Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2024

Nâng cao "tính đảng" của người đảng viên

 “Tính Đảng” của đảng viên được hiểu là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng, lý tưởng cách mạng mà Đảng lựa chọn: đó là sự tuân thủ tính tổ chức và tính kỷ luật; là những chuẩn mực trong mọi hành vi, lời nói trong các hoạt động xã hội. Việc nâng cao “tính Đảng” của người đảng viên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, tạo ra sự đồng thuận về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; sự thống nhất, đoàn kết trong hành động; sự tiên phong và là tấm gương sáng có sức thu hút dẫn dắt quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng...

1 - Thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa chứng minh “tính Đảng” là “thuộc tính căn bản, cốt lõi và bản chất” của Đảng Cộng sản. Đảng ta ngay từ khi thành lập đã mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, và cơ sở chính trị - xã hội là giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức tiến bộ mà Đảng là người đại diện lãnh đạo; chiến đấu cho lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Với việc tự nguyện thừa nhận nền tảng tư tưởng, thừa nhận tính tổ chức và tính kỷ luật của Điều lệ Đảng, và khi trở thành đảng viên mang tính “đại diện” tiên phong đó, thì người đảng viên không ngừng gìn giữ và phát huy thông qua các hoạt động cụ thể từ lời nói, hành vi trong hoạt động xã hội cũng như thông qua hoạt động của tổ chức (tuân thủ tính tổ chức và tính kỷ luật nghiêm) nơi cá nhân đảng viên đó sinh hoạt chính trị.

Như vậy, rõ ràng “tính Đảng” của Đảng Cộng sản được thể hiện thông qua tính đại diện của đảng viên cộng sản khi tham gia tổ chức chính trị và trong hoạt động xã hội. Đảng Cộng sản chỉ vững mạnh khi mọi đảng viên chấp hành nghiêm các yếu tố cấu thành nên “tính Đảng” - đó phải là sự chấp hành mang tính nội dung, chứ không phải là sự thừa nhận một cách hình thức.

2 - Các yếu tố cấu thành nên nội dung của “tính Đảng” bao gồm các mặt tư tưởng, tổ chức và hoạt động xã hội. Đây là ba mặt không thể tách rời, có quan hệ khăng khít với nhau khi xem xét đến “tính Đảng” của người đảng viên cộng sản.

Về mặt tư tưởng. Tính đảng trong tư tưởng là trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, còn trong chính trị thì phải kiên quyết phấn đấu cho đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống.  Mọi đảng viên đều phải thừa nhận và xem đây là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Phần đông cán bộ đảng viên của chúng ta đều thể hiện sự trung thành tuyệt đối với
nền tảng tư tưởng mà Đảng đã lựa chọn.

Tuy nhiên, cũng có không ít cán bộ, đảng viên do không vững trọn niềm tin nên đã dao động, không thể hiện sự trung thành tuyệt đối với nền tảng tư tưởng với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, khi đất nước đã trong hòa bình, kinh tế đất nước có sự chuyển biến tích cực nhưng không phải không có những “phần tử” cơ hội chạy theo danh lợi mà đứng vào hàng ngũ của Đảng nhưng thực tế thì mặt tư tưởng của “tính Đảng” của người đảng viên cộng sản bị phai mờ hoặc cắt xén. Những phần tử này đã và đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng.

Công cuộc đổi mới thời gian qua cho thấy, từ sự kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng; từ sự đồng thuận trong đông đảo đội ngũ cán bộ, đảng viên đã “sáng tạo” ra đường lối đổi mới (dựa trên nền tảng tư tưởng và thực tiễn sinh động) đã góp phần vào việc giữ vững cũng như nâng cao “tính Đảng” trong mỗi cán bộ, đảng viên, nó là nhân tố quyết định tạo nên thắng lợi của công cuộc đổi mới. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII trước đây, cũng như Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã và đang giúp cho cán bộ đảng viên có dịp nhìn nhận lại “tính Đảng” trong bản thân mình. Và sự đẩy mạnh thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp về xây dựng Đảng trong thời điểm hiện nay của Đảng ta theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI không nhằm ngoài mục đích là nâng cao nền tảng tư tưởng chính trị cho Đảng. Đây là một trong nhiều lý do mà Đảng quyết tâm thực hiện nhằm tạo ra những chuyển biến toàn diện, mạnh mẽ và sâu sắc về nhận thức, tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên.

Về mặt tổ chức và kỷ luật Đảng. Đối với người đảng viên cộng sản khi tự nguyện gia nhập hàng ngũ của Đảng đồng nghĩa với việc tuân thủ nghiêm ngặt tính tổ chức và tính kỷ luật của Đảng. Đây được xem là “hành lang pháp lý” của Đảng để người đảng viên rèn luyện và phấn đấu không ngừng. Trước hết, đó là sự không ngừng góp phần giữ vững và phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong đó người đảng viên cộng sản luôn tôn trọng và tuân thủ ý kiến tập thể, chấp hành nghiêm túc các nghị quyết của tổ chức đảng; luôn luôn tự giác trong tự phê bình và phê bình, để tránh sự vấp ngã dẫn đến phải chịu các hình thức kỷ luật của Đảng và hậu quả xử lý theo pháp luật... Chính điều này giúp cho Đảng ta không ngừng lớn mạnh về mặt tổ chức và giữ nghiêm được tính kỷ luật.

Xem xét về mặt này của “tính Đảng” trong cán bộ, đảng viên hiện nay, có một số chiều hướng rất cần được chấn chỉnh. Bên cạnh những hành vi mất dân chủ, chuyên quyền, độc đoán của một số cán bộ có chức, có quyền, cũng có không ít đảng viên đã lợi dụng nguyên tắc dân chủ trong sinh hoạt đảng để đả kích lẫn nhau, gây ra mất đoàn kết nội bộ. Một số đảng viên nhận thức yếu kém về vấn đề dân chủ nên vô tình đấu tranh nhưng sai sự thật, gây mất ổn định tình hình ở cơ quan, đơn vị.

Về mặt hoạt động xã hội. Phần đông cán bộ, đảng viên của chúng ta hiện nay ngoài việc gắn chặt hoạt động của bản thân mình với tổ chức đảng để rèn luyện, tu dưỡng và phấn đấu, còn lấy môi trường hoạt động xã hội làm thước đo đánh giá năng lực hoạt động thực tiễn chính trị - xã hội của mình. Thông thường chuẩn giá trị của người cán bộ, đảng viên được thể hiện không chỉ trong hoạt động của tổ chức mà còn thể hiện trong sức thu hút, tập hợp quần chúng nhân dân lao động, đó là sự tuân thủ các nguyên tắc của Đảng trong từng cử chỉ, lời nói và hành vi thể hiện tính đúng đắn và chuẩn mực trước nhân dân. Trên góc độ này, số đông cán bộ đảng viên của chúng ta luôn giữ vững tính đại diện tiên phong lãnh đạo.

Tuy nhiên, nếu xét trong tổng thể gắn với các mặt tư tưởng, mặt tổ chức thì có một bộ phận cán bộ đảng viên có biểu hiện lời nói không đi đôi với việc làm; không gương mẫu; phát ngôn và hành động ở ngoài xã hội không tuân thủ các nguyên tắc tổ chức đảng, đôi khi là nói trái đường lối, quan điểm của Đảng, xem thường ý kiến chỉ đạo của tổ chức... Điều này đặc biệt nguy hiểm khi nó được phát ra từ một số ít đối tượng có địa vị xã hội, nên đã gây bất bình và tạo ra suy nghĩ trái chiều trong nhân dân. Nếu không có sự chấn chỉnh kịp thời sẽ gây ra những tác hại xấu cho cả trong tổ chức đảng và ngoài xã hội.

3 - Nâng cao “tính Đảng” là xuất phát từ yêu cầu giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng và những nhiệm vụ mà Đảng phải thực thi trong điều kiện mới. Yêu cầu tự trưởng thành chính là luôn giữ vững bản chất, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng là đội tiên phong và đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. “Tính Đảng” cần được nhận thức không chỉ là giá trị của mỗi đảng viên cộng sản trong quá trình phấn đấu và trưởng thành mà còn là giá trị chung của Đảng trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, khi bối cảnh tình hình chính trị thế giới có sự thay đổi, chứa đựng sự phức tạp chưa thể lường hết được, nhiệm vụ phát triển kinh tế của đất nước ta trước mắt đứng trước những thuận lợi, thời cơ, khó khăn và thử thách mới, đòi hỏi sự đoàn kết thống nhất cao trong toàn Đảng và toàn dân tộc, hơn bao giờ hết “tính Đảng” của người đảng viên cộng sản  càng phải được đề cao hơn. Để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu: “Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì nhân dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”(1). Củng cố và nâng cao hơn nữa “tính Đảng” sẽ nhân thêm sức mạnh nội lực của Đảng, đồng thời tạo ra thế và lực mới trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế và xã hội, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiếp tục giành thêm những thắng lợi mới./.

LHQ-ST

Giải pháp nâng cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Để phát huy trách nhiệm tự giác, tích cực nêu gương của cán bộ, đảng viên trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức trách nhiệm nêu gương của mình; phải nhận thức rằng, nếu cán bộ, đảng viên mà không nêu gương thì không còn xứng đáng là cán bộ, đảng viên nữa.

Thứ hai, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm nêu gương trước quần chúng nhân dân; từ đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên. Quần chúng nhân dân là người sáng tạo, làm nên lịch sử, là nguồn lực, là sức mạnh của Đảng. Nhân dân là đối tượng lãnh đạo, quản lý, nhưng dân là chủ và dân làm chủ. Cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân, trước hết phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, suốt đời phấn đấu vì tự do, hạnh phúc, lợi ích chính đáng của nhân dân.

Để thực hiện mục tiêu cao cả đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương thực hiện tốt đường lối nhân dân của Đảng, trước hết là phải thường xuyên quán triệt mục tiêu, lý tưởng của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc đem lại lợi ích cho nhân dân.

Để nâng cao ý thức trách nhiệm với nhân dân, điều quan trọng nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình; phải làm tốt, xử lý hài hòa mối quan hệ với nhân dân theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Khắc phục những tác động tiêu cực của mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế. Tổ chức đảng, cơ quan quản lý nhà nước phải có quy định cụ thể, lấy tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân làm thước đo chuẩn mực đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lẽ tự nhiên là sự lớn mạnh của Đảng, sức mạnh của Đảng nằm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất và năng lực, có đức, có tài, có trách nhiệm nêu gương và sự nhiệt tình, tâm huyết trong công tác xây dựng Đảng. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên là tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhưng để trách nhiệm nêu gương đó được thực hiện tốt thì cần có sự chuyển động từ hai phía: cán bộ, đảng viên và cấp ủy.

Với cấp ủy, phải thực hành dân chủ rộng rãi trong tổ chức đảng, tổ chức tốt việc tự phê bình và phê bình như lời căn dặn của Bác Hồ. Cán bộ lãnh đạo các cấp thực sự gương mẫu, tôn trọng nguyên tắc sinh hoạt đảng, tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên... Có như vậy, tính tích cực, tự giác trong mỗi cán bộ, đảng viên mới được phát huy mạnh mẽ.

Với cán bộ, đảng viên, phải tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn; tham gia vào các quá trình xây dựng đường lối chính trị; góp phần quán triệt, triển khai đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đối với cộng đồng, gia đình, xã hội. Trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, việc xác định rõ, nêu cao ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trước gia đình, cộng đồng, Tổ quốc là rất quan trọng để phát huy tính tích cực của họ; đồng thời, hạn chế tác động tiêu cực từ những nhân tố khách quan đó.

Duy trì và tự giác thực hiện các giá trị truyền thống tốt đẹp, các chuẩn mực đạo đức trong gia đình, có lối sống mực thước, nêu gương trong học tập, lao động, sản xuất, công tác; người trên làm gương cho người dưới, thế hệ trước làm gương cho thế hệ sau, cán bộ, đảng viên nêu gương trước quần chúng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Phải luôn luôn đoàn kết, tôn trọng và bảo vệ cộng đồng; phát huy và bảo vệ tập quán, truyền thống tốt đẹp; có ý thức cộng đồng, ý thức về cội nguồn, đạo lý uống nước nhớ nguồn; tôn trọng quy tắc ứng xử của cộng đồng; lên án hành vi xâm hại lợi ích chung của cộng đồng, gây phương hại đến lợi ích của các thành viên trong cộng đồng.

Thứ năm, xác định rõ trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trên vị trí công tác. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, việc xây dựng phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống qua xác định trách nhiệm chung với Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội, gia đình chỉ có hiệu quả khi xác định rõ trách nhiệm nêu gương cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên. Để mỗi người đều thấy rõ trách nhiệm của chính mình, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự rèn luyện đạo đức cách mạng, coi đó là nhiệm vụ không thể thoái thác, tự thân... cần xác định rõ nghĩa vụ và quyền lợi trên mỗi cương vị công tác. Đó là trách nhiệm của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể.

Phẩm chất chính trị, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên được thể hiện trong sự tôn trọng bản thân, thể hiện trong các mối quan hệ với chính mình, với người và với việc. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi người thể hiện qua trách nhiệm với công việc được giao. Mọi công việc phải được làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ được với tinh thần “việc thiện thì nhỏ mấy, khó mấy cũng nên làm; việc ác thì nhỏ mấy cũng phải tránh”./.

LHQ-ST

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được thể hiện thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam.

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được thể hiện thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vì, “Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”[1]. Trong đó, giai cấp công nhân Việt Nam với tư cách là lực lượng lao động tiến bộ của phương thức sản xuất tiên tiến (sản xuất công nghiệp hiện đại); họ là cơ sở chính trị - xã hội trung tâm nhất, tiêu biểu nhất trong cơ sở xã hội của Đảng, vì họ có những đặc tính cách mạng nhất, tiêu biểu nhất, tạo nên bản chất cách mạng của Đảng. Vì thế, giai cấp công nhân Việt Nam là cơ sở chính trị - xã hội trung tâm để Đảng ta hoạch định chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội, nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất và xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần cho xã hội.

Giai cấp công nhân Việt Nam thông qua tổ chức đại diện của mình là công đoàn tham mưu trực tiếp cho Đảng xác định chủ trương, đường lối để lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước xây dựng hệ thống các chính sách trên các lĩnh vực chủ đạo phát triển kinh tế - xã hội, phát triển và phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong từng điều kiện lịch sử. Hơn nữa, bản thân họ chính là lực lượng tiên phong trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, biến những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thành hiện thực. Do đó, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh là góp phần xây dựng Đảng vững mạnh, và muốn giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, thì Đảng phải thường xuyên củng cố mối quan hệ xã hội với nhân dân, trong đó mấu chốt, quyết định là với giai cấp công nhân.

Trong điều kiện hiện nay, nội dung thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được thể hiện cụ thể trên các phương diện đời sống xã hội. Về nội dung kinh tế, giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển quốc gia, các vùng, các ngành, lĩnh vực phù hợp với thực tiễn đất nước nhằm nâng cao tính tự chủ, khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế. Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới[2]. 

Về nội dung chính trị - xã hội, để tiếp tục hoàn thành sứ mệnh là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản, là giai cấp tiên phong trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp, đại đoàn kết toàn dân tộc, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: 

Cùng với nhiệm vụ giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thì nhiệm vụ “Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng[3]tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; “đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thóai về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ[4].   

Về nội dung văn hóa, tư tưởng, giai cấp công nhân là lực lượng quan trọng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chuyển dần từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình phát triển giai cấp công nhân Việt Nam là quá trình xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại, cách mạng và sáng tạo ngày càng giữ vai trò chủ đạo vững chắc.

 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.5.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.234-235.  

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.180. 

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.256. 

Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

 Thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, là một phương thức lãnh đạo của Đảng ta. Các cấp ủy, cán bộ, đảng viên, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương phải nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Nêu gương bằng những việc làm, hành động cụ thể hằng ngày, với phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “học tập đi đôi với làm theo Bác”. Đề cao vai trò, trách nhiệm tiên phong, gương mẫu với nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, cương vị càng cao càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để nhân dân noi theo; phải thể hiện được bản lĩnh chính trị vững vàng, tư tưởng đúng đắn, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thực sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể...

Nêu gương là đề cao “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”, nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực; đồng thời, khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh.

Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Sự nêu gương của cán bộ, đảng viên có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều quy định về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên(9). Mới đây nhất, Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9-5-2024, của Bộ Chính trị, về “Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” tiếp tục khẳng định vai trò, trách nhiệm gương mẫu, đi đầu của cán bộ, đảng viên. Nhờ đó, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên có những chuyển biến tích cực, thể hiện qua các mặt sau:

Về tư tưởng chính trị, đa số cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo, đường lối đổi mới của Đảng; gương mẫu trong việc thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên đã nhận thức đầy đủ hơn tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; bước đầu có chuyển biến rõ rệt trong nhận diện và tham gia đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tự soi, tự sửa.

Về đạo đức, lối sống, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, đã tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện các bộ quy tắc, chuẩn mực đạo đức công vụ gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; qua đó, tạo được sự chuyển biến bước đầu trong nhận thức và nêu cao tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có thái độ chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; có tác phong sâu sát thực tế, gần gũi với cấp dưới, với nhân dân; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí... Việc thực hiện các quy định về nếp sống văn minh, văn hóa công sở... có nhiều tiến bộ.

Về tự phê bình và phê bình, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đã gương mẫu thực hiện tự phê bình và phê bình với tinh thần xây dựng, cầu thị, tự giác. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã có chuyển biến tích cực, từng bước khắc phục tình trạng độc đoán, chuyên quyền hoặc dân chủ hình thức. Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đã xác định rõ hơn trách nhiệm của từng cá nhân trong khuyết điểm của tập thể.

Về quan hệ với nhân dân, nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, đã sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có hướng xử lý phù hợp. Một số cấp ủy và chính quyền đã có cách làm hiệu quả, như tổ chức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo cấp ủy - chính quyền với nhân dân, để kịp thời lắng nghe những vấn đề phát sinh từ cơ sở; công bố số điện thoại đường dây nóng, số điện thoại cơ quan, đơn vị để nhân dân phản ánh kịp thời về tinh thần trách nhiệm, thái độ thực thi nhiệm vụ và phục vụ nhân dân... Qua đó, vừa nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tiếp thu được ý kiến của nhân dân, giải quyết các vụ việc bức xúc, phức tạp, vừa kịp thời chấn chỉnh thái độ, phong cách giao tiếp, phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên; góp phần củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên.

Về trách nhiệm trong công tác, một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã nêu gương về đổi mới tư duy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ do tổ chức phân công. Thực thi công vụ bảo đảm nguyên tắc, kỷ cương, hoàn thiện các quy trình, đổi mới cách làm, tận tụy với công việc; xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước, đạo đức công vụ, nhất là về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.

Về ý thức tổ chức, kỷ luật, đa số cán bộ, đảng viên gương mẫu chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật trong chi bộ, cơ quan, đơn vị. Tuân thủ sự phân công, điều động của tổ chức; gương mẫu thực hiện chế độ sinh hoạt đảng và các nội quy, quy chế của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Về đoàn kết nội bộ, ở nhiều nơi, cán bộ, đảng viên đã tích cực tham gia xây dựng đoàn kết nội bộ trong tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhiều cán bộ chủ chốt là tấm gương trong đoàn kết, tạo môi trường làm việc dân chủ, hợp tác và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; tích cực đấu tranh chống các biểu hiện chia rẽ, cục bộ, bè phái, ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị và khi phát hiện có dấu hiệu mất đoàn kết nội bộ, người đứng đầu đã chủ động gặp gỡ, trao đổi, tìm hiểu, nắm bắt thông tin từ nhiều nguồn để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời.

Bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên cũng còn hạn chế, khuyết điểm:

Một là, một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu, thậm chí cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, cán bộ chủ chốt chưa thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung chủ yếu vào đảng viên có chức vụ. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt thiếu gương mẫu trong rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, với các biểu hiện, như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, trục lợi; lạm dụng tài sản công (công quỹ, xe công, nhà công vụ...); lãng phí trong công tác và sinh hoạt, tiêu dùng xa xỉ, tiệc tùng xa hoa; thiếu minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, không thực sự sâu sát cơ sở, chưa kịp thời nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ diễn ra ở một số cơ quan, đơn vị chưa được giải quyết kịp thời, vẫn còn cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt, ngại khó khăn, gian khổ, không sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi được tổ chức phân công. Một số cán bộ, trong đó có cả cán bộ cao cấp đã vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hai là, vẫn còn tình trạng vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy; thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự phát huy hết vai trò, trách nhiệm nêu gương. Tinh thần, trách nhiệm của nhiều cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình chưa cao, chưa mạnh dạn, chưa thẳng thắn, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, né tránh không nhận khuyết điểm, sai phạm của mình. Trong đấu tranh còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va chạm, ngại góp ý với đồng chí, đồng nghiệp, nhất là khi phê bình người đứng đầu; có nơi, có lúc vẫn còn tình trạng lợi dụng phê bình để xu nịnh, lấy lòng, thổi phồng thành tích hoặc nói xấu, cường điệu khuyết điểm, hạ thấp uy tín của nhau.

Ba là, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định nêu gương của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thường xuyên, nghiêm túc, chủ yếu lồng ghép với kiểm tra, giám sát các nghị quyết, quy định, chỉ thị khác. Nhiều vi phạm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, chủ yếu do cấp trên kiểm tra, giám sát phát hiện hoặc do đơn, thư tố cáo, phản ánh, kiến nghị, góp ý của đảng viên, nhân dân và báo chí. Việc xử lý vi phạm ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị còn chưa nghiêm, tính răn đe chưa cao.

Bốn là, công tác sơ kết, đánh giá việc thực hiện quy định nêu gương còn nhiều hạn chế. Hằng năm, không có báo cáo riêng về thực hiện trách nhiệm nêu gương. Việc phát hiện, xây dựng gương người tốt, việc tốt và tổng kết mô hình mới, cách làm hay để nhân rộng và biểu dương, khen thưởng chưa được kịp thời.

LHQ-ST

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Ngay từ năm 1925, trong bài viết về công tác quân sự của Đảng, Người đã nhấn mạnh: “Đảng cách mạng phải hiểu rằng, phong trào nông dân dù có quy mô lớn tới đâu, cũng không mong gì giành được thắng lợi quyết định, nếu như giai cấp công nhân không hành động”[1]. Người khẳng định: “Để giành được thắng lợi, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân lãnh đạo. Vì nó là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất”[2].

 Khi Việt Nam được độc lập, miền Bắc bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự đặt câu hỏi: “Ai là người xây dựng chủ nghĩa xã hội?” Và người tự trả lời, “nói chung là người lao động trong xã hội, gồm công nhân, nông dân, trí thức cách mạng …, nhưng lực lượng chủ chốt xây dựng chủ nghĩa xã hội là công nhân”[3].

Trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, ngay từ khi ra đời, trong Luận cương Chính trị của Đảng năm 1930 xác định: Giai cấp công nhân Việt Nam thông qua Đảng của mình lãnh đạo toàn dân làm cuộc cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị của xã hội cách mạng, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa, phát triển tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội.

Thực tiễn đã cho thấy: Đồng hành cũng với những thăng trầm của lịch sử dân tộc, giai cấp công nhân Việt Nam, thông qua đội tiền phong của mình, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo nhân dân tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Bước vào thời kỳ đổi mới, trong Nghị quyết Trung ương 7, khóa VII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Chỉ có giai cấp công nhân trưởng thành về chính trị, có trình độ tổ chức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiêp cao, mới có thể là nòng cốt để liên minh với nông dân, trí thức, tập hợp và đoàn kết các thành phần khác, phấn đấu cho thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”[4].

Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X - Nghị quyết chuyên đề “Về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Đảng ta đã khẳng định: Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn, là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng[5]. Đến Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, “là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”[6].



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.565.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.601.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.679.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương, khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.31.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X, (NQ20/NQTW), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.75.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương của cán bộ, đảng viên

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về việc nêu gương, gương mẫu, nói đi đôi với làm... Điều đó được minh chứng trong cả cuộc đời của Người.

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn gương mẫu đi đầu. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Người nêu ra 23 điều về “Tư cách một người cách mệnh”, trong đó có điều: “Nói thì phải làm”. Người còn nhấn mạnh: “Cán bộ xung trước,/Làng nước theo sau,/Việc khó đến đâu,/Cũng làm được hết(1).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu gương trước hết là phải làm gương trong mọi công việc, từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt, nhất là nêu gương về đạo đức, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đó là phẩm chất đạo đức cách mạng chủ yếu, là nhân cách của con người. Theo Người, kẻ thù của lòng chí công vô tư chính là chủ nghĩa cá nhân, chỉ muốn tự tư tự lợi, chỉ thấy lợi ích riêng của mình, không thấy lợi ích chung của tập thể, của đất nước. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, hình thành phẩm chất đạo đức đúng đắn, để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”(2).

Thứ hai, cần nêu gương trên ba mối quan hệ: với mình, với người, với việc. Đối với mình, người cán bộ, đảng viên không được tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo, mà phải luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình như rửa mặt hằng ngày. Đối với người, cán bộ, đảng viên luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng. Đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào, cán bộ, đảng viên cũng phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (đặt việc công lên trên, lên trước việc tư).

Thứ ba, muốn nêu gương được thì nói phải đi đôi với làm. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một tấm gương đạo đức mẫu mực cho mọi người học tập và noi theo. Ở Người đã đạt tới sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đạo đức và nêu gương, đạt tới sự nhất quán giữa công việc và đời tư, giữa đạo đức vĩ nhân và đạo đức đời thường, địa vị càng cao, uy tín càng lớn, ra sức hoàn thiện, trở thành tấm gương đạo đức trọn vẹn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “... một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(3). Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, theo yêu cầu của Người, là những người ưu tú nhất trong nhân dân, lời nói phải đi đôi với việc làm để nêu gương cho quần chúng nhân dân noi theo. Nói đi đôi với làm là sự nêu gương tốt của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với cấp dưới, của cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân... 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành... Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(5). Tự mình phải “chính” trước mới giúp người khác chính. Mình không “chính”, mà muốn người khác “chính” là vô lý.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đối với cán bộ, đảng viên, thì sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đạo đức và nêu gương cần đạt tới sự nhất quán trong công việc và trong đời sống riêng, giữa đạo đức của người lãnh đạo và đạo đức đời thường. Địa vị càng cao càng phải ra sức hoàn thiện về đạo đức, thống nhất giữa nói và làm. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống; trong mọi lúc, mọi nơi, nói đi đôi với làm để quần chúng nhân dân noi theo. Việc nói đi đôi với làm mang lại cho quần chúng nhân dân lòng tin và sự tôn trọng đối với người cán bộ; do đó, người cán bộ dễ dàng thực thi quyền lãnh đạo của mình. Người phê phán những cán bộ “chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”(6). Nhân dân không bao giờ tin cậy cán bộ nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo. Muốn rèn luyện được phong cách nói đi đôi với làm, người cán bộ phải thường xuyên tự kiểm điểm, soi xét chính mình; đồng thời, phải khuyến khích cấp dưới và quần chúng nhân dân nhận xét, phê bình, góp ý cho mình, nhắc nhở mình về những điều đã hứa. Người cán bộ cũng phải biết tránh căn bệnh hình thức, bệnh “hữu danh, vô thực”, chạy theo những thứ hào nhoáng bên ngoài.

Cán bộ, đảng viên tự tu dưỡng hằng ngày để trở thành con người có đời tư trong sáng, là tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó mà noi theo; qua đó, mà làm tăng những điều đúng, điều thiện, chống thói hư, tật xấu.

Thứ tư, để giáo dục bằng nêu gương đạt hiệu quả cao, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”(7).

Trong các nội dung nêu gương, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn nêu gương về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm phục vụ nhân dân từ một triết lý sâu xa rằng, “dân là chủ”, “dân làm chủ” và “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân”(8). Do đó, cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước nhân dân cả về lời nói và việc làm; phải luôn quyết tâm, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu mà nhân dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ nhân dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng đạo đức ấy đã tạo nên một phong cách nêu gương, tự giác gương mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh tụ kính yêu của cách mạng Việt Nam, người suốt đời phấn đấu, hy sinh vì đất nước, vì dân tộc, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị; vì vậy, cả cuộc đời Người là một tấm gương lớn cho các thế hệ người Việt Nam mãi mãi noi theo.

LHQ-ST

Chủ tịch hội tâm huyết, nhân ái

 

“Thiếu tá QNCN Trần Thị Hà, nhân viên Nhà văn hóa, Phòng Chính trị; Chủ tịch Hội Phụ nữ (HPN) Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị là cán bộ gương mẫu, trách nhiệm, luôn hoàn thành tốt và xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao”. Đó là chia sẻ của Đại tá Nguyễn Bá Duẩn, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị.

Người nối những bờ vui

 

Có người gọi ông là “Ông Danh cầu”. Có người thì gọi là “Ông Danh thiện nguyện”. Lại có người gọi bằng bằng cái tên thân thiện “Ông Danh cựu chiến binh”… Đó đều là những cái tên gắn với công việc và tâm huyết của người đàn ông Tây Nam Bộ đã ngoài bảy mươi tuổi Huỳnh Công Danh.

Phát huy công năng nhà văn hóa ở nông thôn

 

Trên địa bàn huyện Sóc Sơn, các xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu đều được đầu tư xây dựng nhà văn hóa ở cấp thôn. Mới đây, Sở Văn hóa và Thể thao TP Hà Nội tổ chức đoàn khảo sát thiết chế văn hóa trong các thôn kiểu mẫu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nhà văn hóa ở cơ sở.

Tri ân trọn vẹn nghĩa tình

 

Thời gian qua, Ban CHQS huyện Ứng Hòa (Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội) luôn xác định việc thực hiện tốt công tác chính sách với người có công là một nội dung quan trọng, thể hiện sự quan tâm, tri ân đối với những người đã cống hiến xương máu và tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.