiệm từ vụ việc này. Các cơ quan năng cần nâng cao tinh thần trách nhiệm không để các sự cố tương tự xảy ra.
Các bạn trẻ yêu mến thần tượng nhưng không nên thái quá, kiểu gào khóc chan chứa nước mắt đó hãy để dành cho cha mẹ, người thân khi họ trăm tuổi bạc đầu hay trước anh hùng dân tộc đã hy sinh vì Tổ quốc, để chúng ta có ngày hôm nay. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho rằng "các khán giả tham gia hai đêm diễn một cách sôi động, văn minh, thanh lịch góp phần quan trọng vào sự thành công của các đêm diễn...". Tuy nhiên, nhìn cảnh rác rưởi ngập sân vận động, một số thanh niên ăn mặt hở hang theo BlackPink...như vậy, không thể khẳng định đó là văn minh, thanh lịch. Những hình ảnh đó là xấu hình ảnh của người Việt Nam nói chung và Thủ đô ngàn năm văn hiến nói riêng./.

ĐÔI LỜI VỀ SÁCH GIÁO KHOA HIỆN NAY!

 Giải trình trước Đoàn Giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội mới đây, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn cho biết "mức chiết khấu phát hành sách giáo khoa theo chương trình phổ thông mới từ năm 2020 đến nay là 23% cho sách giáo khoa lớp 1, 2, 6; 22,5% cho sách giáo khoa lớp 3, 7, 10. Còn sách giáo khoa lớp 4, 8 và 11 có mức chiết khấu 21%. Xin có đôi lời như sau:

Khoảng năm 700 trước Công nguyên, Quản Di Ngô, vị quân sư lỗi lạc của nước Tề, người đã giúp Tề Hoàn Công đứng đầu Ngũ bá đã có tư tưởng về giáo dục cực kỳ tiến bộ, đúng với mọi thời đại. Quản Trọng cho rằng: nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc; thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân. Nghĩa là, kế sách trong một năm là trồng lúa, mười năm là trồng cây và trọn đời là trồng người. Sinh thời Bác Hồ rất quan tâm đến giáo dục, mong muốn đào tạo ra những thế hệ "vừa hồng, vừa chuyên". Bác dạy: "vì lợi ích mười năm, trồng cây. Vì lợi ích trăm năm, trồng người".
Câu chuyện loạn sách giáo khoa như hiện nay là vấn đề cả xã hội hết sức quan tâm. Đất nước thống nhất hơn 48 năm nhưng sách giáo khoa vẫn mạnh ai người ấy làm, đủ loại nhà xuất bản, đủ loại sách khiến cho người ta liên tưởng đến nồi canh rau tập tàng. Bộ trưởng giải trình rằng: "“Nhiều sách giáo khoa góp phần làm phong phú nguồn học liệu để giáo viên và học sinh được tiếp cận” nhưng liệu có thuyết phục? Nếu nói như vậy thì tại sao không thống nhất một bộ sách giáo khoa và cho phép xuất bản các bộ sách tham khảo khác nhau. Điều này cho phép phụ huynh, nhà trường chủ động sách giáo khoa và sách tham khảo thì tùy điều kiện chứ không bắt buộc...Như hiện này, thầy cô giáo cũng khó khăn trong việc nghiên cứu để giảng cho học sinh, phụ huynh khó khăn khi chuẩn bị sách cho con vì không biết trường sẽ dùng loại sách gì. Người nghèo, yếu thế trong xã hội khó khăn vì giá sách cao mà nguyên nhân chính là mức chiết khấu cao.
Mức chiết khấu đối với sách giáo khoa, sách tham khảo hiện nay quá cao, là nguyên nhân đẩy giá lên cao? Đề nghị làm rõ vấn đề này để rộng đường dư luận! Phải kiểm soát giá trần để sách giáo khoa không bị đẩy giá cao, ảnh hưởng đến phụ huynh. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) đã tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Thế nhưng nhân dân luôn phải lo lắng khôn nguôi khi mà chương trình cải cách chưa mang lại hiệu quả cao. Sách giáo khoa thay đi, đổi lại kiểu đẽo cày giữa đường, gây lãng phí ngân sách nhà nước và khó khăn cho phụ huynh.
Sách tăng giá, gây áp lực cho phụ huynh, đặc biệt là những hộ gia đình chẳng khá giả gì. Giáo dục XHCN phải mang tính nhân bản như nội hàm vốn có của nó. Nhiều nước trên thế giới đã xoá bỏ học phí và hỗ trợ cho phụ huynh, học sinh rất nhiều nhằm ươm mầm những thế hệ tương lai. Triều Tiên, Cu Ba hay nhiều nước phát triển trên thế giới đều thực hiện theo hướng đó. Chúng ta chẳng những không miễn giảm mà còn tăng thêm Gánh nặng ngàn cân đối với những phụ huynh khó khăn liên quan đến sách giáo khoa. Bản chất ưu việt của Chủ nghĩa xã hội nhất định không phải như vậy../
----------

CÁC NƯỚC TÂY PHI LÀM CUỘC CÁCH MẠNG ĐÁNH ĐUỔI THỰC DÂN PHÁP - VÙNG LÊN HỠI CÁC NÔ LỆ Ở THẾ GIAN!

 Ở Việt Nam lâu nay vẫn nghe Trương Huy San và rất nhiều người ra rả luận điệu “Việt Nam đánh đuổi Pháp là đánh đuổi nền văn minh nhân loại”. Họ quên rằng, chính cha ông họ là nạn nhân của người Pháp khi chúng xâm lược và cai trị nước ta từ năm 1858 cho đến khi bị đánh đuổi năm 1954. Nước Pháp có lịch sử xâm lược và đô hộ suốt hàng trăm năm lịch sử và họ làm giàu trên máu xương của đồng loại, bóc lột, vơ vết tài nguyên của các dân tộc bị áp bức. Việt Nam ta đã tổn thất biển máu, non xương để chiến đấu và chiến thắng người Pháp, xây dựng đất nước hòa bình, độc lập và phát triển như hôm nay. Vậy mà đám hậu bối được thừa hưởng thành quả cách mạng của cha ông lại phán xét cha ông rằng “đánh đuổi Pháp là đánh đuổi nền văn minh nhân loại”. Đúng là gia môn bất hạnh! Thứ nghiệt súc vô ơn!

Trong thế kỷ XXI, nhiều quốc gia ở châu Phi vẫn đang rên xiết dưới chế độ thực dân kiểu mới. Hãy nghe những gì mà các vị lãnh đạo của Pháp nói: Năm 1987, Tổng thống Pháp François Mitterrand từng tuyên bố: “Nếu không có châu Phi, Pháp sẽ không có lịch sử trong thế kỷ XXI”. Năm 2008, Tổng thống Pháp Jacques Chirac cũng công nhận: “Nếu không có châu Phi, nước Pháp sẽ trượt xuống thứ hạng của thế giới thứ ba.”. Có thể nói, nước Pháp giàu có và sự hoa lệ của Paris được xây bằng máu, nước mắt của các dân tộc thuộc địa.
Có 14 nước châu Phi vẫn phải có nghĩa vụ với Pháp, ràng buộc bởi một Hiệp ước thuộc địa, quy định phải nộp 85% ngân sách dự trữ của họ vào ngân hàng trung ương Pháp, dưới sự kiểm soát của Bộ trưởng Tài chính Pháp. Cho đến nay, Togo và 13 nước châu Phi khác vẫn phải trả nợ thực dân cho Pháp. Các nhà lãnh đạo châu Phi từ chối điều đó sẽ bị giết hoặc trở thành nạn nhân của một cuộc đảo chính. Những người tuân theo sẽ được Pháp hỗ trợ và khen thưởng, bằng cuộc sống xa hoa trong khi người dân của họ phải chịu đựng đói nghèo cùng cực trong nỗi tuyệt vọng. Đó là một hệ thống tàn ác, đến mức thậm chí Liên minh châu Âu cũng phải lên tiếng tố cáo, nhưng Pháp không có động thái nào, không bao giờ chịu nhượng bộ để thay đổi chế độ thuộc địa trá hình đó, khi mà nó đem lại lợi ích to lớn từ châu Phi về cho nước Pháp.
Theo đánh giá của Liên Hợp quốc, hơn 40 triệu đàn ông, phụ nữ và trẻ em đang là nô lệ thời hiện đại ở Tây Phi, trong đó Eritrea, Burundi, Cộng hòa Trung Phi, Nigeria và Cộng hòa Dân chủ Congo có số lượng cao nhất, chiếm hơn 1/4 tổng số nạn nhân trong khu vực. Phần lớn bị ép buộc lao động trong các mỏ khoáng sản hoặc phá rừng lấy gỗ, số khác bị cưỡng bức hôn nhân hoặc bóc lột tình dục...
Niger đã trở thành quốc gia mới nhất ở Tây Phi với quân đội lên nắm quyền kiểm soát, sau Burkina Faso, Guinea, Mali và Chad - tất cả đều thuộc cộng đồng Pháp ngữ (Francophonie) châu Phi. Đây là quốc gia khai thác uranium lớn thứ 7 thế giới, nhưng 1/4 lượng uranium mà họ sản xuất được được đưa tới châu Âu, đặc biệt là Pháp, để phục vụ các nhà máy điện hạt nhân tại đây. Dù vậy, quốc gia này vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới và phải nhận hàng trăm triệu USD cứu trợ mỗi năm. Khoảng 40% trong số 24,4 triệu dân Nige sống trong cảnh nghèo đói cùng cực với mức thu nhập dưới 2,15 USD mỗi ngày…
Và bây giờ các nước Tây Phi đã nhất tề đứng lên chống Pháp, yêu cầu người Pháp rời khỏi đất nước và mang về Pháp “nền văn minh nhân loại”, thứ mà họ đã cho Tây Phi suốt hai thế kỷ qua. “Chúng tôi muốn Nga giúp chúng tôi về an ninh và lương thực. Lực lượng Wagner có thể đảm bảo an ninh hiệu quả hơn Pháp, trong khi Moskva có thể cung cấp công nghệ để cải thiện nền nông nghiệp của chúng tôi” - Lời của những người tham gia cách mạng. Pháp, Mỹ và NATO đang sa lầy, tiến thoái lưỡng nan trong việc ủng hộ Zelensky trong cuộc chiến ở Ukraine và đây là cơ hội ngàn năm để các nước bị Pháp cai trị đứng lên, lật đổ bọn xâm lược, đô hộ và bè lũ tay sai.
Dân tộc ta bị Pháp xâm lược và đô hộ gần 100 năm, nhờ sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ vĩ đại đã dẫn dắt cả dân tộc kháng chiến và đánh bại người Pháp, xây dựng cơ đồ to đẹp như hôm nay. Chúng ta đã làm được và cầu mong người Tây Phi cũng sẽ thành công. Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian, vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn. Sục sôi nhiệt huyết trong tâm đầy chứa rồi. Quyết phen này sống chết mà thôi. Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành. Toàn nô lệ vùng đứng lên đi. Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa, bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình. Đã đến lúc người Pháp phải trả lại độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết dân tộc cho các nước bị áp bức../.
P/s: Hình ảnh thứ nhất là cuộc đảo chính lật đổ chính quyền bù nhìn thân Pháp ở Niger. Hình 2 thứ hai và 3 là sự tương phản giữa Paris hoa lệ và đất nước Niger.

THANH TRA TOÀN DIỆN LIÊN QUAN ĐẾN SÁCH GIÁO KHOA - CÚ ĐẤM NGÀN CÂN ĐẤM GỤC LOẠN SÁCH GIÁO KHOA!

 Trong lịch sử giáo dục nước ta, Chu Văn An được người đời sau xem là "vạn thế sư biểu", nghĩa là "người thầy của muôn đời". Trần Nguyên Đán đánh giá đạo học của ông cao như Bắc Đẩu, Thái Sơn, có khả năng “xoay làn sóng biển học làm cho phong tục trở lại thuần hậu,… chính sự và giáo hoá được đổi mới”.

Hiện nay, nghiên cứu về tư tưởng, nội dung và phương pháp giáo dục của Chu Văn An là rất khó khăn, bởi những tác phẩm của ông không còn được lưu giữ một cách đầy đủ. Cuộc Bắc thuộc lần thứ tư 1407 - 1428, giặc Minh đã cho đốt hoặc mang sử sách, thư tịch về Yên Kinh. Tuy nhiên, trong tâm thức dân tộc, ông luôn được thừa nhận là một nhà giáo dục hành động chứ không phải là một nhà giáo dục thuần lí và triết lí giáo dục của ông là triết lí hành động, triết lí thực tiễn. Triết lý tư tưởng “hữu giáo vô loại”, giáo dục không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, con quan hay thứ dân của Ông đã để lại cho đời những bài học sâu sắc.
Trong giáo dục và đào tạo học trò, Chu Văn An quan tâm đến việc biên soạn sách để giúp cho người học có được tài liệu học tập. Đây là một điểm mới trong cách quan niệm về nội dung và phương pháp giáo dục của ông và “Tứ thư thuyết ước” đã ra đời. Việc Chu Văn An viết sách không chỉ đơn giản là để làm tài liệu học tập mà cao hơn cả là qua đó, để gìn giữ và khuếch trương di sản văn hóa của dân tộc (dùng chữ Nôm), khẳng định sự độc lập về văn tự đối với nền văn hóa Hán. Cũng trong các tác phẩm ấy, để thể hiện rõ tính chất dân tộc trong văn hóa, thi ca, ông không hề vay mượn những điển tích ngoại lai mà chỉ miêu tả những gì hiện thực trước mắt, những cảnh đẹp thiên nhiên và con người Đại Việt. Đây là phong cách đặc biệt trong các nhà nho thời Trần mà đi đầu là nhà sư phạm mẫu mực Chu Văn An.
Trái với Chu Văn An, cái gọi là "giáo dục khai phóng", với tư tưởng của vị nguyên bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo là "tiền ít đừng đòi hỏi chất lượng cao"....Cải cách đủ các kiểu và sách vô tội vạ với đủ thể loại nhà xuất bản khác nhau. Loạn sách giáo khoa, loạn xã hội. Gần vào học nhưng phụ huynh chẳng biết chọn sách nào cho con, các trường học cũng chẳng biết đường nào mà lần, chẳng biết sách gì mà chọn. Những người được chọn để làm Tổng Chủ biên sách giáo khoa như Nguyễn Minh Thuyết lại là một trong 72 kẻ đòi xoá điều 4 của Hiến pháp. Vậy nên chẳng có gì khó hiểu khi họ định bỏ môn lịch sử hoặc tích hợp vào các môn học khác. Trương Vĩnh Ký, kẻ bán nước, làm tôi tớ cho giặc để chống lại đất nước được ca ngợi trong sách giáo khoa. Sự khai phóng đó mang theo hơi hướng của nền giáo dục lai tạp kiểu mớ rau tập tàng. Còn đâu là bản sắc, còn đâu là hồn cốt dân tộc. ..
Người dân lên tiếng nhiều và rất vui mừng được biết, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đồng ý với đề xuất của Đoàn Giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, thanh tra toàn diện khâu in ấn, biên soạn, xét duyệt sách giáo khoa...chúng ta tin tưởng vào cú đấm có sức mạnh ngàn cân này để hạ gục vấn nạn về sách giáo khoa. Người dân thường cũng nhìn thấy rõ, việc loạn sách giáo khoa chỉ có lợi cho một số nhà xuất bản, nhóm lợi ích nào đó chứ không phải là nguyện vọng, ý chí của toàn dân. Chế độ ta lấy nhân dân làm trung tâm, vì nhân dân mà phụng sự. Cụ Hồ dạy "việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, có hại cho dân thì hết sức tránh". Mong rằng sau đợt thanh tra toàn diện, sách giáo khoa sẽ trở về nguyên nghĩa, nguyên giá trị của sách giáo khoa./.

NỖI NHỤC MẤT NƯỚC

Bàng hoàng khi xem bức ảnh được chụp tại Biên Hòa vào năm 1860, mô tả cảnh một người phụ nữ An Nam làm "nghề" cho chó bú. Những con chó ở đây là chó Tây, chó ngoại của những chủ đồn điền, địa chủ, quan Pháp. Và những người mẹ An Nam này phải chia sẻ giọt sữa của mình cho những con chó ấy, liệu những người mẹ sống trong bối cảnh đất nước tan nát, bị đô hộ, bị “khai hóa văn minh” liệu có đủ sữa cho những đứa con của mình hay không? Không ai rõ cũng chẳng ai hay. Đó là những hình ảnh đớn đau đã diễn ra cách đây hơn 150 năm mà có lẽ phần lớn chúng ta không tưởng tượng nổi và không nghĩ là nó có thực. Một câu hỏi chình ình trong tâm thức: “Liệu phải chăng bấy giờ, thân phận của cha ông chúng ta không bằng một con chó?”.

Một cái nghề đớn đau khác là đi đồn điền cao su - cái nghề mà khả năng “sống dở chết dở” và “biệt tăm biệt tích” rất cao, và nghề này được nhắc đến trong Lão Hạc của nhà văn Nam Cao. Theo Université Clermont Auvergne, báo cáo tại 11/20 đồn điền cao su lớn nhất An Nam, tỷ lệ tử vong của lao động An Nam lên tới 47% vào năm 1927. Tức là cứ 2 người đi lao động ở đồn điền cao su thì có 1 người chết, 1 người sống dặt dẹo. Tại đồn điền cao su của Micheline, có tới 90% công nhân mắc bệnh sốt rét, 40% trong số đã chết. Do những cái xác quá nhiều nên giới chủ Pháp đành chôn ở dưới các gốc cây cao su, rải rác ở trong rừng. Hãy thử làm một phép so sánh rất giản đơn nhưng giật mình, tỷ lệ số người chết trong các đồn điền cao su này (40%) còn lớn hơn tỷ lệ lính Pháp và lê dương chết trong Thế chiến 2 (22%). Điều đau đớn của những người còn sống phải đạp lên nấm mồ của những người đã khuất.

Đó là hai trong muôn vàn ví dụ phản biện lại những luận điểm “khai hóa văn minh”, “đem tự do đến” của những tri thức cấp tiến khi họ mở mồm nói về giai đoạn Pháp đô hộ Việt Nam. Những luận điểm này có vẻ đang ngày càng phổ biến và mở rộng, được tiếp nhận rộng mở hơn. Đa phần những người sinh sống hiện tại không thấu hiểu được “nỗi nhục mất nước”. Đau đớn thay cho lịch sử, cho những người đã khuất, khi họ phải nằm xuống trong sự nhục nhã và đám con cháu mất dạy nói rằng cái thứ đàn áp họ - lại là những con người nhân nghĩa “mang văn minh đến”.

Điều đáng sợ nhất của một dân tộc là lãng quên quá khứ của chính dân tộc mình và thờ ơ bỏ mặc cho chủ nghĩa bịa đặt và xét lại lịch sử diễn ra. “Các ngươi nghĩ con người sẽ chết đi khi nào? Khi bị bệnh ư? Không! Khi ăn phải nấm độc ư? Khôn! Khi bị đại pháo bắn vào ư? Không! Con người ta chỉ chết đi khi bị quên lãng!”- Dr. Hiriluk (One Piece)./.

Nguồn: ST