Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2023

 PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ BỀN VỮNG

Chương trình 60 giờ Ngày mua sắm trực tuyến Việt Nam-Online Friday 2023 diễn ra từ 0 giờ ngày 1/12 đến 12 giờ ngày 3/12. Với mục tiêu tiếp cận khoảng 10 triệu người tiêu dùng, 1 tỷ lượt xem trên các nền tảng bán hàng và 3 triệu đơn hàng được chốt, Ban tổ chức kỳ vọng chương trình năm nay sẽ tiếp tục là một điểm sáng trong bức tranh chung của lĩnh vực thương mại điện tử cũng như kinh tế số tại Việt Nam.

Những năm vừa qua, thương mại điện tử Việt Nam luôn giữ được tốc độ tăng trưởng nóng, bình quân 16-30%/năm. Tuy nhiên, đã đến lúc chúng ta cần tập trung định hướng lại cho phát triển thương mại điện tử theo hướng bền vững hơn.

Bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng

Theo báo cáo được Google, Temasek và Bain & Company công bố ngày 1/11 vừa qua, Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế số nhanh nhất khu vực Ðông Nam Á trong hai năm liên tiếp (2022, 2023) và dự báo sẽ tiếp tục giữ được vị trí này trong năm 2025. Tổng giá trị hàng hóa (GMV) của Việt Nam dự kiến đạt tỷ lệ tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) ở mức 20%, từ 30 tỷ USD năm 2023 lên gần 45 tỷ USD năm 2025. Ðáng chú ý, tăng trưởng GMV trong 2 năm tới của kinh tế số Việt Nam sẽ được dẫn dắt bởi lĩnh vực thương mại điện tử.

Số liệu thống kê của Bộ Công thương cho thấy, thương mại điện tử Việt Nam vẫn giữ tốc độ tăng trưởng 20% năm 2022. Có thể thấy, trong những năm qua, thương mại điện tử Việt Nam luôn giữ được tốc độ tăng trưởng 16-30%, dự kiến đạt mốc 20,5 tỷ USD vào năm nay. Trong sự phát triển chung này có đóng góp đáng kể từ chương trình “Tuần lễ Thương mại điện tử quốc gia và Ngày mua sắm trực tuyến Việt Nam-Online Friday” do Bộ Công thương đứng ra tổ chức từ 10 năm nay.

Phó Cục trưởng Thương mại điện tử và Kinh tế số (IDEA-Bộ Công thương) Nguyễn Thế Quang thông tin: Từ năm đầu tiên triển khai (2014) với chỉ khoảng 1.000 doanh nghiệp và hơn 3.000 sản phẩm khuyến mãi, tới nay, chương trình đã thu hút hơn 3.000 doanh nghiệp với hơn 300 nghìn mặt hàng, sản phẩm giảm giá được cung cấp tới người tiêu dùng.

Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử, gồm các doanh nghiệp sản xuất, phân phối và các sàn thương mại điện tử như TikTokShop, Lazada, Shopee, Tiki, Sendo, Oppo, Nagakawa, Sunhouse; các doanh nghiệp hỗ trợ hạ tầng thương mại điện tử như Viettel Post, VietnamPost, Napas; các ngân hàng và tổ chức thanh toán;… đều tích cực tham gia chương trình.

Năm nay, IDEA đã phối hợp với các bên liên quan xây dựng kế hoạch triển khai chuỗi các hoạt động diễn ra trong sự kiện, gồm “Tuần lễ thương mại điện tử quốc gia” với nhiều hội thảo trực tiếp và trực tuyến về thương mại điện tử, công nghệ số cũng như nhiều hoạt động tương tác khác với người tiêu dùng. Hoạt động “60 giờ Ngày mua sắm trực tuyến” cũng tiếp tục được triển khai, cung cấp mã giảm giá mua sắm cho người tiêu dùng toàn quốc.

Ðáng chú ý, chương trình năm nay sẽ tập trung vào hoạt động hỗ trợ thiết thực cho doanh nghiệp, hướng đến xây dựng niềm tin cho người tiêu dùng thông qua các khuyến mại thực chất và sự đồng hành nghiêm túc của các nhãn hàng, doanh nghiệp, sàn thương mại điện tử lớn và các nền tảng hỗ trợ.

Ông Nguyễn Lâm Thanh, đại diện TikTok Việt Nam cho rằng: Online Friday là ngày hội không chỉ của người tiêu dùng mà còn cho cả những người làm thương mại điện tử tại Việt Nam. Hashtag OnlineFriday2023 sẽ được triển khai trong suốt thời gian diễn ra sự kiện và với sự đồng hành của các nhà sáng tạo nội dung trên TikTok, hashtag này hứa hẹn sẽ đạt được 1 tỷ lượt xem trong chiến dịch.

Ðặc biệt, Ban tổ chức đã chốt thông điệp trọng tâm năm 2023 là bảo vệ người tiêu dùng. Nhiều hội thảo, diễn đàn diễn ra trong khuôn khổ Chương trình đều xoay quanh trọng tâm tìm kiếm giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này. Và khi người tiêu dùng hoàn toàn yên tâm với thương mại điện tử, sự tăng trưởng lĩnh vực này chắc chắn sẽ có những bước đột phá hơn nữa trong thời gian tới.

Chuyển hướng sang thương mại điện tử xanh

Phó Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh quốc gia (thuộc Bộ Công thương) Nguyễn Quỳnh Anh chia sẻ: “Chúng tôi ý thức việc bảo vệ người tiêu dùng cần triển khai trong toàn bộ quá trình mua sắm trực tuyến. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 vừa được Quốc hội phê chuẩn đã được cập nhật nhiều điểm mới để bắt kịp xu thế tiêu dùng của thương mại điện tử.

Ðó là điều khoản yêu cầu nhiều trách nhiệm hơn từ các sàn thương mại điện tử, nền tảng số và cả người nổi tiếng (bao gồm cả các KOL), cung cấp cho người dân đầy đủ thông tin cần thiết, dấu hiệu nhận biết rõ ràng về sản phẩm, kèm theo các điều kiện giao dịch, thanh toán, vận chuyển, hoàn trả cụ thể”.

Trong quá trình thực hiện giao dịch, cơ quan quản lý nhà nước cũng có các hoạt động phối hợp theo chiều dọc và chiều ngang để bảo vệ người tiêu dùng.

Theo chiều dọc, từ Bộ Công thương đến các sở công thương địa phương đều có bộ phận quản lý thương mại để hỗ trợ giải quyết thắc mắc của người tiêu dùng; các Hội Bảo vệ người tiêu dùng cũng thành lập ở 55 tỉnh, thành phố, giúp người tiêu dùng có thể liên hệ bất cứ lúc nào để tìm hiểu thông tin về hàng hóa.

Theo chiều ngang, giữa các đơn vị của Bộ Công thương như IDEA, Vụ Thị trường trong nước, Tổng cục Quản lý thị trường, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia,… luôn phối hợp để tạo thành mạng lưới hỗ trợ người tiêu dùng bất cứ lúc nào trong quá trình mua sắm.

Sau giao dịch, cơ quan quản lý đã yêu cầu các sàn thương mại điện tử, các doanh nghiệp bán hàng phải thiết lập kênh tiếp nhận thông tin khiếu nại của người tiêu dùng. Riêng Ủy ban Cạnh tranh quốc gia cũng có tổng đài 1800.6838 hoạt động từ năm 2022 và đến nay đã nhận khoảng 1.500 khiếu nại. “Con số này tuy còn ít, nhưng các doanh nghiệp đều đã xử lý tương đối tốt các khiếu nại theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước”, bà Quỳnh Anh thông tin.

Phó Cục trưởng IDEA Nguyễn Thị Minh Huyền cho biết: Ðể tạo điều kiện cho thị trường phát triển lành mạnh, IDEA đã triển khai nhiều nhóm giải pháp tổng thể, xuyên suốt nhằm quản lý, giám sát hoạt động thương mại điện tử.

Nhóm thứ nhất là tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh thương mại điện tử. Nhóm thứ 2 xúc tiến hợp tác quốc tế trong quản lý hoạt động thương mại điện tử. Nhóm thứ 3 là xây dựng công cụ quản lý ứng dụng công nghệ số nhằm tăng cường hiệu lực quản lý. Nhóm thứ 4 là thanh tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh thương mại điện tử.

Cuối cùng là nhóm đẩy mạnh triển khai các dịch vụ hỗ trợ trong thương mại điện tử như giảm chi phí logistics, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, tăng cường liên kết vùng hay tổ chức các chương trình lễ hội mua sắm như Online Friday.

Tổng Thư ký Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) Trần Văn Trọng nhận định: Thương mại điện tử Việt Nam đang phát triển nhanh, có nhiều lợi thế nhưng không thể “nóng” mãi được. VECOM đang phối hợp cùng IDEA xây dựng chiến lược giai đoạn mới của thương mại điện tử là phát triển bền vững, tập trung vào 3 trọng tâm trụ cột.

Trụ cột thứ nhất là sẵn sàng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho thương mại điện tử bởi khi nhu cầu ứng dụng thương mại điện tử và kinh tế số tăng thì nhu cầu nguồn nhân lực cho các hoạt động này chắc chắn tăng theo. Trụ cột thứ 2 là phát triển thương mại điện tử nhằm thu hẹp khoảng cách số.

Theo thống kê, quy mô của thị trường thương mại điện tử Việt Nam tập trung chủ yếu ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 70%); 30% phân bổ cho 61 tỉnh, thành phố còn lại. Nhưng chính các địa phương này lại có đông dân số và nhu cầu thương mại rất lớn. Dư địa cho phát triển thương mại điện tử chính là ở các địa phương còn “đi sau” này và phải có cơ chế, chính sách giúp các doanh nghiệp tại đây ứng dụng, tiếp cận thương mại điện tử.

Trụ cột thứ 3 là phát triển thương mại điện tử xanh. Thực tế, cuộc sống hiện hữu quanh đời sống con người, thương mại điện tử đã và đang tạo ra lượng lớn rác thải nhựa hoặc khí thải từ các phương tiện giao nhận hàng hóa.

Vì thế, chuyển đổi xanh phải đến từ hai phía, người tiêu dùng cũng cần thay đổi thói quen sử dụng và mua sắm hàng hóa theo hướng xanh, tạo ra tác động lan tỏa đến doanh nghiệp trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường./.


Vai trò nòng cốt, tiên phong của QĐND, CAND để xây dựng “thế trận lòng dân” ở mọi vùng, miền Tổ quốc

     Cùng với việc phát huy sức mạnh của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và của toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, để thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc “từ sớm”, “từ xa” với các giải pháp cụ thể. Trước hết, đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng “thế trận lòng dân” trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về chủ trương xây dựng “thế trận lòng dân”, phát huy dân chủ, tạo sự đồng thuận trong thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

     Tăng cường vai trò nòng cốt, tiên phong của QĐND, CAND để xây dựng “thế trận lòng dân” ở mọi vùng, miền Tổ quốc, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và trong đồng bào ở nước ngoài. Đẩy mạnh đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng về chủ trương xây dựng “thế trận lòng dân” trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường xây dựng, củng cố chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh theo hướng gần dân, không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

 HỘI PHỤ NỮ KHỐI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH SƠ KẾT QUY CHẾ PHỐI HỢP 

Phát huy truyền thống đoàn kết của các Hội phụ nữ LLVT tỉnh những năm qua, hôm nay tại Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã diễn ra hội nghị sơ kết Quy chế phối hợp hoạt động năm 2023.

Nhằm sơ kết đánh giá việc hưởng ứng các phong trào thi đua: "Phụ nữ Quân đội đoàn kết - sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng gia đình hạnh phúc, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ", "Phụ nữ Công an bản lĩnh, nhân văn, kỷ cương, trách nhiệm, Vì an ninh Tổ quốc, vì hạnh phúc gia đình" gắn với thực hiện cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ", phong trào thi đua "Xây dựng Người Phụ nữ Việt Nam thời đại mới"

Tại hội nghị bà Vương Thị Dung- Phó chủ tịch Hội LHPN tỉnh BR-VT biểu dương hoạt động của Hôi phụ nữ LLVT toàn khối: Phong trào đã lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng xã hội, hoạt động chung sức vì cộng đồng, an sinh xã hội hưởng về cơ sở với "Triệu phần quà san sẻ yêu thương", chương trình "Mẹ đỡ đầu" hỗ trợ, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em mồ côi... Ngoài ra, trong các hội thi các hội viên đều trẻ đẹp, duyên dáng và chính quy, kỷ luật nghiêm.

Khép lại hội nghị sơ kết năm 2023 Hội phụ nữ Bộ đội Biên phòng tỉnh bàn giao cho Hội phụ nữ Vùng cảnh sát biển 3 - đơn vị đăng cai Quy chế phối hợp năm 2024.

 SÁNG MÃI BIỂU TƯỢNG CỦA THỜI ĐẠI

Trải qua hành trình hơn 60 năm hình thành và phát triển, mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Cuba luôn gắn bó và đoàn kết bền chặt.

Thông qua các cuộc tiếp xúc cấp cao, lãnh đạo hai nước nhiều lần khẳng định quan hệ Việt Nam-Cuba là biểu tượng của thời đại, là tài sản vô giá của hai Đảng và nhân dân hai nước, đóng vai trò là nền tảng chính trị định hướng cho sự phát triển toàn diện của quan hệ song phương.

Những ngày này 63 năm về trước, Cuba trở thành quốc gia đầu tiên ở Tây bán cầu thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam, chỉ hai năm sau khi Cách mạng Cuba thành công. Ngày 2/12/1960 trở thành cột mốc lịch sử đáng nhớ với nhân dân hai nước, đánh dấu sự khởi đầu cho mối quan hệ anh em khăng khít hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế.

Với nhân dân Việt Nam, sự đoàn kết và ủng hộ vô điều kiện của nhân dân Cuba trong thời chiến cũng như giai đoạn hòa bình sau này luôn là nghĩa tình vô cùng trân quý.

Ở thời điểm cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Việt Nam ở giai đoạn cam go nhất, Cuba luôn hết lòng ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam tại các diễn đàn và phong trào quốc tế.

Tháng 9/1973, Chủ tịch Fidel Castro tới Việt Nam, trở thành người đứng đầu chính phủ nước ngoài đầu tiên và duy nhất đến thăm vùng mới giải phóng ở miền nam Việt Nam.

Chuyến thăm lịch sử ấy cùng câu nói bất hủ: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!” đã trở thành biểu tượng của tình đoàn kết anh em gắn bó, thủy chung giữa hai dân tộc cùng chung lý tưởng cao đẹp, vì hòa bình, độc lập tự do, dân chủ và tiến bộ.

Với Cuba, Việt Nam luôn sẵn sàng sẻ chia những gì mình đang có, góp sức trong sự nghiệp phát triển kinh tế và an ninh lương thực của Hòn đảo Tự do. Ngoài việc là nhà cung cấp gạo hàng đầu của Cuba, Việt Nam cũng nhiệt tình hỗ trợ trang thiết bị, kỹ thuật và kinh nghiệm trong sản xuất lúa và các loại cây lương thực.

Trên trường quốc tế, Việt Nam luôn đồng hành cùng Cuba trong cuộc đấu tranh nhằm chấm dứt cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính nhằm vào Cuba kéo dài hơn 55 năm qua.

Thời gian qua, quan hệ hợp tác Việt Nam-Cuba duy trì đà phát triển toàn diện ở nhiều lĩnh vực; trong đó, hợp tác kinh tế và khoa học-kỹ thuật thông qua cơ chế Ủy ban liên Chính phủ được triển khai đều đặn và thu được nhiều kết quả quan trọng.

Hợp tác thương mại được quan tâm thúc đẩy mạnh mẽ thông qua nhiều chương trình, dự án hợp tác và đầu tư. Những năm qua, kim ngạch xuất, nhập khẩu hai chiều đạt mức 250-350 triệu USD/năm.

Trung tuần tháng 11/2023, đoàn công tác Bộ Quốc phòng Việt Nam có chuyến thăm và làm việc tại Cuba nhằm thúc đẩy hợp tác về pháp luật quân sự và quốc phòng.

Đây là lĩnh vực hợp tác mới mà hai bên đều có tiềm năng và nhu cầu hợp tác, đồng thời góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ các Lực lượng Vũ trang Cách mạng Cuba.

Việt Nam mong muốn Cuba tiếp tục quan tâm nghiên cứu, xây dựng kế hoạch để tiếp nhận các chỉ tiêu đào tạo, trao đổi học viên về pháp luật quân sự, quốc phòng, thực tập tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về pháp luật tại Cuba.

Cuối tháng 11 vừa qua, hai đoàn sĩ quan trẻ của Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ các Lực lượng Vũ trang Cách mạng Cuba tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa tại Việt Nam, góp phần thắt chặt tình đoàn kết thủy chung giữa hai nước và hai Quân đội.

Cũng trong tháng 11, đoàn đại biểu cấp cao Bộ Công an đã thăm và làm việc tại Cuba. Lãnh đạo Bộ Công an và Bộ trưởng Nội vụ Cuba đánh giá cao sự hợp tác trong thời gian qua; cam kết tăng cường hợp tác an ninh, hợp tác phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội của mỗi nước.

Hai bên khẳng định sẽ tăng cường trao đổi đoàn công tác các cấp và chuyên gia trên nhiều lĩnh vực hợp tác, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh thực hiện những nội dung thỏa thuận đã thống nhất giữa hai Bộ.

Mới đây, Công ty Vabiotech của Việt Nam và Viện Vaccine Finlay (IFV) của Cuba thông báo nhất trí tăng cường quan hệ hợp tác trong lĩnh vực công nghệ sinh học.

Công ty Almedic của Việt Nam cũng ký kết các hợp đồng phân phối và phát triển vắc-xin năm 2024 với các trung tâm sinh học hàng đầu của Cuba như Trung tâm Công nghệ Sinh học và Kỹ nghệ di truyền (CIGB) và Trung tâm Miễn dịch phân tử (CIM).

Các đơn vị của Cuba sẽ cung cấp cho thị trường Việt Nam sản phẩm vắc-xin phòng bệnh cho người; sản phẩm điều trị ung thư CIMAher (kháng thể đơn dòng điều trị ung thư đầu-cổ, ung thư tụy, ung thư thực quản) và CIMVAx EGF (điều trị ung thư phổi).

Phía Việt Nam đã phối hợp phía bạn đưa nhiều cán bộ kỹ thuật, quản lý Việt Nam sang các trung tâm sinh học, phòng thí nghiệm tiên tiến của Cuba để học tập, đào tạo ngắn hạn, đồng thời đưa các chuyên gia Cuba sang Việt Nam đào tạo kỹ thuật cho cơ sở sản xuất vắc-xin, cơ quan kiểm định chất lượng của Việt Nam.

63 năm đã qua và hơn thế nữa, tình cảm Việt Nam-Cuba ngày càng gắn kết và bền chặt, xứng đáng là mối quan hệ đặc biệt, không có tiền lệ, là hình mẫu của quan hệ quốc tế.

Tình hữu nghị ấy là điểm tựa vững chắc để Việt Nam và Cuba luôn sát cánh bên nhau, tiếp tục kiên định sự nghiệp xây dựng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội và công cuộc phát triển kinh tế-xã hội ở mỗi đất nước./.

 ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG GÓP PHẦN THẮT CHẶT QUAN HỆ VIỆT NAM - LÀO - CAMPUCHIA


Các yếu tố tự nhiên đã tạo thành thế liên kết chặt chẽ, vững chắc, tạo điều kiện để ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau để bảo vệ lẫn nhau và cùng nhau phát triển. Thực tiễn lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của mỗi nước đã khẳng định thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu không gì lay chuyển nổi giữa quân đội và nhân dân ba nước Đông Dương. Trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước hiện nay, mặc dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến chuyển nhưng mối quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện này tiếp tục được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân ba nước đặc biệt quan tâm, coi trọng, giữ gìn và phát huy. 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Nhân dân Campuchia, mối quan hệ giữa Việt Nam - Lào - Campuchia không ngừng phát triển toàn diện, vững chắc và ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả. Mặc dù cả Việt Nam - Lào - Campuchia đã và đang tích cực triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, song vẫn dành ưu tiên cao cho quan hệ láng giềng gần gũi, hợp tác toàn diện giữa ba nước.

Cùng với sự phát triển bền vững của quan hệ ba nước, quan hệ hợp tác quốc phòng Việt Nam - Lào - Campuchia cũng không ngừng được củng cố và phát triển, trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ ba nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Thấy rõ tầm quan trọng của quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa ba nước nên các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách mọi cách để chống phá. Chúng không bao giờ từ bỏ âm mưu chia rẽ tình đoàn kết giữa Việt Nam - Lào - Campuchia nói chung và chia rẽ mối quan hệ quân đội ba nước nói riêng. Chính vì vậy, việc củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết Việt Nam - Lào - Campuchia, trong đó có đoàn kết giữa quân đội ba nước là nhiệm vụ mang ý nghĩa chiến lược, lâu dài. Hợp tác về quốc phòng, an ninh giữa Việt Nam - Lào - Campuchia là nhu cầu cấp bách. 

Theo tinh thần đó, những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, công tác đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nói chung, quan hệ hợp tác quốc phòng với Lào và Campuchia nói riêng không ngừng được mở rộng và thúc đẩy. Công tác đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng đã thực sự giữ vai trò tiên phong trong việc tạo lập quan hệ, giữa vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa mọi nguồn lực bên ngoài để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mối quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam với Lào và Campuchia đã đóng góp tích cực vào sự phát triển tốt đẹp của mối quan hệ giữa ba quốc gia láng giềng gần gũi, góp phần củng cố quan hệ hợp tác toàn diện, khắc sâu tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt. Trên cơ sở các văn kiện về hợp tác quốc phòng và kế hoạch hợp tác hằng năm giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam với Bộ Quốc phòng Lào, hợp tác quốc phòng hai nước tiếp tục được thúc đẩy trên nhiều lĩnh vực đáng chú ý như: Trao đổi đoàn; đào tạo nguồn nhân lực; công tác đảng, công tác chính trị; xây dựng cụm bản; viện trợ; tìm kiếm, quy tập và hồi hương về nước hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào; quản lý, bảo vệ biên giới; ủng hộ lẫn nhau và phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn quân sự, quốc phòng đa phương khu vực và quốc tế… Điểm sáng, góp phần quan trọng củng cố và tăng cường quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Lào là mối quan hệ chặt chẽ, hiệu quả giữa các lực lượng bảo vệ biên giới. Cùng với phối hợp chặt chẽ, duy trì trao đổi thông tin, hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm biên giới, đặc biệt là phòng, chống tội phạm ma túy, gian lận thương mại, buôn lậu, hai bên còn tăng cường phối hợp trong ngăn chặn di cư tự do, xuất nhập cảnh trái phép; tham gia giải quyết tình trạng kết hôn không giá thú ở khu vực biên giới; phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là đại dịch Covid-19; phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai; tăng cường phổ biến, giáo dục cho nhân dân khu vực biên giới; đẩy mạnh việc giao lưu, kết nghĩa giữa các địa phương, đơn vị giáp biên... góp phần giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện cho nhân dân khu vực biên giới ba nước phát triển kinh tế - xã hội.

Quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Campuchia cũng đạt nhiều kết quả quan trọng. Các cơ quan, đơn vị của hai bên đã quán triệt tốt sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Quốc phòng hai nước, tích cực, chủ động phối hợp, triển khai đầy đủ các nội dung hợp tác quốc phòng đã được thống nhất giữa hai bên, nổi bật là trên các lĩnh vực: Trao đổi đoàn; đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng; đào tạo nguồn nhân lực; tìm kiếm, quy tập và hồi hương về nước hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại Campuchia. Các cơ chế, mô hình hợp tác như: Tuần tra chung, hội nghị thường niên, kết nghĩa quân dân, giao lưu sĩ quan trẻ;... được đẩy mạnh và phát huy hiệu quả. Lực lượng bảo vệ biên giới và các quân khu giáp biên của hai bên đã phối hợp tốt trong việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới. Công tác giáo dục, phổ biến pháp luật cho nhân dân khu vực biên giới và quân đội hai nước được đẩy mạnh. Đặc biệt, công tác tuyên truyền cho thế hệ trẻ nói chung, lớp trẻ trong quân đội nói riêng về lịch sử, ý nghĩa, tầm quan trọng của tình đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước, hai quân đội qua các thời kỳ lịch sử rất được chú trọng. Bộ Quốc phòng hai nước đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động lớn, có ý nghĩa lan tỏa tích cực về tình đoàn kết quân dân hai nước Việt Nam - Campuchia. Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội Hoàng gia Campuchia cũng phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, cơ chế đa phương…

Thực tiễn đã khẳng định, tình đoàn kết hữu nghị giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia không chỉ gắn bó trong kháng chiến, mà còn xuyên suốt trong cả quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước phồn vinh, hạnh phúc với rất nhiều hoạt động ý nghĩa thiết thực. Chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia lần thứ nhất cấp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là một trong những hoạt động tiếp nối truyền thống quý báu đó. Giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia là sự kiện chính trị quan trọng, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, trực tiếp góp phần tăng cường mối quan hệ giữa quân đội, chính quyền địa phương và nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Với sự chuẩn bị cẩn trọng, chu đáo, tỷ mỉ, quân đội và nhân dân ba nước quyết tâm tổ chức thành công tốt đẹp sự kiện giàu ý nghĩa này. 

Với những gì đã và đang diễn ra chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dù bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có biến chuyển như thế nào đi chăng nữa thì ba nước, ba dân tộc, ba quân đội Việt Nam - Lào - Campuchia vẫn luôn kề vai sát cánh cùng nhau vun đắp cho mối quan hệ truyền thống này ngày càng phát triển mạnh mẽ, tốt đẹp, vì lợi ích chung của nhân dân ba nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và thế giới./.

Thế trận lòng dân kế sách giữ nước từ sớm từ xa

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một phong cách mẫu mực về người làm công tác dân vận, được Người đúc kết thành phương châm ngắn gọn là “Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Đây vừa là sự đánh giá cao, vừa là yêu cầu khắt khe về bản lĩnh chính trị, tư duy lý luận, năng lực thực tiễn, đạo đức cách mạng và tinh thần nêu gương của người thực hành dân vận trong một nhà nước dân chủ.

    Sinh thời, Bác thường xuyên căn dặn cán bộ, đảng viên phải nâng cao tinh thần phục vụ trước Đảng và quần chúng, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra oai… Học tập và làm theo tư tưởng trọng dân, phong cách gần dân của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức, phong cách, nâng cao bản lĩnh chính trị và chuyên môn. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, lắng nghe dân nói và biết nói cho dân nghe, thực sự là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”, đem lại lợi ích cho dân, làm cho nhân dân thực sự tin yêu Đảng, mà trước hết là tin yêu mình…

 HIỂU ĐÚNG VỀ BẢO VỆ DI SẢN PHI VẬT THỂ

Di sản văn hóa phi vật thể hay “di sản sống” có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống. Di sản sống tạo cơ hội cho cộng đồng và cá nhân ý thức về bản sắc và sự kế tục.

Di sản có thể thúc đẩy sự gắn kết xã hội, tôn trọng sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người và giúp các cộng đồng, cá nhân kết nối với nhau ở cấp độ địa phương và với thế giới rộng lớn hơn.

Được nắm giữ, thực hành và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể, di sản sống được các cộng đồng và các nhóm tộc người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường, với mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng, với tự nhiên và lịch sử của họ; hình thành ý thức về bản sắc và sự kế tục trong từng cộng đồng, từng tộc người, qua đó khích lệ sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo.

Bởi thế, để bảo vệ các di sản sống, trước hết phải coi cộng đồng, chủ thể nắm giữ di sản là trung tâm. Bảo vệ di sản sống, bảo vệ con người nắm giữ di sản, là điều kiện tiên quyết để xây dựng xã hội toàn diện, khả năng phục hồi và bền vững cho tương lai…

Di sản văn hóa - với tư cách là nguồn tài nguyên nhân văn có hàm lượng trí tuệ cao - có khả năng phục vụ yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, tiêu biểu là du lịch văn hóa, du lịch di sản. Trên cơ sở kho tàng di sản văn hóa dân tộc, ngành du lịch sẽ tạo ra các loại hình dịch vụ văn hóa, sản phẩm du lịch đặc trưng, biến di sản thành loại hàng hóa đặc biệt.

Du lịch di sản đồng thời cũng tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân sinh sống quanh di sản văn hóa và các điểm đến du lịch. Gần đây, đã xuất hiện thuật ngữ “kinh tế học di sản” ở Việt Nam, với tư cách là một xu thế mới trong kinh tế thị trường. Đây có lẽ là một trong các nỗ lực đưa di sản gắn liền với các chính sách phát triển kinh tế-xã hội. Tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, ngoài các dự án phát triển, việc đầu tư cho hoạt động bảo tồn di sản văn hóa dưới góc nhìn di sản đô thị và kinh tế học di sản, đã được quan tâm.

Từ năm 2001, lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam đã được luật hóa trong Luật Di sản văn hóa. Những quy định liên quan di sản văn hóa phi vật thể nhằm mục đích bảo vệ di sản sống; bảo đảm sự tôn trọng đối với di sản đã được quy định rõ ràng trong luật, góp phần để cộng đồng và xã hội nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản và cũng ý thức bảo vệ, phát huy giá trị của di sản văn hóa.

Đến năm 2005, Việt Nam trở thành một trong 30 quốc gia sớm nhất ký tham gia Công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (Công ước 2003). Điều đó cho thấy tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể và sự đóng góp của di sản vào phát triển bền vững và đa dạng văn hóa ở Việt Nam. 

Quá trình 18 năm tham gia Công ước 2003, Việt Nam luôn nỗ lực thể hiện là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong việc thực hiện Công ước. Sở hữu 15 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh, Việt Nam đã bảo vệ và phát huy di sản bằng các chương trình hành động quốc gia đã cam kết với UNESCO; và hai lần Việt Nam đã được bầu làm thành viên Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003.

Thế nhưng lâu nay, không ít người đã hiểu một cách sai lệch về các danh hiệu mà UNESCO ghi nhận đối với các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam. Tiến sĩ Frank Proschan, cố vấn của UNESCO về Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể từng nhiều lần khẳng định: Trong Công ước 2003, di sản văn hóa phi vật thể chỉ được sở hữu, công nhận bởi cộng đồng, nhóm cá nhân và một số trường hợp là các cá nhân.

Có nghĩa là: Không có di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia hay của nhân loại, mà chỉ có di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng tại một quốc gia nào đó. UNESCO không vinh danh, công nhận di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cho bất cứ di sản nào của bất cứ nước nào, họ chỉ ghi danh di sản thuộc cộng đồng cụ thể mà thôi.

Vì thế, cần phải hiểu cho đúng: UNESCO không vinh danh “Quan họ” mà là ghi danh “Không gian văn hóa quan họ”; không vinh danh “Cồng chiêng” mà ghi danh “Không gian văn hóa cồng chiêng”; không vinh danh “Ca trù” mà là ghi danh “Hát ca trù của người Việt”; không vinh danh “Đạo Mẫu” hay “Hầu đồng”, mà chỉ ghi danh “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt”. Nếu có việc tranh cãi, bất đồng, xung đột... về bảo tồn, thực hành di sản (phi vật thể), vi phạm trong quá trình bảo tồn, khai thác, phát huy di sản (vật thể) là UNESCO lập tức thu lại danh hiệu. Và lúc đó, hậu quả thiệt hại về danh tiếng và kinh tế là rất khó lường.

Di sản văn hóa phải được bảo tồn như một cơ thể sống trong đời sống của cộng đồng và tạo ra sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân, phải được bảo tồn trong sự phát triển tiếp nối. Vì thế, những mục tiêu lớn đặt ra chỉ có thể đạt được trên cơ sở một hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sách do Nhà nước kiến tạo nên và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ nhiệt thành của cả cộng đồng xã hội.

Có lẽ vì vậy mà hội thảo “Di sản văn hóa sống và phát triển bền vững: Từ cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm” do Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Hội đồng Anh phối hợp tổ chức hôm 1/12 tại Hà Nội, đã thu hút nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu về lĩnh vực di sản văn hóa, các nhà quản lý, đại diện các cơ sở đào tạo, cơ quan, tổ chức của Việt Nam và quốc tế..., cùng đông đảo nghệ nhân, cộng đồng sở hữu, giữ gìn và thực hành di sản tại nhiều địa phương.

Từ hội thảo, cách nhìn nhận đối với các chiến lược phù hợp, thách thức và cơ hội trong khai thác giá trị di sản văn hóa phi vật thể nhằm đạt được những mục tiêu phát triển bền vững; cũng như vinh danh sự đóng góp của cộng đồng, khẳng định tầm quan trọng và vai trò trung tâm của họ là tương đối thống nhất./.


 TÌM CÁCH BẢO VỆ "DI SẢN VĂN HÓA SỐNG"

Các chuyên gia cho rằng bảo vệ "di sản văn hóa sống" - người nắm giữ di sản là quan trọng để xây dựng, phát triển đời sống văn hóa bền vững.

Hội thảo chuyên đề Di sản văn hóa sống và phát triển bền vững: Từ cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm do Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) phối hợp Hội đồng Anh phối hợp tổ chức nhằm chia sẻ về bảo tồn, phát triển văn hóa phi vật thể bền vững và vai trò của cộng đồng - người nắm giữ và thực hành di sản.

Bảo tồn di sản văn hóa là điều xa vời?

"Di sản văn hóa phi vật thể hay "di sản sống" có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống. Di sản văn hóa sống tạo cơ hội cho cộng đồng và cá nhân ý thức về bản sắc và sự kế tục; thúc đẩy sự gắn kết xã hội, tôn trọng đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người; giúp cộng đồng, cá nhân kết nối với nhau ở cấp độ địa phương và với thế giới rộng lớn hơn”, PGS.TS. Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa khẳng định tại hội thảo.

Ông Dona McGowan - Giám đốc Hội đồng Anh tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam sở hữu một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, như sản phẩm thủ công truyền thống, các nghi lễ, hình thức biểu diễn nghệ thuật và tri thức bản địa ăn sâu vào văn hóa dân tộc. Cùng với việc ngày càng có nhiều giá trị văn hóa được công nhận cả trong nước và quốc tế, lĩnh vực di sản văn hóa đang có chuyển biến tích cực, có lợi cho những người thực hành và thành viên cộng đồng, những người đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững.

Theo nghiên cứu của Hội đồng Anh, người dân ở nhiều địa phương Việt Nam vẫn có suy nghĩ việc bảo tồn di sản văn hóa là điều “xa vời”, chủ yếu là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức phi chính phủ. Vì vậy, bà Donna McGowan khẳng định hội thảo là cơ hội để nhìn nhận, tìm ra những chiến lược phù hợp, chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc dùng di sản phi vật thể để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, đồng thời vinh danh sự đóng góp của cộng đồng, khẳng định tầm quan trọng và vai trò trung tâm của họ trong quá trình chuyển biến này.

Ông Iain Frew - Đại sứ Anh tại Việt Nam đánh giá cao những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tại Việt Nam. Ông cho rằng, Việt Nam đang ngày càng nhiều di sản văn hóa được công nhận trong nước và quốc tế. Việt Nam cũng đang tìm cách tận dụng tối đa những giá trị này, đảm bảo rằng di sản văn hóa sẽ trở thành trung tâm của phát triển bền vững.

Chung tay bảo vệ "di sản sống"

Các chuyên gia cho rằng bảo vệ "di sản văn hóa sống" - người nắm giữ di sản là quan trọng để xây dựng, phát triển đời sống văn hóa bền vững. Khi cộng đồng được tăng cường hiểu biết, đưa ra ý tưởng xây dựng và thực hiện các hoạt động để bảo tồn, phát huy giá trị di sản sẽ mang đến tương lai tốt đẹp cho di sản văn hóa. Quan trọng hơn, việc tham gia trực tiếp của cộng đồng cũng tạo ra những cơ hội mới, giúp chính họ được hưởng lợi, cải thiện sinh kế.

Theo TS. Phạm Cao Quý (Cục Di sản văn hóa), di sản văn hóa phi vật thể tồn tại không tách rời con người. Nó luôn nằm trong con người và chỉ được nhận diện thông qua hoạt động trình diễn, biểu diễn, tạo tác của con người. Nó do các thế hệ kế thừa, lưu giữ, thực hành, sáng tạo và truyền lại cho nhau. Điều này đồng nghĩa di sản tồn tại khi cộng đồng ý thức về bản sắc và sự kế tục, kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai.

“Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể là bảo vệ con người, tạo ra các điều kiện để con người (nghệ nhân, người thực hành, cộng đồng) có điều kiện tốt, phù hợp nhất để thực hành di sản đang nắm giữ. Đồng thời, các chính sách gắn với di sản được xây dựng và thực hiện đều phải dựa trên việc lấy con người làm trung tâm”, TS. Phạm Cao Quý nhấn mạnh.

Theo TS. Nguyễn Thị Thu Trang (Cục Di sản Văn hóa), với tư cách là nguồn tài nguyên nhân văn có chất lượng trí tuệ cao, di sản văn hóa có khả năng phục vụ yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, tiêu biểu nhất là phát triển du lịch văn hóa hay du lịch di sản. Trên cơ sở kho tàng di sản văn hóa dân tộc, ngành du lịch sáng tạo ra các loại hình dịch vụ văn hóa biến di sản thành loại hàng hóa đặc biệt. Du lịch di sản cũng tạo ra sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân cư trú xung quanh di sản văn hóa và các điểm đến du lịch.

“Những năm gần đây, ở Việt Nam đã xuất hiện thuật ngữ khoa học 'kinh tế học di sản' như một xu thế mới trong nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng tạo ra sự trao đổi học thuật sôi nổi theo cả hai chiều thuận và nghịch. Đây có lẽ là một trong các nỗ lực đưa di sản gắn liền với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội”, TS. Nguyễn Thị Thu Trang chia sẻ.

Hầu như ở các quốc gia trên thế giới, ngoài các dự án phát triển, người ta bắt đầu quan tâm tới việc đầu tư cho hoạt động bảo tồn di sản văn hóa dưới góc nhìn di sản đô thị và kinh tế học di sản.

“Di sản văn hóa chỉ được bảo tồn khi nó được sử dụng và phát huy để phục vụ mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam. Di sản văn hóa phải được bảo tồn như một cơ thể sống động trong đời sống của cộng đồng và tạo ra sinh kế bền vững cho cộng đồng. Đồng thời, phải được bảo tồn trong sự phát triển tiếp nối. Những mục tiêu lớn đặt ra chỉ có thể đạt được trên cơ sở một hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sách do nhà nước kiến tạo nên và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ nhiệt thành của cả cộng đồng xã hội...”, TS. Nguyễn Thị Thu Trang khẳng định.

"Chúng tôi cho rằng, nên tạo điều kiện cho người dân duy trì các hoạt động của họ ngay cả khi dự án đã kết thúc, nghĩa là gia tăng kinh phí để hỗ trợ các dự án trong quãng thời gian dài hơn so với các dự án đã tài trợ trong các năm qua,” bà Nikki Locke - Trưởng Ban Dự án Di sản văn hóa cho sự phát triển đồng đều của Hội đồng Anh toàn cầu chia sẻ.

Cụ thể, đại diện Hội đồng Anh toàn cầu đề xuất giải pháp thiết lập các bảo tàng mini tại cộng đồng - nơi trưng bày trang phục truyền thống, công cụ lao động, vật thể dùng cho nghi lễ, các nhạc cụ, các sản phẩm gia đình tự làm.

Bà Nikki Locke cho biết tại Anh, nhà nước thành lập Quỹ Di sản Văn hóa quốc gia. “Nguồn quỹ này rất lớn, có thể coi là nguồn quỹ lớn nhất. Ở Vương quốc Anh chúng tôi có những hoạt động hỗ trợ cụ thể trong mỗi khu vực với những đặc thù riêng liên quan đến văn hóa, di sản, văn hóa phi vật thể. Phải làm thế nào để có cách tiếp cận tổng thể, toàn diện để chúng ta có thể đạt được hiệu quả cao nhất”, bà Nikki Locke chia sẻ.

Theo bà, nguồn quỹ này đến từ nhà nước và dùng để thực hiện nhiều dự án khác nhau. Nguồn quỹ này là cơ hội lớn để cộng đồng tiếp cận và có được nguồn vốn cần thiết để bảo tồn các giá trị văn hóa, di sản văn hóa mà cộng đồng, chủ thể nắm giữ di sản đó mong muốn.

Để bảo vệ di sản sống, Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa khẳng định, phải coi cộng đồng, chủ thể nắm giữ di sản là trung tâm, bởi bảo vệ di sản sống, bảo vệ con người nắm giữ di sản là điều quan trọng nhất để xây dựng xã hội toàn diện, khả năng phục hồi và bền vững cho tương lai./.

 THAY ĐỔI NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN NHỜ TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

Những năm gần đây, tình trạng người dân vi phạm pháp luật, quy chế biên giới giảm, an ninh - trật tự trên địa bàn luôn ổn định, nhân dân yên tâm lao động sản xuất, nâng cao đời sống... là thực tế được ghi nhận tại địa bàn biên giới xã Cô Ba và xã Thượng Hà (huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng).

Có được những kết quả đó, xuất phát từ những buổi tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho người dân do cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cô Ba (Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng) triển khai trong thời gian qua.

Đầu giờ sáng những ngày cuối tháng 11, trời biên giới se lạnh, những lùm cỏ trên lối mòn nối từ đường tuần tra biên giới vào cột mốc 588 do Đồn Biên phòng Cô Ba quản lý đẫm sương và mưa đêm. Lúc này, ông Lục Văn Lẹo ở thôn Phiêng Mòn, xã Cô Ba tay cầm rựa, tay cầm chổi đã có mặt ở cột mốc 588. Ông tranh thủ nhổ cỏ, phát quang, quét dọn sạch sẽ quanh cột mốc, sau khi quan sát không có gì bất thường, ông mới rời đi.

Trước đây ông Lục Văn Lẹo và nhiều người dân trong thôn Phiêng Mòn cho rằng công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới là nhiệm vụ riêng của Bộ đội Biên phòng, không liên quan gì đến người dân. Chính vì vậy, ông Lẹo và nhiều người dân luôn thiếu nhiệt tình khi Bộ đội Biên phòng cần hỗ trợ. Để phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác bảo vệ chủ quyền biên giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cô Ba đã xác định phải đẩy mạnh việc tuyên truyền, PBGDPL cho người dân, góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi suy nghĩ và hành động của người dân.

Theo đó, chỉ huy Đồn Biên phòng Cô Ba đã phân công cán bộ, chiến sĩ xuống tận thôn Phiêng Mòn để 5 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc, cùng bảo vệ đường biên cột mốc) với người dân. Được tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, quy định pháp luật của Nhà nước về bảo vệ biên giới, ông Lẹo đã thay đổi và trở thành người nhiệt tình trong việc bảo vệ cột mốc. Ông Lục Văn Lẹo cho biết: “Với tôi, hiện nay việc thăm nom cột mốc đã trở thành thói quen nên đều đặn mỗi tuần tôi lại đi kiểm tra cột mốc vài ba lần. Đi kiểm tra thấy có gì bất thường là tôi báo ngay với bộ đội ở dưới đồn để mọi người còn xử lý”.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, Đồn Biên phòng Cô Ba quản lý hơn 19km đường biên giới với 33 vị trí cột mốc thuộc 2 xã: Cô Ba, Thượng Hà. Trên địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc cùng sinh sống như: Tày, Nùng, Mông, Dao, Sán Chỉ, Lô Lô, chính vì vậy, Đồn Biên phòng Cô Ba lựa chọn những nội dung, hình thức tuyên truyền pháp luật phù hợp với từng thôn, xóm và từng đồng bào dân tộc sao cho hiệu quả cao nhất.

Ông Quan Văn Chung, Trưởng thôn Phiêng Sáng, xã Cô Ba cho biết: “Trong các buổi họp xóm, sinh hoạt chi bộ, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cô Ba thường xuyên lồng ghép tuyên truyền PBGDPL đến mỗi người dân... Đối với những việc đột xuất, cán bộ biên phòng còn đến từng nhà dân để tuyên truyền giúp mọi người trong thôn hiểu và chấp hành tốt các quy định pháp luật, tình hình an ninh - trật tự được giữ vững”.

Với quyết tâm không để bất kỳ một người dân nào bị “hổng” về pháp luật, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cô Ba luôn tìm tòi những cách làm sáng tạo, kiên trì bám địa bàn, bám dân. Phối hợp với địa phương tổ chức biên soạn và thu âm các nội dung PBGDPL bằng tiếng dân tộc để đồng bào dễ tiếp cận; treo băng rôn, khẩu hiệu, pa-nô, áp-phích ở những địa điểm dễ nhìn, dễ thấy, có nhiều người dân qua lại.

Trung úy Trương Phúc Khoa, Đội trưởng Đội Vũ trang (Đồn Biên phòng Cô Ba) chia sẻ: “Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều khi cán bộ nói nhưng đồng bào không hiểu được, nên tranh thủ những buổi tuần tra, phát quang đường tuần tra biên giới, tập trung khoảng 100 người là cán bộ, chiến sĩ, nhân dân trên địa bàn, chúng tôi tranh thủ “cầm tay chỉ việc” ngay. Ví dụ như trong quá trình phát quang đường tuần tra, tôi chỉ cho người dân biết phạm vi đường thông tầm nhìn biên giới được quy định ra sao; chỗ nào không được phép canh tác, săn bắt, chăn thả gia súc... Tôi thấy nhờ có thực tế giúp bà con nắm bắt và hiểu rất nhanh”.

Trao đổi với chúng tôi, Trung tá Trần Văn Khâm, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Cô Ba cho biết: “Để tăng cường hiệu lực và hiệu quả của công tác tuyên truyền PBGDPL cho người dân, ngoài việc triển khai thực hiện các mô hình chuyên sâu về pháp luật, đơn vị còn đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật để răn đe.

Mặt khác, đơn vị luôn chú trọng đến việc xây dựng các mô hình giúp dân phát triển kinh tế, các công trình dân sinh, chăm lo chính sách an sinh xã hội... để nâng cao đời sống nhân dân, từ đó, nhân dân tích cực giúp đỡ, hỗ trợ chúng tôi trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia”./. 


 BÁC HỒ VỚI PHONG TRÀO "NGƯỜI TỐT, VIỆC TỐT"

Sinh thời Bác Hồ đặc biệt chú trọng đến những tấm gương người tốt, việc tốt. Ngay từ năm 1959 Bác đã suy nghĩ về việc dùng huy hiệu của mình như thế nào để phát huy được tác dụng trong nhân dân.Theo Bác cần có những phần thưởng kịp thời để động viên, khuyến khích những người hăng hái làm tròn nhiệm vụ, vì "Ðối với anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua được Ðảng và Nhà nước khen thưởng thì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành cân nhắc, xét duyệt. Còn với người tốt làm những việc tốt thì việc khen thưởng có thể đơn giản hơn". Bác cho rằng "Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Ðảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới".

Bác quan tâm tới gương người tốt, việc tốt một cách tỉ mỉ và cụ thể, chứ không chung chung, hình thức. Ðọc báo thấy có gương người tốt, việc tốt, Bác đánh dấu lại, cho xác minh, nếu đúng như bài báo đưa tin thì Bác thưởng huy hiệu. Hiện nay Bảo tàng Hồ Chí Minh còn lưu giữ được nhiều bút tích của Bác ghi lại trên các trang báo về việc thưởng huy hiệu cho các cá nhân và tập thể. Bác muốn gương người tốt, việc tốt được nhân lên, trở thành một phong trào, được nhân dân cả nước hưởng ứng, học tập và làm theo. Phong trào người tốt, việc tốt đã làm cho phong trào thi đua yêu nước của nhân dân ta ngày càng phong phú, đa dạng và thiết thực hơn, góp phần thực hiện tốt lời kêu gọi của Bác: thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua.

Khoảng năm nghìn gương người tốt, việc tốt được Bác gửi tặng huy hiệu, gồm nhiều thành phần, ở mọi ngành, mọi giới, mọi lứa tuổi trên khắp mọi miền đất nước; từ các cháu thiếu nhi tuổi còn nhỏ nhưng đã biết nêu gương thật thà, dũng cảm, học giỏi, thương yêu bạn, cõng bạn đi học... cho đến các cụ già tuy tuổi đã cao nhưng vẫn muốn góp một phần sức lực còn lại của mình cho xã hội; từ các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân dũng cảm trong chiến đấu đến những thầy cô giáo tận tụy, hết lòng vì học sinh thân yêu; từ những phụ nữ dũng cảm, đảm đang nơi hậu phương để chồng con yên tâm chiến đấu ở tiền tuyến; những đoàn viên thanh niên luôn luôn sẵn sàng xung kích trong công việc đến những trí thức gương mẫu, những kiều bào ở Thái Lan trở về Tổ quốc sau bao năm xa quê hương, cùng chung sức xây dựng nước nhà.

Bộ sưu tập các bài báo viết về những tấm gương người tốt, việc tốt, do Bác đọc từ báo của trung ương và địa phương được cắt dán và giao cho các nhà xuất bản để xuất bản thành sách. Những tập sách "Vì nước vì dân", "Thế hệ anh hùng", "Dũng cảm đảm đang", "Việc nhỏ nghĩa lớn", "Hậu phương thi đua với tiền phương"... được xuất bản giữa lúc cuộc kháng chiến chống M, cứu nước đang ở trong giai đoạn quyết liệt. Những tập sách nhỏ ấy đã góp phần vào việc giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa cho nhân dân ta.

HƯỚNG ĐẾN LÀM TRONG SẠCH ĐỘI NGŨ Ở CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN


    Kịp thời, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đáp ứng yêu cải cách hành chính và xây dựng bộ máy hoạt động tố tụng trong sạch, minh bạch, có thể nói việc thực thi Quy định 132 không chỉ giúp các tổ chức và cá nhân trong công tác (tại các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) thực hiện tốt hơn Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (trong đó có yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực) và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; gắn với Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm và các Quy định về nêu gương (Quy định 55, 08)… để tự soi, tự sửa và tránh mắc khuyết điểm, vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật, mà còn tạo cơ sở, điều kiện để cấp ủy, tổ chức Đảng, các cơ quan, ban, ngành chức năng và cán bộ, đảng viên, người dân tham gia giám sát các cơ quan, các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

    Từ mục đích, nội dung và ý nghĩa như thế, có thể thấy, việc lu loa trên mạng xã hội  rằng: Quy định 132 là “vô pháp, không đúng quy định pháp luật”; là “không đảm bảo tính khách quan” và Quy định này “chỉ tô đậm thêm tính chất đảng trị” và “xóa nhòa đi tính chất pháp trị” của các phần tử vong quốc, cơ hội, phản động chỉ là một trong những chiêu trò nhằm bôi đen cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam; xuyên tạc những nỗ lực, quyết sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong phòng, đấu tranh chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.

    Thực chất, Quy định 132 được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng gắn với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với kiểm soát quyền lực Nhà nước là rất phù hợp với thực tiễn; là đáp ứng đúng yêu cầu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hiện tại. Hơn nữa, Quy định 132 cho thấy việc kiểm soát quyền lực Nhà nước ngay từ gốc rễ không chỉ là biện pháp hữu hiệu, có tác dụng ngăn ngừa, cảnh tỉnh những người có ý định tham nhũng, tiêu cực, mà còn mở rộng phạm vi, vươn tầm đến nhiều lĩnh vực khác trong đời sống chính trị, xã hội, pháp lý như giải quyết kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo; tương trợ tư pháp và hợp tác quốc tế; bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác hay khuyến khích cán bộ lãnh đạo có sai phạm nghỉ việc (thể hiện tính nhân văn của Đảng, Nhà nước)…

     Vì Quy định 132 hướng đến mục tiêu xây dựng bộ máy tố tụng trong sạch, minh bạch; đồng thời cũng chỉ rõ quyền lực luôn đi kèm nghĩa vụ và trách nhiệm, cho nên,  mọi hành vi lạm quyền, vượt quyền, vi phạm quyền lực Nhà nước của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ đều sẽ bị xử lý nghiêm minh. Và cũng vì thế, việc thực thi Quy định này sẽ góp phần hạn chế được vấn nạn tham nhũng, tiêu cực, giúp củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân đối với công tác điều tra, xét xử, thi hành án; đồng thời, từng bước loại bỏ những hành vi lợi dụng, lạm dụng, sử dụng chức vụ, quyền hạn để tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, tố tụng, thi hành án.

        Vì đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn và là minh chứng hiệu quả trong phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và kiểm soát quyền lực Nhà nước của Đảng, nên Quy định 132 được cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tin tưởng, đồng tình ủng hộ./.

Bước tiến mới về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án (Quy định 132) không chỉ là một bước tiến mới về kiểm soát quyền lực Nhà nước, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, mà còn được cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tin tưởng, ủng hộ.

“Những luận điệu sai trái và vô căn cứ xung quanh Luật Đất đai sửa đổi”

Tại Ðiều 64 về Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai trong Luật Ðất đai năm 2013 quy định rõ các trường hợp thu hồi đất đai vi phạm pháp luật về đất đai. Nội dung này tiếp tục được tái khẳng định tại khoản i, Ðiều 72 trong Dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) năm 2022: "Ðất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư mà không đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ sử dụng đất theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư thì chủ đầu tư phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án đầu tư và tiền thuế tăng thêm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Ðiều 126 của Luật này. Trường hợp chậm tiến độ quá 48 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư mà chủ đầu tư chưa hoàn thành dự án đưa vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng".

Ðặc biệt, để xử lý dứt điểm những dự án đầu tư lớn, trọng điểm chậm tiến độ, gia hạn nhiều lần, quy hoạch treo, sáng ngày 14/9/2022, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016-2021, Ðoàn giám sát Quốc hội đã nêu đích danh một số dự án chậm tiến độ điển hình gây thất thoát, lãng phí và bức xúc trong dư luận xã hội thời gian dài cần được kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh trong thời gian tới, cụ thể như: Dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 1, tuyến Bến Thành-Suối Tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh; Dự án tuyến đường sắt đô thị thí điểm tại Hà Nội đoạn Nhổn-ga Hà Nội; Dự án tuyến đường sắt đô thị số 2, đoạn Nam Thăng Long-Trần Hưng Ðạo,…

Trong thời gian vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng đoàn công tác Chính phủ cũng đã trực tiếp đi khảo sát hiện trường, kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ vướng mắc, xử lý hàng loạt các công trình, dự án lớn, trọng điểm chậm tiến độ như: Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 Nhà máy gang thép Thái Nguyên (dự án tồn đọng, kéo dài suốt 15 năm qua vẫn chưa hoàn thành); Dự án xây dựng mới cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Hữu nghị Việt Ðức (được phê duyệt vào tháng 12/2014 và thời gian phải hoàn thành là năm 2017 nhưng đến nay cả 2 dự án này đã tạm ngừng xây dựng và tiến độ giải ngân mới đạt hơn 55% và 57%)…

Không chỉ đối với những dự án, công trình đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước, ngay cả đối với các dự án đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân để xảy ra tình trạng chậm tiến độ, gia hạn nhiều lần cũng đều bị xử lý nghiêm, điển hình như trường hợp của Tập đoàn FLC tại Quảng Ngãi, trong số 9 dự án đầu tư của FLC cùng 6 công ty đối tác (tổng số vốn đăng ký hơn 18.000 tỷ đồng trên tổng diện tích hơn 240ha tại Khu kinh tế Dung Quất) chậm tiến độ đã có 2 công ty đối tác bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các nhà đầu tư còn lại đang tiếp tục bị kiểm tra, giám sát để tiến hành chấm dứt dự án và thu hồi đất theo đúng quy định; tại tỉnh Kon Tum, dự án của tập đoàn FLC với diện tích lên đến 820ha cũng vừa bị thu hồi…

Việc chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương mạnh tay thu hồi đất các dự án chậm tiến độ, kiên quyết xử lý các dự án gia hạn nhiều lần, dự án treo ở cả khu vực đầu tư công và khu vực tư, không có vùng cấm, không có ngoại lệ là một trong những minh chứng rõ nét nhất để khẳng định Nhà nước Việt Nam thực sự là chủ đại diện sở hữu đất đai xứng đáng của nhân dân Việt Nam. Nhà nước chỉ thay mặt nhân dân kiểm soát, xử lý và điều tiết các quan hệ đất đai, bảo đảm mọi người dân, mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp được hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên đặc biệt này một cách công bằng, theo đúng quy định của pháp luật.

 Nếu ở Luật Ðất đai năm 2013, các dự án chậm tiến độ 24 tháng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng tiếp 24 tháng nữa và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này thì ở Dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) năm 2022 quy định, các dự án đầu tư mà không đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ sử dụng đất theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư thì chủ đầu tư phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án đầu tư. Như vậy chủ đầu tư dự án phải nộp tiền luôn tính từ thời điểm chậm tiến độ ghi trong dự án chứ không phải trong thời gian gia hạn sau 24 tháng. Dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) năm 2022 còn bổ sung quy định: các dự án chậm tiến độ phải nộp thêm tiền thuế tăng thêm theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Ðiều 126 của Dự thảo này bên cạnh việc nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án đầu tư như ở Luật Ðất đai năm 2013.

Dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) năm 2022 cũng quy định rõ thời gian các dự án đầu tư mà chủ đầu tư chưa hoàn thành dự án đưa vào sử dụng bị Nhà nước thu hồi đất là chậm tiến độ quá 48 tháng. Từ đây cho thấy việc bổ sung, sửa đổi này là nhằm mục đích điều chỉnh những quy định pháp luật về các quan hệ đất đai tại Luật Ðất đai năm 2013 đã không còn phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời cụ thể hóa những quy định đã có để hạn chế tối đa tình trạng hiểu sai luật hoặc tìm cách lách luật,… nhằm góp phần sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực về đất đai phục vụ cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước vì lợi ích chung của người dân.

Trong thời gian tới, cùng với việc tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các quy định liên quan đến việc xử lý, thu hồi đất dự án chậm tiến độ, gia hạn nhiều lần, dự án treo, cũng cần phải đề xuất và triển khai thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xử lý, thu hồi đất dự án chậm tiến độ, gia hạn nhiều lần, dự án treo, góp phần giải phóng nguồn lực đất đai và để đất đai được sử dụng một cách thực sự hiệu quả, mang lại lợi ích chung cho tất cả mọi người dân, mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp một cách chính đáng và hợp pháp. Ðể làm được điều này cần có sự vào cuộc quyết liệt hơn nữa của chính quyền các cấp cũng như các cơ quan chức năng có liên quan./.

“Đấu tranh với âm mưu xuyên tạc bản chất công tác bảo vệ chính trị nội bộ”

Các thế lực thù địch, phản động suy diễn cho rằng, sở dĩ Đảng ta phải tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để “ngụy trang”, “che đậy” cho những “phức tạp không nhỏ” diễn ra trong nội bộ như: Sự mất đoàn kết; sự tranh giành địa vị, phe nhóm, bè phái; sự suy thoái về lý tưởng, niềm tin, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ; hay tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,... đang ngày càng tăng lên trong nội bộ Đảng. Chúng xuyên tạc công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để duy trì vai trò độc tôn của Đảng, duy trì địa vị và quyền lợi của một bộ phận đội ngũ cán bộ chứ không phải là vì lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân.

Đấu tranh với thủ đoạn xuyên tạc công tác bảo vệ chính trị nội bộ

Thứ nhất, phải khẳng định rằng việc bảo vệ chính trị nội bộ gắn liền với sự ra đời, phát triển của Đảng, chứ không phải chỉ khi có sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thì Đảng mới tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 93 năm qua đã khẳng định bảo vệ Đảng - bảo vệ chính trị nội bộ gắn liền với quá trình ra đời và đấu tranh, trưởng thành của Đảng. Bảo vệ chính trị nội bộ là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa sống còn của Đảng, của chế độ. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam sớm thấy được vấn đề bảo vệ Đảng – bảo vệ chính trị nội bộ Đảng là cực kỳ quan trọng. Mỗi khi cách mạng nước ta chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đều kịp thời đề ra chủ trương, biện pháp xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng. Chính vì vậy, Đảng ta đã làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù; bảo vệ được tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên để lãnh đạo quần chúng đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng đã thể hiện sự coi trọng đúng mức về công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng.

Thứ hai, công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng không phải là việc đấu đá, thanh trừng nội bộ, tranh giành quyền lực, nội bộ mất đoàn kết hay “bới lông tìm vết” mà chính là việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc về xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; là việc thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng và văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng đã đề ra và là việc bảo vệ tổ chức Đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên trước những diễn biến phức tạp của tình hình và âm mưu, hoạt động chống phá nội bộ của các thế lực thù địch. Đảng ta xác định: Bảo vệ chính trị nội bộ chính là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Thứ ba, công tác bảo vệ chính trị nội bộ không chỉ đơn thuần là công tác để bảo vệ Đảng mà còn là để làm trong sạch Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, loại trừ các yếu tố tiêu cực nảy sinh trong nội bộ đảng làm cản trở sự phát triển của đảng, góp phần làm cho các tổ chức đảng ngày càng trở nên trong sạch, vững mạnh. Thẳng thắn nhìn nhận thì trong nội bộ Đảng hiện có tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhưng đó chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực hết sức, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các phần tử chống đối và cơ hội chính trị, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống, phá Đảng, Nhà nước ta của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Thứ tư, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không phải là việc “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”, là “các phe cánh triệt tiêu nhau” mà là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam những năm gần đây đã đạt kết quả quan trọng, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc trong xây dựng hệ thống chính trị, môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, được quốc tế đánh giá cao.

Thứ năm, những năm qua Đảng, Nhà nước cùng với nhân dân ta đã đạt được những kết quả tích cực trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng và trong cuộc vận động và phong trào thi đua học và làm theo Bác Hồ. Thực tiễn cho thấy, kết quả từ công tác bảo vệ  nền tảng tư tưởng của Đảng góp phần tìm ra những "con sâu làm rầu nồi canh" từ sớm, từ gốc, để sàng lọc nội bộ, làm cho Đảng ngày càng mạnh khỏe, chắc chắn, trong sạch, vững mạnh từ cơ sở.

Đấu tranh, phê phán các luận điệu xuyên tạc bản chất công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng Đảng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận diện kịp thời, đúng đắn thủ đoạn xuyên tạc công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị của Đảng để chủ động phòng và đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong tình hình mới./.

“Lợi dụng cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thúc đẩy “diễn biến hòa bình” - một thủ đoạn thâm độc”

Tham nhũng, tiêu cực và “diễn biến hòa bình” là hai trong bốn nguy cơ đã được Đảng ta chỉ ra từ giữa nhiệm kỳ Đại hội VII (tháng 01/1994), đến nay “vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”1. Tuy hai nguy cơ này xuất phát từ hai chủ thể khác nhau, một là từ chiến lược phản động của các thế lực thù địch bên ngoài, một là “giặc nội xâm”, nhưng lại có quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Một trong những trọng tâm của chiến lược “Diễn biến hòa bình” là thúc đẩy suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mà tham nhũng, tiêu cực là một trong những biểu hiện của nó. Đồng thời, các thế lực thù địch lại triệt để lợi dụng chính các hành vi, kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để tạo ra các hoạt động chống phá trong chiến lược của họ. Đây thực sự là một thủ đoạn hết sức thâm độc của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta.

Để thực hiện mưu đồ đó, họ đưa ra các luận điệu xuyên tạc rằng: “tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ một đảng ở Việt Nam”; hoặc “Việt Nam không thể phòng, chống tham nhũng thành công; Việt Nam càng chống, tham nhũng càng nặng, bởi vì đó là căn bệnh kinh niên của chế độ một đảng cầm quyền”. Họ còn cho rằng, thực chất cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay là “thanh trừng phe phái”, “đấu đá nội bộ”, “triệt hạ lẫn nhau” trong Đảng Cộng sản Việt Nam, v.v. Từ đó, họ công kích chế độ, kêu gọi Việt Nam phải thay đổi thể chế chính trị, thực hiện đa đảng, tam quyền phân lập,... thì mới có thể chống được tham nhũng, tiêu cực.

Vậy tại sao các thế lực thù địch lại lợi dụng, xoáy sâu vào vấn đề tham nhũng, tiêu cực? Bởi vì, đây luôn là vấn đề “rất nóng”, được dư luận hết sức quan tâm; đó còn là biểu hiện tập trung nhất, rõ ràng nhất của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; là “nguyên liệu”, “mảnh đất màu mỡ”, “cái cớ” để các thế lực thù địch, cơ hội, những kẻ “trở cờ”, bất mãn với chế độ sử dụng tối đa nhằm thổi phồng khuyết điểm, bôi nhọ, xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; bản chất giai cấp công nhân, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặt khác, đấu tranh loại trừ tham nhũng, tiêu cực vốn đã là khó khăn, lâu dài, gay go, quyết liệt, vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, nó là “giặc nội xâm”, nhiệm vụ chống lại nó “cũng cần kíp như đánh giặc trên mặt trận” thì các luận điệu này càng làm cho công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thêm khó khăn, phức tạp, thậm chí nhiễu loạn trong nhân dân, chia rẽ nội bộ, nghi kỵ lẫn nhau trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên. Nếu chúng ta không tỉnh táo, không phân biệt đúng, sai, thật, giả, sẽ rất dễ mắc bẫy của kẻ thù; mà hậu quả là bất ổn về kinh tế, chính trị, thậm chí rối loạn, dẫn đến mất vai trò lãnh đạo của Đảng, sụp đổ chế độ. Vì vậy, cần nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc sai trái, lợi dung cuộc chiến này để thực hiện “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Đảng và Nhà nước ta luôn coi tham ô, tham nhũng, lãng phí là “giặc nội xâm”. Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và chính phủ”3. Vì vậy, nó rất nguy hiểm, thậm chí là nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm, bởi nó nảy sinh, tồn tại, phát triển một cách ngấm ngầm ngay trong hàng ngũ của chúng ta, nó diễn ra hằng ngày, hằng giờ, trên tất cả các lĩnh vực, gắn liền với quyền lực, chức vụ, nơi mà hầu hết do đảng viên của Đảng đảm nhiệm. Những năm gần đây, đặc biệt là từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư là Trưởng ban, đã lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong 10 năm (từ năm 2012 đến 2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có nhiều cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang. Chỉ tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 5/2022, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế (trong đó, các tội về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 455 vụ/1.054 bị can). Trong 6 tháng đầu năm 2023, các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra 452 vụ án/1.409 bị can về các tội tham nhũng (tăng 155 vụ/727 bị can so cùng kỳ năm 2022).

Kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã khẳng định quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”. Cũng có nghĩa, không hề có chuyện “phe phái”, “đấu đá, thanh trừng nội bộ”; tất cả, dù là ai, làm gì, ở đâu, khi sai phạm đều bị xử lý nghiêm khắc.

Như vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhận rõ tính chất nguy hại của tham nhũng, tiêu cực. Từ đó, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ, với ý chí, quyết tâm và tinh thần trách nhiệm cao; với tinh thần đấu tranh không “ngừng”, không “nghỉ” như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đến nay, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Đây chính là minh chứng sinh động, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng cuộc chiến này để thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam./.

“Âm mưu “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực đối ngoại”

“Độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa”, “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” là đường lối đối ngoại nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Song hiện nay, để chống phá đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo đó, các thế lực thù địch, phản động đã và đang triển khai thực hiện chiêu bài mới trong chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Thứ nhất, họ giảm tối đa và không đi sâu vào các vấn đề, các lĩnh vực có nguy cơ tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ với Việt Nam, song thông qua việc mở rộng quan hệ trên các lĩnh vực khác để thâm nhập sâu hơn, thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đối ngoại của Việt Nam. Họ tuyên bố sẵn sàng gác lại bất đồng, sự khác biệt về chế độ chính trị - xã hội, “xuống giọng” trong một số vấn đề nhạy cảm về “dân chủ”, “nhân quyền” của Việt Nam. Họ chủ động mời gọi ta tham gia các cơ chế hợp tác song phương, đa phương trên mọi lĩnh vực để chúng ta lầm tưởng rằng, ngày nay, các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vẫn có thể chung sống hòa bình vĩnh viễn với nhau. Rằng chủ nghĩa đế quốc đã thay đổi, không còn là mối đe dọa đối với hòa bình, an ninh của thế giới nói chung và với Việt Nam nói riêng. Từ đó tạo ra sự chủ quan, mất cảnh giác của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc, về những âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam.

Thứ hai, họ sẵn sàng tăng cường hợp tác trên lĩnh vực quân sự - quốc phòng, kinh tế - thương mại, xúc tiến đầu tư có điều kiện để tác động, hướng lái, gây sức ép buộc Việt Nam phải thay đổi cơ chế, chính sách, pháp luật, tạo tiền đề cho sự thay đổi chế độ chính trị - xã hội. Những điều kiện mà họ đưa ra trong quá trình hợp tác đó, thoạt nghe thì thấy rằng nó chỉ mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam, chỉ có lợi chứ không có hại. Song thực chất, sự chuyển hướng này nhằm thực hiện “kịch bản dân chủ” ở Việt Nam, tác động vào chính sách ngoại giao của Việt Nam theo ý đồ của họ. Đơn cử như họ gợi ý sẵn sàng cử chuyên gia có trình độ cao sang giúp Việt Nam xây dựng các chính sách, pháp luật. Nhưng đằng sau đó, họ sẽ ngấm ngầm đưa các tư tưởng luật pháp, pháp quyền tư bản chủ nghĩa vào các chính sách, bộ luật của Việt Nam.

Thứ ba, thông qua ngoại giao để tiếp cận, hỗ trợ những phần tử có tư tưởng thân phương Tây, từ đó tạo ra những đột biến trong “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam. Đó là các hoạt động mời gọi du học, cấp học bổng toàn phần, miễn phí cho du học sinh Việt Nam. Lợi dụng việc về nước thăm thân, đầu tư phát triển kinh tế của Việt kiều, họ tổ chức cài cắm, đưa vào nước ta những tình báo, gián điệp, các thành phần bất mãn, có tư tưởng thân phương Tây để nằm vùng hoạt động chống phá. Tiếp cận với những phần tử thoái hóa, biến chất, nhân danh “bất đồng chính kiến”, chống đối chế độ ở trong nước để ngấm ngầm hỗ trợ về tài chính, huấn luyện kỹ năng tập hợp lực lượng, gây thanh thế, phương pháp hoạt động “bất bạo động” nhằm tạo dựng ngọn cờ trong quá trình “đấu tranh”.

Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại với các hình thức giao lưu, trao đổi, tiếp xúc để quảng bá hình ảnh “ngoại giao thân thiện” kiểu phương Tây nhằm tiếp cận sâu hơn. Họ đưa ra điều kiện rất có lợi cho Việt Nam nếu chúng ta đồng ý tham gia các liên minh, hoạt động quốc tế với họ. Họ mời gọi chúng ta cử các đoàn chuyên gia, các chính khách, nhà hoạt động xã hội... tham gia giao lưu, trao đổi, tiếp xúc dưới các hình thức thuần túy về nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao trình độ học thuật, giải trí... nhằm tạo ra hình ảnh chân thành, thân thiện, mến khách. Họ lợi dụng các quỹ xúc tiến đầu tư - thương mại, các chương trình hợp tác phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ để cài cắm tình báo, gián điệp thu thập thông tin, phục vụ cho âm mưu, mục đích riêng của họ.

Thứ năm, cản trở các đối tác đã, đang và sẽ đến đầu tư, hợp tác phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, khoa học và kỹ thuật với Việt Nam vì mục đích hòa bình và thịnh vượng. Thông qua các báo cáo xuyên tạc, bịa đặt về tình hình “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “tự do ngôn luận, báo chí” của Việt Nam để gây áp lực nhằm hạn chế các hoạt động hợp tác, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, công nghệ cho Việt Nam. Thậm chí, trắng trợn hơn, họ sẵn sàng đưa ra các điều kiện vô cùng hấp dẫn để mời gọi, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đang làm ăn ở Việt Nam rút vốn, chuyển hướng đầu tư sang các nước khác hòng làm rối loạn nền kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Thứ sáu, tìm mọi cách làm cho Việt Nam bị mất cân bằng chiến lược trong quan hệ với các nước lớn; kích động mâu thuẫn trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN, phá vỡ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, chia rẽ Việt Nam với Campuchia, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Nga hòng cô lập Việt Nam trên trường quốc tế.

Chung quy lại, các hình thức đối ngoại như đã nêu không phải tất cả đều là âm mưu trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể lơ là, mất cảnh giác việc các thế lực thù địch sẽ “núp bóng”, lợi dụng chủ trương, đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại hiện nay để tiếp tay cho các hoạt động chống phá. Bằng trí tuệ và bản lĩnh, Đảng, Nhà nước chắc chắn tỉnh táo, tận dụng được thời cơ, ngăn ngừa được thách thức của hoạt động đối ngoại để tiếp tục lãnh đạo đất nước ngày càng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

“Phântích quan hệ giữa hòa bình và “diễn biến hòa bình”

Tiếp sau sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, các cuộc “cách mạng màu” - một dị bản khác của “diễn biến hòa bình” có kết hợp với yếu tố bạo loạn lật đổ - cũng được chủ nghĩa đế quốc thực hiện thành công ở một loạt nước.

Nhìn nhận khái quát về những cuộc bạo loạn lật đổ ở một số nước, có thể thấy mặc dù có những điểm không giống nhau, nhưng “Cách mạng đường phổ”, “Cách mạng nhung”, “Cách mạng da cam”... chỉ là những tên gọi khác nhau để biểu đạt khái quát về một sản phẩm “sáng tạo” của phương Tây: Công nghệ giành chính quyền thông qua biểu tình. Thực chất, đây là những cuộc đảo chính lật đổ chính quyền theo kiểu dùng “bạo lực đường phố”, đặc biệt nguy hiểm một khi quần chúng bị kích động bởi những trung tâm quyền lực từ bên ngoài luôn rắp tâm “đục nước béo cò”.

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc cùng các thế lực phản động quốc tế dùng mọi thủ đoạn, kể cả màn kịch “cách mạng nhung” để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam. Trên thực tế, đã có những dấu hiệu cho thấy chúng ta cần hết sức cảnh giác nhằm chống lại âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm này của các thế lực thù địch, đặc biệt là giải quyết những mặt trái chắc chắn sẽ nảy sinh trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới. “Diễn biến hòa bình” dù là một kế hoạch rất công phu của các thế lực thù địch nhưng cũng sẽ không có đất diễn nếu trong nội bộ đất nước ta không xuất hiện những điểm tựa thuận lợi cho chúng.

Trước hết, phải có sự nhận diện thoả đáng về phương diện lý luận đối với “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”. Rõ ràng, không phải bất cứ sự yếu kém nào trong đời sống xã hội, thậm chí trong hệ thống chính trị và chế độ nhà nước, cũng đều thuộc về phạm trù “diễn biến hòa bình”.

Đối với nước ta, nói đến “diễn biến hòa bình” là nói đến âm mưu, thủ đoạn tổng thể của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù dịch hòng làm chuyển hóa chế độ chính trị của ta từ bên trong mà không cần phải sử dụng đến bạo lực vũ trang để can thiệp. Về thực chất, nếu chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực vũ trang mang tính nhà nước thì “diễn biến hòa bình” chính là sự thể hiện rõ ràng về mưu đồ làm cho sự kế tục của chính trị theo hướng trượt dốc, nhưng bằng thủ đoạn phi bạo lực vũ trang.

Trên thực tế, chưa thể coi những hiện tượng thoái hóa, biến chất của một bộ phận đảng viên và những bức xúc xã hội trong nhân dân, kể cả những “điểm nóng” xã hội song chưa đụng đến chế độ chính trị và nhà nước, là “diễn biến hòa bình”. Tuy nhiên, chính sự thoái hóa, biến chất của đội ngũ lại là tiền đề, mầm mống của sự biến chất chế độ chính trị, và nó thuộc về phạm trù “tự diễn biến”.

Thành thử, “tự diễn biến” luôn chứa đựng nội hàm rộng hơn, và khi được đẩy lên đến mức phổ biến thì chắc chắn sẽ trực tiếp dẫn thẳng đến làm biến chất chế độ chính trị. Nhìn tổng thể thì có thể thấy âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng chuyển hóa chế độ ta bằng “diễn biến hòa bình” là hết sức nguy hiểm, trong đó nguy hiểm nhất là khai thác những mầm mống và khả năng “tự diễn biến” để chuyển hóa ta cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... Tất nhiên cần thấy, “diễn biến hòa bình” không thể làm nổi công việc nhấn nút kết thúc một khi tiền đề của nó là quá trình “tự diễn biến” đã được ta ngăn chặn./.

“Cảnh giác trước chiêu trò “kêu oán, khóc mướn” cho “tử tù” Lê Văn Mạnh của tổ chức khủng bố Việt Tân”

Quay trở lại với vụ án của “Tử tù” Lê Văn Mạnh, bằng tất cả những chứng cứ xác thực và kết luận điều tra thận trọng nhằm tránh oan sai người vô tội đã có thể thấy bản án dành cho Lê Văn Mạnh là công khai, minh bạch, đảm bảo các quy định về tố tụng.

Cách đây 15 năm trước (ngày 25/11/2008), thẩm phán Vũ Phế Đoàn, chủ toạ phiên toà hình sự phúc thẩm của TAND tối cao, xét xử bị cáo Lê Văn Mạnh (sinh năm 1982, trú tại thôn 4, xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa). Bản án tuyên cùng ngày với hình phạt chung là tử hình với 3 tội danh “Giết người”, “Hiếp dâm trẻ em” và “Cướp tài sản”.

Được biết, từ năm 2005 đến 2008, vụ án này đã trải qua tổng cộng 7 phiên tòa, gồm 3 lần xét xử sơ thẩm, 3 lần xét xử phúc thẩm và 1 lần giám đốc thẩm.

Từ khi xảy ra vụ án đến nay, gia đình tử tù Lê Văn Mạnh liên tục gửi đơn kháng cáo và kêu oan đến các cơ quan từ Trung ương đến địa phương. Trong suốt quá trình điều tra, cơ quan điều tra cũng đã tiến hành rà soát vụ án với mục đích không làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm. Hơn hết, việc gia đình tử tù kêu oan là diễn biến tâm lý, hành động bình thường để cứu con. Tuy nhiên, bằng tất cả những chứng cứ hiện hữu cùng với việc các cơ quan chức năng đã cố gắng xem xét toàn bộ vụ án đúng với quy trình, quy định pháp luật đều chứng minh được kết luận của Cơ quan CSĐT đối với tử tù Lê Văn Mạnh là đúng người, đúng tội.

Pháp luật là nghiêm minh và bình đẳng, nếu một cá nhân không có sai phạm thì chẳng ai có thể trắng trợn buộc tội họ, ngược lại nếu một người đã thực hiện hành vi vi phạm thì phải bị trừng trị nghiêm minh trước pháp luật.

Chúng ta không còn xa lạ gì với những chiêu trò “Mượn gió, bẻ măng”, “tát nước theo mưa”, “Kêu oan, khóc mướn” để tạo cớ tấn công chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của tổ chức khủng bố Việt Tân, trước đó trong vụ án Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng … tổ chức khủng bố Việt Tân cũng rao riết đăng đàn “Kêu oan, khóc mướn” và vu cáo các cơ quan tư pháp tuyên phạt oan sai. Thế mới thấy được bản chất và luận điệu của tổ chức khủng bố Việt Tân là  suy diễn, bóp méo, lái thông tin theo hướng khác sau đó quy kết về vấn đề chính trị. Đây chính là ý đồ “chính trị hóa các vụ án hình sự” để chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Vì vậy nhân dân cần có cái nhìn khách quan, toàn diện và hết sức tỉnh táo trước những chiêu bài kích động của tổ chức khủng bố Việt Tân và qua đó, chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch, phản động, đối tượng cơ hội chính trị; luôn tôn trọng, bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, góp phần xây dựng nền pháp chế xã hội chủ nghĩa./.