Thứ Ba, 22 tháng 8, 2023

Bóc mẽ cái gọi là giải thưởng dành cho người âm ỉ chống phá Việt Nam

 Chúng ta luôn trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng, bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

1. Một “sự kiện” văn học vừa làm xôn xao văn đàn Việt: Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng văn học Prix Mondial Cino Del Duca cho Dương Thu Hương, một nhà văn Việt Nam nhưng đã rời bỏ Tổ quốc sang sinh sống tại Pháp. “Sự kiện” tạo ra dư luận trái chiều không chỉ trong văn giới mà lan rộng ra xã hội, vì đây là “giải thưởng” của nước Pháp-một quốc gia có nhiều tác gia văn học lại nổi tiếng văn minh. Giá trị “giải thưởng” lại cao (200.000 euro), chỉ sau giải Nobel. Rất nhiều người băn khoăn: Liệu giải có mang màu sắc chính trị? Có kẻ cơ hội còn “tát nước theo mưa” rằng vì “trong nước không có tự do sáng tạo nên những nhà văn tài năng như Dương Thu Hương bị vùi dập”. Lại có người than thở “muốn mở mày mở mặt với thế giới thì nhà văn Việt Nam phải sang phương Tây”... Vậy bản chất của “giải thưởng” này là gì, việc trao giải có công tâm, khách quan, trung thực hay vì một lẽ gì khác?

Là người Việt Nam, chúng ta vui mừng trước những thành tựu của các văn nghệ sĩ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Đã là người Việt thì ở đâu cũng là đồng bào. Nghĩa “đồng bào” của Việt Nam rất được thế giới chú ý. Dù ở trong nước hay ở ngoài nước, đã là người Việt Nam thì đều coi nhau là người trong một nhà. Thế nên Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới có ngày Giỗ Tổ. Do vậy, người mang dòng máu Việt thành công ở đâu cũng thật đáng quý, đáng tự hào. Dĩ nhiên “năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài”, có người thế này có người thế khác, chắc chỉ có người nào nhạt nghĩa nguồn cội, thờ ơ với lịch sử dân tộc mới đem lòng đố kỵ với thành công của đồng bào mình.

Hội thảo quốc tế: Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại được tổ chức ngày 6-9-2022. Ảnh minh họa: quocte.vn

Trên thế giới có rất nhiều giải thưởng văn học, mỗi nơi có một tiêu chí riêng nên tất yếu sẽ có dư luận đồng tình hay phản đối. Đó là chuyện bình thường. Giải thưởng mang tên Prix Mondial Cino Del Duca của Viện Hàn lâm Pháp không phải là một giải thưởng chuyên về văn học mà còn trao cho nhiều người ở nhiều ngành nghề khác nhau, mà theo họ là có “đóng góp”. Là công dân Việt Nam, chúng ta tôn trọng việc làm ấy của họ, theo tiêu chí, quan niệm của họ. Tất nhiên, chúng ta cũng tiếp nhận những thông tin về giải thưởng, chất lượng và đóng góp cho sự tiến bộ, văn minh chung của giải thưởng theo quan niệm của chúng ta. Đó cũng là lẽ thường tình. Bởi một trong những căn cứ để hội nhập, toàn cầu hóa mà triết học văn hóa đề ra là “tôn trọng sự khác biệt”.

Ban tổ chức trao giải cho Dương Thu Hương với căn cứ đó là “một nhà văn lớn mà tác phẩm và nhân cách độc đáo chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chúng ta thấy ngay cách dùng các khái niệm là thiếu chính xác, dễ gây ngộ nhận, dễ đánh lừa người đọc. Dương Thu Hương là nhà văn có thể có năng khiếu viết văn nhưng chưa phải là “nhà văn lớn”. Thế nào là nhà văn lớn? Xin phép không định nghĩa ở đây mà chỉ xin nói những điều được thế giới khẳng định. Dương Thu Hương có thể có nhiều “tác phẩm” nhưng rõ ràng bà ta chưa tương xứng với những nhà văn cùng thời, như: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu...; càng chưa thể so sánh với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... Thế giới, và chính nước Pháp cũng khẳng định, những nhà văn lớn phải là những nhà tư tưởng, thì chỉ có là những Victor Hugo, Balzac... Nói Dương Thu Hương là “nhà văn lớn” thì vô hình trung lại hạ thấp những bậc đại văn hào ấy sao (?). Bà ta có thể có “cá tính” chứ chưa thể là “nhân cách độc đáo”.

Cũng không thể nói tác phẩm của Dương Thu Hương “chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chủ nghĩa nhân văn nào thì cũng hướng con người tới chân-thiện-mỹ. Trong khi đó, một số “tác phẩm” đã công bố của Dương Thu Hương thì không như vậy. Thậm chí với thái độ bất mãn, hằn học, cực đoan, bà ta thể hiện rõ sự khinh bỉ, rẻ rúng, hạ thấp con người. Những cuốn sách (chứ không thể gọi là tác phẩm) như “Bên kia bờ ảo vọng”, “Những thiên đường mù”, "Đỉnh cao chói lọi", “Chốn vắng”... của bà ta chứng minh rất rõ điều đó. Nguy hiểm hơn, những cuốn sách này còn hàm chứa nội dung công kích, hạ bệ, phủ nhận thành tựu cách mạng, thể hiện ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam rất tinh vi, nham hiểm.

Xin nói về trường hợp “Đỉnh cao chói lọi” của Dương Thu Hương. Là người có nghiên cứu về tiểu sử, cuộc đời và trước tác Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi đọc cuốn này, chúng tôi khẳng định đây là cuốn sách xuyên tạc rất ác ý về Bác Hồ. Nhân đây xin cập nhật những đánh giá mới nhất của thế giới về Bác. Cuộc Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh gần đây nhất vào ngày 18-4-2023 tại thủ đô Roma (Italia) có tên “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italia”. Trước đó, ngày 14-5-2022 tại Ấn Độ có Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” (Ho Chi Minh and India) tổ chức ở Kolkata. Trước nữa, tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” (Global Ho Chi Minh) được tổ chức tại thành phố New York (Mỹ). Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp ba luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều khách quan nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận. Thế mà có một người Việt Nam đã đi ngược lại thế giới thì thử hỏi người đó có lương tâm Việt Nam không?

Nhân “sự kiện” về Dương Thu Hương, có người “kêu gọi” cần “cởi trói” cho “tự do sáng tạo” của văn nghệ sĩ. Xin được nói rõ cần hiểu khái niệm “tự do” trong mối quan hệ rộng rãi ở bất kỳ chế độ xã hội nào sẽ đều thấy không có một “tự do tuyệt đối” mà chỉ có tự do trong khuôn khổ pháp luật. Nhà văn cũng là một công dân. Dù nhà văn có tài năng đến đâu, khi sáng tạo tác phẩm cũng chịu sự quy chiếu quyền lợi chung của quốc gia, dân tộc, con người. Không thể có chuyện lấy “quyền” nhà văn đi công kích, phủ nhận, chối bỏ dân tộc mình, đất nước mình. Có người còn kêu gọi “tự do tư tưởng” cho văn nghệ sĩ (!). Mục đích của “tự do tư tưởng” chẳng phải là để tìm ra chân lý sao? Ngày hôm nay thế giới càng khẳng định chân lý chẳng phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà chính là lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Điều này Bác Hồ đã nói 67 năm trước (năm 1956): “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân-tức là phục tùng chân lý”. Hãy viết về nhân dân, vì nhân dân, vì đất nước, dân tộc. Đó là tự do của văn nghệ sĩ. Trên thực tế đã có ai cấm hay ngăn cản văn nghệ sĩ quyền tự do sáng tạo theo chân lý ấy đâu?

2. Hôm nay thế giới đã vượt qua quan niệm nhà văn là “thư ký của thời đại” vì cho rằng thư ký là ghi chép thôi nên nhà văn phải là người góp phần “kiến tạo hiện thực”, tức là phải tạo ra một mô hình thế giới riêng. Mô hình này luôn thoát thai từ đời sống nên là mô hình của đời sống chứ không phải bản thân đời sống. Do vậy, chất lượng tác phẩm phụ thuộc chủ yếu vào chủ thể sáng tạo nhà văn. Gọi tác phẩm là “con đẻ tinh thần” của nhà văn là vì thế. Nhà văn sống với đời sống thế nào thì có tác phẩm như vậy. Cho nên “tự do sáng tạo” là khái niệm chỉ mối quan hệ tác giả với đời sống. Chỉ có “tự do” ngụp lặn xuống tận đáy dòng chảy cuộc đời, phải lam lũ sống cùng đời sống nhân dân, vui cái vui, đau cùng nỗi đau của người lao động mới có “vật liệu” để xây dựng tác phẩm. Lịch sử văn chương thế giới cho thấy chưa có nhà văn lớn nào thành công mà thoát ly thực tế đời sống lao động của nhân dân, tách ra khỏi số phận của đất nước họ.

Đạo lý Việt Nam là “Uống nước nhớ nguồn”, “Chim có tổ người có tông”... Người Việt trân trọng những anh hùng liệt sĩ và bao người con ưu tú đã hy sinh cuộc sống vì hạnh phúc của nhân dân, tương lai của đất nước, nhưng cũng khinh bỉ những kẻ vô ơn bất nghĩa. Chúng ta ghi nhớ công ơn những người đã làm nên chiến thắng năm 1975. Họ đã hy sinh một phần tuổi trẻ, có người hy sinh một phần thân thể, có người mãi mãi ngã xuống để mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc, mở ra tương lai rạng rỡ cho dân tộc. Nhưng với riêng Dương Thu Hương, trong một lần trả lời phỏng vấn về ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975, thì ngay cách nói của bà ta đã cho thấy bà sớm đi ngược lại dân tộc mình, nhân dân mình: “Mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc”. Như vậy bà ta đã nhận thức sai từ rất sớm, ngay sau ngày giải phóng miền Nam.

Chúng ta trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Trong số đó có bà Dương Thu Hương. Tất nhiên, chúng ta không chấp nhận việc tung hô, cổ xúy những con người như bà Hương. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

3. Quay trở lại vấn đề trên thì giải thưởng nói chung ở bất kỳ đâu vì luôn đặt ra tiêu chí, mục đích riêng nên tự giới hạn không gian, thời gian. Do vậy có những giải thưởng không thể tồn tại ý nghĩa lâu dài. Chưa nói tới việc giải thưởng bị lạm dụng ý nghĩa. Ví như giải Nobel tầm quốc tế thế mà có thời điểm còn bị điều chỉnh để thiên về mục đích chính trị. Chúng ta nhớ lại Giải Nobel Hòa bình năm 1973 từng được Ủy ban Nobel trao cho đồng chí Lê Đức Thọ và cho cả ông Henry Kissinger, tức họ “đánh đồng” kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, để thế giới hiểu rằng người Mỹ “đem lại hòa bình cho Việt Nam” chứ không hề xâm lược. Sự phi lý này, đã qua nửa thế kỷ mà cho đến hôm nay vẫn còn dư luận bàn tán chế giễu, chê bai. Là bạn của nước Pháp, chúng ta tôn trọng họ, ủng hộ những việc làm của họ vì hòa bình, vì tương lai tốt đẹp của nhân loại. Chúng ta coi việc họ trao giải cho Dương Thu Hương là quyền của họ và họ chịu trách nhiệm trước việc làm ấy. Nhưng chúng ta không coi việc đó là có giá trị đối với dân tộc, đất nước Việt Nam chúng ta.

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ

Theo Báo Quân đội Nhân dân

Chủ động “đề kháng” trước thông tin xấu, độc

 Các cấp ủy đảng quận Ô Môn xác định công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Bằng nhiều giải pháp đồng bộ: đẩy mạnh công tác quán triệt, tuyên truyền, xây dựng lực lượng đấu tranh phản bác rộng khắp; kịp thời ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin xấu độc trên mạng xã hội…, 5 năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trên địa bàn quận đã đạt nhiều kết quả tích cực.

Nhằm thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, 5 năm qua, các cấp ủy đảng quận Ô Môn triển khai thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ. Theo đồng chí Nguyễn Thanh Tuấn, Chủ tịch Hội Nông dân, Trưởng Ban Tuyên giáo Ðảng ủy phường Thới An, Ðảng ủy phường đã củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền ở cơ sở; thành lập Tổ nghiên cứu dư luận xã hội phường để thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, triển khai các chủ trương của Ðảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước kịp thời đến nhân dân. Tổ nghiên cứu dư luận xã hội phường theo dõi nắm bắt các vấn đề bức xúc nổi cộm được nhân dân quan tâm, đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái thù địch, qua đó kiến nghị, báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết...

Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo tôn giáo phường, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội phường thường xuyên phối hợp các chức sắc, chức việc thống nhất kế hoạch, chương trình hoạt động đạo sự hằng năm. Ðồng thời, phối hợp tổ chức tuyên truyền, vận động tín đồ chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước; cảnh giác với các âm mưu, thủ đoạn lôi kéo, mua chuộc của các thế lực thù địch, kẻ xấu. Từ đó, hầu hết người dân nói chung, tín đồ tôn giáo nói riêng trên địa bàn phường tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước, không bị kẻ xấu kích động, lôi kéo làm việc sai trái, vi phạm pháp luật.

Ðồng chí Hồ Thị Kim Loan, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Quận ủy, Giám đốc Trung tâm Chính trị quận, cho biết: Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận Ô Môn ổn định. Các cấp ủy đảng, chính quyền, hệ thống dân vận, MTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân tích cực triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ðảng về công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Ðảng, chính quyền, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương...

Thời gian gần đây, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phần tử xấu tiếp tục lợi dụng các vấn đề sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh trong nước để đăng tải tin, bài viết có nội dung xuyên tạc nội bộ, tạo dư luận trái chiều trong quần chúng nhân dân. Nhằm đấu tranh phản bác với các luận điệu sai trái, thù địch, quận Ô Môn luôn chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kịp thời chủ trương, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước để cán bộ, đảng viên và người dân biết thực hiện; thông tin về âm mưu, thủ đoạn, hình thức, nội dung chống phá của các thế lực thù địch để cán bộ, đảng viên và người dân cảnh giác, đề phòng.

Trong công tác tuyên truyền, ngoài tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh, hội họp, tuyên truyền miệng, lồng ghép trong chương trình bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên tại Trung tâm Chính trị quận; các cơ quan, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội quận đã xây dựng nhiều trang, tài khoản mạng xã hội hoạt động rất hiệu quả để mở rộng và lan tỏa thông tin tích cực, chia sẻ những thông tin chính thống. Từ năm 2019 đến nay, các trang mạng xã hội do các ban, ngành quận quản lý đã đăng tải hơn 1.000 tin bài có nội dung tích cực và phản bác các quan điểm sai trái và thù địch, qua đó, giúp cán bộ, đảng viên và người dân theo dõi, cảnh giác. Nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn quận đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn trên địa bàn quận.

Theo đồng chí Hồ Thị Kim Loan, quận sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhận diện rõ những quan điểm sai trái, thù địch; quan tâm nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội, kiến nghị, đề xuất giải quyết kịp thời những vấn đề nổi cộm, bức xúc chính đáng được nhân dân quan tâm; duy trì và nâng cao chất lượng trang fanpage, Facebook do quận quản lý nhằm đưa cho công tác tuyên truyền đi vào chiều sâu. Ðồng thời, đẩy mạnh công tác giáo dục ý thức phòng và kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, các hành vi tiêu cực. Song song đó là tăng cường giáo dục truyền thống dân tộc, địa phương, đạo đức lối sống, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, giữ vững sự đoàn kết thống nhất giữa Ðảng với nhân dân, củng cố niềm tin, bồi dưỡng ý chí, tình cảm, động viên, cổ vũ nhân dân, tích cực tham gia xây dựng Ðảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân trong sạch, vững mạnh...

Kẻ tham nhũng chỉ ‘trong sạch’ khi chưa bị lộ

 

Một số giám đốc CDC quả quyết rằng, “tôi chưa bao giờ nhận tiền từ Việt Á”, nhưng đó là khi chân tướng sự việc chưa bị phơi bày.

 

Mới ngày 23/3, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức phiên họp, xem xét kỷ luật ông Nguyễn Văn Định, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh (CDC) về việc sai phạm trong vụ đấu thầu mua bán kit Việt Á.

Nói đến ông Định, người trước đó giữ chức vụ Giám đốc CDC Nghệ An, chắc ai cũng biết về câu nói nổi tiếng của ông về sự trong sạch. 

Còn nhớ ông này trước khi bị bắt đã quả quyết trong trả lời PV VietNamNet rằng mình trong sạch. Nhưngkhông lâu sau đó, Bộ Công an làm việc với CDC Nghệ An, trong đó có ông Định, sự thật lại dần được phơi bày, giai thoại "thưa các ông chưa bị lộ và sắp bị lộ" lại được nhắc đến. 

"Thưa các ông chưa bị lộ"... là câu nói hài hước về cán bộ chỉ trong sạch khi chưa bị lộ. Và với trường hợp cụ thể ông Nguyễn Văn Định cũng vậy, ông chỉ trong sạch khi công an chưa vào cuộc. 

Còn nhớ, trước thông tin về việc chi tiền ngoài hợp đồng cho các trung tâm CDC và cơ sở y tế tùy thuộc vào đơn hàng cũng như  khoản "hoa hồng" từ Công ty Việt Á, ông Nguyễn Văn Định quả quyết như đinh đóng cột: “Tôi khẳng định chưa bao giờ nhận khoản tiền nào từ Việt Á cả. Phía CDC đang rà soát lại nội bộ xem có chỗ nào có vấn đề không để điều tra”. 

Nhưng bàn tay không che nổi mặt trời, hay như câu nói "lưới trời lồng lộng", sau tuyên bố hùng hồn ít bữa, chính ông và một số cộng sự tại CDC Nghệ An bị cơ quan điều tra khởi tố, bắt giam. Và ngày 23/3, thêm một hình thức kỷ luật nữa với ông Nguyễn Văn Định khi ông bị Thường vụ Tỉnh uỷ Nghệ An khai trừ ra khỏi Đảng. 

Nói đến cán bộ, bao giờ cũng phải coi trọng cả đức và tài, trong đó đức là gốc mà gốc của đức là liêm chính, tức là phải trong sạch, ngay thẳng. Liêm chính càng không phải ở câu nói, ở mỹ từ mà phải trong sạch từ tâm, từ sự tu dưỡng, rèn luyện, bản lĩnh để tránh cám dỗ, trãnh mũi lên làn đạn bọc đường.

Thật ra nhân dân hiểu rất rõ ai là công bộc của dân. Họ không tin vào những lời nói hoặc những lời hứa suông. Thực tế chỉ có những người đem lại lợi ích thật sự cho dân, gần dân, trung thực, nói đi đôi với làm, luôn tu dưỡng rèn luyện, hết lòng vì dân, vì nước, ắt sẽ có được sự ủng hộ, có được niềm tin từ nhân dân.

Tại sao vừa qua có một số cán bộ, lãnh đạo giữ chức vụ, mới vừa được bầu đã bị kỷ luật, thậm chí bị tù đày?, trong đó có cả trường hợp có dư luận, nhưng vẫn là câu chuyện: "Thưa các ông chưa bị lộ".

Vẫn vụ Việt Á, ngày 19/2 vừa qua, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh TT-Huế ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam 4 tháng đối với ông Hoàng Văn Đức, Giám đốc CDC tỉnh TT-Huế và ông Hà Thúc Nhật, Kế toán trưởng kiêm Trưởng phòng Tài chính kế toán của CDC tỉnh TT-Huế.

Hai ông Đức và Nhật bị bắt giữ để điều tra về những sai phạm liên quan đến việc mua sắm vật tư, trang thiết bị y tế gây thiệt hại cho tài sản nhà nước.

Trước đó, trường hợp ông Hoàng Văn Đức cũng có thể được xếp vào nhóm: "Thưa các ông chưa bị lộ". Còn nhớ, khi chưa bị bắt, ông Đức khẳng định, không nhận tiền “hoa hồng” từ các hợp đồng mua bán kit xét nghiệm với Công ty Cổ phần công nghệ Việt Á. Ông còn khẳng định ngay cả việc đơn vị hợp đồng với Công ty Việt Á để mua sắm trang thiết bị chống dịch cũng được triển khai minh bạch, không sai quy định.

“Tôi không nhận từ Công ty Việt Á một đồng nào. Công ty Việt Á cho tôi dù một ly cà phê, tôi đi tù cũng xứng đáng”, ông Đức từng khẳng định chắc nịch.

Chuyện của một số ông giám đốc CDC trong vụ Việt Á chỉ là điển hình của thực tế "Thưa các ông chưa bị lộ".

Có thể còn và vẫn còn những câu chuyện "Thưa các ông chưa bị lộ" ở chỗ này, chỗ kia cho đến khi không thể chối cãi được họ mới thừa nhận hành vi tội lỗi của mình. Thậm chí, lại ăn năn, lại sám hối trước vành móng ngựa. 

Nhưng “Thưa những ai chưa bị lộ”, đừng xem thường công luận, đừng mong mãi che đậy sự thật. 

 

‘Lò’ tiếp tục nóng và sự nghiêm minh với các vụ tham nhũng, tiêu cực

 

Những thành quả quan trọng đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân.

Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 12 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 

Kết luận nêu trên căn cứ từ báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Kết luận số 10, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí (Kết luận 10).

 

Theo Kết luận số 12 của Bộ Chính trị, 5 năm qua, các cấp ủy, tổ chức đảng đã nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận 10, tạo bước tiến rõ nét, đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về phòng, chống tham nhũng, lãng phí được nâng lên; từng bước hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng; công tác phát hiện, xử lý tham nhũng được chỉ đạo quyết liệt; tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn. Những thành quả quan trọng đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Nhìn từ thực tế, sự nghiêm minh được thể hiện trong từng vụ việc, vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo.

 

Ngay như vụ Việt Á, từ cuối năm 2021, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng, tiêu cực ra thông cáo về chủ trương chỉ đạo xử lý đối với vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á.

 

Theo đó, để xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân sai phạm, cảnh báo, răn đe mạnh mẽ hơn nữa để ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân, Thường trực Ban Chỉ đạo thống nhất đưa vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á vào diện Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo. Tiếp sau đó là sự vào cuộc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ… Đến nay, vụ án đang dần được làm sáng tỏ với những tổ chức, cá nhân có vi phạm, có liên quan.

 

Những kết quả như trên được dư luận đồng tình, người dân ủng hộ, tuy nhiên, Kết luận số 12 của Bộ Chính trị vẫn thẳng thắn chỉ rõ, một số nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong Kết luận 10 thực hiện vẫn còn chậm, hiệu quả chưa cao. Cụ thể, cơ chế, chính sách, pháp luật trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập, chưa ngăn chặn hiệu quả tham nhũng, lãng phí. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn nhiều hạn chế, lãng phí trong cơ quan nhà nước và trong xã hội còn rất nghiêm trọng. Tình trạng cán bộ nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp chưa được ngăn chặn kịp thời. Vẫn còn xảy ra những vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, có tổ chức, rất tinh vi, phức tạp gây bức xúc trong dư luận.

 

Và trong những vi phạm có tính chất thách thức đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước mới đây, những xử lý nghiêm minh, kịp thời đã được thực hiện. Tiếp đến là quyết tâm làm lành mạnh hóa thị trường chứng khoán, xử lý nghiêm minh các hành vi thao túng. Một loạt những dấu hiệu vi phạm thao túng thị trường chứng khoán cũng như dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan việc phát hành trái phiếu, huy động tiền của nhà đầu tư đã được điểm tên, những cá nhân liên quan đã bị bắt giữ để điều tra.

 

Tuy nhiên, để tiếp tục đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo Kết luận 10; gắn bó chặt chẽ phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực; tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm.

 

Bộ Chính trị chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, nhất là các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo; thu hồi triệt để tài sản do tham nhũng mà có. Tiếp tục đẩy mạnh, tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở; xử lý nghiêm những trường hợp nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

 

Và với thông điệp rất rõ, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất cứ tổ chức, cá nhân nào, nói như người dân ví, “lò” vẫn tiếp tục nóng. Ngoài ra, Bộ Chính trị cũng chỉ đạo tăng cường quản lý, chống thất thoát, lãng phí trong quản lý vốn và sử dụng ngân sách nhà nước, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, vốn, tài sản của nhà nước ở các doanh nghiệp; đầu tư công, dịch vụ công. Từ đó, nhấn mạnh yêu cầu khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức, đơn giá cho phù hợp với thực tiễn.

 

Trong cuộc chiến này, vai trò của quần chúng nhân dân được đề cao. Nhân dân không chỉ là người giám sát, kiểm tra mà còn là tai mắt phát hiện tham nhũng. Vì thế, Bộ Chính trị yêu cầu phát huy hơn nữa vai trò của cơ quan, đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 

Đặc biệt, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có bản lĩnh vững vàng, liêm chính, trung thực, có dũng khí bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai, có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

 

Nghiêm túc thực hiện Kết luận số 12 càng củng cố niềm tin của nhân dân và công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng sẽ đạt được thêm những thành quả mới.

 

Nguyễn Đăng Tấn

Vụ Việt Á, chuyến bay giải cứu, thao túng chứng khoán gây lãng phí, bức xúc

Theo báo cáo thẩm tra sơ bộ do Thường trực Uỷ ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội, trong bối cảnh chuyển công tác phòng, chống dịch Covid-19 sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19” Chính phủ chưa có văn bản chỉ đạo cụ thể về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí...

 

Bên cạnh đó, một số chính sách được Quốc hội ban hành nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân nhưng Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan chậm ban hành quy định, hướng dẫn chi tiết.

 

Vẫn còn tình trạng ách tắc trong việc mua sắm trang thiết bị y tế chưa được tháo gỡ kịp thời, ảnh hưởng đến công tác phòng chống dịch.

 

Còn tồn tại thực trạng mua sắm hàng hóa, trang thiết bị, vật tư không đúng quy định hiện hành của nhà nước, mua sắm vượt quá nhu cầu dẫn đến không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả... gây lãng phí ngân sách Nhà nước.

iệc thực hiện các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí liên quan đến công tác phòng, chống dịch Covid-19 có vi phạm pháp luật trong việc quản lý, nghiên cứu, ứng dụng khoa học; đấu thầu, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công như vụ án "Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng".

 

Báo cáo của cơ quan thẩm tra dẫn ra vụ việc đưa hối lộ, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á và một số cơ quan, địa phương trong thời gian vừa qua đã gây thất thoát, lãng phí kinh phí, tài sản công, gây bức xúc trong nhân dân.

 

Thường trực Uỷ ban Tài chính Ngân sách đề nghị Chính phủ cần làm rõ nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân từ những bất cập của hệ thống văn bản pháp luật trong quản lý khoa học, đấu thầu, mua sắm tài sản công, đấu thầu, mua sắm trang thiết bị, vắc xin, thuốc, hóa chất và sinh phẩm xét nghiệm để có giải pháp khắc phục trong thời gian tới.

 

Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của nhân dân, theo báo cáo thẩm tra, thông tin thị trường bất động sản chưa đầy đủ, thiếu minh bạch, giá bất động sản tăng bất thường tại một số nơi. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển mạnh nhưng có dấu hiệu “nóng”; tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, có doanh nghiệp “lách luật” phát hành trái phiếu sai quy định. Tình trạng một số cá nhân, doanh nghiệp thao túng thị trường chứng khoán gây thiệt hại cho nhà đầu tư, thất thoát lãng phí nguồn lực trong nhân dân.

 

Còn tình trạng lừa đảo người tiêu dùng liên quan đến bán hàng đa cấp, kinh doanh trực tuyến, bán hàng kém chất lượng… Hoạt động giao dịch, thương mại điện tử, kinh doanh tiền ảo có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những hình thức lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên mạng Internet mà đến nay vẫn chưa có khung pháp luật rõ ràng, đầy đủ để quản lý vấn đề này.

 

Một số tổ chức, cá nhân lợi dụng chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc tổ chức các chuyến bay đưa công dân Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu và hoàn cảnh khó khăn về nước khi dịch Covid-19 bùng phát để trục lợi làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, lãng phí nguồn lực xã hội.

 

Trong công tác chuẩn bị đầu tư, có nhiều dự án chưa đủ thủ tục đầu tư, không đủ điều kiện phân bổ vốn, dẫn đến không đạt mục tiêu đề ra ngay từ những bước đầu tiên; việc rà soát, điều chuyển, bổ sung vốn cho những dự án giải ngân tốt, có nhu cầu vốn để hoàn thành các dự án chưa được thực hiện kịp thời, linh hoạt. Đây là tồn tại kéo dài nhiều năm, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ cần kiên quyết xử lý dứt điểm.

 

Tình trạng chưa phân bổ chi tiết vốn ngân sách Trung ương cho các dự án, chưa phân bổ hết vốn ngân sách địa phương diễn ra trong nhiều năm chưa được khắc phục, diễn ra ở nhiều bộ, ngành, địa phương. Kết quả tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng đầu năm chậm, trong đó có một số dự án đầu tư trọng điểm, tuy nhiên những tháng cuối năm tỷ lệ tăng đột biến.

 

Còn nhiều tồn tại, hạn chế trong việc lập, phân bổ, quản lý, sử dụng vốn đầu tư công ở một số bộ, ngành, địa phương....

 

Một số dự án quan trọng quốc gia còn xảy ra tình trạng chậm trễ trong công tác triển khai, đưa vào hoạt động gây lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, như các dự án đường sắt đô thị trên địa bàn TP Hà Nội và TP.HCM.

Theo trần thường

  

KHÔNG ĐỂ NGƯỜI GIÀU LẠI GIÀU THÊM DO LÀM ĂN PHI PHÁP

 

Theo dự thảo báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị, cử tri và nhân dân bày tỏ sự tin tưởng vào quyết tâm của Đảng và Nhà nước, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không ngừng nghỉ, không có vùng cấm.

 

Cử tri và nhân dân đồng tình về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh. Đảng và Nhà nước tiếp tục chỉ đạo quyết liệt việc thanh tra kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử công khai các vụ án tham nhũng lớn, xử lý nghiêm khắc cán bộ sai phạm, kể cả cán bộ cấp cao như vụ án nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19 tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á; vụ án nhận hối lộ tại Bộ Ngoại giao, vụ án thao túng thị trường chứng khoán ở tập đoàn FLC; vụ đấu giá đất bất thường và phát hành trái phiếu có dấu hiệu lừa đảo của công ty Tân Hoàng Minh…

 

Đóng góp một số ý kiến, bà Hà Thị Liên, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cơ bản nhất trí với dự thảo của báo cáo và cho rằng, cử tri rất phấn khởi khi dịch Covid-19 được kiểm soát, cuộc sống trở lại bình thường, nhất là trong kỳ nghỉ vừa qua.Về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, qua một số vụ việc gần đây, bà nhận thấy Ban chỉ đạo Trung ương rất quyết liệt, nhân dân đồng tình, ủng hộ cao: “Có những người dù là lãnh đạo cấp cao, lãnh đạo ở địa phương…nhưng nếu có sai phạm đều được đưa ra như một số vụ án liên quan đến đất đai gây thiệt hại cho Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng”, bà nói.

 

Cử tri vô cùng bất bình khi một số cá nhân lợi dụng dịch bệnh để nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19 tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á, đó là điều không thể chấp nhận, “tôi thấy là không có lương tâm và đề nghị cần trừng trị thích đáng”, bà nói.

 

Người dân rất bức xúc về việc nhiều cán bộ làm giàu từ đất đai, cấu kết với doanh nghiệp lợi dụng chính sách để làm giàu từ đất đai. Nguồn lực đất đai chưa được sử dụng đúng mục đích, đây là vấn đề lớn mà xã hội rất bức xúc, cần được xử lý. Bà nhắc đến phát biểu của Tổng Bí thư tại Hội nghị Trung ương 5 mới diễn ra “vì sao nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội? Vì sao ở nhiều nơi, việc sử dụng đất còn lãng phí, hiệu quả thấp; tệ tham nhũng, tiêu cực liên quan đến đất đai…”.

 

Vụ án “Thao túng thị trường chứng khoán" ở tập đoàn FLC cần được xử lý nghiêm minh, không chấp nhận doanh nghiệp lớn lại làm ăn phi pháp, thao túng cổ phiếu, chứng khoán. “Họ không cần gì đến danh dự, ngay cả khi họ đã giàu rồi”, bà nhấn mạnh và cho rằng không để người giàu lại giàu thêm, người nghèo lại thêm nghèo do hành vi làm ăn phi pháp.

 

Cũng bày tỏ sự bức xúc liên quan đến vụ Việt Á, GS Trần Ngọc Đường cho biết những người làm khoa học như ông đều hết sức phẫn nộ bởi vì nghiên cứu khoa học có kinh phí lớn nhưng chỉ sau 2 tháng đã nghiệm thu, tuyên truyền rầm rộ. Đến nay đã được các cơ quan chức năng chỉ ra các sai phạm, trong đó có liên quan đến một số cán bộ. Ông đề nghị tiếp tục “đấu tranh mạnh mẽ hơn trong vụ Việt Á, để không bỏ lọt ai”.

 

Còn nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Lê Truyền cho biết, nhiều ý kiến bày tỏ sự quan ngại với hiện tượng các bị can trốn ra nước ngoài vẫn tiếp diễn và ngày càng khó khăn hơn, dẫn đến những lo ngại về các vấn đề liên quan. Do đó, trong báo cáo cần có cách thể hiện vấn đề này như thế nào để giải quyết được những dấu hiệu khó khăn trong phòng, chống tham nhũng, tránh để tiếp diễn tình trạng này trong thời gian tới.

Nỗ lực của Việt Nam trong tiến trình hiện thực hóa nhân quyền

 

Những cố gắng cao nhất của Việt Nam trong thực hiện quyền con người không phải để đối phó với các thế lực thù địch khi họ cố tình chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Bản chất của vấn đề quyền con người mà Việt Nam đang phấn đấu là vì giá trị tiến bộ của nhân loại, vì quyền lợi chính đáng của dân tộc, của mỗi người dân đất Việt.

Quyền con người và trách nhiệm công dân

Đối với các quốc gia, các tổ chức quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc (LHQ) được luật pháp quốc tế thừa nhận, không phải tất cả đã hiểu về tình hình thực tế thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Có nhiều người trong số này chưa từng được mắt thấy tai nghe, họ đã nhìn và đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam qua chiếc lăng kính méo mó.

Với những quốc gia, tổ chức đó, chúng ta luôn chủ trương đối thoại, trao đổi, giải thích trên quan điểm hướng đến sự đồng thuận. Cách giải quyết đó để các bên hiểu biết về nhau hơn, cùng nhận thức, thống nhất về cách tiếp cận để đạt đến chân lý và hướng đến giải quyết được một vấn đề nhất định, đồng thời bác bỏ các thông tin sai lệch.

Việt Nam luôn xuất phát từ sự chân thành trên cơ sở tôn trọng, thiện chí trong hợp tác, bình đẳng, trên cơ sở pháp lý. Đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam với châu Âu, Mỹ hằng năm vẫn diễn ra trên cơ sở hướng tới sự hiểu biết, tin cậy.

Tại phiên đối thoại với Cao ủy nhân quyền LHQ, Khóa họp lần thứ 47 của Hội đồng Nhân quyền LHQ vừa qua, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam Lê Thị Tuyết Mai, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh LHQ, Tổ chức Thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva (Thụy Sĩ) đã khẳng định, chủ trương nhất quán của Việt Nam là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; bày tỏ ủng hộ đối với công việc của Cao ủy Nhân quyền LHQ và các cơ chế nhân quyền LHQ, ủng hộ tiến hành đối thoại thực chất, mang tính xây dựng về các vấn đề nhân quyền.

Chính sách của Nhà nước Việt Nam là nhất quán. Đối với hoạt động của các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, thù địch, lợi dụng dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chính trị của Việt Nam thì đó không phải là đối tác của đối thoại mà là đối tượng của đấu tranh không khoan nhượng.

Những người này là ai? Không khó điểm mặt, chỉ tên. Họ là những cá nhân, tổ chức thuộc một số thế lực cực hữu, một số phần tử cực đoan trong chính phủ, quốc hội ở một số nước; các tổ chức, cá nhân là người Việt phản động sống lưu vong ở nước ngoài như Tổ chức Việt Tân, “Quỹ người Thượng” của Ksor Kok, “Hội gia đình tù nhân chính trị Việt Nam”...

Trong một diễn biến mới nhất, khi Việt Nam ứng cử vào vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2 (2023-2025) thì các thế lực chống đối này liên tục chống phá, công kích. Họ không muốn Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền...

Không biết do không hiểu hay cố tình xuyên tạc luật quốc tế về nhân quyền, những đối tượng chống đối, vu khống về nhân quyền luôn hô hào đòi quyền lợi nhưng lại lờ đi nghĩa vụ. Họ chỉ xem quyền con người là quyền của cá nhân, trong khi luật quốc tế về quyền con người quy định rõ ràng quyền và lợi ích của cá nhân, quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Không bao giờ tồn tại quyền lợi mà không đi kèm nghĩa vụ, hay có nghĩa vụ mà không có quyền. Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin với mục tiêu vĩ đại nhất là giải phóng giai cấp, giải phóng con người, tất cả vì con người thì khi bàn về quyền con người C.Mác đã khẳng định: “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi”.

Ở bất cứ quốc gia nào, người dân cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định, theo quy định của pháp luật. Chính Điều 29, Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người cũng ghi nhận: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng mà chính trong đó nhân cách của bản thân có thể phát triển tự do và đầy đủ”.

Lời nói đầu trong hai công ước quyền con người năm 1966 cũng đều nhấn mạnh: “Mỗi cá nhân trong khi được hưởng thụ các quyền cần tôn trọng tự do của người khác và tôn trọng trật tự xã hội, lợi ích của cộng đồng”. Như vậy, việc các thế lực thù địch chỉ nhấn mạnh quyền con người mà không đề cập đến trách nhiệm của công dân khi phải chấp hành pháp luật nhà nước là rất phiến diện.

Từ Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020, bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam cho rằng: “Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới”. 

Việt Nam tích cực đóng góp cho nhân loại tiến bộ

Không ai có thể phủ nhận những nỗ lực trong thực hiện quyền con người cùng những đóng góp quan trọng của Việt Nam cho sự nghiệp quyền con người của nhân loại. Ngay từ khi trở thành thành viên của LHQ từ năm 1977, Việt Nam đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển của tổ chức này, trong đó có Ủy ban Nhân quyền của LHQ.

Từ đó đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các văn kiện quyền con người cơ bản, bao gồm các công ước quốc tế và nghị định thư liên quan về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của LHQ về quyền con người, 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).

Khi Hội đồng Nhân quyền LHQ thành lập vào năm 2006, nhận thức được tầm quan trọng đó, Việt Nam đã tích cực đóng góp cho tổ chức này. Năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016.

Một điều khá đặc biệt trong lần ứng cử đầu tiên này là sự tín nhiệm, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế khi Việt Nam trúng cử với số phiếu 184/192, cao nhất trong số các nước thành viên mới.

Theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế và các cá nhân có tiếng nói trên cộng đồng quốc tế, sở dĩ Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền LHQ với sự tín nhiệm cao là vì những thành tựu to lớn trên lĩnh vực bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đã đạt được, đặc biệt trên lĩnh vực bảo đảm các quyền dân sự, chính trị; kinh tế, xã hội và văn hóa.

Điều này thể hiện rất sinh động, thuyết phục trong các thành tựu về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Đặc biệt, từ đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới cho thấy, Việt Nam đã nỗ lực ở mức cao nhất nhằm bảo đảm chăm sóc sức khỏe người dân, chăm lo thúc đẩy quyền con người trên các lĩnh vực.

Trong nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam được đánh giá cao về sự tích cực và chủ động, đồng thời cũng chính là điều phối viên của ASEAN tại Hội đồng Nhân quyền LHQ. Những sáng kiến mà Việt Nam đã chủ động cùng các nước đưa ra như: Nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu với quyền trẻ em; vấn đề về bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật; về bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển; về nâng cao giáo dục trong phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái...

Chính các nước phương Tây cũng đánh giá cao vai trò của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền LHQ; trong nhiều trường hợp, Việt Nam làm trung gian trong các cuộc thương lượng.

Tại Hội nghị cung cấp thông tin về công tác nhân quyền cho báo chí do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức ngày 28-9-2016, bà Hoàng Thị Thanh Nga, Phó vụ trưởng Vụ Các tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao cho biết: “Sự nghiêm túc và có trách nhiệm của Việt Nam được thể hiện trong việc tham gia phát biểu, thảo luận tại hàng trăm cuộc họp, xây dựng và thương lượng các nghị quyết, quyết định của Hội đồng Nhân quyền LHQ, đóng góp vào việc bảo đảm các giá trị chung về quyền con người”.

Ngày 22-2-2021, Việt Nam tuyên bố tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Điều đó cho thấy, Việt Nam thực sự có trách nhiệm và luôn nỗ lực trong việc thực hiện quyền con người cả về chính sách cũng như thực tiễn.

Để chuẩn bị cho nhiệm kỳ mới, Việt Nam đã có quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng, có trách nhiệm và đã thể hiện cam kết với cộng đồng quốc tế qua phát biểu tại Phiên họp cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 22-2-2021 của Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh: "Là một thành viên tích cực của LHQ cũng như cộng đồng quốc tế, Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, và luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển quyền con người cả ở trong nước cũng như trên thế giới".

Quá trình Việt Nam hội nhập sâu rộng trong đời sống quốc tế cũng là quá trình Việt Nam cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Những việc làm thiết thực của Việt Nam trong thực hiện nhân quyền cũng là cơ hội để Việt Nam tăng cường vị thế, uy tín đất nước.

NGUYỄN ANH TUẤN và ĐỖ XUÂN ĐOÀI (Báo Quân đội Nhân dân)

Lộ chân tướng những kẻ rút gạch chân tường

 

Trong khi Việt Nam luôn nỗ lực để thực hiện tốt nhất những quyền chính đáng của con người, đồng thời ngày càng khẳng định là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế bởi những đề xuất, sáng kiến và thành tựu về nhân quyền được cộng đồng quốc tế tôn trọng và thừa nhận thì các thế lực thù địch, phản động lại thường xuyên sử dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam. Vậy mục đích của sự chống phá này là gì?

Sự thật đằng sau những lời kêu gọi

Sử dụng nhân quyền làm công cụ để chống phá chế độ chính trị ở Việt Nam đã được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Mục tiêu của sự chống phá này không khó nhận diện, đó là xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn và kết quả về quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tôn giáo, dân tộc, thông tin, tư pháp, quốc phòng, an ninh... nhằm thúc đẩy sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và xác lập cơ chế đa nguyên, đa đảng. Có thể dẫn chứng:

Như thường lệ, năm 2021, tổ chức nhân quyền Freedom House (một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Hoa Kỳ) đã đăng tải bảng chấm điểm chỉ số tự do của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Freedom House là một trong số vài tổ chức phi chính phủ thường đưa ra cái nhìn thiếu thiện cảm về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Qua phân tích của nhiều học giả thì những thông tin mà Freedom House tiếp cận được về tình hình Việt Nam là thông qua các tổ chức, cá nhân đang chống phá Việt Nam. Năm 2021, tổ chức này chấm điểm tự do của Việt Nam là 19/100 điểm, trong đó họ liên tục cố tình hạ thấp điểm tự do về quyền dân sự, chính trị. Freedom House luôn cho rằng Việt Nam "không có tự do internet, người dân Việt Nam gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội, không có quyền bầu cử, không có tự do tôn giáo...". Hùa theo cách nhìn nhận ấy, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch cũng liên tục đăng tin trên những trang thuộc các cơ quan truyền thông vốn thiếu thân thiện với Việt Nam, như: BBC, RFI, RFA, VOA... cho rằng Việt Nam vi phạm quyền con người hòng tạo dư luận quốc tế.

Cũng với mục đích và cách thức hoạt động như Freedom House, một số tổ chức được hỗ trợ bởi tiền của nhiều thế lực, như: Tổ chức ân xá quốc tế, Tổ chức theo dõi nhân quyền, Tổ chức phóng viên không biên giới... cũng thường xuyên đưa ra những đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam rất thiếu cơ sở, mang thái độ hằn học. Một số tổ chức phản động, lưu vong đội lốt dân chủ, nhân quyền như Việt Tân, Triều đại Việt, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam... cũng liên tục xuyên tạc. Điển hình là mỗi khi có công dân Việt Nam có hành động, hành vi chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bị cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật thì các thế lực chống đối lại vu khống, xuyên tạc rằng Việt Nam "ngăn cản tự do ngôn luận, không cho công dân tự do bày tỏ chính kiến...", khiến cho một số người thiếu thông tin đã có những nhận thức sai lệch về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Vậy thực chất việc đưa ra các con số báo cáo, lên lớp về vấn đề nhân quyền của các tổ chức, cá nhân này có phải vì muốn Việt Nam tốt đẹp hơn không? Câu trả lời là: Không. Bản chất của những kẻ lợi dụng vấn đề nhân quyền để xuyên tạc, chống phá Việt Nam để nhằm phá rối trong nước, khiến quốc tế có cái nhìn sai lệch về Việt Nam, từ đó hạ thấp uy tín, vị thế, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã phải đánh đổi bằng xương máu để gây dựng.

Những tiến bộ về luật pháp và thực tiễn không thể xuyên tạc

Trong khi một số tổ chức, cá nhân luôn tìm cách xuyên tạc về tình hình nhân quyền của Việt Nam thì ở chiều ngược lại, Liên hợp quốc-tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh lại luôn coi Việt Nam như một điểm sáng về phát triển con người và thực hiện các quyền con người trong thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Thực tế ở Việt Nam cũng chứng minh, đánh giá của Liên hợp quốc về Việt Nam là xác đáng.

Một trong những thành tựu không thể phủ nhận là Việt Nam đã luôn quan tâm để hoàn thiện hệ thống luật pháp về lĩnh vực quyền con người. Điều này được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong Hiến pháp-đạo luật gốc, quan trọng nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương; hiến định rõ ràng địa vị pháp lý của cá nhân, của công dân trong mối quan hệ với nhà nước. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013, chế định quyền con người, quyền nghĩa vụ của công dân giữ vị trí quan trọng. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được dư luận đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Cùng với Hiến pháp, Việt Nam tham gia một loạt công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật... Sau 35 năm đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó chú trọng xây dựng pháp luật về quyền con người, quyền công dân tương đối toàn diện, phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước và từng bước tương thích với các quy định quốc tế về quyền con người. Một điểm sáng của Việt Nam luôn được quốc tế ghi nhận đó là, trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Quốc hội Việt Nam luôn dành ưu tiên, tập trung cho việc ban hành các đạo luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên các lĩnh vực.

Ngày 22-2-2021, tại Phiên họp cấp cao của Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh trong bài phát biểu thông báo về việc Việt Nam tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 đã nhấn mạnh: "Việt Nam tin tưởng mạnh mẽ rằng, bảo đảm cho xã hội an toàn trước các dịch bệnh như Covid-19 là cách tốt nhất để bảo đảm cho mỗi thành viên trong xã hội được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người. Chúng tôi tiếp tục ưu tiên thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, các quyền tự do cơ bản của người dân, kể cả trong thời điểm khó khăn nhất hiện nay”. Dịch bệnh đã gây ra những thiệt hại to lớn cho toàn thế giới, dù vậy, Nhà nước Việt Nam đã chấp nhận hy sinh về tăng trưởng kinh tế để nỗ lực cao nhất nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Điều này, cộng đồng quốc tế đã ghi nhận và luôn coi Việt Nam là hình mẫu. Đây chỉ là một trong rất nhiều việc làm đã chứng minh cho lời nói và hành động của Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền con người. Nó cũng đủ sức nặng để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ qua và nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Khác với một số quốc gia chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị dẫn tới chênh lệch giàu nghèo rất nghiêm trọng, Việt Nam quan tâm xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Song song với phát triển kinh tế đất nước, hầu hết các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội, chỉ số phát triển con người... ở Việt Nam đều có sự tiến bộ qua từng năm. Quyền của các nhóm yếu thế như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi... có những bước tiến rõ rệt. Theo Báo cáo các chỉ số phát triển con người do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thực hiện và công bố năm 2019 cho thấy: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng chỉ số HDI cao nhất thế giới. 

Về bình đẳng giới, các tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, hiện xếp thứ 68/162 nước về chỉ số phát triển giới. Sự cải thiện, chăm sóc sức khỏe của người dân thể hiện ở các tiêu chí như cơ sở khám, chữa bệnh công lập và ngoài công lập, số giường bệnh, số bác sĩ/10.000 dân đều tăng. So với chuẩn quốc tế thì Việt Nam có mức độ phân hóa giàu nghèo thấp hơn nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

Thực tiễn sinh động ở Việt Nam khác xa những báo cáo khô cứng, cũ kỹ mà các thế lực thù địch luôn xào xáo qua các năm. Ở Việt Nam, các quyền công dân về bầu cử, ứng cử, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận... luôn được bảo đảm. Mặc dù các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng Việt Nam không có tự do internet nhưng thực tế đã bác bỏ hoàn toàn điều đó. Theo con số thống kê, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất trên thế giới. Khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet và điện thoại di động. Năm 2020, số người dùng Facebook ở Việt Nam là gần 70 triệu người. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các tôn giáo hoạt động, luật pháp cũng quy định rất rõ để tôn giáo được bảo vệ. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn được coi trọng và thường xuyên được tổ chức. Trong các năm 2008, 2014, 2019, Liên hợp quốc đã chọn Việt Nam làm địa điểm và đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản. Những minh chứng này đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Trong Báo cáo hạnh phúc thế giới thường niên năm 2021 do Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố: Năm 2021, Việt Nam tăng 4 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 83 lên 79. Báo cáo này xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên 6 tiêu chí: GDP trên đầu người, tuổi thọ, quyền tự do, sự hào phóng, phúc lợi xã hội và tình trạng tham nhũng.

(còn nữa)

 NGUYỄN ANH TUẤN và ĐỖ XUÂN ĐOÀI (Báo Quân đội Nhân dân)

Sự áp đặt khiên cưỡng và xa lạ

 

Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 khẳng định: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi".

Là một đất nước đã phải trải qua những năm dài bị đô hộ, chiến tranh tàn phá, dân tộc Việt Nam hiểu hơn ai hết giá trị, khát vọng để giành lại những quyền cơ bản vốn có của con người. Bởi thế, mọi sự xuyên tạc, vu khống, chống phá Việt Nam về vấn đề nhân quyền đều trở nên lạc lõng. Không thế lực bên ngoài nào có quyền ban phát, hay từ chối thành tựu lớn lao về quyền con người của dân tộc Việt Nam.

Quyền con người là thành tựu chung của nhân loại và luôn là khát vọng cháy bỏng của con người dù bất kể chế độ chính trị nào. Dù vậy, đã từ lâu, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại sử dụng quyền con người như một vũ khí lợi hại để chống phá Việt Nam, mà thực chất là muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá bỏ con đường mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Thành tựu không phải của riêng phương Tây

“Lập lờ đánh lận con đen”, các thế lực thù địch chống phá, xuyên tạc sự thật về tự do, dân chủ ở Việt Nam tự cho rằng: “Quyền con người là thành tựu riêng có của phương Tây”... Từ sự nhận xằng đó, họ áp đặt “các giá trị phổ quát”, lấy nhân quyền cao hơn chủ quyền để ra điều kiện với Việt Nam với ý đồ chống phá chứ không phải vì mục tiêu là sự tiến bộ.

Điều đương nhiên, không phải chỉ đến cách mạng tư sản với sự ra đời của nhà nước tư sản mới có quyền con người. Thực chất, quyền con người xuất hiện từ khi con người ý thức về sự tồn tại của mình và ý thức về nhu cầu, lợi ích cá nhân trong các quan hệ xã hội.

Tư tưởng và nội hàm về quyền con người đã xuất hiện từ sớm và tồn tại trong mọi nền văn hóa. Về bản chất, quyền con người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có của mọi người, nó gắn liền với hành động công nhận, thừa nhận chứ không phải là ban phát, từ chối hay tước đoạt vô cớ. Nó bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, đó là các quyền và tự do cơ bản của con người trên lĩnh vực quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Lịch sử phát triển của xã hội, xét đến cùng đều là lịch sử đấu tranh vì quyền con người. Điều đó càng khẳng định chân lý, quyền con người là giá trị chung của nhân loại.

Khẳng định như vậy có ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó chỉ ra nguồn gốc của quyền con người. Tuy vậy, thuật ngữ “quyền con người” ra đời khá muộn, gắn liền với cuộc cách mạng tư sản nên nó thường bị lợi dụng để gây hiểu lầm rằng nó là thành tựu của riêng phương Tây.

Chúng ta có đầy đủ cơ sở để bác bỏ quan điểm sai trái, coi quyền con người là phát kiến, là giá trị riêng có của các nước phương Tây. Đây cũng là cơ sở để góp phần khắc phục các biểu hiện phiến diện, cực đoan, quay lưng, khước từ những giá trị tiến bộ, văn minh hoặc chấp nhận sự áp đặt mô hình của nước này cho nước khác.

Lịch sử đã chứng minh, những tư tưởng về quyền con người cũng như những quy định trong luật pháp và kết quả đạt được về quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, qua mọi thời kỳ phát triển.

Đó cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Vì là giá trị chung của nhân loại nên tất cả các quốc gia, dân tộc không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển đều có quyền thụ hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, phát triển giá trị xã hội cao quý này.

Áp đặt là vô nghĩa

Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền phương Tây trên phạm vi toàn cầu nói chung và với Việt Nam nói riêng là cách thức rất vô lý và hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn. Ngay trong Hiến chương Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh: Không quốc gia nào, kể cả Liên hợp quốc, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia. Vậy mà, một số nước phương Tây lại tự cho mình có quyền áp đặt các “giá trị phương Tây” nhằm tác động vào việc xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển xã hội dân sự, nhằm tạo ra lực lượng đối trọng với Chính phủ Việt Nam thì thật khó chấp nhận.

Một số nước này luôn sử dụng “tiêu chuẩn kép” về quyền con người. Họ áp đặt quan điểm “quyền con người phổ quát” nhưng theo kiểu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Trong các chiêu bài áp đặt, họ luôn kêu gọi, khuyến khích các đòi hỏi cực đoan, hành vi vi phạm pháp luật, chống đối chính quyền thông qua các hình thức “bất tuân dân sự”, “kiến nghị tập thể”, “đấu tranh bất bạo động”... nhằm phá hoại sự ổn định và phát triển của Việt Nam.

Thực tiễn đang chứng minh một nghịch lý, trong khi không ngừng thúc ép các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam cải thiện nhân quyền, nhưng ở chính nội tại một số nước đó vẫn áp dụng chính sách phân biệt đối xử. Có những nước lớn luôn tỏ ra quan tâm quá mức đến nhân quyền ở các nước khác thì sự bất công về phân biệt đối xử giữa người da trắng và người da đen chưa bao giờ chấm dứt. Hố sâu phân hóa giàu nghèo đang ngày càng xa hơn.

Trong khi những tỷ phú đô la ở nước đó có quyền năng rất lớn thì rất nhiều người sống trong nghèo khổ; nhiều con người vẫn bị tước đoạt mạng sống bởi tình trạng súng đạn mất kiểm soát. Thậm chí có những nước lớn đến nay vẫn chưa phê chuẩn một số công ước quốc tế quan trọng về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 (CRC).

Một số nước phương Tây hiện nay vẫn đang sử dụng hình thức viện trợ, hợp tác để công khai lôi kéo và hỗ trợ cho hoạt động đối lập, bất đồng chính kiến ở Việt Nam, thậm chí đưa các yêu sách cải thiện nhân quyền thành điều kiện cho hợp tác song phương và đa phương là vô lý. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn của nước này áp đặt cho nước khác.

Trong xã hội còn giai cấp, còn nhà nước thì một vấn đề tất yếu là quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992 “về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” khẳng định: “Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm nhân quyền mang tính giai cấp sâu sắc”.

Bởi vậy, việc áp đặt tiêu chuẩn của một nước này cho một nước khác về các tiêu chí nhân quyền là hoàn toàn vô lý. Trên phạm vi quốc tế, tính giai cấp của khái niệm quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng, tiến bộ với các lực lượng phản động, phản tiến bộ. Ngày nay nó được biểu hiện chính là dưới hình thức thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn, lật đổ...

Bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia. Trách nhiệm pháp lý này đã được Liên hợp quốc quy định trong các văn kiện quyền con người quốc tế. Dù đã được quốc tế hóa nhiều mặt, nhưng việc bảo đảm quyền con người chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các quốc gia. Sự hợp tác trên lĩnh vực quốc tế về quyền con người là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm nguồn lực và kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, các cơ chế quyền con người quốc tế chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế đang vận hành tại các quốc gia.

Đối với việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, trách nhiệm của quốc gia càng rõ ràng, không bất cứ một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có thể đảm đương được công việc bảo đảm các quyền này thay cho mỗi nhà nước. Đây là những nguyên tắc cần được nhận thức rõ ràng, đầy đủ. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong việc bảo đảm và thực thi quyền con người.

Một yếu tố quan trọng khác trong xem xét vấn đề quyền con người, đó là phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước đó. Chính điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận thông qua Tuyên bố Vienna và Chương trình Hành động tại Hội nghị thế giới về nhân quyền năm 1993 tại Vienna (Áo).

Tuyên bố đã khẳng định khi xem xét vấn đề nhân quyền phải luôn ghi nhớ tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo... Như vậy, không thể áp đặt hay sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.

Việc một số nước nào đó tự cho mình quyền áp đặt chuẩn mực cho quốc gia khác, rồi lại tự cho phép mình bảo vệ quyền con người ở mọi nơi theo ý đồ của họ, bất chấp chủ quyền của các quốc gia đó là điều không thể chấp nhận. Quyền con người là giá trị được kết tinh từ những thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống, văn hóa của mỗi quốc gia.

Tính phụ thuộc của quyền con người còn bắt nguồn từ sự phát triển không đều về mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể được đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước. Việt Nam đã tiệm cận rất rõ quan điểm này từ sớm, thể hiện trong Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992: “Nhân quyền luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy, không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác”. 

Chính trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người cũng cho phép một quốc gia bảo lưu những điều khoản cụ thể khi tham gia một công ước, hoặc có các nghị định thư bổ sung cho một công ước nào đó, thể hiện việc chưa ngang bằng giữa các quốc gia.

Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn các giải pháp tối ưu cho việc cân bằng giữa ổn định xã hội với việc bảo đảm đầy đủ quyền con người, có quyền xây dựng lộ trình trong việc thực hiện cam kết đối với các điều ước quốc tế về quyền con người. Như vậy mọi sự sao chép, áp đặt các mô hình dân chủ, quyền con người là không thể chấp nhận.

Mục 7, Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định: “... Hoàn toàn không cho phép Liên hợp quốc được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào, và không đòi hỏi các thành viên của Liên hợp quốc phải đưa những công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến chương”.

(còn nữa)

NGUYỄN ANH TUẤN - ĐỖ XUÂN ĐOÀI (Báo Quân đội Nhân dân)