Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2023

 Nhân danh hoạt động vì xã hội để vi phạm pháp luật: "Chiếc áo không làm nên thầy tu"

(Ảnh minh họa: TTXVN)

"CHIẾC ÁO KHÔNG LÀM NÊN THẦY TU"

Ngày 5/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam đối với Hoàng Thị Minh Hồng, người sáng lập tổ chức CHANGE (hoạt động trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam) để điều tra về tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015.

Quá trình điều tra xác định Hoàng Thị Minh Hồng đã trốn thuế số tiền hơn 5,2 tỷ đồng. Bản thân bà Hồng đã thừa nhận sai phạm, có đơn xin và nộp khắc phục hậu quả để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành, khung hình phạt cao nhất dành cho cá nhân có hành vi trốn thuế là từ 2 đến 7 năm tù, được áp dụng trong trường hợp cá nhân phạm tội trốn thuế với số tiền hơn 1 tỷ đồng trở lên (khoản 3 Điều 200).

Trước đó, các cơ quan chức năng đã khởi tố, xét xử một số cá nhân là đại diện hoặc đang làm việc trong các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp xã hội, trung tâm phúc lợi cộng đồng với cùng tội danh nêu trên như Mai Phan Lợi, Đặng Đình Bách, Ngụy Thị Khanh…

Đáng chú ý, trong các trường hợp này, bị can, bị cáo đều là người có học thức cao nhưng vì mục đích cá nhân, động cơ tư lợi, đã không kê khai, nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hành động vi phạm pháp luật của đối tượng đều diễn ra trong thời gian dài dưới nhiều thủ đoạn tinh vi. Thậm chí, có người còn là luật sư, giám đốc một trung tâm nghiên cứu pháp luật, nghĩa là hoàn toàn nhận thức rõ hành vi trốn thuế là trái với quy định của pháp luật, có thể gây hậu quả nghiêm trọng nhưng vẫn cố tình thực hiện. Điều này hoàn toàn đi ngược lại những giá trị mà tổ chức, doanh nghiệp của họ hằng theo đuổi.

Nếu cơ quan chức năng không phát hiện sai phạm kịp thời chắc chắn hành vi phạm tội sẽ còn kéo dài, gây thiệt hại lớn cho Nhà nước.

Tại tòa, trước những chứng cứ không thể chối cãi, nhiều bị cáo đã thành khẩn thừa nhận sai phạm và xin được khắc phục hậu quả. Xét thấy một số bị cáo có nhiều thành tích, bằng khen, giấy khen của các cơ quan chức năng, Tòa đã giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm, sớm hoàn lương.

Cụ thể, trong vụ án MEC, bị cáo Mai Phan Lợi và Bạch Hùng Dương đều được giảm án 3 tháng tù, lần lượt nhận mức án 48 tháng tù và 30 tháng tù. Trong vụ án trốn thuế thu nhập cá nhân, bị cáo Ngụy Thị Khanh được giảm án còn 21 tháng tù (hiện tại, bà Khanh đã được trả tự do sau khi hoàn thành bản án).

Thiết tưởng không cần bàn luận thêm về những vụ án nêu trên khi các cơ quan chức năng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, xét xử đúng người, đúng tội, thể hiện tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật Việt Nam. Các phiên tòa đều diễn ra công khai, nội dung, diễn biến vụ án đã được đăng tải đầy đủ trên các mặt báo.

Thế nhưng, một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí hoặc vì mục đích cá nhân tự cho mình quyền theo dõi, giám sát và bảo vệ nhân quyền vẫn tìm mọi lý lẽ hòng phủ nhận bản án, để rồi lái vụ việc theo hướng các cá nhân có liên quan "bị bỏ tù một cách bất công" vì "bảo vệ môi trường". Qua đó, các tổ chức nước ngoài cố tình khoác chiếc áo mang danh "tù nhân chính trị", "tù nhân lương tâm" lên những đối tượng bị bắt giữ về tội phạm hình sự, tài chính.

Đây thực chất là sự đánh tráo khái niệm nhằm thực hiện mưu đồ riêng cũng như che giấu tội danh, cổ súy cho những kẻ bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù vì vi phạm pháp luật thành đối tượng liên quan vấn đề công lý và môi trường.

Theo dõi trên thực tế có thể thấy những chiêu trò cũ kỹ này thường được các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam thường xuyên sử dụng để biện minh cho một số đối tượng vi phạm pháp luật trước đây như Nguyễn Năng Tĩnh, Nguyễn Ngọc Ánh. Họ dựng chuyện hai đối tượng này đều bị bắt vì "đăng tải vấn đề thời sự liên quan đến ô nhiễm môi trường do Formosa gây ra", trong khi thực tế những người này phạm tội "làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự. Các tài liệu liên quan hai vụ án đều được cơ quan chức năng tiến hành thu thập, thẩm định, điều tra kỹ lưỡng trong một thời gian dài.

Và sau những ồn ào nhất thời, tính đến nay gần như không có một tổ chức, tờ báo chống cộng nào nhắc tên, hô hào đòi trả tự do cho Nguyễn Năng Tĩnh hay Nguyễn Ngọc Ánh.

Thực tế trong nhiều năm qua, một số đối tượng xấu, cơ hội chính trị đã ráo riết thực hiện chiêu trò lợi dụng quyền tự do lập hội được quy định trong Hiến pháp để mưu đồ cá nhân hoặc hướng lái, đánh lận bản chất vấn đề nhằm hình thành các tổ chức tự phát không theo quy định pháp luật.

Thông thường khi mới thành lập, các tổ chức này sẽ núp bóng những mục đích tốt đẹp, hoạt động phi lợi nhuận, thúc đẩy sự phát triển của xã hội... để tạo danh tiếng, tập hợp nhân lực, vật lực.

Sau khi đã ổn định, các tổ chức này sẽ đổi màu, thậm chí không chỉ dừng lại ở vấn đề dân sự mà còn móc nối với các tổ chức nước ngoài để can thiệp vào vấn đề chính trị. Mục đích cuối cùng mà chúng hướng tới là hình thành các tổ chức đối lập, âm mưu chống phá đất nước, lật đổ chế độ.

Cùng với đó, không khó để nhận diện hướng đến của các tổ chức phản động, thiếu thiện chí là nhằm chống phá, vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc, hạ thấp thành quả bảo đảm và thực thi quyền con người ở Việt Nam với các luận điệu quen thuộc như "Việt Nam vi phạm nhân quyền, bắt bớ, giam cầm tùy tiện, tuyên án nặng đối với các nhà báo, blogger, Facebooker, các nhà hoạt động xã hội, lãnh đạo của các tổ chức xã hội dân sự".

Các tổ chức quốc tế này còn thường xuyên hướng lái dư luận bằng việc dẫn lại bài viết, bình luận một chiều của những nhân vật bất mãn, cơ hội chính trị song lại xem đây là "nguồn cứ liệu tin cậy, những ý kiến công tâm, khoa học". Trên cơ sở đó, họ liên tục tung ra các bản phúc trình, kiến nghị gửi đến Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu và các nước lớn nhằm vu khống, gây sức ép, can thiệp vào tình hình nội bộ của Việt Nam.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán quan điểm lấy con người làm trung tâm của sự phát triển, phát triển vì con người, do con người. Trong đó, Nhà nước khuyến khích sự tham gia của các đoàn thể, tổ chức xã hội vào các hoạt động vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Thực tế này không chỉ được đông đảo người dân đồng tình, ủng hộ mà còn được rất nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế thừa nhận, đánh giá cao.

Chẳng hạn, để ủng hộ các doanh nghiệp có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề an sinh xã hội, Quốc hội đã ban hành quy định về loại hình doanh nghiệp xã hội tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020. Các bộ, ban, ngành cũng tổ chức nhiều giải thưởng, cuộc thi về bảo vệ môi trường, hoạt động tình nguyện vì cộng đồng, vì xã hội... để kịp thời động viên, khuyến khích mọi người dân, tổ chức tham gia các hoạt động xã hội hữu ích cho đất nước, người dân này.

Chẳng hạn, Câu lạc bộ Thực hành Sống Xanh (Green Living Club) được vinh danh vì các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, phổ biến các hoạt động thân thiện môi trường; xây dựng các hoạt động tổng vệ sinh, thu nhặt rác công cộng; trao tặng thùng phân loại rác; Câu lạc bộ Phụ nữ bảo vệ môi trường khu phố Hiệp Thắng (thị xã Dĩ An, thành phố Dĩ An, Bình Dương) với nhiều hành động ý nghĩa như xây dựng tuyến đường hoa, mô hình vườn rau sạch, vệ sinh, an toàn thực phẩm, qua đó góp phần quan trọng với việc thực hiện tốt tiêu chí "3 sạch" của cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch" do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động.

Hay nhóm Tình nguyện Niềm tin với dự án Nuôi em với mục tiêu hỗ trợ toàn diện cho trẻ em vùng cao. Để thực hiện dự án này, nhóm đã tổ chức, vận động hàng loạt chương trình tái chế rác thải như: Nhặt gốm hỏng lỗi, gom ve chai giấy vụn gây quỹ, gom bạt sự kiện che điểm trường nát khỏi gió mưa, bán đấu giá tác phẩm nghệ thuật làm từ sỏi, xây dựng trường học bằng gạch không nung...

Chính vì vậy, không hề có chuyện Nhà nước Việt Nam "thu hẹp không gian xã hội dân sự", "đàn áp do các hoạt động bảo vệ môi trường" như những lời vu cáo, bịa đặt.

Không hề có chuyện Nhà nước Việt Nam "thu hẹp không gian xã hội dân sự", "đàn áp do các hoạt động bảo vệ môi trường" như những lời vu cáo, bịa đặt.

Hiện tượng một số cá nhân, tổ chức lợi dụng kẽ hở trong các hoạt động thiện nguyện, hoạt động bảo vệ môi trường vì môi trường, vì cộng đồng không chỉ diễn ra tại Việt Nam mà nhiều nơi trên thế giới đều đã xuất hiện tình trạng này với những biểu hiện tinh vi, khó lường. Thực tế này đòi hỏi mỗi quốc gia đều cần có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi lợi dụng đấu tranh vì quyền con người để tư lợi, vi phạm pháp luật bên cạnh ban hành các cơ chế thúc đẩy các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, bảo vệ nhóm yếu thế…

Các nhà hoạt động môi trường ném sơn vào lối vào nhà hát opera La Scala nổi tiếng của Milan. (Ảnh: AFP)

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG VÌ CỘNG ĐỒNG

Thực tế, không riêng tại Việt Nam, mặt trái của các tổ chức, hội nhóm xã hội đang là một vấn đề nóng được chính phủ nhiều quốc gia quan tâm, nhận diện khi tình trạng một số cá nhân đại diện cho các tổ chức này vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý hình sự ngày càng gia tăng và phổ biến. Bởi lẽ dù các hoạt động điều tra, xét xử đều được tiến hành minh bạch trên tinh thần thượng tôn pháp luật nhưng vẫn vấp phải sự xuyên tạc, chống đối từ các tổ chức cực đoan, tự cho mình quyền giám sát, bảo vệ nhân quyền.

Thời gian qua, các cơ quan chức năng Hoa Kỳ đã ghi nhận một số cá nhân, tổ chức lợi dụng các hoạt động xã hội, từ thiện để gian lận tài chính, lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền ước tính có thể lên đến hàng trăm nghìn USD. Theo đó, ngày 31/5/2023, ba nhà hoạt động ở Atlanta (Hoa Kỳ) bị bắt vì cáo buộc rửa tiền và lừa đảo từ thiện.

Theo cơ quan điều tra bang Geogia, ba thành viên của Quỹ Đoàn kết Atlanta là Marlon Scott Kautz, Savannah D. Patterson và Adele MacLean đã gian lận số tiền mà họ quyên góp để bảo lãnh và thuê luật sư cho các bị can tham gia vụ bạo loạn xảy ra tại trung tâm huấn luyện cảnh sát và lính cứu hỏa Atlanta đầu năm nay.

Các điều tra viên cũng cho biết, họ tìm thấy bằng chứng liên quan của cả ba bị can này với các tội phạm tài chính, không liên quan hoạt động tài trợ người biểu tình của Quỹ Đoàn kết Atlanta.

Trước đó, ngày 10/3, các công tố liên bang Hoa Kỳ đã buộc tội lừa đảo đối với Monica Cannon-Grant và Clark Grant, những người thành lập tổ chức Bạo lực ở Boston (Violence of Boston - hội được xây dựng với mục đích chống các hành vi bạo lực, phân biệt đối xử với người da màu tại Boston), nâng tổng tội danh mà họ phải đối mặt lên con số 27.

Tổ chức của Cannon-Grant được thành lập từ năm 2017 nhưng chỉ thật sự nổi lên sau các hoạt động tưởng niệm George Floyd, công dân Mỹ gốc Phi bị sát hại ngày 25/5/2020. Trong thời gian xảy ra đại dịch COVID-19, Cannon-Grant và Clark Grant đã nhận được khoảng 54.000 USD quỹ cứu trợ đại dịch, nhưng đã rút 30.000 USD để thanh toán khoản vay mua ô tô và hóa đơn bảo hiểm ô tô.

Họ cũng bị cáo buộc về hành vi lừa gạt Văn phòng ổn định nhà ở của Boston để nhận được 12.600 USD hỗ trợ tiền thuê nhà; nộp hồ sơ giả để chiếm đoạt số tiền hỗ trợ thất nghiệp lên đến 145.269 USD.

Nguy hiểm hơn, tại một số quốc gia châu Âu, nhiều tổ chức, hội nhóm xã hội đã và đang sử dụng số tiền gây quỹ của họ để tài trợ, âm mưu kích động bạo loạn, phá hoại cùng nhiều hoạt động tội phạm nghiêm trọng khác.

Thực tế này đòi hỏi chính phủ các quốc gia phải đưa ra nhiều biện pháp phòng ngừa và đấu tranh trấn áp mới, bao gồm tăng mức xử phạt hành chính và áp dụng án tù đối với một số tội phạm nghiêm trọng.

Tại Italia, Bộ trưởng Văn hóa Gennaro Sangiuliano tuyên bố các hành vi phá hoại của Letzte Generation tại đài phun nước La Barcacia ở Rome, ném sơn vào Nhà hát opera La Scala ở Milan sẽ bị phạt tiền từ 10.000 đến 60.000 euro theo đạo luật mới, bên cạnh áp dụng án phạt tù.

Tương tự, dự luật Trật tự công cộng được Anh công bố gần đây đã có quy định mới về việc hình sự hóa với các hành vi gây rối nghiêm trọng, ảnh hưởng đến người khác, tài sản công cộng và cảnh quan, nhân danh các hoạt động biểu tình. Với thiệt hại dưới 5.000 bảng Anh người phạm tội có thể đối mặt với mức án lên tới 10 năm tù.

Dự luật này được đưa ra nhằm đối mặt với các làn sóng gây rối nhân danh hoạt động chống biến đổi khí hậu và năng lượng hóa thạch diễn ra từ năm 2020 đến nay.

Tháng 4/2023, Tòa án Anh đã kết án hai thành viên Just Stop Oil (tổ chức bảo vệ môi trường Just Stop Oil được biết đến với nhiều hoạt động biểu tình quá khích tại Anh) với mức án tổng cộng là gần 6 năm tù về tội gây rối trật tự công cộng vì đã leo lên cầu Nữ hoàng Elizabeth II, buộc cảnh sát phải đóng cửa giao lộ Dartford trong 40 giờ.

Những vụ án nêu trên cho thấy tính chất phức tạp của các tổ chức, hội nhóm xã hội khi sự gia tăng nhanh chóng về số lượng cùng các hoạt động phủ khắp của họ trên nhiều lĩnh vực đã mang tới những thách thức cho cơ quan hành pháp ở nhiều quốc gia trong vấn đề giám sát, quản lý. Nhiều hội, nhóm chỉ quan tâm đến mục tiêu chiêu mộ thành viên mà bỏ qua hàng loạt những quy định quan trọng về phẩm chất, đạo đức của người ứng tuyển.

Bên cạnh đó, các tổ chức xã hội này dễ dàng nhận được nhiều khoản tiền tài trợ từ khắp nơi trên thế giới dưới nhiều hình thức giải thưởng, học bổng, gây quỹ cộng đồng trực tuyến, donate (ủng hộ)... Các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội như Facebook cũng cho phép tạo chiến dịch gây quỹ đối với những tổ chức phi lợi nhuận trên mạng xã hội với cam kết “chi trả toàn bộ phí xử lý thanh toán đối với tiền quyên góp cho tổ chức phi lợi nhuận trên Facebook”.

Do đó, một số tổ chức có ngân sách và nhiều khoản thu thường xuyên lên đến hàng nghìn cho đến hàng triệu USD. Mặc dù giữ số tiền giá trị như vậy nhưng các tổ chức này lại thiếu minh bạch trong hoạt động quản lý, thu, chi, kê khai thuế.

Không chỉ vậy, tình hình thế giới thời gian gần đây liên tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường cũng tạo ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý hội, nhóm theo quy định của pháp luật. Cuộc khủng hoảng nhân đạo phát sinh do đại dịch COVID-19, mâu thuẫn sắc tộc, chiến tranh,... khiến cho nhu cầu thiện nguyện, hỗ trợ xã hội, bảo vệ các nhóm đối tượng yếu thế ngày một nhiều. Kéo theo đó, hiện tượng cá nhân, tổ chức lợi dụng các hoạt động xã hội, thiện nguyện để vi phạm pháp luật có chiều hướng gia tăng, nổi lên là các hành vi lừa đảo, rửa tiền, trốn thuế, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng và nghiêm trọng hơn cả là xâm phạm an ninh quốc gia.

Dù không thể phủ nhận những ưu điểm, mặt tích cực mà tổ chức, hội nhóm xã hội đem lại với cộng đồng, xã hội, các quốc gia đều cần phải đánh giá đầy đủ những mặt tối, hạn chế nảy sinh trong những hoạt động này. Trên bình diện quốc tế, các tổ chức liên chính phủ, liên minh đa quốc gia và những nước lớn cần có cái nhìn công tâm, đánh giá cẩn trọng trước các văn bản nhân danh báo cáo nhân quyền để bao che, dung túng cho các tội phạm hình sự, tài chính, kinh tế.

Những năm qua, để xóa bỏ vướng mắc và hiểu lầm chung quanh vấn đề nhân quyền, Việt Nam đã có nhiều đóng góp trực tiếp vào công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới, vốn là một trong ba nhiệm vụ trụ cột của Liên hợp quốc.

Minh chứng rõ nét nhất thể hiện qua sự hợp tác chặt chẽ, có trách nhiệm của Việt Nam trong các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc từ khi cơ quan này được thành lập. Ngày 11/10/2022, Việt Nam lần thứ hai trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

Ngày 27/2, tại phiên họp cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang tiếp tục khẳng định, phương châm tham gia Hội đồng Nhân quyền của Việt Nam là “Tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và hợp tác. Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chủ động phát huy các cơ chế trao đổi, đối thoại, hợp tác song phương về quyền con người với Liên minh châu Âu (EU) và các nước lớn theo hướng tăng cường hợp tác trên các vấn đề quyền con người mà các bên cùng quan tâm.

Ngày 19/6, tại Đối thoại Nhân quyền EU-Việt Nam diễn ra tại Hà Nội, thông cáo báo chí chính thức của EU nhận định “Hai phái đoàn Việt Nam và EU đều bày tỏ sự đánh giá cao về quan hệ đối tác giữa Việt Nam và EU, đặc biệt kể từ khi Hiệp định Thương mại tự do EU-Việt Nam (EVFTA) bắt đầu có hiệu lực từ tháng 8/2020 (...).

Những tiến bộ và phát triển liên quan đến bình đẳng giới, quyền trẻ em, quyền của người LGBT, cũng như liên quan đến việc chống nạn buôn bán người cũng được thảo luận chi tiết.

Việt Nam và EU ghi nhận vai trò quan trọng của các cơ quan truyền thông, các tổ chức phi chính phủ và các bên liên quan khác, cũng như sự cần thiết bảo đảm môi trường thuận lợi để họ có thể tham gia hiệu quả, bao gồm trong khuôn khổ Hiệp định chung về Đối tác và Hợp tác toàn diện giữa EU và Việt Nam (PCA) cũng như trong khuôn khổ EVFTA”.

Bên cạnh đó, các quốc gia cũng cần xây dựng cơ chế hợp tác trong phòng chống tội phạm xuyên quốc gia dưới vỏ bọc của các đoàn thể xã hội, tổ chức phi chính phủ hoạt động về bảo vệ môi trường và các quyền con người khác.

Đồng thời các cá nhân, tổ chức, hội nhóm hoạt động vì cộng đồng, xã hội cần nghiêm túc xác định rõ các mục tiêu, điều lệ và hành động luôn phải nằm trong khuôn khổ quy định pháp luật, kiên quyết loại bỏ những thành viên không đủ tiêu chuẩn, có biểu hiện tư lợi, ý đồ không trong sáng. Đây chính là nền tảng quan trọng giúp các hội, nhóm có thể đạt được những giá trị tốt đẹp, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước./.

QUANG MINH (nhandan.vn)

Hiểu đúng bản chất quyền lực tối thượng ở Việt Nam là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc

 Hiểu đúng bản chất quyền lực tối thượng ở Việt Nam là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc

Ảnh minh họa: MINH TRƯỜNG

1. Lâu nay, chúng ta đã cởi mở hơn, tin cậy hơn trong những thảo luận nhiều vấn đề về đời sống xã hội. Xã hội chúng ta ngày càng công bằng, dân chủ, văn minh hơn, trước hết do chúng ta đã biết tự cân bằng các khu vực quyền lực, ứng xử đúng mực với mọi giai tầng xã hội. Điều này không phải bây giờ mới diễn ra mà đã có từ thượng cổ. Đó chính là nền tảng văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng phong phú, sâu sắc, toàn diện và luôn được các thế hệ người Việt Nam vun trồng, bồi đắp.

Đại đức Thích Đồng Đạo, trụ trì chùa Phương Lan, xã Nam Phương Tiến (huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội) có nói đại ý rằng, để có những trang văn hay và chính xác hơn nữa đối với văn học sử của Việt Nam thì các nhà văn nên nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vì sử nước nhà có những giai đoạn song hành với sử Phật giáo. Nhiều vị quân vương nước ta lên ngôi dùng quyền lực trị vì thiên hạ đều có mối liên hệ mật thiết với Phật giáo qua các thiền sư. Khi vương triều nào đó mất đi thì các thiền sư vừa đảm nhiệm vai trò giữ đạo, vừa giữ nguồn tri thức cho dân tộc nên phần lớn các vị quân vương đều nhờ sự giáo dưỡng rất lớn của các thiền sư, mà điển hình nhất là Lý Bí, Lý Công Uẩn... Khi chúng ta nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo sẽ giúp nhà văn dùng từ ngữ và các di tích liên quan đến Phật giáo và lịch sử dân tộc đúng đắn, hay hơn nhiều.

Tư duy trên của vị Đại đức phần nào nói lên rằng, nền Phật giáo Việt Nam chính là một bộ phận cấu thành nền văn hóa Việt Nam, góp phần vào sự trưởng thành đi tới văn minh của con người Việt Nam hiện đại. Đây cũng là một trong những nền tảng căn bản hình thành nên cốt cách dân tộc Việt Nam.

2. Quay lại vấn đề quyền lực. Thực ra, trong bất kỳ thể chế chính trị nào đều là câu chuyện hành xử quyền lực như thế nào để ích nước, lợi dân. Quyền lực của thể chế chính trị triều Lý, triều Trần, triều Lê đều tập trung nơi các vị vua, nơi triều đình. Thế thì tại sao, cũng là quyền lực đó ở các vị vua khai quốc, các vị minh quân, các đại thần tài đức thì nhân dân và Tổ quốc được ấm no, hạnh phúc, đất nước được bình yên, cường thịnh; nhưng với khung khổ quyền lực ấy rơi vào tay các hôn quân, gian thần đều khiến chính thể rối ren, nhân dân đói khổ, mất tự do, thậm chí mất nước, mất vương triều?

Như thế, quyền lực và thực thi quyền lực của một chế độ chính trị phải trở thành thái độ văn hóa sâu rễ bền gốc chứ không phải sự thỏa thích thực thi tất cả quyền hành để thỏa mãn chế độ chính trị đó. Nền tảng của quyền lực không thể bất định, cứng nhắc, chỉ khư khư dựa vào nguyên tắc giáo điều, mà quyền lực thời nay thể hiện tốt nhất vai trò của mình là thực thi quyền lực dựa trên nền tảng thượng tôn hiến pháp, pháp luật gắn với giá trị truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc.

3. Thời gian gần đây, một số “nhà dân chủ” trong nước và ngoài nước cho rằng, bộ máy chính trị ở Việt Nam đã lộng quyền, tham nhũng tràn lan, từ đó làm mất vai trò quyền làm chủ của nhân dân. Thực tế đó chỉ sự đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Với chế độ của chúng ta, từ khi đặt nền móng độc lập (1945) đến nay, Hiến pháp và luật pháp của Việt Nam luôn hướng tới những điều tốt đẹp, quyền lực tối thượng luôn để phục vụ nhân dân và Tổ quốc. Điều này là bất di bất dịch. Gần 80 năm qua, chúng ta đã hết sức kiên định, đem tất cả của cải và vật chất, trí tuệ và niềm tin, nhất quán với con đường đã chọn, nhưng cũng biết cách linh hoạt để bảo vệ quyền lợi cao nhất của nhân dân, của quốc gia, dân tộc.

Để giữ gìn sự liêm chính của chính thể, sự trong sạch của bộ máy công quyền, những năm qua, chúng ta đã đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiên quyết "nhốt" quyền lực trong lồng cơ chế. Về vấn đề này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trong Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, đã nhận định: "Thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng nói riêng cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực và cơ chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng. Phải xây dựng các quy chế nội bộ của Đảng, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng... Khẩn trương hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng cho rằng, tham nhũng là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Do vậy, trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng không được chủ quan, nóng vội, thỏa mãn; không được né tránh, cầm chừng, không "ngừng" , không "nghỉ"; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải luôn cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

4. Trong xu thế thời cuộc và thời đại hôm nay, thế giới chuyển động không ngừng với nhiều điểm nóng phức tạp, việc thực hành và kiểm soát quyền lực một cách bền vững để phục vụ lợi ích của nhân dân và Tổ quốc phải được đặt ra một cách có hệ thống trên nền tảng văn hóa Việt Nam. Bác Hồ từng huấn thị: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Đó chính là phương lược lâu dài của chính thể chúng ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Xã hội Việt Nam đang phát triển nhanh, khá toàn diện chính vì đã khơi dậy được nhiều nguồn lực và có cơ chế đúng đắn kiểm soát tốt các khu vực quyền lực. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa diễn ra nhanh, toàn diện đã và đang đặt ra không ít thách thức về quyền lực và thực hành quyền lực, kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Một bộ phận cán bộ, trong đó có những cán bộ cấp cao đã tha hóa biến chất, bị quyền lực, vật chất cám dỗ làm hư hỏng bản thân đến mức phải bị kỷ luật, thậm chí bị xử lý hình sự. Đây là bài học đau xót về sự thiếu giám sát, kiểm soát dẫn đến tha hóa quyền lực.

Xã hội ta đang trưởng thành về mọi mặt. Trong bước đường trưởng thành sẽ phải đối mặt và vượt qua nhiều thách thức, trở ngại, mà thách thức và trở ngại lớn nhất chính là quá trình thực thi quyền lực trong cơ chế chính trị một Đảng cầm quyền duy nhất ở nước ta. Điều này đã được Đảng, Nhà nước ta nhận thức sâu sắc, rõ ràng và đang nỗ lực thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ để bảo đảm cho đất nước ta phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Ví như mới đây, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Quy định số 205-QĐ/TW do Bộ Chính trị khóa XII ban hành năm 2019 chỉ nói đến kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Còn Quy định số 114 đã đề cập đến việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ với phạm vi rộng hơn. Bên cạnh đó, các cơ chế, giải pháp cũng được quy định cụ thể hơn, chặt chẽ hơn. Điều này cho thấy, Đảng ta không ngừng hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng, tha hóa quyền lực, nhằm bảo đảm mục tiêu ở đâu có quyền lực thì ở đó phải được kiểm soát chặt chẽ.

Phải khẳng định rằng, gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng của nó chính là phục vụ nhân dân và phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là điều đáng phải phê phán./.

Theo qdnd.vn

Bảo đảm an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau

 Bảo đảm an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau

Ðại diện Mặt trận Tổ quốc huyện Châu Ðức (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), chính quyền xã Bàu Chinh và nhà tài trợ bàn giao nhà cho gia đình bà Lê Thị Mụn.
Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động không ngừng thực hiện những âm mưu, thủ đoạn nhằm chống phá Ðảng, Nhà nước, hòng phủ nhận những thành quả và nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm an sinh xã hội.
 
Các đối tượng triệt để lợi dụng một số vấn đề kinh tế - xã hội có tác động đến đời sống người dân như: tình trạng bất ổn của giá xăng dầu, tình trạng thua lỗ của doanh nghiệp nhà nước, đời sống của một bộ phận người dân gặp khó khăn sau đại dịch COVID-19, hiện tượng lạm dụng chức vụ, quyền hạn của một số cán bộ, công chức gây hậu quả nghiêm trọng,... từ đó công kích, tuyên truyền xuyên tạc để chống phá chính sách thuế, phí, chính sách an sinh xã hội, hạ thấp uy tín, năng lực điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp.

Các đối tượng rêu rao rằng “bức tranh kinh tế trong nước rất ảm đạm”, “đời sống người dân Việt Nam nói chung đang gặp rất nhiều khó khăn, người lao động thì cạn tiền lại mất việc”... Từ đó các đối tượng phản động quy chụp rằng, có tình trạng trên là do “hệ lụy” của công tác lựa chọn, quản lý cán bộ yếu kém, do chế độ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không đủ nguồn lực để thực hiện an sinh xã hội...

Trước hết, phải thấy rằng, những khó khăn trong cuộc sống của người dân và nền kinh tế sau đại dịch COVID-19 là tình trạng chung không thể tránh khỏi với nhiều quốc gia trên thế giới, không chỉ đối với riêng Việt Nam. Tình trạng lạm phát, người dân phải thắt chặt chi tiêu, giá hàng hóa, nhiên liệu liên tục tăng, tác động sâu rộng đến đời sống, sinh hoạt hằng ngày của mỗi người dân... là hệ quả tất yếu của thị trường chung toàn cầu.

Chính phủ Việt Nam đã kịp thời có những giải pháp, chính sách nhanh chóng tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp, bình ổn giá xăng dầu, điều chỉnh thuế, phí liên quan đến xăng dầu... Một số hiện tượng lạm dụng chức vụ quyền hạn dẫn đến vi phạm pháp luật của một số cán bộ trong đại dịch COVID-19 là do sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý và đang được xử lý nghiêm minh.

Trong bối cảnh đó cần ghi nhận những nỗ lực của Ðảng, Nhà nước ta nhằm đưa đất nước vượt qua khó khăn, bảo đảm đời sống nhân dân, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trong và sau đại dịch, thậm chí vượt qua GDP của một số nước phát triển.

Nhiều chỉ số quốc gia của Việt Nam liên tục được cải thiện và vươn lên trên các bảng xếp hạng quốc tế, như Top 30 các quốc gia hùng mạnh nhất thế giới năm 2022; xếp vị trí 48/132 quốc gia về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII); cùng hàng loạt các chỉ số không ngừng được tăng cao như chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI), chỉ số các nước an toàn nhất, chỉ số Quốc gia hạnh phúc, v.v.

Những chỉ số này cho thấy, cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá tích cực về Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Bất chấp khó khăn, thách thức, Việt Nam đang từng bước phục hồi mạnh mẽ, sự tăng trưởng về kinh tế góp phần thúc đẩy, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm thực hiện tốt những chính sách an sinh xã hội của Ðảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho những người yếu thế ổn định cuộc sống.

Các chính sách an sinh xã hội được triển khai với nhiều nội dung vượt chỉ tiêu đặt ra trong Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 10/6/2012, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa XI) về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. Chẳng hạn, có 5/26 chỉ tiêu vượt và hoàn thành trước thời hạn (nhà ở cho người có công, trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, tỷ lệ đi học đúng tuổi, bảo hiểm y tế, tiêm chủng mở rộng); 16 chỉ tiêu đạt mục tiêu vào năm 2020 (tiêu biểu như: mức trợ cấp người có công; thất nghiệp chung; thất nghiệp thành thị; giảm nghèo chung; giảm nghèo tại các huyện, xã có tỷ lệ nghèo cao; thu nhập bình quân đầu người hộ nghèo; trợ giúp xã hội đột xuất; trẻ em đi học trung học cơ sở đúng tuổi; người biết chữ từ 15 tuổi...).

Bên cạnh đó, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam cũng liên tục tăng trong bảng xếp hạng của Liên hợp quốc từ vị trí 128/187 năm 2011 lên vị trí 117 năm 2020... đã cho thấy một thực tế đáng ghi nhận là mức sống, sức khỏe và tuổi thọ của người Việt Nam không ngừng được nâng lên. Những kết quả trên đây cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang có những bước phát triển vững mạnh, vị thế trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, chính sách an sinh xã hội đã và đang được triển khai sâu rộng và toàn diện.

Bất chấp thực tế đó, các đối tượng chống phá thù địch cố tình lờ đi và không ngừng đưa ra những luận điệu xuyên tạc năng lực quản lý, điều hành và vai trò của chính sách an sinh xã hội của Ðảng, Nhà nước, như việc quy kết “Nhà nước bỏ mặc dân nghèo tự lo”, “chế độ an sinh xã hội ở Việt Nam có chiều hướng thụt lùi”... Cần khẳng định rằng, an sinh xã hội là một chủ trương quan trọng, xuyên suốt của Ðảng và Nhà nước ta và ngày càng được thực hiện sâu rộng, toàn diện.

Với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, những năm qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác an sinh xã hội, trong đó, phải kể đến chính sách xóa đói, giảm nghèo. Việt Nam đã trở thành một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng chuẩn nghèo đa chiều nhằm bảo đảm tốt nhất quyền con người, quyền công dân, hướng tới hỗ trợ toàn diện cho người nghèo nâng cao chất lượng cuộc sống. Việt Nam cũng hoàn thành sớm mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa đói, giảm nghèo, là điểm sáng về giảm nghèo trên thế giới.

Những năm gần đây, nhiều chương trình mục tiêu vì người nghèo nhận được sự quan tâm chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo các bộ, ngành liên quan và thu được những kết quả thiết thực. Tiêu biểu như chương trình “Cả nước chung tay vì người nghèo”; phong trào thi đua “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” do Thủ tướng Chính phủ phát động; phát động Tháng cao điểm “Vì người nghèo”... được triển khai những năm qua đã góp phần chăm lo giúp đỡ người nghèo, người yếu thế, có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội.

Theo thống kê sơ bộ, trong giai đoạn 2020-2022, dù dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, đồng thời phải tập trung cao độ cho công tác phòng chống dịch, song Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tích cực vận động các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp ủng hộ Quỹ Vì người nghèo và thực hiện an sinh xã hội được hơn 19.313 tỷ đồng. Trong đó, Quỹ Vì người nghèo 4 cấp vận động được hơn 3.865 tỷ đồng, vận động các doanh nghiệp, cá nhân ủng hộ chương trình an sinh xã hội trực tiếp các địa phương hơn 15.448 tỷ đồng.

Từ nguồn vận động, cùng với sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước và sự trợ giúp của cộng đồng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã giúp đỡ xây mới và sửa chữa được 102.910 căn nhà đại đoàn kết cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn; hỗ trợ hơn 2,4 triệu lượt người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn khám, chữa bệnh; giúp đỡ 593.034 lượt học sinh, sinh viên về học tập; hỗ trợ 663.771 lượt người phát triển sản xuất.

Cùng với chính sách vì người nghèo, nhiều chính sách an sinh xã hội khác cũng được thực hiện tốt. Theo số liệu từ Cục Bảo trợ xã hội (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội), hiện nay cả nước đang thực hiện trợ cấp xã hội hằng tháng cho hơn 3 triệu đối tượng; trong đó hơn 1,8 triệu người cao tuổi; 1,1 triệu người khuyết tật; 49 nghìn trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi... Gần 3,3 triệu người đang hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng; 1,4 triệu người cao tuổi hưởng trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng, khoảng 10 nghìn người cao tuổi đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các cơ sở trợ giúp xã hội, 95% người cao tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế và được lập hồ sơ quản lý theo dõi sức khỏe ban đầu.

Hàng trăm các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, chăm sóc người khuyết tật, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người tâm thần và trung tâm công tác xã hội hoạt động hiệu quả. Trong đó, mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội đã cung cấp dịch vụ cho người lớn và trẻ em khuyết tật và tâm thần chiếm tỷ lệ lớn 46,5%, số đối tượng là trẻ em mồ côi và bị bỏ rơi chiếm một tỷ lệ 19,3%, người già cô đơn chiếm tỷ lệ 10,3%, trẻ em và người lớn nhiễm HIV/AIDS chiếm tỷ lệ 1,4%. Công tác cứu trợ, hỗ trợ thiên tai được thực hiện tốt… Có thể thấy, những hoạt động này đã thể hiện được bản chất nhân văn, dân chủ, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự nỗ lực và những kết quả tích cực của Ðảng, Nhà nước trong bảo đảm an sinh xã hội.

Những nỗ lực trong công tác an sinh xã hội thời gian qua cũng cho thấy sự chung tay, góp sức của toàn dân, của các cá nhân, tổ chức, các nhà hảo tâm và của chính những người dân. Do đó, thực hiện và bảo đảm an sinh xã hội không phải chỉ là trách nhiệm của Nhà nước như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, mà đây là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Theo đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong tổ chức thực hiện và phát huy vai trò, kêu gọi trách nhiệm của mọi cá nhân, tổ chức, các nhà hảo tâm và cả cộng đồng trong bảo đảm thực hiện an sinh xã hội. Mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền lợi và nghĩa vụ trong tham gia thực hiện an sinh xã hội. Ðiều này vừa thể hiện tính dân chủ, vừa phát huy được tối đa nguồn lực vật chất, tinh thần, trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân. Ðó là điều kiện quan trọng để góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng cao, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được nâng lên, những người yếu thế trong xã hội được trợ giúp và bảo đảm ổn định cuộc sống./.

TS. NGÔ THỊ NỤ (nhandan.vn)

Đập tan luận điệu “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

 Đập tan luận điệu “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

Các đại biểu biểu quyết, thông qua Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ảnh: Phạm Cường.

ĐỔI MỚI VÀ NGUỒN LỰC CỦA ĐỔI MỚI

Theo Từ điển tiếng Việt, đổi mới là “điều thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước đây, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”(2). Bản chất của đổi mới là sự phủ định biện chứng cái cũ, phát triển thành cái mới tốt hơn, tiến bộ hơn. Trong xã hội, đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt đẹp, tiến bộ hơn. Đối với Việt Nam, đổi mới mang tầm vóc của một cuộc cách mạng mà đích hướng tới là phát triển con người, vì mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Như vậy, đổi mới gắn liền với phát triển, là một phương thức của phát triển. Bên cạnh những nguồn lực, động lực thúc đẩy xã hội thì đổi mới cũng luôn gặp những lực cản, trở ngại của tư duy cũ, thể chế cũ, thói quen cũ.

Nguồn lực là một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động nào nếu muốn có kết quả. Đổi mới sẽ không thể thành công nếu không có các nguồn lực bảo đảm. Nguồn lực của đổi mới là nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần được huy động để tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Xét về phạm vi lãnh thổ, có nguồn lực trong nước và nguồn lực bên ngoài. Nguồn lực trong nước gồm: trữ lượng tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn lao động, tiềm lực về kinh tế, quốc phòng, an ninh,… thể chế chính trị, truyền thống lịch sử - văn hóa, sức sáng tạo của con người, hệ giá trị và chính sách của quốc gia. Nguồn lực từ bên ngoài gồm: vốn, thị trường, khoa học và công nghệ, kinh nghiệm quản lý sản xuất, kinh doanh từ các nước khác. Xét về nguồn gốc hình thành, có nguồn lực tự nhiên, đó là điều kiện địa lý, tài nguyên đất đai, khoáng sản, nguồn nước, năng lượng mặt trời, năng lượng gió và các loại tài nguyên sinh vật và phi sinh vật khác trên mặt đất, trong lòng đất, dưới đại dương,… và nguồn lực phi tự nhiên là các loại nguồn lực chủ yếu được tạo ra bởi con người, như: thể chế quản lý, nhân lực, vốn, giá trị văn hóa, khát vọng phát triển, tư duy lãnh đạo, sở hữu trí tuệ. Trong hệ thống các nguồn lực thì nguồn lực trong nước có vai trò quyết định đến sự nghiệp đổi mới; nguồn lực bên ngoài là yếu tố quan trọng. Việc kết hợp đúng đắn, khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẽ quyết định đến sự thành công của đổi mới.

VẠCH TRẦN ẨN Ý THÂM ĐỘNG CỦA LUẬN ĐIỆU “ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM ĐÃ CẠN KIỆT NGUỒN LỰC”

Một cách chung nhất, “cạn kiệt” được hiểu là “cạn sạch, đến mức không còn tìm đâu, lấy đâu ra nữa”3. Theo đó, “cạn kiệt nguồn lực” là cạn sạch, không còn nguồn lực nữa. Có thể thấy rằng, luận điệu trên không đơn thuần là một bình luận, một nhận định hay một đánh giá, mà ẩn ý của nó là một sự phủ định sạch trơn về nguồn lực của đổi mới. Điều đó cũng đồng nghĩa với phủ định đổi mới. Bởi, khi không còn nguồn lực tiếp sức thì đổi mới tự nó cũng kết thúc. Ẩn ý là rõ ràng và rất tinh vi. Họ không trực tiếp phủ nhận đổi mới, mà phủ nhận đổi mới thông qua phủ định nguồn lực của nó. Từ đó họ “khuyên” ta không nên đổi mới nữa, vì “đổi mới đã xong”, nghĩa là “đổi mới đã chết”(!?). Không đổi mới đồng nghĩa với không phát triển theo mục tiêu, con đường đã xác định, đã lựa chọn; là dừng lại, thỏa hiệp, đầu hàng trước cái cũ, cái lỗi thời, lạc hậu.

 Thực tế, chúng ta đã từng trải qua những thời khắc lựa chọn nghiệt ngã của lịch sử: “đổi mới hay là chết”. Chúng ta đã lựa chọn “đổi mới” và có được những thành quả như hôm nay. 

Mặt khác, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Điều này đã được Đảng ta, Nhân dân ta và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Ấy vậy mà những người đưa ra luận điệu trên lại thấy thành quả đổi mới chỉ là làm “cạn kiệt nguồn lực” của đất nước (!?). Từ đây, một câu hỏi được đặt ra: sự “cạn kiệt nguồn lực” này là do đâu và ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước hiện trạng này? Ai cũng biết rằng, công cuộc đổi mới là do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện, theo đó, một hệ luận rất sâu xa ngầm được rút ra mà ai cũng hiểu sự ám chỉ của nó. Cái tinh vi là họ không trực tiếp đổ lỗi, không quy cho một chủ thể nào một cách trực diện, võ đoán, nhưng đích mà họ nhắm đến là nhất quán, không thay đổi, đó là: phủ nhận đổi mới, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nham hiểm ở chỗ, chỉ với một luận điệu nêu ra, các thế lực thù địch đã nhằm hai đích: phủ nhận công cuộc đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng ta.

ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM CHƯA BAO GIỜ VÀ SẼ KHÔNG BAO GIỜ CẠN KIỆT NGUỒN LỰC

Chúng ta có thể khẳng định rằng, đổi mới ở Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ cạn kiệt nguồn lực bởi các lẽ sau:

Thứ nhất, đổi mới ở Việt Nam là đổi mới sáng tạo và tự giác. Đó là một chương trình cải cách có mục tiêu, nguyên tắc, lộ trình và những bước đi thích hợp, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện. Công cuộc đổi mới được hoạch định, trù liệu và được dẫn dắt bởi cương lĩnh, chiến lược, đường lối, quan điểm của Đảng. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời điểm quan trọng, then chốt của đổi mới, Đảng ta đều có những quyết sách đúng đắn nhằm phát hiện đúng các nguồn lực, kích hoạt các nguồn lực đó thông qua các cơ chế, chính sách, giải pháp tác động vào con người, xã hội để khai thác, phát huy vai trò các nguồn lực phục vụ cho đổi mới và phát triển đất nước. Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới của Đảng đã chỉ rõ: “Cần đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, các cơ chế, chính sách, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để khơi dậy những tiềm năng, nguồn lực của đất nước, tạo ra động lực mới cho quá trình đổi mới”(4).

Thứ hai, đổi mới ở Việt Nam vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, do đó đã phát huy được mọi nguồn lực to lớn trong nhân dân. Mục tiêu đó không chỉ có tác dụng định hướng công cuộc đổi mới mà còn đóng vai trò nguồn lực thúc đẩy đổi mới các lĩnh vực khác. Việc thực hiện hiệu quả các mục tiêu này cho phép phát huy được các nguồn lực rất to lớn trong nhân dân, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài, bao gồm nhân lực, tài lực và vật lực. Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo cơ chế, chính sách hợp lý, môi trường thuận lợi; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội; hoàn thiện thể chế, chính sách,... để thu hút, phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển đất nước. Đại hội XII của Đảng đã đề ra chủ trương thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân,… qua đó đẩy mạnh đồng bộ công cuộc đổi mới.

Thứ ba, sự kết hợp giữa “ý Đảng với lòng dân và kỷ cương phép nước” đã tạo ra nguồn lực to lớn, có tính quyết định của đổi mới. Đổi mới ở Việt Nam là sự kết hợp, bắt gặp, đồng thuận giữa đổi mới từ cơ sở, từ phía người dân với đổi mới từ các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Đó là sự đồng thuận giữa “ý Đảng và lòng dân”, làm cho sự nghiệp đổi mới của Việt Nam trở thành sự nghiệp chung của toàn dân, do Đảng lãnh đạo. Điều này cho thấy nguồn lực của đổi mới là nguồn lực to lớn của nhân dân; sức mạnh của đổi mới là sức mạnh của nhân dân, của dân chủ, đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn lấy “đoàn kết” làm giá trị cốt lõi và “đại đoàn kết toàn dân tộc” làm đường lối chiến lược trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng, là nguồn lực và động lực chủ yếu của dân tộc Việt Nam. Đây là nguồn lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Do đổi mới là sự đồng thuận giữa “ý Đảng và lòng dân”, nên khi Đảng ta phát động đổi mới thì lập tức được nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo hiệu ứng mạnh mẽ: “Tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, trở thành nguồn lực to lớn cho sự nghiệp đổi mới đất nước.

Thứ tư, bản thân đổi mới là một nguồn lực quan trọng nhất để duy trì lợi thế phát triển. Đổi mới không chỉ là phương thức, mà còn là một nguồn lực của phát triển. Đó là nguồn lực được sinh ra trong quá trình đổi mới, là kết quả của đổi mới, do chính những thành tựu của đổi mới tạo ra. Nguồn lực tự sinh này bắt nguồn từ tầm vóc lịch sử, quyết sách chiến lược của đổi mới; triết lý giải phóng - sáng tạo - phát triển của đổi mới; đặc điểm, tính chất của đổi mới, v.v. Nguồn lực này tiếp thêm sức mạnh cho đổi mới, tạo thế và lực mới cho đất nước ta. Tất cả các nguồn lực khác, nếu không có đổi mới thì sẽ được quản lý, khai thác, phân bổ theo cách thức, tư duy cũ sẽ không phát huy tối đa hiệu quả. Nhờ đổi mới, các nguồn lực cũng sẽ được phân bổ hợp lý hơn, nuôi dưỡng và tái tạo để không bị suy giảm trong quá trình khai thác, sử dụng. Cũng nhờ đó, mà tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc được khơi dậy mạnh mẽ, trở thành nguồn lực vô tận của đổi mới và phát triển.

Nguồn lực của đổi mới không phải là một, là duy nhất mà là một hệ thống, bao gồm nhiều nguồn lực, cả vật chất và tinh thần, trong kinh tế, chính trị và văn hóa, trong các giá trị truyền thống đã kết tinh thành di sản, trong các giá trị mới được sinh ra từ đổi mới và phát triển. Thời gian qua, bên cạnh những thành công trong khai thác, phát huy các nguồn lực thì những hạn chế, yếu kém trong quản lý cùng với những tiêu cực, lãng phí đã làm thất thoát rất lớn các nguồn lực của đất nước. Điều này đã làm không ít người hiểu sai bản chất của đổi mới, bản chất của Đảng ta, để một số phần tử cơ hội chính trị lợi dụng reo rắc những luận điệu sai trái, thù địch nhằm kích động, gây phân tâm trong một bộ phận nhân dân, cán bộ, đảng viên. Việc vạch trần các thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc và phản bác các luận điệu sai trái của các phần tử cơ hội này là hết sức cần thiết và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Qua đó, giúp chúng ta ngày càng hiểu đúng và vững tin hơn vào con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã chọn để thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

PGS, TS Phan Trọng Hào
Hội đồng Lý luận Trung ương

Không thể xuyên tạc nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương

 Không thể xuyên tạc nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương

Các đại biểu tham quan triển lãm sách ảnh về chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG, THÂM ĐỘC

Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Tuyên giáo Trung ương theo Quyết định số 88-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ban Tuyên giáo Trung ương do đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư ký ngày 1/12/2022 là “Tham mưu công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về học tập, nghiên cứu về ý nghĩa vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” (Quyết định số 88-QĐ/TW). Cho nên, dù là thực thi nhiệm vụ theo Quyết định số 113-QĐ/TW ngày 9/7/2012 của Bộ Chính trị khóa XI về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Tuyên giáo Trung ương hay theo Quyết định số 88-QĐ/TW, thì các vụ chức năng của Ban Tuyên giáo Trung ương cũng luôn làm đúng, làm tròn nhiệm vụ được giao như nội dung đã nêu trên.

 Thực tế, việc nghiên cứu, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự tham mưu, chỉ đạo hệ thống truyền thông, báo chí, xuất bản, báo cáo viên, tuyên truyền miệng (gọi chung là các cơ quan tuyên truyền của Đảng) trong quá trình  tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong việc nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều đã, đang và tiếp tục được triển khai sâu rộng từ Trung ương đến địa phương.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại coi việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi việc các cơ quan tuyên truyền của Đảng tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; về việc thấu triệt để vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là “tuyên truyền cái chủ nghĩa Mác - Lênin đã chết yểu từ lâu”, là “tuyên truyền láo vì làm gì có tư tưởng Hồ Chí Minh” hay “dù chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đưa đất nước đến tụt hậu và tham nhũng tràn lan, song “tuyên giáo” vẫn ra rả phải kiên định, phải bảo vệ, vì đó là nền tảng tư tưởng của Đảng”… Không dừng ở đó, các thế lực thù địch còn cho rằng, việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người ở Việt Nam theo chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương chính là một kiểu “tuyên truyền không có ý thức, bất chấp thủ đoạn”; là “việc tuyên truyền ở cấp độ thấp kém để lôi kéo đối tượng tiếp nhận thông tin một cách lệch lạc”...

Việc xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đi đến đòi xóa bỏ chủ nghĩa xã hội để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa là điều mà các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, phản động thường xuyên muốn làm; đã và đang tiếp tục tiến hành. Đồng thời, Việt Nam lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là điều mà họ thường xuyên chống phá bằng các chiêu trò xuyên tạc, kích động, bẻ cong sự thật…

TẤT YẾU PHẢI KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Trước những luận điệu phản động, thâm độc này, cần phải khẳng định rằng:

Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đã kiên cường đấu tranh và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, trong các cuộc chiến tranh ở hai đầu biên giới Tây Nam và phía Bắc để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của một Đảng Mácxít Lêninnít trong sạch, vững mạnh thì không thể có những thành tựu mà đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã đạt được về mọi mặt trong những thập niên qua cũng như “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như hiện nay”(1) như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Vì thế, việc mỗi cá nhân, tập thể cần phải nghiên cứu, học tập, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người - coi đó là nhu cầu tự thân, tự giác; việc các cơ quan tuyên truyền của Đảng tham mưu, chỉ đạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cả hệ thống chính trị - coi đó là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài chính là để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thấm nhuần và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào thực tiễn cuộc sống. Thực tế, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sẽ giúp mỗi người có được thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, phương pháp luận khoa học; bồi dưỡng, củng cố lý tưởng cách mạng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin; giúp rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị để sống và làm người cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Cho nên, thế giới càng đổi thay, mọi khó khăn, thách thức càng diễn tiến khó lường, thì các cơ quan tuyên truyền của Đảng càng phải chủ động, kịp thời tham mưu, chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cả hệ thống chính trị. Thông qua đó, để mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền; mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị: 1) Trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn từ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, tháng 2/1930; 2) Chủ động phòng, chống, đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 3) Phòng và chống các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong mỗi người, mỗi tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị từ sớm, từ xa; 4) Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, để kịp thời giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống một cách khách quan, logic, biện chứng.  

Trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ cách mạng ngày càng phải đối diện với nhiều khó khăn, phức tạp hơn trước; công tác phòng và chống sự suy thoái, biến chất, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ cũng phải đối diện với nhiều thủ đoạn, nhiều bẫy "dân chủ", "nhân quyền"; đòi quyền "tự do", xã hội dân sự, đa nguyên, đa đảng, tam quyền phân lập… hơn trước, thì  các cơ quan tuyên truyền của Đảng càng phải tham mưu, chỉ đạo và đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch chủ động và sắc bén hơn. Mọi cấp ủy, cán bộ, đảng viên trong cả hệ thống chính trị càng phải chủ động nhận diện đúng, kịp thời âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị để kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của chúng.

Trước mỗi luận điệu xuyên tạc, công kích về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và đòi xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bôi nhọ Ban Tuyên giáo Trung ương và các cơ quan tuyên truyền của Đảng trong việc thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thì công tác tuyên truyền, đấu tranh và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng phải thể hiện rõ giá trị không thể phủ nhận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với con đường cách mạng Việt Nam, với tiến trình phát triển của sự nghiệp cách mạng, để góp phần củng cố sự thống nhất, vững chắc trong nội bộ Đảng; để hạn chế và chống lại sự tấn công của các thế lực thù địch từ bên ngoài, đồng thời, ngăn chặn sự suy thoái, biến chất, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ bên trong và bác bỏ/xử lý những thông tin sai lệch, xuyên tạc về Đảng, về chủ nghĩa xã hội bằng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bằng hiện thực sinh động của cách mạng Việt Nam hơn 93 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Gần nhất, có thể thấy sự ổn định về chính trị, sự phát triển về kinh tế, văn hóa, an sinh xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của Việt Nam trong 37 năm đổi mới và hội nhập quốc tế trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam chính là minh chứng bác bỏ những thông tin sai lệch, bịa đặt, vu khống, quy chụp của các thế lực thù địch về các cơ quan tuyên truyền của Đảng đã “tuyên truyền sai”, “tuyên truyền láo” không đúng sự thật về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Vai trò, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với con đường cách mạng Việt Nam, với những thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là không thể thay đổi, cũng không thể bẻ cong.

 

Rõ ràng, việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cả hệ thống chính trị mà Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan tuyên truyền của Đảng đã, đang và tiếp tục tham mưu, chỉ đạo và tổ chức thực hiện là đúng đắn.

Mọi luận điệu xuyên tạc, bẻ cong sự thật, bôi nhọ Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan tuyên truyền của Đảng đều là phản động, là nhằm xuyên tạc về lý tưởng của Đảng, về chủ nghĩa xã hội… để chống phá Đảng và chế độ. Điều đó cũng có nghĩa là, Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, chứ không phải do Đảng đã “cưỡng chế” nhân dân “phải chấp nhận chủ nghĩa ngoại lai cộng sản Mác - Lênin” và “tư tưởng Hồ Chí Minh” để “tự chiếm quyền lãnh đạo”, để “duy trì sự độc tài cai trị đất nước”. Đồng thời, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh dần trở thành nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi cá nhân, mỗi tập thể, chứ không phải Đảng “bắt ép nhân dân phải học tập và làm theo Hồ Chí Minh dù nhân dân không muốn” như các thế lực thù địch đã quy chụp, vu khống!.

CÁC CƠ QUAN TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG CÀNG PHẢI KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(2) và “chế độ cộng sản là ai cũng no ấm, sung sướng, tự do; ai cũng thông thái và có đạo đức. Đó là một xã hội tốt đẹp vẻ vang. Trừ những bọn phản động quá sá, thì chắc ai cũng tán thành chế độ cộng sản”(3). Thực tế, “chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủ nghĩa. Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”(4) và thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới là sự thật lịch sử không thể phủ nhận.

Cho nên, không phải ngẫu nhiên trong hành trình khảo nghiệm thực tiễn cuộc sống, các tổ chức mô hình Nhà nước, các cuộc cách mạng để tìm ra con đường cứu nước phù hợp yêu cầu của lịch sử cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đúc kết và khẳng định rằng: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”(5); còn Pháp thì “cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”(6), cho nên, để tất cả quần chúng nhân dân đều được thụ hưởng giá trị thực sự của độc lập, tự do, dân chủ… thì chắc chắn cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không thể đi theo con đường cách mạng tư sản mà phải là con đường cách mạng vô sản như Cách mạng Tháng Mười Nga đã thành công. Và cũng vì thế, sau khi quyết định đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, người chiến sĩ cộng sản quốc tế, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam mà Người còn lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành sự nghiệp cách mạng theo đúng mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930).

Vì mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người; là tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện trong một chế độ xã hội hòa bình, hữu ái, không có áp bức, bóc lột, bất công, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn… thực sự vì con người, cho nên chế độ xã hội đó không chỉ là khát vọng, mong ước tốt đẹp của nhân dân Việt Nam mà là của cả nhân loại tiến bộ. Tuy nhiên, vì những điều kiện cụ thể của mình, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa…) phù hợp điều kiện cụ thể của đất nước, chứ không phải là bỏ qua những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhất định phải trải qua một thời kỳ quá độ (nhằm chuẩn bị điều kiện vật chất, kỹ thuật, đời sống tinh thần của chủ nghĩa xã hội; tạo sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội…), chứ không phải là các cơ quan tuyên truyền của Đảng đã “lừa bịp đưa ra những cột mốc hoang tưởng để lừa gạt người dân” như các thế lực thù địch xuyên tạc.

Thực chất, thời kỳ thời kỳ quá độ theo C.Mác là “giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia”(7). Đó “không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”(8), mà chính là “thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”(9). Còn theo V.I.Lênin thì “không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định. Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế xã hội ấy. Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu”(10).

Vì thế, đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử từ năm 1930. Thực tế, từ những năm 60 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, dù phải “xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh vốn là thuộc địa, một nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh xâm lược tàn phá. Hoàn cảnh ấy, cố nhiên gây cho chúng tôi rát nhiều khó khăn. Song, những thắng lợi bước đầu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phép chúng tôi tin tưởng chắc chắn ở sự cần thiết và khả năng của một nước như nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách thắng lợi không phải qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”(11), chứ không phải chủ nghĩa xã hội là “thiên đường ảo”, nên các cơ quan tuyên truyền của Đảng đã “vẽ ra một cái bánh đẹp đẽ để câu giờ cho Đảng” như các thế lực thù địch đã bịa đặt.

Cuối cùng, có thể khẳng định rằng: Trong 9 thập niên Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành sự nghiệp cách mạng, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dù vẫn còn hạn chế, thách thức trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, bổ sung và hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam, song giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với con đường cách mạng Việt Nam, với sự phát triển trường tồn của dân tộc là không thể phủ nhận.

Từ những kết quả đạt được trên thực tế, có thể thấy, dù mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu có sụp đổ, song con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam lựa chọn từ năm 1930 là phù hợp và đúng đắn.

Đặc biệt, chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng là một xã hội hướng tới các giá trị đích thực vì con người; trong xã hội đó, không có “sự cạnh tranh chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm”, không có kiểu “cạnh tranh bất công, cá lớn nuốt cá bé” và nhất là không có việc chỉ vì “lợi nhuận mà bóc lột chà đạp lên phẩm giá con người” như lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mà Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan tuyên truyền của Đảng đã tham mưu, chỉ đạo, tiến hành tuyên truyền, đấu tranh và bảo vệ (thường xuyên, liên tục, lâu dài) là quan trọng và cần thiết. Đó mới là sự thật và sự thật này bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, bôi đen, đầy sự kích động của các thế lực thù địch./.

TS. Văn Thị Thanh Mai

TS. Đinh Quang Thành