Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2023

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng giai cấp nông dân - Vận dụng vào công cuộc xây dựng nông thôn hiện đại, nông dân văn minh ở Việt Nam hiện nay

 TCCS - Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giai cấp nông dân Việt Nam - lực lượng rất to lớn của dân tộc. Xây dựng nông thôn hiện đại, nông dân văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ trương nhất quán của Đảng, góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng giai cấp nông dân

Tháng 10-1923, tham luận ở Hội nghị quốc tế nông dân lần thứ nhất, tại Mát-xcơ-va (Nga), Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “Nông dân trong các thuộc địa của Pháp bị hai tầng bóc lột”(1). Trong tác phẩm “Thường thức chính trị” đăng trên báo Cứu quốc dưới bút danh Đ.X, từ ngày 16-1 đến ngày 23-9-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc đặc điểm, tình hình nông dân dưới chế độ thực dân và phong kiến: “Nông dân thì nghèo khổ đã sẵn, lại bị sưu cao, thuế nặng. Địa chủ lấy địa tô quá nặng, cho vay cắt họng, làm cho nông dân nhiều khi phải bán vợ đợ con. Nếu gặp hạn hán bão lụt, là chết đói đầy đường”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của giai cấp nông dân, với tư cách là lực lượng cách mạng, là lực lượng có sức mạnh “long trời lở đất”, nếu như được tổ chức lại dưới sự dẫn dắt của đảng cộng sản; đồng thời, Người phân tích rõ, nhấn mạnh nông dân là lực lượng đông đảo trong xã hội, có lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc. Trong lịch sử dân tộc, giai cấp nông dân luôn là lực lượng chủ lực trong các cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ chủ quyền đất nước. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản năm 1923, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Quần chúng nông dân bị bóc lột nhất và cùng khổ nhất, rất yêu nước”(3); do đó, khi xác định vai trò quan trọng của giai cấp nông dân, Người khẳng định: “Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực. Đó là một sự thực hiển nhiên đối với cả hai cuộc cách mạng - cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản”(4).

Nhận thức rõ vai trò của nông dân, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam vừa được thành lập, Đảng đã có chủ trương vận động nông dân đi theo cách mạng và sớm cử đảng viên đi sâu vào các vùng nông thôn để vận động, tập hợp nông dân. Chính vì thế, nông dân đã tin tưởng theo Đảng làm nên thắng lợi của các phong trào cách mạng giai đoạn 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945, mà đỉnh cao là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ nông dân cứu quốc toàn quốc tháng 11-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh”(5) cho độc lập, tự do. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đa số dân ta là nông dân. Mỗi việc đều phải dựa vào nông dân. Nông dân giác ngộ hăng hái thì kháng chiến mới mau thắng lợi, kiến quốc mới chóng thành công, nông dân mới được giải phóng”(6).

Người còn chỉ rõ: “Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân./ Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân”(7). Đánh giá rõ vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nghị quyết Đại hội III của Đảng tháng 9-1960 khẳng định: “Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về thực chất là cuộc cách mạng nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo”(8). Trong bài “Gửi Nông gia Việt Nam” đăng trên tờ báo Tấc đất số 1 ngày 7-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Loài người ai cũng “dĩ thực vi tiên” (nghĩa là trước cần phải ăn); nước ta thì “dĩ nông vi bản” (nghĩa là nghề nông làm gốc). Dân muốn ăn no thì phải giồng giọt cho nhiều. Nước muốn giàu mạnh thì phải phát triển nông nghiệp. Vậy chúng ta không nên bỏ hoang một tấc đất nào hết. Chúng ta phải quý mỗi tấc đất như một tấc vàng”(9). Thực tế cho thấy, nông dân là lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra lương thực để nuôi sống xã hội. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm vấn đề nông dân và nông nghiệp: “Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp phần lớn./ Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã”(10). Người khẳng định: “Các hợp tác xã nông nghiệp là đội quân hậu cần của quân đội chiến đấu ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã là chiến sĩ sản xuất, cần phải cố gắng như chiến sĩ ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã phải sản xuất tốt để bộ đội và nhân dân ta ăn no đánh thắng. Vì vậy, nhiệm vụ của các hợp tác xã nông nghiệp, của bà con xã viên, của cán bộ công tác ở nông thôn là rất quan trọng”(11). Rõ ràng, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy rõ vị trí, vai trò của việc hợp tác, liên kết trong nông nghiệp. Tuy nhiên, Người khẳng định, giai cấp nông dân phải có giai cấp công nhân - giai cấp tiên tiến nhất - lãnh đạo, dẫn dắt thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thực hiện cho được liên minh công - nông vì đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất những thắng lợi của cách mạng. Chỉ có khối liên minh công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính quyền nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc, dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội”(12). Người đã phân tích rất sâu sắc về liên minh công - nông, nhấn mạnh liên minh quần chúng nông dân đông đảo với giai cấp công nhân là cơ sở chủ yếu để có thể lập ra một mặt trận dân tộc rộng rãi và vững chắc.

Trên cơ sở đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp nông dân đã có nhiều đóng góp quan trọng, to lớn vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thực hiện khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, nông dân cùng quân dân cả nước đã làm nên chiến thắng Mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước.

Thực hành dân chủ ở nông thôn

Thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998, của Bộ Chính trị (khóa VIII), “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, Đảng ta đã có nhiều chủ trương đúng đắn về dân chủ, coi dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới. Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và nhấn mạnh, nhận thức về dân chủ, thực hành dân chủ của nhân dân, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp có bước chuyển biến tích cực, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện được chú trọng, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của người đứng đầu chính quyền ở cơ sở có bước chuyển biến quan trọng. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền ở cơ sở đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết bức xúc và nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của người dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm khu vực trưng bày sản phẩm và chế biến chè của Hợp tác xã Hảo Đạt, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên _Ảnh: TTXVN

Cụ thể hóa Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, các xã, phường, thị trấn triển khai cơ bản đầy đủ những nội dung công khai cho nhân dân biết, bàn thảo, quyết định và giám sát về các dự án, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, khu, cụm công nghiệp, dân cư; mức giá bồi thường thu hồi đất; công khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chương trình xây dựng nông thôn mới,... Công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính theo “cơ chế một cửa”, “một cửa liên thông”, được triển khai tích cực; ý thức trách nhiệm, tinh thần, thái độ phục vụ tổ chức, công dân của đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở có nhiều chuyển biến rõ nét. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn, thư kiến nghị, phản ánh, tố cáo, khiếu nại của công dân được chính quyền cơ sở thực hiện nền nếp, mang lại hiệu quả tích cực. Công tác đối thoại với nhân dân được cấp ủy, chính quyền các cấp chú trọng và thực hiện hiệu quả, kịp thời tháo gỡ khó khăn, giải tỏa bức xúc của người dân, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của cấp ủy, sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền ở cơ sở. Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung và thực hiện quy ước, hương ước thôn, bản, tổ dân phố bảo đảm theo quy định, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xóa bỏ hủ tục, xây dựng đời sống văn hóa mới. Tuy nhiên, việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 ở xã, phường, thị trấn có nơi, có việc còn hình thức, chưa thực chất; trong thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, cũng như việc công khai một số chương trình, dự án, công trình ở một số địa phương, cơ sở còn chưa đầy đủ, kịp thời. Việc tiếp thu ý kiến của nhân dân, giải quyết kiến nghị, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân ở một số nơi còn chưa kịp thời, chưa gắn với thực hiện kỷ luật, kỷ cương, đúng pháp luật.

Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém nêu trên là do: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 chưa được một số cấp ủy, chính quyền ở cơ sở quan tâm đúng mức; công tác nắm bắt tình hình nhân dân, nhất là những vấn đề mới nảy sinh, nhạy cảm, nổi cộm, bức xúc, còn thiếu kịp thời,... Công tác hòa giải ở cơ sở, xử lý mâu thuẫn phát sinh, tránh tạo thành “điểm nóng” có lúc, có nơi làm chưa tốt, còn để xảy ra một số vụ việc lớn, phức tạp, kéo dài. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu trong đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, hành vi vi phạm pháp luật.

Qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, về xây dựng giai cấp nông dân, xây dựng nông thôn mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng định hướng rõ: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội”(13). Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương lần thứ năm khóa XIII, “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”(14) đề ra quan điểm đúng đắn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là ba thành tố có quan hệ mật thiết, gắn bó, không thể tách rời, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nông thôn bền vững với quá trình đô thị hóa theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”; đồng thời, khẳng định nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết đưa ra nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đầu tiên là nâng cao vai trò, vị thế, năng lực làm chủ, cải thiện toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và cư dân nông thôn; bảo đảm quyền làm chủ của nông dân và cư dân nông thôn theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành dân chủ ở nông thôn theo Quyết định số 263/QĐ-TTg, ngày 22-2-2022, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025”, các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp, như tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; nâng cao trình độ dân trí, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương xã hội; nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ, sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện truyền thông, công nghệ thông tin trong thực hành dân chủ ở cơ sở. Các ban, bộ, ngành trung ương phối hợp chặt chẽ với các tỉnh, thành phố ban hành văn bản hướng dẫn cần thiết theo thẩm quyền; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo trong quá trình tổ chức thực hiện. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có vị trí quan trọng trong việc xây dựng và ban hành kế hoạch thực hiện, như nguồn vốn, mục tiêu, nhiệm vụ, phân công rõ trách nhiệm cho các sở, ban, ngành, các huyện, thị xã, thành phố thực hiện. Tiếp tục hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động, gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” giai đoạn 2021 - 2025, 2025 - 2030.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nông thôn hiện đại và nông dân văn minh

Một là, xây dựng nông thôn hiện đại.

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng nông thôn hiện đại, nông dân văn minh là một vấn đề lớn, cần có lộ trình và bước đi thích hợp, sát thực tiễn ở từng vùng, miền của đất nước. Nội dung xây dựng nông thôn hiện đại chính là thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 và các giai đoạn tiếp theo.

Để xây dựng nông thôn hiện đại, các cấp ủy phải lãnh đạo, chỉ đạo cả hệ thống chính trị phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khai thác mọi nguồn lực thực hiện hiệu quả Bộ tiêu chí về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 - 2025. Xây dựng nông thôn hiện đại phải có quy hoạch phù hợp theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội, với tầm nhìn lâu dài, có các khu chức năng dân sinh, khu công nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp và dịch vụ bảo đảm giải quyết được việc làm có thu nhập cao cho cư dân nông thôn, góp phần thực hiện mục tiêu “ly nông không ly hương”, gắn với bảo vệ tốt môi trường; đồng thời, tăng cường công tác quản lý quy hoạch và tổ chức thực hiện theo quy hoạch hiệu quả. Khai thác, phát huy tối đa nguồn lực để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, như giao thông, thủy lợi, điện, cơ sở văn hóa, thương mại, thông tin và truyền thông, nhà ở khu vực nông thôn... từng bước đồng bộ, chất lượng, hiệu quả. Xây dựng nông thôn hiện đại gắn với những tiến bộ trong thực hiện tiêu chí về thu nhập, giảm nghèo đa chiều, có tỷ lệ lao động được đào tạo nghề cao, phát triển đa dạng các mô hình liên kết, mô hình hợp tác xã, khuyến nông, phát triển làng nghề,... để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Xây dựng nông thôn hiện đại phải gắn với phát triển văn hóa - xã hội - môi trường, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm; đồng thời, xây dựng nông thôn hiện đại, gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức có kiến thức, kinh nghiệm, có phẩm chất, đạo đức tốt, luôn gắn bó, gần gũi với nhân dân.

Trên cơ sở đó, từng bước phấn đấu đạt được mục tiêu tổng quát của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới do Thủ tướng Chính phủ phát động. Thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, quá trình đô thị hóa, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững; thực hiện xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu và nông thôn mới cấp thôn, bản. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, thúc đẩy bình đẳng giới. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn đồng bộ và từng bước hiện đại, bảo đảm môi trường, cảnh quan nông thôn “sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn, giàu bản sắc văn hóa truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững”.

Để đạt được mục tiêu to lớn đó, trước hết các bộ, ban, ngành chức năng, cấp ủy, chính quyền các tỉnh, thành phố cần tăng cường tuyên truyền, quán triệt, triển khai các nghị quyết, quyết định, thông tư, hướng dẫn về xây dựng nông thôn mới; tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức trong mỗi cán bộ, đảng viên, người dân; phát huy, khai thác mọi nguồn vốn, bao gồm vốn đầu tư, vốn sự nghiệp, vốn trung ương, vốn địa phương, vốn xã hội hóa để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa nông thôn. Đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức lại sản xuất - yếu tố quyết định việc tăng thu nhập của người nông dân. Việc tổ chức lại sản xuất phải gắn kết chặt chẽ với tổ chức lại xã hội nông thôn theo hướng hợp tác, liên kết trong sản xuất, bảo quản, chế biến, kinh doanh nông sản, các sản phẩm làng nghề và phát triển du lịch nông nghiệp, du lịch cộng đồng,...

Mô hình du lịch nông nghiệp tại tỉnh Khánh Hòa_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Hai là, xây dựng nông dân văn minh.

Xây dựng nông dân văn minh là vấn đề rất lớn, rất quan trọng của Đảng. Để người nông dân đạt đến trình độ văn minh, đảm nhận được vai trò chủ thể, vị trí trung tâm, thì phải có thời gian, phương pháp, bước đi tích cực, cụ thể. Theo đánh giá của Trung ương, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn không ngừng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, số hộ khá và giàu tăng. Tuy nhiên, “Đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn còn nhiều bất cập; lao động nông thôn có xu hướng già hóa; năng suất lao động và thu nhập bình quân của cư dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”(15). Người nông dân văn minh trước hết phải là người nông dân có tri thức. Muốn vậy, cấp ủy phải lãnh đạo cả hệ thống chính trị làm tốt công tác tuyên truyền, để mỗi người nông dân chuyển biến được nhận thức của mình về vai trò chủ thể, có tâm thế tự chủ, có kiến thức, kỹ năng, năng lực, bản lĩnh làm chủ bản thân, làm chủ xây dựng, phát triển cộng đồng dân cư nông thôn. Các cơ quan thông tấn báo chí là công cụ sắc bén, thường xuyên chuyển tải thông tin đến người nông dân.

Trên cơ sở đó, các ban, bộ, ngành chức năng của Trung ương, cấp ủy, chính quyền các cấp có các giải pháp đồng bộ, khoa học, sát thực tế với từng vùng, miền nông thôn, để từng bước thực hiện trang bị tri thức cho nông dân. Đảng, Nhà nước sớm bổ sung cơ chế, chính sách để hỗ trợ nông dân tiếp cận; đào tạo kiến thức, huấn luyện kỹ năng, cập nhật kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, trang bị kiến thức mới, khả năng làm chủ máy móc, thiết bị công nghệ,... cho nông dân. Qua đó, người nông dân sẽ tự cập nhật các vấn đề mới phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh, để nghiên cứu, phân tích và giải quyết các yếu tố liên quan đến năng suất, chất lượng, giá thành sản phẩm; đồng thời, chủ động hơn trong xử lý tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, sử dụng hiệu quả giống mới, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm. Nhà nước tiếp tục bổ sung cơ chế, chính sách để tạo môi trường, điều kiện tốt nhất cho sự gắn kết “bốn nhà”: Nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp. Sự gắn kết này ngày càng chặt chẽ, thì tri thức người nông dân được nâng cao, nông nghiệp sẽ phát triển nhanh, bền vững. Cần nghiên cứu để quy hoạch và phát triển các trường đào tạo cho nông dân, con em nông dân, vì muốn có một nền nông nghiệp chuyên nghiệp, phải có đội ngũ nông dân chuyên nghiệp hóa. Muốn có một nền nông nghiệp tri thức, người nông dân phải được trang bị tri thức cần thiết.

Ngoài trang bị kiến thức về sản xuất, kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, hợp tác xã, cần trang bị cho người nông dân kiến thức về văn hóa để họ chủ động tham gia với cộng đồng, tổ chức các hoạt động vui chơi, thể dục - thể thao, rèn luyện sức khỏe, xây dựng đời sống tinh thần ở nông thôn; đồng thời, trang bị kiến thức để người nông dân tự chủ, tự giác đóng góp sức mình nhằm bảo vệ, tôn tạo, phát huy các di sản, truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc anh em ở các vùng, miền trong cả nước. Người nông dân văn minh là người có ý thức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường, xây dựng “tình làng, nghĩa xóm”, ủng hộ, tự nguyện xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã, xây dựng các mối liên kết để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và phát triển toàn diện nông thôn./.

CẦN TẨY SẠCH BỆNH QUAN LIÊU MỆNH LỆNH

  Ai cũng biết bệnh quan liêu mệnh lệnh là nguy hiểm. Nhưng trong công tác thực tế, như trong việc tạm vay thóc chiêm vừa rồi, nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh ấy. Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ. Miệng thì nói "phụng sự quần chúng", nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Ðảng và Chính phủ.

    Bệnh quan liêu mệnh lệnh tự đâu mà ra.
    Nguyên nhân bệnh ấy là:
    Xa nhân dân: do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.
    Khinh nhân dân: cho là "dân ngu khu đen", bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.
    Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.
    Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.
Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Ðối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.
Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân. Thí dụ: Họ yêu cầu nhân dân đóng góp, nhưng không biết giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của, sức người của nhân dân.
Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, dọa nạt dân!
    Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.
    Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: Theo đúng đường lối nhân dân và sáu điều là:
Ðặt lợi ích nhân dân lên trên hết;
Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;
    Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;
Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;
Sẵn sàng học hỏi nhân dân;
Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.
    Cán bộ Ðảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân. Mong rằng anh chị em đều cố gắng thi đua dùng đơn thuốc này, (thuốc đắng dã tật), chữa hết bệnh quan liêu mệnh lệnh, để trở nên người cán bộ tốt, và làm cho công việc thu thuế nông nghiệp sắp tới đạt được kết quả mỹ mãn./.

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

     Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh”, giữ vững vai trò lãnh đạo với sự nghiệp cách mạng, Người nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng phải luôn đề cao “tự phê bình và phê bình”. Trong bản Di chúc viết năm 1965, Người đề cập đến một trong ba vấn đề trọng đại đó là vấn đề tự phê bình và phê bình trong Đảng. ​​​​​​​

    Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong Đảng cùng với việc thực hành dân chủ thì “tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất” để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng, góp phần xây dựng Đảng thành một khối thống nhất, vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng vẻ vang mà Nhân dân tin yêu giao phó. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa nửa phong kiến, chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến, thực dân. Đội ngũ đảng viên của Đảng phần đông xuất thân từ nông dân và nhiều giai tầng khác nhau, mang theo những đặc điểm tư tưởng, tâm lý, lối sống khác nhau, dễ nảy sinh những mâu thuẫn trong Đảng. Đó không phải là mâu thuẫn đối kháng, nhưng là nguy cơ gây mất đoàn kết, không tập trung, thống nhất được tư tưởng, trí tuệ trong Đảng. Mặt khác, Đảng ta là Đảng cầm quyền “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, đảng viên có chức, có quyền nếu không nghiêm túc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng rất dễ nảy sinh những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, quan liêu, xa rời quần chúng… Đảng viên cũng là con người, không phải là thánh thần, có hoạt động thì khó tránh khỏi sai lầm, ai cũng có cái tốt, cái xấu, chỉ khác nhau ở chỗ nặng hay nhẹ và trạng thái biểu hiện của nó, nhưng đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Muốn vậy cần tiến hành tự phê bình và phê bình thường xuyên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng, “một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
    Trong khi thực hành tự phê bình và phê bình phải có thái độ kiên quyết không khoan nhượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Tự phê bình và sửa chữa có khi dễ, nhưng có khi cũng khó khăn, đau đớn vì tự ái, vì thói quen, hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh”. Vì thế thực hiện tự phê bình và phê bình “ta phải tự phê bình ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau”. Tự phê bình và phê bình phải đúng mức, thật thà không nể nang, không thêm bớt, không hình thức, hời hợt, quanh co, chiếu lệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của chúng ta thì cũng như giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy hiểm đến tính mệnh. Phát hiện càng sớm, điều trị bệnh càng chóng khỏi; để bệnh nặng rất khó chữa, thậm chí có khi không chữa nổi.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ một số biểu hiện chưa đúng trong tự phê bình và phê bình, đó là: “Vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao, tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh.” Tất cả những hiện tượng trên là biểu hiện sự nhận thức chưa đúng bản chất của tự phê bình và phê bình với tư cách là một nguyên tắc trong sinh hoạt đảng.
    Quán triệt, vận dụng tư tưởng thường xuyên, nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, mỗi đảng viên và tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
    Một là, thường xuyên nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình của các cấp ủy Đảng. Tự phê bình và phê bình chỉ có thể đem lại hiệu quả thiết thực khi cấp ủy Đảng các cấp có nhận thức đúng và thường xuyên tổ chức thực hiện nghiêm túc ở cấp mình. Để có nhận thức đúng và bảo đảm tự phê bình và phê bình được tiến hành thường xuyên, nghiêm chỉnh, có chất lượng thì cấp ủy Đảng cần quán triệt cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung nguyên tắc tự phê bình và phê bình, hiểu rõ lý do, mục đích, đối tượng, phương pháp, thái độ tự phê bình và phê bình theo Tư tưởng Hồ Chí Minh.
    Hai là, thường xuyên, nghiêm chỉnh thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng. Mỗi tổ chức Đảng và mọi cán bộ, đảng viên cần coi tự phê bình và phê bình là chế độ thường xuyên, cần nghiêm chỉnh thực hành như việc rửa mặt mỗi ngày. Thường xuyên, nghiêm chỉnh thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong Đảng nhằm nâng cao tinh thần tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng; kịp thời phát hiện, cảnh tỉnh, ngăn chặn những cán bộ, đảng viên có khuyết điểm.
    Ba là, thường xuyên phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu, cấp ủy viên và trách nhiệm của các tổ chức quần chúng trong thực hành tự phê bình và phê bình. Cấp trên phải gương mẫu kiểm điểm trước để cấp dưới noi theo; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp ủy viên và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo điểm điểm trước, đảng viên kiểm điểm sau; cấp trên phải gương mẫu tự phê bình trước cấp dưới; cấp dưới phải mạnh dạn phê bình cấp trên; tổ chức Đảng và đảng viên phải lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng. Những ý kiến đúng phải được tiếp thu và kiên quyết sửa chữa, những ý kiến chưa đúng phải giải thích cho quần chúng hiểu. Bí thư và thủ trưởng đơn vị cần phải tiền phong, gương mẫu, dám tự phê bình, dám nhận khuyết điểm trước tập thể, trước cấp trên, cấp dưới và đồng cấp; thật sự tạo ra không khí cởi mở, khuyến khích động viên mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng mạnh dạn tự phê bình và phê bình.
    Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong cơ quan, đơn vị tham gia phê bình tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên. Mọi hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng đều được quần chúng nắm bắt, giám sát.
    Bốn là, gắn tự phê bình và phê bình với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Tự phê bình và phê bình tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát. Ngược lại, không làm tốt tự phê bình và phê bình thì công tác kiểm tra, giám sát sẽ mang tính hình thức, không mang lại hiệu quả thiết thực.

    Hơn nửa thế kỷ đã qua đi, song Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên tính thời sự và đang tiếp tục định hướng cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đi đúng hướng. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải thường xuyên, nghiêm chỉnh nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là vấn đề cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên của Đảng, là vũ khí sắc bén để xây dựng Đảng và giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Vũ khí sắc bén này phải thường xuyên được sử dụng và mài dũa để có đủ khả năng ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng hiện nay, góp phần hiện thực hóa mong muốn cuối cùng của Bác đó là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BẢO VỆ THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945 LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI CÔNG DÂN

🇻🇳Thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ được Đảng, Nhân dân ta nỗ lực phấn đấu để có được mà còn được bạn bè và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, đây đó vẫn có những luận điệu lạc lõng của một số kẻ xấu, cơ hội chính trị với ý đồ xuyên tạc sự thật lịch sử.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, dịp kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của dân tộc cũng là dịp các thế lực xấu, thù địch, phần tử cơ hội chính trị điên cuồng chống phá. Xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám, các thế lực thù địch tung lên internet, mạng xã hội nhiều bài viết với giọng điệu rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị””(!)... Chúng còn cho rằng những thắng lợi mà Đảng ta, Nhân dân ta đã đổ xương máu để giành được “đó là sự ăn may, vì Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; rằng “do khoảng trống quyền lực, nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”(!).
🇻🇳Một số lại cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”...
Từ cách nhìn ấu trĩ và giản đơn, chúng đưa ra lập luận Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là kết tinh sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, mà thành công đó là một sự “may mắn” do điều kiện lịch sử tạo ra. Đây chính là những luận điệu sai trái, phi thực tế, phản khoa học, hoàn toàn bịa đặt nhằm hạ thấp ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    Thực tế lịch sử đã chứng minh, để Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi trong mùa thu lịch sử năm 1945, bằng trí thông minh, tinh thần cách mạng triệt để, nghệ thuật lãnh đạo và phương pháp cách mạng khoa học, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhân dân ta trải qua 3 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vô cùng gian khổ, khốc liệt, với ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945). Trong thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc, Người đã ra lời kêu gọi tổng khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta...”.
Để giành thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngay từ năm 1939, Đảng ta đã trực tiếp chuẩn bị cả về đường lối, căn cứ địa và lực lượng cách mạng để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Đảng ta xác định phải xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc ở Bắc Sơn, Cao Bằng, với các tên gọi khác nhau. Đặc biệt, chúng ta đã xây dựng Việt Bắc thành căn cứ địa hoàn chỉnh; là “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam”; trong đó, Tuyên Quang được xác định là “Thủ đô kháng chiến”. Việc xây dựng căn cứ địa vững chắc nhằm “tạo thế” quan trọng để Tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi sau này.
🇻🇳Hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8/1945 đã tạo ra thời cơ vàng để cả dân tộc đứng lên làm một cuộc cách mạng giành độc lập, tự do. Đây là thời điểm mà quân Nhật đã thất bại tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15/8/1945. Thời khắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đây là một thời cơ quý và hiếm nếu bỏ qua thì không bao giờ có nữa”, đồng thời Người nhấn mạnh: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc”. Mặc dù thời điểm này tạo điều kiện khách quan chín muồi, khi quân Nhật hoảng loạn, quân Pháp chưa đủ sức quay lại, chính quyền tay sai hoang mang cực độ. Tuy nhiên, nếu không có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam, triệu người như một, đồng lòng theo Đảng đứng lên bẻ gãy gông xiềng lệ thuộc, tự giải phóng mình, thì làm sao có được cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
🇻🇳Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta, trước hết và chủ yếu là do đường lối chiến lược và sách lược của Đảng đúng đắn ngay từ đầu, bảo đảm thông suốt và quán triệt đường lối đó trong thực tiễn chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh và ăn sâu bám rễ trong quần chúng, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại theo lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập, tự do”.
    Thắng lợi này đã khơi nguồn để Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đời sống Nhân dân được được nâng lên, vị thế, uy tín của đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, qua 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 31 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

    Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu trên đã bác bỏ sự vu cáo, bịa đặt hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, cố tình phủ nhận những thành quả cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã đạt được. Đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ thành quả cách mạng tháng 8/1945 là trách nhiệm của mỗi công dân./. 

TÔI LÀ NGƯỜI CỘNG SẢN NHƯ THẾ NÀY NÀY!

     Bác Hồ của chúng ta, từ sau khi bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba tại Đại hội Tua Đảng Xã hội Pháp đêm 30-12-1920, thì cũng từ giờ phút ấy, Người trở thành người cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời cũng là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

    Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, như Người đã nói rõ, là do trải qua thực tế đấu tranh và nghiên cứu lý luận, Người đã hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
    Trong gần 50 năm mang danh hiệu người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn dù khi chỉ là một người thợ ảnh bình thường hay đã trở thành vị Chủ tịch nước đầy uy tín và danh vọng, ở buổi cách mạng thắng lợi giòn giã hay khi bị kẻ thù dồn dập phản kích, lúc nào Bác Hồ của chúng ta cũng tỏ ra là một người cộng sản kiên định, thuỷ chung, nghĩa khí, thắng không kiêu, bại không nản, vô cùng khiêm tốn nhưng cũng rất mực tự hào về danh hiệu người cộng sản của mình.
    Đã có thời, có người quá nhấn mạnh phẩm chất siêu việt của người cộng sản, cho rằng đó là những người có một tính cách đặc biệt riêng.Không biết đó có phải là một trong những nguyên nhân đẻ ra cái gọi là “thói kiêu ngạo cộng sản” hay không?
    Có điều chắc chắn rằng Bác Hồ của chúng ta không tán thành cách nói thậm xưng đó, nhất là khi Đảng cầm quyền, vào lúc cách mạng đang thuận lợi. Người nói: ''Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta đều là con của giai cấp công nhân của nhân dân lao động...Thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường cho nên Đảng ta rất vĩ đại''.
Người đã từng nói nhiều lần: Người cộng sản cũng là con người, nên có ưu, có khuyết, có tốt, có xấu.
''Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra''. ''Cũng như những người hàng ngày lội bùn mà trên mình họ có hơi bùn, vết bùn... Cần phải tắm rửa lâu mới sạch''. Vì vậy, Người dạy: Không phải cứ khắc lên trán hai chữ ''cộng sản'' là được nhân dân tín nhiệm đâu; phải khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, phải nhớ mình vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân.
Bác Hồ của chúng ta, trong cuộc đời hoạt động cách mạng đi Âu về Á, đã từng đối mặt với bao gian khổ, khó khăn (hai lần ngồi tù: 1931-1933 và 1942-1943), đã từng lãnh án tử hình vắng mặt (năm 1929); nhưng vì tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân, tin ở chính mình nên lúc nào Người cũng ung dung, tự tại, luôn thể hiện nhân cách cao đẹp của người cộng sản.
    Năm 1931, khi Người bị nam trong nhà ngục Vichtoria của đế quốc Anh tại Hồng Kông hoặc khi bị bệnh phải đưa vào nhà thương, nhiều “ông bà” người Anh có quyền thế và cả một số nhân viên người Trung Quốc đã rủ nhau đến xem, ý chừng họ muốn thấy mặt mũi “lạ lùng” của một người cộng sản! Cuối cùng, họ đã bắt gặp một nhân cách lớn mà họ rất khâm phục và sẵn lòng giúp đỡ từ đó.
    Năm 1944, tại Liễu Châu, tuy Người được ra khỏi ngục Quốc dân đảng, nhưng vẫn bị quản thúc vì họ biết Người là lãnh tụ cộng sản, hông muốn thả cho về nước. Bác Hồ nói thẳng với Trương Phát Khuê: Tôi là người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam. Chính lòng yêu nước, đức độ và tài trí của Bác Hồ đã làm cho Trương cảm phục, trả 1ại tự do và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Người trở về Việt Nam.
    Năm 1946, ở Pari, trong một cuộc họp báo, một nhà báo Pháp muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa cộng sản đối với Bác, bằng cách đưa ra một câu hỏi:
- Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?
Bác Hồ của chúng ta liền đi đến lẵng hoa bày trên bàn, vừa rút ra từng bông tặng mỗi người, vừa vui vẻ nói:
- Tôi là người cộng sản như thế này này !
    Đó cũng là điều giúp ta có thể hiểu được vì sao mấy chục năm qua, thế giới có bao sự đổi thay, Bác Hồ vẫn luôn được cả thế giới tôn kính và ngưỡng vọng, coi như một biểu tượng cao cả của nhân đạo, chính nghĩa của hoà bình, một kiểu người cộng sản hài hoà giữa yêu nước và quốc tế, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá, phương Đông và phương Tây.
Có thể dẫn ra đây một ý kiến, trong rất nhiều ý kiến của nhà báo Mỹ Saphơlen, viết từ năm 1969:

“Trong rừng Việt Bắc, Cụ Hồ như một ông tiên. Nếu có ai bảo đấy là một người cộng sản thì tôi có thể nói Cụ là một người cộng sản khác với quan niệm chúng ta vẫn thường nghĩ; và theo tôi, có thể dùng một từ mới: Một người cộng sản phương Đông, một người cộng sản việt Nam''./.
St

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BẢO VỆ THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945 LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI CÔNG DÂN

 


🇻🇳Thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ được Đảng, Nhân dân ta nỗ lực phấn đấu để có được mà còn được bạn bè và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, đây đó vẫn có những luận điệu lạc lõng của một số kẻ xấu, cơ hội chính trị với ý đồ xuyên tạc sự thật lịch sử.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, dịp kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của dân tộc cũng là dịp các thế lực xấu, thù địch, phần tử cơ hội chính trị điên cuồng chống phá. Xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám, các thế lực thù địch tung lên internet, mạng xã hội nhiều bài viết với giọng điệu rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị””(!)... Chúng còn cho rằng những thắng lợi mà Đảng ta, Nhân dân ta đã đổ xương máu để giành được “đó là sự ăn may, vì Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; rằng “do khoảng trống quyền lực, nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”(!).
🇻🇳Một số lại cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”...
Từ cách nhìn ấu trĩ và giản đơn, chúng đưa ra lập luận Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là kết tinh sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, mà thành công đó là một sự “may mắn” do điều kiện lịch sử tạo ra. Đây chính là những luận điệu sai trái, phi thực tế, phản khoa học, hoàn toàn bịa đặt nhằm hạ thấp ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thực tế lịch sử đã chứng minh, để Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi trong mùa thu lịch sử năm 1945, bằng trí thông minh, tinh thần cách mạng triệt để, nghệ thuật lãnh đạo và phương pháp cách mạng khoa học, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhân dân ta trải qua 3 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vô cùng gian khổ, khốc liệt, với ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945). Trong thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc, Người đã ra lời kêu gọi tổng khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta...”.
Để giành thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngay từ năm 1939, Đảng ta đã trực tiếp chuẩn bị cả về đường lối, căn cứ địa và lực lượng cách mạng để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Đảng ta xác định phải xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc ở Bắc Sơn, Cao Bằng, với các tên gọi khác nhau. Đặc biệt, chúng ta đã xây dựng Việt Bắc thành căn cứ địa hoàn chỉnh; là “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam”; trong đó, Tuyên Quang được xác định là “Thủ đô kháng chiến”. Việc xây dựng căn cứ địa vững chắc nhằm “tạo thế” quan trọng để Tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi sau này.
🇻🇳Hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8/1945 đã tạo ra thời cơ vàng để cả dân tộc đứng lên làm một cuộc cách mạng giành độc lập, tự do. Đây là thời điểm mà quân Nhật đã thất bại tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15/8/1945. Thời khắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đây là một thời cơ quý và hiếm nếu bỏ qua thì không bao giờ có nữa”, đồng thời Người nhấn mạnh: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc”. Mặc dù thời điểm này tạo điều kiện khách quan chín muồi, khi quân Nhật hoảng loạn, quân Pháp chưa đủ sức quay lại, chính quyền tay sai hoang mang cực độ. Tuy nhiên, nếu không có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam, triệu người như một, đồng lòng theo Đảng đứng lên bẻ gãy gông xiềng lệ thuộc, tự giải phóng mình, thì làm sao có được cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
🇻🇳Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta, trước hết và chủ yếu là do đường lối chiến lược và sách lược của Đảng đúng đắn ngay từ đầu, bảo đảm thông suốt và quán triệt đường lối đó trong thực tiễn chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh và ăn sâu bám rễ trong quần chúng, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại theo lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập, tự do”.
Thắng lợi này đã khơi nguồn để Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đời sống Nhân dân được được nâng lên, vị thế, uy tín của đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, qua 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 31 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.
Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu trên đã bác bỏ sự vu cáo, bịa đặt hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, cố tình phủ nhận những thành quả cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã đạt được. Đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ thành quả cách mạng tháng 8/1945 là trách nhiệm của mỗi công dân./.
St

CẦN TẨY SẠCH BỆNH QUAN LIÊU MỆNH LỆNH

 Ai cũng biết bệnh quan liêu mệnh lệnh là nguy hiểm. Nhưng trong công tác thực tế, như trong việc tạm vay thóc chiêm vừa rồi, nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh ấy. Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ. Miệng thì nói "phụng sự quần chúng", nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Ðảng và Chính phủ.

Bệnh quan liêu mệnh lệnh tự đâu mà ra.
Nguyên nhân bệnh ấy là:
Xa nhân dân: do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.
Khinh nhân dân: cho là "dân ngu khu đen", bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.
Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.
Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.
Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Ðối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.
Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân. Thí dụ: Họ yêu cầu nhân dân đóng góp, nhưng không biết giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của, sức người của nhân dân.
Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, dọa nạt dân!
Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.
Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: Theo đúng đường lối nhân dân và sáu điều là:
Ðặt lợi ích nhân dân lên trên hết;
Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;
Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;
Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;
Sẵn sàng học hỏi nhân dân;
Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.
Cán bộ Ðảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân. Mong rằng anh chị em đều cố gắng thi đua dùng đơn thuốc này, (thuốc đắng dã tật), chữa hết bệnh quan liêu mệnh lệnh, để trở nên người cán bộ tốt, và làm cho công việc thu thuế nông nghiệp sắp tới đạt được kết quả mỹ mãn./.
St

TÔI LÀ NGƯỜI CỘNG SẢN NHƯ THẾ NÀY NÀY!

 


Bác Hồ của chúng ta, từ sau khi bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba tại Đại hội Tua Đảng Xã hội Pháp đêm 30-12-1920, thì cũng từ giờ phút ấy, Người trở thành người cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời cũng là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, như Người đã nói rõ, là do trải qua thực tế đấu tranh và nghiên cứu lý luận, Người đã hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Trong gần 50 năm mang danh hiệu người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn dù khi chỉ là một người thợ ảnh bình thường hay đã trở thành vị Chủ tịch nước đầy uy tín và danh vọng, ở buổi cách mạng thắng lợi giòn giã hay khi bị kẻ thù dồn dập phản kích, lúc nào Bác Hồ của chúng ta cũng tỏ ra là một người cộng sản kiên định, thuỷ chung, nghĩa khí, thắng không kiêu, bại không nản, vô cùng khiêm tốn nhưng cũng rất mực tự hào về danh hiệu người cộng sản của mình.
Đã có thời, có người quá nhấn mạnh phẩm chất siêu việt của người cộng sản, cho rằng đó là những người có một tính cách đặc biệt riêng.Không biết đó có phải là một trong những nguyên nhân đẻ ra cái gọi là “thói kiêu ngạo cộng sản” hay không?
Có điều chắc chắn rằng Bác Hồ của chúng ta không tán thành cách nói thậm xưng đó, nhất là khi Đảng cầm quyền, vào lúc cách mạng đang thuận lợi. Người nói: ''Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta đều là con của giai cấp công nhân của nhân dân lao động...Thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường cho nên Đảng ta rất vĩ đại''.
Người đã từng nói nhiều lần: Người cộng sản cũng là con người, nên có ưu, có khuyết, có tốt, có xấu.
''Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra''. ''Cũng như những người hàng ngày lội bùn mà trên mình họ có hơi bùn, vết bùn... Cần phải tắm rửa lâu mới sạch''. Vì vậy, Người dạy: Không phải cứ khắc lên trán hai chữ ''cộng sản'' là được nhân dân tín nhiệm đâu; phải khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, phải nhớ mình vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân.
Bác Hồ của chúng ta, trong cuộc đời hoạt động cách mạng đi Âu về Á, đã từng đối mặt với bao gian khổ, khó khăn (hai lần ngồi tù: 1931-1933 và 1942-1943), đã từng lãnh án tử hình vắng mặt (năm 1929); nhưng vì tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân, tin ở chính mình nên lúc nào Người cũng ung dung, tự tại, luôn thể hiện nhân cách cao đẹp của người cộng sản.
Năm 1931, khi Người bị nam trong nhà ngục Vichtoria của đế quốc Anh tại Hồng Kông hoặc khi bị bệnh phải đưa vào nhà thương, nhiều “ông bà” người Anh có quyền thế và cả một số nhân viên người Trung Quốc đã rủ nhau đến xem, ý chừng họ muốn thấy mặt mũi “lạ lùng” của một người cộng sản! Cuối cùng, họ đã bắt gặp một nhân cách lớn mà họ rất khâm phục và sẵn lòng giúp đỡ từ đó.
Năm 1944, tại Liễu Châu, tuy Người được ra khỏi ngục Quốc dân đảng, nhưng vẫn bị quản thúc vì họ biết Người là lãnh tụ cộng sản, hông muốn thả cho về nước. Bác Hồ nói thẳng với Trương Phát Khuê: Tôi là người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam. Chính lòng yêu nước, đức độ và tài trí của Bác Hồ đã làm cho Trương cảm phục, trả 1ại tự do và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Người trở về Việt Nam.
Năm 1946, ở Pari, trong một cuộc họp báo, một nhà báo Pháp muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa cộng sản đối với Bác, bằng cách đưa ra một câu hỏi:
- Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?
Bác Hồ của chúng ta liền đi đến lẵng hoa bày trên bàn, vừa rút ra từng bông tặng mỗi người, vừa vui vẻ nói:
- Tôi là người cộng sản như thế này này !
Đó cũng là điều giúp ta có thể hiểu được vì sao mấy chục năm qua, thế giới có bao sự đổi thay, Bác Hồ vẫn luôn được cả thế giới tôn kính và ngưỡng vọng, coi như một biểu tượng cao cả của nhân đạo, chính nghĩa của hoà bình, một kiểu người cộng sản hài hoà giữa yêu nước và quốc tế, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá, phương Đông và phương Tây.
Có thể dẫn ra đây một ý kiến, trong rất nhiều ý kiến của nhà báo Mỹ Saphơlen, viết từ năm 1969:

“Trong rừng Việt Bắc, Cụ Hồ như một ông tiên. Nếu có ai bảo đấy là một người cộng sản thì tôi có thể nói Cụ là một người cộng sản khác với quan niệm chúng ta vẫn thường nghĩ; và theo tôi, có thể dùng một từ mới: Một người cộng sản phương Đông, một người cộng sản việt Nam''./.
St

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh”, giữ vững vai trò lãnh đạo với sự nghiệp cách mạng, Người nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng phải luôn đề cao “tự phê bình và phê bình”. Trong bản Di chúc viết năm 1965, Người đề cập đến một trong ba vấn đề trọng đại đó là vấn đề tự phê bình và phê bình trong Đảng. ​​​​​​​
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong Đảng cùng với việc thực hành dân chủ thì “tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất” để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng, góp phần xây dựng Đảng thành một khối thống nhất, vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng vẻ vang mà Nhân dân tin yêu giao phó. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa nửa phong kiến, chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến, thực dân. Đội ngũ đảng viên của Đảng phần đông xuất thân từ nông dân và nhiều giai tầng khác nhau, mang theo những đặc điểm tư tưởng, tâm lý, lối sống khác nhau, dễ nảy sinh những mâu thuẫn trong Đảng. Đó không phải là mâu thuẫn đối kháng, nhưng là nguy cơ gây mất đoàn kết, không tập trung, thống nhất được tư tưởng, trí tuệ trong Đảng. Mặt khác, Đảng ta là Đảng cầm quyền “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, đảng viên có chức, có quyền nếu không nghiêm túc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng rất dễ nảy sinh những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, quan liêu, xa rời quần chúng… Đảng viên cũng là con người, không phải là thánh thần, có hoạt động thì khó tránh khỏi sai lầm, ai cũng có cái tốt, cái xấu, chỉ khác nhau ở chỗ nặng hay nhẹ và trạng thái biểu hiện của nó, nhưng đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Muốn vậy cần tiến hành tự phê bình và phê bình thường xuyên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng, “một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Trong khi thực hành tự phê bình và phê bình phải có thái độ kiên quyết không khoan nhượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Tự phê bình và sửa chữa có khi dễ, nhưng có khi cũng khó khăn, đau đớn vì tự ái, vì thói quen, hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh”. Vì thế thực hiện tự phê bình và phê bình “ta phải tự phê bình ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau”. Tự phê bình và phê bình phải đúng mức, thật thà không nể nang, không thêm bớt, không hình thức, hời hợt, quanh co, chiếu lệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của chúng ta thì cũng như giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy hiểm đến tính mệnh. Phát hiện càng sớm, điều trị bệnh càng chóng khỏi; để bệnh nặng rất khó chữa, thậm chí có khi không chữa nổi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ một số biểu hiện chưa đúng trong tự phê bình và phê bình, đó là: “Vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao, tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh.” Tất cả những hiện tượng trên là biểu hiện sự nhận thức chưa đúng bản chất của tự phê bình và phê bình với tư cách là một nguyên tắc trong sinh hoạt đảng.
Quán triệt, vận dụng tư tưởng thường xuyên, nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, mỗi đảng viên và tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, thường xuyên nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình của các cấp ủy Đảng. Tự phê bình và phê bình chỉ có thể đem lại hiệu quả thiết thực khi cấp ủy Đảng các cấp có nhận thức đúng và thường xuyên tổ chức thực hiện nghiêm túc ở cấp mình. Để có nhận thức đúng và bảo đảm tự phê bình và phê bình được tiến hành thường xuyên, nghiêm chỉnh, có chất lượng thì cấp ủy Đảng cần quán triệt cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung nguyên tắc tự phê bình và phê bình, hiểu rõ lý do, mục đích, đối tượng, phương pháp, thái độ tự phê bình và phê bình theo Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là, thường xuyên, nghiêm chỉnh thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng. Mỗi tổ chức Đảng và mọi cán bộ, đảng viên cần coi tự phê bình và phê bình là chế độ thường xuyên, cần nghiêm chỉnh thực hành như việc rửa mặt mỗi ngày. Thường xuyên, nghiêm chỉnh thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong Đảng nhằm nâng cao tinh thần tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng; kịp thời phát hiện, cảnh tỉnh, ngăn chặn những cán bộ, đảng viên có khuyết điểm.
Ba là, thường xuyên phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu, cấp ủy viên và trách nhiệm của các tổ chức quần chúng trong thực hành tự phê bình và phê bình. Cấp trên phải gương mẫu kiểm điểm trước để cấp dưới noi theo; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp ủy viên và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo điểm điểm trước, đảng viên kiểm điểm sau; cấp trên phải gương mẫu tự phê bình trước cấp dưới; cấp dưới phải mạnh dạn phê bình cấp trên; tổ chức Đảng và đảng viên phải lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng. Những ý kiến đúng phải được tiếp thu và kiên quyết sửa chữa, những ý kiến chưa đúng phải giải thích cho quần chúng hiểu. Bí thư và thủ trưởng đơn vị cần phải tiền phong, gương mẫu, dám tự phê bình, dám nhận khuyết điểm trước tập thể, trước cấp trên, cấp dưới và đồng cấp; thật sự tạo ra không khí cởi mở, khuyến khích động viên mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng mạnh dạn tự phê bình và phê bình.
Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong cơ quan, đơn vị tham gia phê bình tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên. Mọi hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng đều được quần chúng nắm bắt, giám sát.
Bốn là, gắn tự phê bình và phê bình với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Tự phê bình và phê bình tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát. Ngược lại, không làm tốt tự phê bình và phê bình thì công tác kiểm tra, giám sát sẽ mang tính hình thức, không mang lại hiệu quả thiết thực.

Hơn nửa thế kỷ đã qua đi, song Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên tính thời sự và đang tiếp tục định hướng cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đi đúng hướng. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải thường xuyên, nghiêm chỉnh nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là vấn đề cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên của Đảng, là vũ khí sắc bén để xây dựng Đảng và giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Vũ khí sắc bén này phải thường xuyên được sử dụng và mài dũa để có đủ khả năng ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng hiện nay, góp phần hiện thực hóa mong muốn cuối cùng của Bác đó là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./.
St

VỮNG NHƯ “KIỀNG BA CHÂN”, TOÀN QUÂN MỘT Ý CHÍ

 1. Ngày 02-02-2023, Hạ viện Mỹ đã chính thức thông qua Nghị quyết H.Con.Res 9: “Lên án sự khủng khiếp của chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Trong đó, quy kết “nguyên nhân của mọi tội ác là do chủ nghĩa Mác - Lênin”, “các Đảng Cộng sản và các nhà lãnh đạo CNXH là C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin...” gây nên.

Dựa vào bản nghị quyết này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã “đổ thêm dầu vào lửa”, đồng loạt viết tin, bài, dàn dựng các video clip, các cuộc phỏng vấn, trả lời phỏng vấn rồi tung lên mạng xã hội vu cáo Đảng, Nhà nước ta gây ra hai cuộc chiến tranh trong thế kỷ XX, là “nguyên nhân sinh ra các nạn đói, g.i.ế.t n.g.ư.ờ.i, kìm hãm sự phát triển của dân tộc”. Từ đó, họ xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; cho rằng “đi theo con đường CNXH là đi vào ngõ cụt” để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ta. Thâm độc hơn, họ tung tin rằng, hiện nay Quân đội ta đã xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; không còn trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.
2. Trở thành niềm tin và lẽ sống cao đẹp, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH đã ngấm vào máu thịt, trở thành lý tưởng sống, chiến đấu cao đẹp của Quân đội ta. Vì vậy, sự kiên định này chính là kiên định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân đã lựạ chọn. Thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành đã chứng minh: Quân đội ta không chỉ làm nên những chiến công hiển hách, mà còn kiên định đấu tranh tư tưởng, lý luận, đập tan mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Chúng ta không mắc mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội, không xa rời “con đường chính trị” của Đảng; không bị chệch hướng, lạc đường; trọn vẹn tấm lòng “tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân”.
Trong bối cảnh tình hình mới, Quân đội ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh” tiến lên hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.
Đây là sự tổng kết sâu sắc về lý luận và thực tiễn, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ đường lối cách mạng Việt Nam, là vấn đề mang ý nghĩa sống còn đối với cách mạng và sự phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
3. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, phản ánh tập trung bản chất giai cấp công nhân của Quân đội cách mạng; biểu hiện cụ thể ở: Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân. Đây là nhân tố bảo đảm cho Quân đội ta thực sự là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân.


Thước đo lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân của Quân đội ta là việc hoàn thành tốt nhất các chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, nhất là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN”.
Sự kiên định, vững vàng của Quân đội ta thể hiện ở niềm tin quyết chiến, quyết thắng; không dao động, ngả nghiêng, thay đổi lập trường trước mọi khó khăn, thách thức; là sự vững vàng niềm tin tiếp tục đi tiếp con đường cách mạng và hiện thực hóa mục tiêu ấy. Trong đó, kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối đổi mới của Ðảng là vấn đề căn cốt nhất, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều sâu sắc ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Đây là cơ sở khoa học để củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội ta; góp phần giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội, bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của các tổ chức đảng trong Quân đội.
Vì vậy, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đều chủ động, tích cực đấu tranh phê phán mọi biểu hiện dao động, ngả nghiêng, thoái thác nhiệm vụ; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của các thế lực thù địch.
4. Để mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm trước các tổ chức, các lực lượng trong toàn quân về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Chú trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Cùng với đó, tiếp tục nâng cao trình độ nhận thức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị, đội ngũ chính ủy, chính trị viên...
Một trong những vấn đề có tính nguyên tắc là kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy đảng, đội ngũ cán bộ các cấp đối với việc kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định để đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Chủ động, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp nghiên cứu, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trong Quân đội là vấn đề rất quan trọng đối với công tác giáo dục chính trị. Cùng với đó, tích cực, chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biển hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các hiện tượng vi phạm kỷ luật và sự chống phá của các thế lực thù địch.
Đây là công việc hệ trọng và nội dung đặc biệt quan trọng đối với Quân đội ta trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất trong bối cảnh tình hình mới, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của nhân dân./.
St