Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2023

Khát vọng và tầm nhìn phát triển tỉnh Quảng Nam theo tinh thần bài viết “Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 TCCS - Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về đường lối đổi mới, về phát triển đất nước trên mọi lĩnh vực. Tác phẩm có giá trị trong việc vận dụng xây dựng luận cứ khoa học nhằm hoạch định chủ trương, đề ra nhiệm vụ, giải pháp đột phá để phát triển tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay.

Khát vọng phát triển đất nước

Thực tiễn trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta, khát vọng xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước luôn là nguồn lực nội sinh lớn mạnh làm nên nhiều chiến công hiển hách. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đấu tranh và chiến thắng kẻ thù xâm lược bằng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Sức mạnh ấy được khởi nguồn từ “ham muốn tột bậc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(1) cho đến khát vọng mãnh liệt: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(2); “Không có gì quý hơn độc lập, tự do(3). Đất nước thống nhất, tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, với khát vọng “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như ước nguyện lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiếp nối khát vọng của dân tộc, giá trị cốt lõi, mục tiêu và khát vọng phát triển đất nước, trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xác định khát vọng xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới(4).

Khát vọng phát triển đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là chủ đề xuyên suốt, được đặt ra trong rất nhiều kỳ Đại hội Đảng, trong diễn văn và các bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Khát vọng đó đã được Đảng và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xác định bằng mục tiêu cụ thể: “Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(5); “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa(6)

Khát vọng phát triển tỉnh Quảng Nam

Khát vọng phát triển của một đơn vị, địa phương không thể nằm ngoài khát vọng phát triển của quê hương, đất nước. Khát vọng phát triển tỉnh Quảng Nam và tầm nhìn về một vùng đất đã được các bậc tiền nhân gửi gắm cách đây hơn 550 năm, với sự kiện thành lập Thừa tuyên Quảng Nam - Đạo Thừa tuyên thứ 13 của nước Đại Việt vào năm 1471. Danh xưng Quảng Nam đã được vị vua anh minh Lê Thánh Tông gửi gắm vào đó ý nghĩa “mở rộng về phương Nam”.

Trong tiến trình lịch sử đồng hành cùng dân tộc, tỉnh Quảng Nam đã có nhiều đóng góp để lại dấu ấn hết sức nổi bật. Đặc biệt, sau khi Đảng bộ tỉnh Quảng Nam ra đời vào ngày 28-3-1930, thông cáo thành lập Đảng bộ đã xác định sứ mệnh lịch sử của mình: “Chúng tôi, những người trong Tỉnh bộ lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng nguyện hy sinh tranh đấu do Đảng Cộng sản Việt Nam hướng đạo, nhằm bênh vực quyền lợi cộng sản cho thợ thuyền, dân cày và những người lao khổ...”(7). Sứ mệnh thiêng liêng ấy đã theo suốt chặng đường xây dựng và phát triển của Đảng bộ tỉnh 93 năm qua với những dấu ấn, mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, quân và dân tỉnh Quảng Nam.

Ngày 28-3-1930, tại địa điểm Cây Thông Một, xã Cẩm Hà (nay là khối phố Tân Thanh, phường Tân An, thành phố Hội An), Đảng bộ tỉnh Quảng Nam ra đời. Đây là Đảng bộ ra đời sớm thứ hai cả nước, chỉ sau Đảng bộ thành phố Hà Nội. Sau khi thành lập, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp giành chính quyền (1930 - 1945), chớp thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền trong mùa thu cách mạng (năm 1945), đưa tỉnh Quảng Nam trở thành một trong những tỉnh, thành phố khởi nghĩa giành chính quyền sớm nhất trong cả nước.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và hơn 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam luôn nhất quán trong vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng. Điển hình là vận dụng linh hoạt phương châm “hai chân, ba mũi giáp công” với Chiến thắng Núi Thành vào rạng sáng ngày 26-5-1965, viết nên trang sử vẻ vang cho vùng đất “Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”. Không chỉ là nơi diễn ra trận đầu thắng Mỹ, tỉnh Quảng Nam còn là nơi diễn ra trận đánh đồn xã Đốc (27-3-1971) - trận đánh tiêu diệt cứ điểm cuối cùng của Mỹ trên chiến trường Khu 5, đến Chiến thắng Thượng Đức mở toang cánh cửa thép tiến vào thành phố Đà Nẵng (7-8-1974); từ đó, tạo tiền đề giải phóng hoàn toàn quê hương vào ngày 24-3-1975, góp phần giải phóng thành phố Đà Nẵng tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thời kỳ 1975 - 1997, từ chủ trương bám sát thực tiễn đời sống của Đảng bộ tỉnh mà công trình đại thủy nông Phú Ninh đã được xây dựng thành công vượt kỳ vọng. Đây là công trình, đúng hơn là cuộc vận động sức người, sức của lớn chưa từng có của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh sau ngày quê hương giải phóng, khẳng định tinh thần dám nghĩ, dám làm của Đảng bộ tỉnh. Tỉnh Quảng Nam cũng là một trong những địa phương nhanh chóng triển khai chủ trương phát triển kinh tế tập thể trong sản xuất nông nghiệp và sau đó thực hiện chuyển đổi hợp tác xã theo mô hình hợp tác xã kiểu mới. Đặc biệt, mạnh dạn “xé rào”, thực hiện “khoán chui” những “đêm trước khoán 10” trên nhiều đồng đất nhằm giải phóng sức sản xuất.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đến thăm, làm việc tại Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải (THACO), Khu công nghiệp Chu Lai, tỉnh Quảng Nam_Ảnh: TTXVN

Sau ngày tái lập tỉnh (1-1-1997), từ một địa phương thuần nông nằm trong nhóm những tỉnh nghèo nhất của cả nước; Đảng bộ tỉnh đã có nhiều quyết sách táo bạo, khai phóng con đường phát triển và đưa tỉnh Quảng Nam vươn lên trở thành tỉnh khá của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, tỉnh Quảng Nam đã chuyển hướng sang phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch; Khu kinh tế mở Chu Lai và hàng loạt khu công nghiệp, cụm công nghiệp lần lượt ra đời; hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông, điện, viễn thông, trường học, bệnh viện,... được đầu tư đồng bộ.

Với quyết tâm đổi mới, phát huy lợi thế, huy động nội lực, thu hút đầu tư, tỉnh Quảng Nam đã đạt được những kết quả khá toàn diện, có bước chuyển cơ bản, rõ nét về cơ cấu kinh tế, từ thuần nông sang công nghiệp, dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 25 năm đạt trên 9,0%/năm (năm 2022, tốc độ tăng trưởng đạt 11,2%, là một trong số ít tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng hai con số). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm mạnh tỷ trọng khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp từ 50% lên 87,5%. Thu ngân sách, từ số thu 120 tỷ đồng năm 1996, đến năm 2022, tổng thu ngân sách nhà nước của tỉnh đã lên đến 33.338 tỷ đồng (trong đó, thu nội địa đạt 26.485 tỷ đồng), gấp gần 278 lần so với thời điểm tái lập tỉnh. Từ một địa phương phải nhận trợ cấp hơn 70% ngân sách Trung ương, đến năm 2017, tỉnh Quảng Nam đã tự cân đối được ngân sách và có đóng góp về Trung ương. GRDP bình quân đầu người đạt 76,6 triệu đồng, gấp khoảng 40 lần so với năm 1997.

Đặc biệt, Khu kinh tế mở Chu Lai được xây dựng thành công, đã hiện thực hóa khát vọng vươn lên, xác lập vị thế của tỉnh Quảng Nam trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Ngành du lịch đã khai thác tốt lợi thế, tiềm năng và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Kết cấu hạ tầng có bước phát triển đáng kể, hạ tầng đô thị, nông thôn từng bước được cải thiện, đã làm thay đổi mạnh mẽ diện mạo các vùng, miền trong tỉnh. 

Các giá trị văn hóa tại chỗ, truyền thống được quan tâm bảo tồn, gìn giữ và phát huy, đặc biệt là 2 Di sản văn hóa thế giới: Khu đền tháp Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội An; văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế,... có sự chuyển biến tích cực; an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng lên; quốc phòng, an ninh được giữ vững, đối ngoại, hợp tác và hội nhập quốc tế được tăng cường.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng được củng cố, kiện toàn và lớn mạnh. Từ chỗ chỉ có hơn 70 đảng viên khi mới thành lập năm 1930, đến cuối năm 2022, Đảng bộ đã có 1.150 tổ chức cơ sở đảng với 71.319 đảng viên. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp có sự chuyển biến tích cực. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới; khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được củng cố, tăng cường; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền được nâng lên....

Đảng bộ tỉnh đã tập trung lãnh đạo thực hiện 3 nhiệm vụ đột phá chiến lược về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đột phá về hạ tầng giao thông, hạ tầng xã hội và hạ tầng đô thị đã giúp tỉnh Quảng Nam phát triển toàn diện. Hệ thống sân bay Chu Lai, cảng biển Chu Lai, cửa khẩu quốc tế Nam Giang đã và đang được nâng cấp, mở rộng đầu tư và được kỳ vọng sẽ tạo ra điểm nhấn quan trọng cho phát triển kinh tế của tỉnh. Thêm vào đó, các chủ trương phát triển kinh tế vùng Đông, vùng Tây của tỉnh nhằm tạo sự tác động phát triển hài hòa giữa các vùng.

Sau hơn 25 năm tái lập tỉnh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam rất tự hào với những kết quả đạt được. Trong bức tranh toàn cảnh ấy nổi bật lên nhiều gam màu tươi sáng về tình hình kinh tế - xã hội, tạo nên hình ảnh, diện mạo và vị thế của một tỉnh Quảng Nam tự lập, chủ động, sáng tạo trong tư duy; đúng đắn, quyết liệt trong hành động; vững tin bước vào kỷ nguyên mới với niềm khát vọng tươi sáng trong tương lai.

Những thắng lợi to lớn trong chặng đường hơn 93 năm qua mang ý nghĩa lịch sử to lớn. Nguyên nhân chính của những thắng lợi đó là sự lãnh đạo đúng đắn, tư duy đổi mới, sáng tạo, bản lĩnh chính trị vững vàng, sự đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động của Đảng bộ, được nhân dân trong tỉnh ủng hộ, hưởng ứng. Những kết quả đó được tạo dựng và vung đắp qua nhiều thế hệ nối tiếp, từ những người đặt nền móng ban đầu cho đến những thế hệ xây dựng nên kiến trúc kinh tế - xã hội như ngày nay. Ý nghĩa của những kết quả này sẽ còn nhắc đến và tô đậm hơn theo thời gian của lịch sử, bởi đó là minh chứng hùng hồn cho tinh thần đoàn kết, ý chí bất khuất và khát vọng vươn lên của người dân xứ Quảng; tạo tiền đề, nền tảng vững chắc để tỉnh phát triển nhanh và bền vững trong thời gian đến.

Hiện thực hóa khát vọng đưa tỉnh Quảng Nam trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030

Kế thừa, phát huy những kết quả đạt được, quán triệt và vận dụng sâu sắc nội dung cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, đặc biệt là bài viết “Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam xác định mục tiêu: “Xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh, hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, bản sắc văn hóa và truyền thống cách mạng; cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động xã hội; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển kinh tế nhanh, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, bảo vệ tốt môi trường sinh thái; tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; phấn đấu đưa tỉnh Quảng Nam trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030”(8).

Mục tiêu và cũng là khát vọng xây dựng “tỉnh Quảng Nam trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030”. Khát vọng phấn đấu vươn lên từ chính bản lĩnh, ý chí, sức mạnh, tinh thần đoàn kết, đồng lòng của con người xứ Quảng trong suốt hơn 550 năm hình thành và phát triển. Đó là sự kết tinh trí tuệ, tầm nhìn, ý chí, khát vọng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đối với sự phát triển của quê hương. Khát vọng ấy được xây dựng trên nền tảng kế thừa, phát huy thành quả trong suốt chặng đường qua. Đồng thời, đó cũng chính là sứ mệnh mà tỉnh Quảng Nam phải quyết tâm thực hiện nhằm hiện thực hóa mục tiêu “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Để hiện thực hóa khát vọng nêu trên, trong giai đoạn 2020 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam đã đề ra 14 nhóm giải pháp trọng tâm với các đột phá chiến lược, lộ trình, bước đi phù hợp, cụ thể; trong đó, ưu tiên chú trọng một số nhiệm vụ, giải pháp mang tính quyết định, bao gồm:

Trước hết và quan trọng nhất, là tập trung công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, xác định đây là nhiệm vụ then chốt, quyết định đến uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ và kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng và công tác dân vận của hệ thống chính trị. Đây là nhân tố có tính quyết định đến sự phát triển của tỉnh.

Thứ hai, huy động nguồn lực thực hiện hiệu quả 3 nhiệm vụ đột phá chiến lược. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và nâng cao tỷ lệ đô thị hóa. Chủ động tiếp cận, tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ, chuyển đổi số đồng bộ, phát triển kinh tế số, kinh tế chia sẻ, hình thành doanh nghiệp số. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương; nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ đáp ứng môi trường công nghệ số; thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung.

Thứ ba, phát huy tiềm năng, lợi thế động lực của vùng kinh tế biển và vùng đồng bằng ven biển; phát triển Khu kinh tế mở Chu Lai thành khu kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực gắn với phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, khu công nghiệp; thương mại - dịch vụ - du lịch - logistics; chế biến nông sản chất lượng cao, xứng tầm là trung tâm phát triển lớn của Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ và cả nước. Triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách, ưu tiên nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới; chú trọng sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư vùng nguy cơ cao về thiên tai. Cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng theo hướng phát triển song song công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; lấy dịch vụ làm ngành kinh tế quan trọng; xây dựng thương hiệu, sản phẩm dịch vụ du lịch Quảng Nam mang tầm quốc gia, quốc tế; phát triển du lịch về phía Nam, phía Tây của tỉnh.

Thứ tư, phát huy giá trị văn hóa, con người Quảng Nam; xây dựng con người Quảng Nam phát triển toàn diện về nhân cách, trí tuệ, năng lực, thể chất và trách nhiệm với xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Xây dựng, phát huy các giá trị, bản sắc đặc trưng của con người xứ Quảng; khơi dậy khát vọng vươn lên, cống hiến vì cộng đồng, quê hương, đất nước. Phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, bảo đảm an sinh xã hội, môi trường sống an toàn, lành mạnh, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Phan Việt Cường thăm hỏi công nhân làm việc tại Khu công nghiệp Chu Lai, tỉnh Quảng Nam_Nguồn: vov.gov.vn

Thứ năm, tiếp tục thực hiện tốt các chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, thanh niên xung phong, bảo trợ xã hội. Quan tâm công tác giảm nghèo bền vững tại khu vực đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo; giảm dần khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền.

Thứ sáu, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt phương châm “gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân và tôn trọng nhân dân”; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Tuyên truyền, vận động, tập hợp, tạo sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, cùng nhau chung sức, đồng lòng xây dựng quê hương Quảng Nam ngày càng phát triển.

Tỉnh Quảng Nam luôn tự hào là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sản sinh nhiều người con ưu tú cho đất nước, với bề dày lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng anh hùng, cùng những thành quả đã được bồi đắp, những kinh nghiệm quý báu được tích lũy từ các thế hệ đi trước... Trên chặng đường sắp đến, với ý chí, khát vọng đổi mới, sáng tạo, vươn lên mạnh mẽ, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam sẽ tiếp tục đoàn kết, đồng thuận, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng tỉnh Quảng Nam trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030, góp phần cùng cả nước “Vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội...” như quyết tâm của đồng chí Tổng Bí thư và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra./.

Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm trong đường lối đổi mới của Đảng ở từng giai đoạn phát triển của đất nước

 TCCS - Trong giai đoạn phát triển mới của cách mạng, một trong những vấn đề quan trọng là phải giải quyết đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm trong chủ trương, đường lối của Đảng. Đó cũng là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa “Điểm” và “Diện”, giữa tổng thể và cụ thể, giữa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn và ngắn hạn trong mọi lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm trong đường lối đổi mới của Đảng

Kinh nghiệm phong phú được tổng kết trong hơn 93 năm lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam đã chứng minh rõ rằng, nếu không giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ với lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm trong xây dựng đường lối, trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thì sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, thậm chí còn dẫn tới tổn thất làm chậm sự phát triển của đất nước.

Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều có bối cảnh, điều kiện cụ thể, xuất hiện những thuận lợi, thách thức và những yêu cầu đặt ra cần được giải quyết. Điều đó đòi hỏi Đảng ta có sự đổi mới sáng tạo để có thể đề ra được những quyết sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Nhiệm vụ đặt ra là phải đổi mới toàn diện, đồng bộ, vì xét về mặt tổng thể với mục tiêu lâu dài thì chúng ta đang hướng tới xây dựng một hình thái kinh tế - xã hội mới, thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ. C. Mác đã chỉ rõ về vấn đề này như sau: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình”(1). Như vậy, rõ ràng sự đổi mới của chúng ta không phải là vô định, mà phải có mục tiêu, đó là làm thay đổi về lượng, dẫn tới sự thay đổi về chất của một hệ thống xã hội, chuyển từ cái cũ sang cái mới, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa cộng sản.

Dĩ nhiên, đổi mới phải toàn diện và đồng bộ, song việc lựa chọn trọng tâm, trọng điểm cũng lại là nhiệm vụ rất cần thiết. Bởi lẽ, trong cả một hệ thống xã hội bao giờ cũng có những “hạt nhân” quyết định sự thống nhất, sự phát triển của cả hệ thống, như cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; đồng thời, quá trình phát triển luôn phát sinh những “điểm nghẽn”, những “nút thắt” cần được giải phóng, khai thông. Hoặc, quá trình này luôn cần có những “Đầu tầu”, những “Động lực” đi trước để kéo theo sự phát triển của cả hệ thống. Đó cũng là một lô-gíc hợp lý của sự phát triển. Không có sự phát triển nào diễn ra theo lối “dàn hàng ngang”, mà đều phải có những “mũi nhọn”, những lĩnh vực “tiên phong” đi trước. Do vậy, trong sự đổi mới toàn diện và đồng bộ, yêu cầu đặt ra là phải tìm được trọng tâm, trọng điểm, động lực của sự phát triển để tập trung thúc đẩy chúng đi trước.

Mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định trọng tâm, trọng điểm là mối quan hệ hữu cơ, mật thiết. Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ này trong thực tiễn phát triển kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay. Xét từ đặc điểm, có thể chia làm nhiều giai đoạn cụ thể như sau:

- Giai đoạn 1986 - 2000: Đây là giai đoạn mở đầu, đặt nền móng cho công cuộc đổi mới cả về kinh nghiệm và tư duy lý luận, và cũng đạt được những thành tựu to lớn, mang ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tổng sản phẩm trong nước sau 10 năm (1991 - 2000) đã tăng gấp đôi, quan hệ sản xuất đã có sự đổi mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã được cải thiện rõ rệt; Việt Nam đã xóa bỏ được tình trạng bị bao vây, cấm vận, tạo thế và lực cho giai đoạn mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm dây chuyền sản xuất các sản phẩm điện tử tại Công ty Điện tử Samsung Việt Nam Thái Nguyên_Ảnh: TTXVN

Giai đoạn này diễn ra qua 3 kỳ đại hội của Đảng, mở đầu là Đại hội VI. Có thể thấy, tình hình trước Đại hội VI là rất phức tạp: “Kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng”(2). Đại hội VI cũng thẳng thắn chỉ rõ nguyên nhân của tình hình trên là: “Chúng ta có khuyết điểm trong việc đánh giá tình hình cụ thể của đất nước, trong việc xác định mục tiêu và bước đi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”, cụ thể là: “đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp”(3). Cùng với đó là tình trạng “chủ quan nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông”(4). Đại hội cũng nghiêm túc kiểm điểm: “Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện(5).

Từ việc thẳng thắn nhận ra những sai lầm trong chủ trương và chính sách, Đại hội VI đã có những quyết sách, chủ trương đổi mới, đi sát thực tế cuộc sống với mục tiêu: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Ổn định tình hình kinh tế - xã hội bao gồm ổn định và phát triển sản xuất, ổn định phân phối, lưu thông, ổn định và cải thiện từng bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, tăng cường hiệu lực tổ chức quản lý, thiết lập trật tự, kỷ cương và thực hiện công bằng xã hội”(6). Đại hội cũng nêu những mục tiêu cụ thể: “sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh”(7). Đại hội cũng yêu cầu: 1- “Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu(8); 2- “Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất”(9); 3- “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế... Kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp”(10); 4- “Giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông... Giải phóng năng lực sản xuất... mở rộng giao lưu hàng hóa, bãi bỏ các biện pháp cấm đoán, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính”(11).

Như vậy, Đại hội VI đã chỉ ra nhiệm vụ bao trùm, tổng quát mang tính toàn diện là ổn định kinh tế - xã hội trong điều kiện phức tạp, có nhiều rối ren trong sản xuất và lưu thông. Khi đất nước lâm vào khủng hoảng thì vấn đề ổn định kinh tế - xã hội là rất quan trọng; mặc dù vậy, Đại hội VI cũng không quên nhiệm vụ lâu dài là tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho đẩy mạnh công nghiệp hóa. Đại hội đã xác định được các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm là thực hiện ba chương trình kinh tế để thúc đẩy sản xuất và giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống nhân dân. Đại hội VI đã tìm ra “nút thắt” kìm hãm sức sản xuất là sự không phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Đây là căn cứ để Hội nghị Trung ương 6 khóa VI đưa ra chủ trương thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, thể chế hóa đồng bộ chính sách đối với các thành phần kinh tế, xóa bỏ những cấm đoán và ràng buộc vô lý. Quyền sở hữu, sử dụng và thừa kế tài sản, quyền kinh doanh và hưởng thụ các thu nhập chính đáng cũng như nghĩa vụ với Nhà nước phải được quy định thành luật để mọi người dân yên tâm bỏ vốn sản xuất, kinh doanh...

Chính xuất phát từ quan điểm đổi mới toàn diện, đồng bộ và chỉ ra được những “nút thắt”, “điểm nghẽn”, những vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần tập trung giải quyết, nên những quyết sách của Đại hội VI đã trở thành những quyết sách quan trọng, mang tính lịch sử, mở đầu cho công cuộc đổi mới. Các quyết sách này tiếp tục được Đảng ta tổng kết, điều chỉnh, bổ sung tại Đại hội VII và Đại hội VIII; trong đó đặc biệt quan trọng là xây dựng được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991). Với đường lối đúng đắn, Đảng ta đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua khủng hoảng ở trong nước ngay cả trước sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự sụp đổ này có ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến toàn hệ thống chính trị, cũng như tâm tư của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Song, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, vững vàng của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, mang ý nghĩa lịch sử trong giai đoạn 1986 - 2000.

Chính trong giai đoạn này, trải qua 3 kỳ Đại hội, Đảng ta đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm phong phú về đổi mới, đó là: 1- Phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; 2- Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo. Tiến hành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và đời sống của xã hội Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất cứ một mô hình có sẵn nào. Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Có những điều chỉnh, bổ sung và phát triển cần thiết về chủ trương, phương pháp, biện pháp. Tìm và lựa chọn những giải pháp mới, linh hoạt, sáng tạo, nhạy bén nắm bắt cái mới, tận dụng thời cơ, khắc phục sự trì trệ, làm chuyển biến tình hình(12). Như vậy, sau 3 kỳ Đại hội Đảng, vấn đề đổi mới phải toàn diện, đồng bộ và triệt để đã được nêu ra, cùng với những giải pháp, biện pháp, bước đi dựa trên thực tế để giải quyết mối quan hệ giữa tổng thể và cụ thể, giữa mục tiêu và bước đi, giữa cái phổ biến và cái đặc thù, giữa cái đa dạng có thể đổi mới với những nguyên tắc bất di bất dịch để tránh chệch hướng XHCN trong sự nghiệp đổi mới.

- Giai đoạn 2001 - 2015: Đây là giai đoạn đất nước bước vào thế kỷ mới - thế kỷ thứ XXI, một thế kỷ có nhiều biến đổi, khoa học - công nghệ đạt được bước tiến nhảy vọt chưa từng thấy. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, toàn cầu hóa là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia. Thành tựu sau 15 năm đổi mới đã tạo thế và lực mới, làm cho đất nước ta lớn mạnh lên rất nhiều. “Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với nhiều thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta từng chỉ rõ - tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch gây ra - ... vẫn còn tồn tại và diễn biến phức tạp”(13).

Trong bối cảnh đó, Đảng ta khẳng định: “Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh(14). Đại hội IX của Đảng khẳng định: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ của sự đổi mới đồng bộ và toàn diện, hướng tới mục tiêu CNXH; đồng thời, Đại hội cũng chỉ rõ nhiệm vụ “Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm”(15).

Đến Đại hội X, vấn đề đổi mới toàn diện, đồng bộ và lựa chọn, xác định trọng tâm, trọng điểm trong sự nghiệp đổi mới đã được chỉ rõ hơn: Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội(16).

Nhờ những kết quả quan trọng đạt được trong giai đoạn 2001 - 2015, cùng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 30 năm đổi mới, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, đang nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đại hội XII rút ra 5 bài học kinh nghiệm sau 30 năm đổi mới, trong đó có bài học rất quan trọng là: “đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra”(17).

- Giai đoạn từ năm 2016 đến nay, toàn Đảng, toàn dân tộc ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; song, trước những mục tiêu đặt ra, nhiệm vụ còn lại phải thực hiện là rất nặng nề. Trước yêu cầu, thử thách đó, Đại hội XIII của Đảng vẫn khẳng định phải đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, với các nhiệm vụ toàn diện, nhưng cũng xác định sáu nhiệm vụ trọng tâm, cùng ba đột phá chiến lược là: 1- Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển; 2- Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; 3- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội...

Qua thực tiễn hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã rút ra được bài học mang tính lý luận là: Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với thực tiễn, phải giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra. Từ đó, chúng ta có thể rút ra được những nguyên tắc cơ bản để giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định trọng tâm, trọng điểm, cụ thể là:

1- Phải bám sát mục tiêu CNXH, phải dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm “kim chỉ nam” cho mọi hành động, luôn luôn tránh nguy cơ chệch hướng.

2- Phải xuất phát từ thực tiễn, giải quyết cho được những vấn đề thực tiễn đặt ra, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm nghiệm sự đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách. Phải đổi mới tư duy, song tránh rập khuôn, sao chép một cách máy móc, hoặc áp đặt ý chí chủ quan lên trên quy luật khách quan.

3- Phải có cái nhìn tổng thể trong hoàn cảnh cụ thể; đồng thời, cần biết lựa chọn vấn đề mang tính quyết định, then chốt, tháo gỡ được “điểm nghẽn”, “nút thắt” để xử lý nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trên phương diện toàn cục.

4- Phải đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc lên trên hết, trước hết. Cái gì có lợi cho dân thì cương quyết làm, cái gì có hại cho dân thì cương quyết tránh. Sự hài lòng, đồng tình của nhân dân là “điểm cộng” cho sự đúng đắn trong đường lối, chính sách của Đảng; song, cũng phải tuyệt đối tránh tư tưởng “mỵ dân”, “theo đuôi quần chúng”, vì nếu thế thì sẽ dẫn tới chỗ có thể đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thành phố Hồ Chí Minh sau hơn 36 năm đổi mới_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra dự báo tình hình thế giới và đất nước trong những năm sắp tới, xác định rõ tầm nhìn và định hướng phát triển. Quan điểm, mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể chia theo ba giai đoạn phát triển đến năm 2045. Đại hội chỉ ra 12 định hướng chiến lược phát triển của đất nước giai đoạn 2021 - 2030. Đó là những định hướng cho sự phát triển toàn diện, đồng bộ; đồng thời, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ ra 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược cần thực hiện trong nhiệm kỳ của Đại hội.

Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ ra các nguyên tắc đã được phân tích ở trên, thì câu hỏi đặt ra ở đây là: Chúng ta cần giải quyết mối quan hệ giữa bảo đảm định hướng phát triển với các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược như thế nào? Những đột phá sau nhiệm kỳ Đại hội XIII là gì?

Xét cả về mặt lý luận và thực tiễn, cần phải khẳng định, kinh tế quyết định đến sự phát triển. Kinh tế không phát triển, xã hội không ổn định, thì đất nước không thể phát triển bền vững. Điều đó đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Do vậy, Đảng ta luôn xác định phát triển kinh tế là trung tâm. Việc xác định 3 đột phá chiến lược kéo dài qua 3 kỳ đại hội liên tiếp (Đại hội XI, XII, XIII) cũng chính là tập trung cho mục tiêu phát triển kinh tế. Các “điểm nghẽn”, “nút thắt” kìm hãm sự phát triển cần xử lý cũng tập trung chủ yếu ở lĩnh vực kinh tế, đó là thể chế về kinh tế chưa hoàn thiện, nguồn nhân lực chưa đáp ứng, hạ tầng thiếu đồng bộ. Đảng ta cũng coi lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của các cấp ủy, được đặt lên hàng đầu trước các nhiệm vụ khác. Nói như vậy để thấy, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm của trọng tâm. Xét đến cùng, một phương thức sản xuất mới được hình thành bởi một lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại với một quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đó, sẽ quyết định cho một hình thái kinh tế - xã hội mới ra đời với một hệ thống nội tại vững chắc, từ kinh tế đến xã hội, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, từ văn hóa, nghệ thuật, khoa học - công nghệ đến pháp luật...

Tuy nhiên, trong kinh tế, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN có nội dung cốt lõi là phải hoàn thiện thể chế về tài chính trong cơ chế thị trường, như hệ thống tài chính quốc gia cả công và tư, cả vi mô và vĩ mô, như ngân sách nhà nước, ngân hàng nhà nước, thị trường tài chính (tín dụng, chứng khoán, bảo hiểm...). Tài chính doanh nghiệp (quốc doanh, tư doanh, có vốn đầu tư nước ngoài), thậm chí đến tài chính gia đình cũng phải được hoàn thiện. Hoặc, vấn đề phân cấp, phân quyền, tự chủ tài chính cũng phải tập trung làm rõ. Đây có thể nói là “điểm nghẽn”, “nút thắt” lớn nhất cần được tập trung giải quyết kịp thời, nếu không sẽ dẫn tới hệ lụy khó lường. Nói cách khác, khơi thông hệ thống tài chính quốc gia chính là khơi thông “mạch máu” cho nền kinh tế.

Trong phát triển nguồn nhân lực, thì trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, quan điểm này đã được xác định rõ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nếu không đào tạo được nguồn lao động có chất lượng cao, nguồn lao động có tri thức đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức thì đất nước ta sẽ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”, khi nền kinh tế đạt đến một giới hạn thu nhập nào đó. Một mặt, trong khi mục tiêu đến năm 2030, số lao động qua đào tạo, có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35% - 40% như Đại hội XIII của Đảng đề ra là khá cao; tuy nhiên, tỷ lệ này có thể nói là vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Mặt khác, chất lượng giáo dục - đào tạo hiện nay đang là “điểm nghẽn” ảnh hưởng đến việc đào tạo nguồn nhân lực, nếu không khắc phục những mặt yếu, không có sự thay đổi mang tính cách mạng thì việc xây dựng một nền kinh tế tri thức, tạo nên sự phát triển bền vững cho đất nước, sẽ gặp nhiều khó khăn.

Trong xây dựng kết cấu hạ tầng hiện nay, giao thông là khâu đột phá của đột phá, trong đó giao thông đường thủy, đường sắt, giao thông đô thị, tính kết nối liên thông, logistics là các “điểm nghẽn” cần tập trung tháo gỡ sau khi hệ thống cao tốc Bắc - Nam, Đông - Tây được triển khai, cơ bản hoàn thành vào năm 2025.

Sau năm 2030, khi Việt Nam là một nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thì trước đó, các vấn đề đột phá chiến lược được xác định trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nếu tiếp tục sang nhiệm kỳ Đại hội XIV, đều cơ bản phải hoàn thành, và sẽ là các nhiệm vụ mang tính thường xuyên, liên tục. Các đột phá chiến lược về kinh tế cần được chuyển mục tiêu cho các trọng tâm khác, như vấn đề bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, tình trạng xâm nhập mặn, sụt lún ven sông, ven biển và rác thải, nước thải đang là nguy cơ hiện hữu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước; vấn đề phát triển khoa học - công nghệ, tập trung cho đổi mới sáng tạo trong các ngành công nghiệp then chốt, như cơ khí chế tạo, công nghiệp biển, công nghiệp quốc phòng - an ninh, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trong tình hình thế giới, khu vực có biến động khó lường và không thể coi nhẹ; cùng với đó là vấn đề phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, nhất là trong giáo dục và y tế, nhằm bảo đảm công bằng xã hội, hướng tới hạnh phúc của nhân dân theo mục tiêu CNXH. Như vậy, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều đòi hỏi có sự đổi mới toàn diện, đồng bộ và lựa chọn, xác định cho được trọng tâm, trọng điểm, giải quyết tốt mối quan hệ này trong đường lối của Đảng. Sự đổi mới này phải phù hợp với sự phát triển mau lẹ của thời đại, nhất là trong điều kiện bùng nổ của khoa học - công nghệ, cùng với diễn biến khó lường và phức tạp của tình hình quốc tế, khu vực. Trong bối cảnh nước ta sẽ vượt mức 100 triệu dân vào năm 2023 và những thay đổi về kinh tế - xã hội đặt ra một yêu cầu mới cao hơn của quản trị quốc gia thì “chìa khóa vạn năng” cho giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đổi mới đồng bộ, toàn diện và xác định trọng tâm, trọng điểm là phải đổi mới tư duy về kinh tế nói riêng, tư duy lãnh đạo của Đảng nói chung trên tất cả các mặt, đặc biệt là về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ, để có thể phát triển đất nước nhanh, bền vững trong thời kỳ mới./.

Tăng cường phát huy dân chủ ở cơ sở, thực hiện hiệu quả mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội - Một số vấn đề đặt ra hiện nay

 TCCS - Trong những năm qua, Thành ủy Hà Nội luôn xác định phát huy quyền làm chủ của nhân dân là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của Thủ đô; đặc biệt, đã gắn việc thực hiện dân chủ ở cơ sở với triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, hướng tới xây dựng chính quyền đô thị tinh gọn, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng trò chuyện với người dân trong diện giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 4 - vùng Thủ đô tại xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội_Nguồn: nhandan.vn

Đảng bộ thành phố Hà Nội là Đảng bộ lớn nhất cả nước với 50 đảng bộ cấp trên cơ sở, gần 47 vạn đảng viên, chiếm khoảng 9% đảng viên của cả nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên khá cao so với mặt bằng chung cả nước. Thành ủy Hà Nội luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Phát huy dân chủ ở cơ sở trong triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội - Những kết quả đạt được đáng ghi nhận

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức, trách nhiệm thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được tăng cường.

Thực hiện Nghị quyết số 97/2019/QH14, ngày 27-11-2019, của Quốc hội, về “Thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội” từ ngày 1-7-2021, tại 175 phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây, Thành ủy Hà Nội đã chú trọng lãnh đạo các quận, thị xã triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị gắn với phát huy dân chủ, nhằm tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phù hợp với tính chất đô thị, hướng đến phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. 

Thành ủy, chính quyền và các đoàn thể thành phố đã khẩn trương xây dựng, ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị và tổ chức nhiều hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị bảo đảm công khai, dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi và tăng cường trách nhiệm trong triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy quyền làm chủ của nhân dân; về thực hiện mô hình chính quyền đô thị, trong đó tập trung vào những điểm mới, những lợi ích của việc thí điểm mô hình chính quyền đô thị, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, đồng thuận cao trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, tăng cường tuyên truyền trên cổng/trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị, địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và thành phố.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp của thành phố Hà Nội tăng cường công tác vận động, nắm chắc tình hình, dư luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là những vấn đề khó khăn, vướng mắc, tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị để phản ánh, tham mưu, đề xuất với Thành ủy, các cấp ủy trong công tác định hướng dư luận, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện.

Công khai, minh bạch trong công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy; phát huy vai trò lãnh đạo của đảng ủy phường trong điều kiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị.

Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố lãnh đạo, chỉ đạo các quận ủy, thị ủy và UBND các quận, thị xã tập trung chỉ đạo việc phát huy dân chủ trong sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự; phát huy vai trò lãnh đạo của đảng ủy phường.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy và công tác cán bộ tại UBND các phường được tiến hành công khai, minh bạch, bảo đảm phù hợp với vị trí việc làm, năng lực chuyên môn. Đến ngày 1-7-2021, các quận và thị xã Sơn Tây đã hoàn thành công tác sắp xếp tổ chức bộ máy tại 175 UBND phường. Thực hiện chuyển công chức phường tại 175 phường thành biên chế công chức thuộc UBND quận, thị xã. Đội ngũ cán bộ chuyên trách khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở phường vẫn được giữ ổn định theo quy định. Công tác sắp xếp, bố trí công tác và giải quyết các chế độ, chính sách đối với chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân (HĐND) phường sau sắp xếp, kiện toàn được thực hiện đúng quy định, không có đơn, thư khiếu nại, tố cáo.

Sau sắp xếp, cơ quan hành chính phường đã tích cực, chủ động điều hành, hoạt động nhanh nhạy, thông suốt hơn, quyết định nhanh những vấn đề cấp bách trên địa bàn, trên cơ sở xác định rõ người, rõ trách nhiệm, rõ việc, hướng đến phục vụ người dân tốt hơn. Đảng ủy các phường đã thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, đổi mới trong việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Phương thức lãnh đạo được đổi mới theo hướng sâu sát cơ sở; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phát huy dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo được chú trọng; phát huy vai trò lãnh đạo theo đúng thẩm quyền, trách nhiệm theo quy định.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Những quy định mới trong mô hình chính quyền đô thị đã tăng cường cơ chế trách nhiệm, phối hợp trong giải quyết và thực hiện thủ tục hành chính giữa quận, thị xã và phường. Chủ tịch UBND phường chủ động, có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân về mọi vấn đề trong phạm vi thẩm quyền của phường do mình quản lý; nâng cao tính tự chủ, phát huy vai trò chủ động, trách nhiệm, sáng tạo của các phường trong quá trình phục vụ người dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của phường, quận, thị xã nhanh và hiệu quả.

Việc ủy quyền công chức Tư pháp - hộ tịch được ký chứng thực đã phát huy hiệu quả; tạo điều kiện thuận lợi giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, công sức cho tổ chức, công dân đến làm thủ tục hành chính. Công dân có thể nhận kết quả ngay khi đến giao dịch tại UBND phường, không phải chờ đợi, làm giảm đáng kể chi phí tuân thủ thủ tục hành chính; giảm tải áp lực, công việc cho chủ tịch, phó chủ tịch UBND phường để tập trung giải quyết các nhiệm vụ. Tổng số hồ sơ chứng thực bản sao tại phường do công chức Tư pháp - hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực và đóng dấu UBND phường chiếm 63,6%; hồ sơ chứng thực chữ ký do công chức Tư pháp - hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực và đóng dấu UBND phường chiếm 59,1% tổng số hồ sơ chứng thực chữ ký tại UBND phường. Nhiều mô hình thí điểm được thực hiện, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, điển hình như UBND quận Hoàn Kiếm đã triển khai thực hiện mô hình “Các thủ tục hành chính không chờ” (Thủ tục hành chính không giấy hẹn, thực hiện ngay) tại các phường với hàng chục loại thủ tục hành chính khác nhau.

Công tác giám sát việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và thực hiện nghị quyết của HĐND quận, thị xã ở phường, giám sát hoạt động của UBND, chủ tịch UBND phường, HĐND các quận và thị xã được tăng cường. Kết quả cho thấy, các chủ thể này đã thực hiện đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quyết định các giải pháp lớn để thực hiện chính sách, pháp luật và các nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn theo phân cấp. Hội đồng nhân dân các quận, thị xã đã tăng cường các hoạt động giám sát đối với hoạt động của UBND phường, tăng cường công tác tiếp xúc cử tri, tiếp công dân để lắng nghe ý kiến, phản ánh, kiến nghị của cử tri và nhân dân, bảo đảm thực hiện tốt quyền đại diện cho cử tri trên địa bàn. Các ban HĐND, các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã được giao trách nhiệm thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động của các phường tại đơn vị bầu cử, tham dự các cuộc họp, hội nghị đối thoại, hội nghị tiếp xúc cử tri để kịp thời tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri chuyển đến cơ quan có thẩm quyền theo dõi, giải quyết theo quy định. Hội đồng nhân dân, thường trực HĐND, các ban của HĐND và các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã đã tiến hành các cuộc giám sát chuyên đề đối với UBND phường. Ngoài giám sát chuyên đề, các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã thực hiện giám sát thường xuyên về giải quyết kiến nghị của cử tri.

Mối quan hệ công tác giữa UBND, chủ tịch UBND phường với đảng ủy, bí thư đảng ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường được quy định cụ thể rõ ràng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp, giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cũng như của người dân trên địa bàn phường đối với hoạt động của UBND phường.

Công tác đối thoại với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân được thực hiện tốt, đã phát huy hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân.

Chủ tịch UBND các phường đã thực hiện tốt việc đối thoại định kỳ hằng năm với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn phường theo Quyết định số 2200-QĐ/TU, ngày 25-5-2017, của Thành ủy Hà Nội, về “Ban hành Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn thành phố”.

Thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, UBND các phường đã tổ chức thực hiện nghiêm túc hội nghị đối thoại giữa chủ tịch UBND phường với nhân dân theo đúng quy định tại Điều 12, Nghị định số 32/2021/NĐ-CP, ngày 29-3-2021, của Chính phủ, “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27-11-2019, của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội” (được tổ chức mỗi năm ít nhất 2 lần trước các kỳ họp thường kỳ của hội đồng nhân dân các quận và thị xã); theo đó, đã có 389 buổi đối thoại được tổ chức, các buổi đối thoại đều được tổ chức đúng thời gian quy định. Tại các hội nghị đối thoại, lãnh đạo phường đã báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn...; đồng thời, giải đáp các kiến nghị, phản ánh của nhân dân trên địa bàn. Qua đối thoại, chủ tịch UBND các phường đã tiếp nhận 2.940 kiến nghị của tổ chức, cá nhân; các kiến nghị của công dân, tổ chức được chủ tịch UBND các phường trao đổi trực tiếp, giải đáp công khai, dân chủ tại hội nghị (có 2.732/2.940 kiến nghị, đạt 92,9%). Đối với những kiến nghị chưa thể giải đáp ngay tại hội nghị, chủ tịch UBND các phường sẽ trả lời bằng văn bản sau hội nghị; các nội dung vượt thẩm quyền sẽ được báo cáo lên UBND các quận, thị xã để tổng hợp, trả lời.

Thông qua công tác đối thoại, người đứng đầu chính quyền đã có thể kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, quan tâm giải quyết các kiến nghị, đề nghị chính đáng của nhân dân; đồng thời, cung cấp thông tin tuyên truyền, vận động, giải thích để nhân dân hiểu rõ hơn những việc chính quyền các cấp đã làm được, cũng như những vướng mắc đang gặp phải để cùng tháo gỡ, giải quyết trên tinh thần xây dựng, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhìn chung, công tác tiếp dân được UBND các phường thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.

Giai đoạn từ 1-7-2020 đến 30-6-2021, có 175 phường của 13 quận, thị xã đã tiếp 15.376 lượt công dân, tiếp nhận 4.408 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Ủy ban nhân dân các phường đã giải quyết, trả lời 4.239 kiến nghị (chiếm 96,2%), với các kiến nghị còn lại đang giải quyết, tiến hành báo cáo lên cơ quan cấp trên các nội dung vượt thẩm quyền.

Giai đoạn triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tiếp theo (từ 1-7-2021 đến 30-6-2022), có 175 phường của 13 quận, thị xã đã tiếp 14.022 lượt công dân (giảm 9% so với trước thời điểm thực hiện thí điểm), tiếp nhận 3.462 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (giảm 20% so với trước thời điểm thực hiện thí điểm). Ủy ban nhân dân các phường đã giải quyết, trả lời 3.110 kiến nghị (chiếm 89,8%).

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các phường đã tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội.

Mặc dù không tổ chức HĐND ở phường, nhưng quyền dân chủ và giám sát của nhân dân vẫn được duy trì và ngày càng được nâng cao, thông qua các hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở thành phố Hà Nội; trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gắn với thực hiện có hiệu quả quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, người đứng đầu chính quyền các cấp với nhân dân trên địa bàn thành phố; qua đó, nâng cao được vị thế, vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố Hà Nội trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Ngọc Tuấn tiếp công dân tại trụ sở Ban tiếp công dân thành phố_Nguồn: hanoimoi.com.vn

Qua hơn một năm thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội đã tổ chức 447 cuộc giám sát và hàng nghìn cuộc giám sát của các ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng; trong đó, có 582 cuộc về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường đã tổ chức 153 cuộc phản biện xã hội, tập trung vào dự thảo nghị quyết, đề án, chương trình, quyết định của UBND các phường.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai thí điểm thực hiện mô hình chính quyền đô thị gắn với thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn còn những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, như việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức. Ở một số nơi, công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy và hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở chưa đạt hiệu quả cao. Đội ngũ cán bộ, chuyên trách ở phường gồm các chức danh bí thư đảng ủy, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ, chủ tịch hội cựu chiến binh, bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường vẫn là cán bộ cấp xã, chưa được chuyển thành cán bộ thuộc biên chế quận, thị xã; do đó, chưa có sự đồng bộ, thống nhất quản lý biên chế cán bộ, công chức phường.

Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND quận, thị xã tăng lên, trong khi số lượng đại biểu chuyên trách của HĐND quận, thị xã còn ít, nên việc tổ chức các hoạt động giám sát mới chỉ được duy trì ở mức độ như trước khi thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, chưa có sự thay đổi rõ nét, chủ động thực sự về số lượng và chất lượng khi không tổ chức HĐND ở phường. Hoạt động của HĐND ở một số địa phương còn mang tính hình thức. Công tác tiếp công dân của các đại biểu HĐND quận, thị xã tại các phường đạt hiệu quả chưa cao. Một số tổ đại biểu HĐND quận, thị xã chưa chủ động trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao, nhất là việc tổ chức giám sát hoạt động của UBND, chủ tịch UBND phường.

Việc nắm bắt và tổng hợp tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trước, trong tiếp xúc, đối thoại còn chưa kịp thời; công tác tham mưu giải quyết các ý kiến, kiến nghị trong quá trình tiếp xúc, đối thoại có nơi còn hạn chế, thiếu tính chủ động, chưa sâu sát; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, bộ phận trong thực hiện kết luận sau tiếp xúc, đối thoại còn lúng túng, chưa đồng bộ, chưa thực sự rõ trách nhiệm.

Một mặt, với quy mô dân số trung bình của các phường thuộc các quận lớn, với hơn 22.300 người (theo tiêu chuẩn là 15.000 người), trong đó có 41 phường, có quy mô dân số hơn 30.000 người; với một số phường có quy mô dân số rất lớn, như phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai) là 82.891 người, phường Đại Kim (quận Hoàng Mai) là 54.295 người, phường Trung Hòa (quận Cầu Giấy) là 54.770 người, thì khối lượng công việc tại các phường là rất lớn, gây áp lực khi thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với công chức phường. Số lượng biên chế công chức làm việc bình quân tại các phường là 15 người/phường, về cơ bản bằng mức bình quân công chức cấp xã, mà chưa có cơ chế, chính sách đặc thù đối với các phường có quy mô dân số lớn.

Mặt khác, ngoài các nhiệm vụ theo chuyên môn được tuyển dụng, thì đội ngũ cán bộ, công chức phường đều được giao thêm nhiệm vụ theo dõi, nắm bắt tình hình tại các tổ dân phố, trong khi chế độ, chính sách không có gì thay đổi, nên chưa động viên được đội ngũ cán bộ, công chức phường tận tâm, tận lực trong công việc, công tác. Thực hiện theo cơ chế quản lý mới, phường là một đơn vị dự toán, phụ thuộc vào dự toán của cơ quan cấp trên, nên một số nhiệm vụ phát sinh đột xuất không có trong dự toán sẽ gặp phải khó khăn trong triển khai, thực hiện. Việc bố trí kinh phí chi lương, phụ cấp, các khoản theo lương và chi hoạt động của đảng ủy, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội nằm trong kinh phí dự toán của UBND phường chưa thật sự thuận lợi, chưa bảo đảm tính chủ động trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy và hoạt động của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tại phường.

Nguyên nhân khách quan: Tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Đồng thời, việc triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị là việc mới và khó; trong khi đó, hệ thống các văn bản quy định, hướng dẫn ở một số lĩnh vực ban hành còn chậm, thiếu đồng bộ, nên không tránh khỏi những khó khăn, hạn chế nhất định. Chính sách cán bộ còn nhiều bất cập, chậm đổi mới, vừa chưa khuyến khích cán bộ phát huy hết năng lực, tâm huyết với công việc, vừa khó thu hút được cán bộ về làm việc ở những lĩnh vực khó khăn, nhất là ở cấp cơ sở.

Nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên, công chức chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị, nên việc thực hiện dân chủ ở cơ sở chưa thực sự quyết liệt, sâu sát, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

Vai trò tham mưu của một số cơ quan, đơn vị trên một số lĩnh vực công tác chưa được thể hiện rõ nét, chưa thật sự chủ động tham mưu trong rà soát, đề xuất, hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ sở. Công tác phối hợp triển khai nhiệm vụ ở một số cơ quan, đơn vị, có lúc, có việc còn chưa được thường xuyên, chặt chẽ.

Một số cán bộ, công chức phường còn ngại thay đổi, chậm đổi mới tư duy, làm việc theo “kinh nghiệm”, một bộ phận cán bộ, công chức chưa thật sự tích cực, chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện kỹ năng và đổi mới phương pháp làm việc để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của mô hình chính quyền đô thị. Tổ chức bộ máy, biên chế của một số địa phương, cơ sở còn chưa được quan tâm kiện toàn, bố trí đầy đủ người và phương tiện cần thiết. 

Công chức, viên chức hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại bộ phận “một cửa” của Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm_Ảnh: Tư liệu

Tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới

Thành ủy Hà Nội xác định, tăng cường phát huy dân chủ ở cơ sở, nhằm thực hiện có hiệu quả mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của Đảng bộ và cả hệ thống chính trị; theo đó, trong thời gian tới cần tập trung lãnh đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, thành phố về việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, thực hiện Quy chế dân chủ trong các cơ quan nhà nước, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại từng địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm thực chất và hiệu quả. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự thống nhất ý chí và hành động trong các cấp ủy, cơ quan, đơn vị để tiếp tục triển khai hiệu quả việc tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội.

Thứ hai, đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc của các cấp ủy, bảo đảm đồng bộ với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức toàn thành phố. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là công bộc của nhân dân, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu tổ chức thí điểm chính quyền đô thị của Thủ đô Hà Nội.

Thứ ba, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, ủy quyền, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý chính quyền của thành phố. Huy động mọi nguồn lực đầu tư cho sự phát triển của thành phố, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, thủ tục hành chính, chuyển đổi số gắn với đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử, xây dựng thành phố thông minh để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, nhằm xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao hiệu quả trong công tác phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, tác nghiệp, bảo đảm đồng bộ, liên thông từ thành phố đến cơ sở, để từng bước mở rộng việc cung cấp các loại hình dịch vụ công trực tuyến và vận hành thông suốt hệ thống thông tin trong hoạt động điều hành, tác nghiệp của các cơ quan, đơn vị.

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thường xuyên tự kiểm tra, giám sát của mỗi cấp ủy, mỗi cấp chính quyền và của cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị; nhất là hoạt động giám sát, tiếp công dân của HĐND thành phố, quận, thị xã.

Thứ năm, đổi mới việc thực hiện quyền giám sát khi không tổ chức HĐND phường. Việc thực hiện quyền làm chủ và giám sát của nhân dân khi không tổ chức HĐND phường được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của HĐND thành phố, HĐND quận; giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hoặc cơ quan nhà nước khác, như thông qua kiểm tra, giám sát của Đảng; giám sát trực tiếp của nhân dân thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, thông qua báo chí, các kênh thông tin, truyền thông, mạng xã hội,... Vì vậy, tiếng nói của người dân ở cấp cơ sở của các đô thị vẫn được HĐND các cấp, cũng như cơ quan nhà nước lắng nghe, xem xét, giải quyết.

Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tạo điều để kiện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, đối thoại, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị là nhiệm vụ mới, khó, phức tạp. Tuy nhiên, với quyết tâm chính trị cao, sự hướng dẫn của các bộ, ban, ngành ở Trung ương, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phát huy sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là việc đề cao phát huy dân chủ ở cơ sở trong từng nhiệm vụ tổ chức thí điểm chính quyền đô thị. Do vậy, thời gian qua, việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực, cơ bản bảo đảm các mục tiêu, mục đích, tiến độ đã đề ra. Việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các địa phương tổ chức thí điểm chính quyền đô thị đạt kết quả tốt./.