Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi Hội nghị Đảng ủy Công an Trung ương.

  Ngày 4/7, Hội nghị Đảng ủy Công an Trung ương 6 tháng đầu năm 2024 đã tổ chức tại Hà Nội, cho ý kiến vào các nội dung theo thẩm quyền. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương gửi nội dung phát biểu chỉ đạo, gợi mở một số ý kiến quan trọng để Hội nghị tham khảo trong quá trình thảo luận.

    Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2024 của Đảng ủy Công an Trung ương:

    Các đồng chí chủ trì Hội nghị.

    "Qua làm việc với đồng chí Lương Tam Quang, tân Bộ trưởng, Bí thư Đảng uỷ Công an Trung ương, tôi vui mừng được biết, ngày 04/7/2024, chúng ta sẽ tổ chức Hội nghị của Đảng uỷ Công an Trung ương để sơ kết 6 tháng đầu năm và bàn về phương hướng, nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2024. Vì điều kiện không thể về dự trực tiếp được; sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng các tài liệu của Hội nghị, tôi xin có một số ý kiến có tính gợi mở để các đồng chí tham khảo trong quá trình thảo luận, góp phần làm cho Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

    Hội nghị của chúng ta được tổ chức vào thời điểm không lâu sau khi Bế mạc Hội nghị Trung ương 9 khoá XIII, Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XV, với rất nhiều nội dung quan trọng, liên quan đến các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Theo Chương trình làm việc, tại Hội nghị lần này sẽ bàn và cho ý kiến về nhiều nội dung quan trọng, gồm: (1) Cho ý kiến vào dự thảo Báo cáo công tác đảng của Đảng bộ Công an Trung ương 6 tháng đầu năm 2024; phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024. (2) Cho ý kiến vào dự thảo Báo cáo đánh giá tình hình, kết quả công tác công an 6 tháng đầu năm 2024; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2024 của Bộ Công an. (3) Cho ý kiến về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 01/2018/NĐ-CP, ngày 06/8/2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; và một số công việc quan trọng khác.

    Đặc biệt vui mừng và phấn khởi hơn khi có các đồng chí tham dự Hội nghị hôm nay được Đảng, Nhà nước giao cương vị mới, đó là đồng chí Chủ tịch nước Tô Lâm (nguyên Bộ trưởng, Bí thư Đảng uỷ Công an Trung ương); đồng chí Thượng tướng Lương Tam Quang, tân Bộ trưởng, Bí thư Đảng uỷ Công an Trung ương; đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng (nguyên Thứ trưởng Bộ Công an). Nói điều này để thấy, lực lượng Công an nhân dân của chúng ta được Trung ương quan tâm giao nhiều trọng trách rất quan trọng, những chiến công, thành tích, cống hiến của các đồng chí luôn luôn được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận đánh giá cao.

    Trước hết, tôi xin thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và với tình cảm cá nhân, chúc mừng đồng chí Chủ tịch nước Tô Lâm, đồng chí Bí thư Đảng uỷ Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang, đồng chí Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Duy Ngọc, vinh dự được Đảng, Nhà nước giao trọng trách lớn. Xin nhiệt liệt chào mừng, gửi tới các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đồng chí đại biểu khách quý, các đồng chí trong Đảng uỷ Công an Trung ương và toàn thể các đồng chí tham dự Hội nghị lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

    Về đánh giá kết quả công tác của Đảng bộ Công an Trung ương trong 6 tháng đầu năm 2024

    Nhìn lại 6 tháng đầu năm 2024, có thể thấy, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Trung ương Đảng, sự giám sát của Nhà nước, quản lý, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ của các ban, bộ, ngành Trung ương, cấp uỷ, chính quyền địa phương, sự đồng lòng, ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân, Đảng uỷ Công an Trung ương đã phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất, chủ động, bản lĩnh, trách nhiệm, sáng tạo, bám sát nhiệm vụ chính trị và tình hình thực tiễn, lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng Công an nhân dân phấn đấu vươn lên, hoàn thành thắng lợi các mặt công tác, trong đó có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, vượt tiến độ đề ra. Tôi xin điểm lại mấy kết quả nổi bật như sau:

    Một là, các đồng chí đã chủ động nắm chắc tình hình, phát huy hiệu quả vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trên lĩnh vực bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của đất nước

    Chúng ta đang tập trung phát triển kinh tế - xã hội, duy trì đà tăng trưởng, thúc đẩy an sinh xã hội, tích lũy "thế và lực" để phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và hướng tới mục tiêu 100 năm thành lập Đảng, 100 năm thành lập nước; trong điều kiện có nhiều khó khăn, thách thức; về kinh tế - xã hội, an ninh chính trị còn tiềm ẩn phức tạp; các thế lực thù địch, phản động, số đối tượng cơ hội chính trị gia tăng hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Trước bối cảnh, tình hình đó, trong 6 tháng đầu năm 2024, Đảng uỷ Công an Trung ương đã chỉ đạo Bộ Công an chủ động thu thập, phân tích, đánh giá tình hình, có trên 1.200 báo cáo gửi Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ tham mưu các chủ trương, giải pháp về bảo vệ an ninh, trật tự; cung cấp thông tin, luận cứ cho phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện đường lối đối ngoại, được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đánh giá cao. Vừa qua, sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Nga Putin, truyền thông quốc tế và chính giới nhiều nước, dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đánh giá rất cao trường phái "ngoại giao cây tre" của Việt Nam; nhận định đây là yếu tố quan trọng dẫn đến các thành tựu đối ngoại có tính bước ngoặt, chưa từng có trong lịch sử, chỉ trong vòng 9 tháng, Việt Nam đã đón lãnh đạo cấp cao nhất của 3 cường quốc Mỹ, Trung Quốc, Nga, đồng thời nâng cấp quan hệ với nhiều nước lên "Đối tác chiến lược toàn diện"; có được kết quả này, là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, trong đó có sự đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân. Bên cạnh đó, trong 6 tháng đầu năm, các đồng chí cũng đã hoàn thành và báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư thông qua nhiều đề án công tác lớn như Hội nhập quốc tế và đối ngoại công an nhân dân đến năm 2030 và những năm tiếp theo; Tăng cường bảo đảm an ninh quốc gia trong hợp tác với các đối tác quan trọng; Hiện đại hóa cơ sở vật chất của lực lượng công an nhân dân đến năm 2030; Xây dựng cơ chế xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ, kê biên, phong toả trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với các vụ án, vụ việc...

    Hai là, Bộ Công an luôn luôn nắm chắc tình hình "bên ngoài - bên trong", "đối tác - đối tượng"Đảng uỷ Công an Trung ương đã chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ về mặt chiến lược

    Các đồng chí rất trách nhiệm, tích cực, chủ động triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo chức năng của lực lượng Công an nhân dân; triển khai đồng bộ, toàn diện các biện pháp công tác công an; góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; không để hình thành công khai tổ chức chính trị đối lập trong nội địa; bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các hoạt động kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ; các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội; hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đoàn khách quốc tế, hội nghị quốc tế tổ chức tại Việt Nam, các sự kiện chính trị, văn hoá, xã hội, đối ngoại quan trọng, các mục tiêu, công trình trọng điểm quốc gia. Nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến tôn giáo, dân tộc đã được xử lý kịp thời, dứt điểm, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội; đồng thời chủ động, tích cực giải quyết hiệu quả nhiều vấn đề tiềm ẩn phức tạp từ sớm, từ xa, từ ngoài biên giới lãnh thổ.

    Ba là, các đồng chí đã quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phòng, chống tội phạm; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính phục vụ Nhân dân

    Hình ảnh tại Hội nghị.

    Công tác phòng, chống tội phạm đã đạt và vượt nhiều chỉ tiêu Quốc hội đề ra, phấn đấu kéo giảm tội phạm bền vững; trật tự, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ có nhiều chuyển biến tích cực, tạo môi trường an ninh, an toàn, lành mạnh, được Nhân dân đồng tình, ủng hộ cao. Công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự tiếp tục được đổi mới theo hướng lấy người dân làm chủ thể phục vụ; tăng cường cải cách hành chính, giảm tình trạng quan liêu, nhũng nhiễu, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Theo Báo cáo của các đồng chí, việc triển khai ứng dụng dữ liệu quốc gia về dân cư tiếp tục đạt nhiều kết quả rất tích cực, nhiều ứng dụng tiện ích được triển khai như Sổ sức khoẻ điện tử, Phiếu lý lịch tư pháp, chi trả an sinh xã hội cho trên 1,9 triệu người dưới hình thức không dùng tiền mặt với trên 8,6 nghìn tỉ đồng, góp phần giảm tình trạng "tham nhũng vặt", tạo nền tảng để thực hiện chính phủ số, xã hội số, kinh tế số.

    Bốn là, lực lượng Công an đã phát huy tốt vai trò là "Thanh bảo kiếm" sắc bén trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"

     Phát huy thành tích và kinh nghiệm đã có được trong thời gian qua, các đồng chí đã chủ động phối hợp bài bản, chặt chẽ với các cơ quan khối nội chính trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nhận diện kịp thời các vấn đề nóng, nhạy cảm, phức tạp; xác định khâu đột phá, đánh đúng, đánh trúng, điều tra làm rõ nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế lớn, dư luận bức xúc, có sự đan xen giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước, làm lũng đoạn hệ thống chính trị ở cơ sở, như Vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần Tập đoàn Phúc Sơn, Thuận An, vụ án liên quan đến Khu đô thị Đại Ninh ở tỉnh Lâm Đồng…; góp phần cảnh tỉnh, răn đe các đối tượng tham nhũng. Việc xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực vừa qua được thực hiện đồng bộ, chặt chẽ với công tác cán bộ, rất nghiêm minh nhưng cũng rất nhân văn, có lý, có tình, các đối tượng đều "tâm phục, khẩu phục".

    Năm là, công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng công an nhân dân tiếp tục được Đảng uỷ Công an Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và đạt những kết quả tích cực

    Đảng uỷ Công an Trung ương đã chủ động triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định hàng đầu đối với việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; liên tục trong nhiều năm qua, Đảng uỷ Công an Trung ương luôn là một trong những cấp uỷ "gương mẫu, đi đầu" trong hệ thống chính trị, sớm xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ươnggóp phần tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động trong toàn lực lượng. Nhất là đối với việc quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết số 12 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới", Tôi vui mừng nhận thấy việc triển khai đã đạt những kết quả rất tích cực; từng bước huy động được sự tham gia, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Cùng với việc kiện toàn lực lượng công an tại 4 cấp theo hướng "Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở", các đồng chí đã hoàn thiện lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự tại cơ sở, cùng với công an xã chính quy, đây sẽ là chỗ dựa tin cậy cho Nhân dân ở từng thôn, xóm, bản làng.

    Có thể khẳng định 6 tháng đầu năm 2024, lực lượng Công an nhân dân đã cơ bản hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao. Nhân dịp này, Tôi xin thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và với tình cảm cá nhân, chân thành cảm ơn, chúc mừng, biểu dương những thành tích, chiến công của Đảng uỷ Công an Trung ương và ngành Công an nước nhà.

    Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận nêu trên, trong các báo cáo sơ kết, đánh giá của Đảng uỷ Công an Trung ương, cũng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, rút ra bài học kinh nghiệm và phân tích những nguyên nhân cần phải khắc phục. Tôi đề nghị các đồng chí cần phải phân tích sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, có tính chiến đấu cao hơn nữa đối với các tồn tại, yếu kém, nhất là những tồn tại đã được chỉ ra nhiều lần nhưng chưa khắc phục triệt để, tiếp tục củng cố và xây dựng "Lc lưng Công an nhân dân tht s trong sch, vng mnh, vì nưc quên thân, vì dân phc v".

    Về phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024

    Tôi cơ bản đồng tình với những phương hướng, nhiệm vụ mà các đồng chí đã nêu. Tôi chỉ xin lưu ý, nhấn mạnh thêm một số điểm sau đây:

    Một làtinh thần chung trong 6 tháng cuối năm 2024 và các năm tiếp theo, Đảng uỷ Công an Trung ương cần tiếp tục phấn đấu là cấp uỷ tiêu biểu trong hệ thống chính trị, "gương mẫu, đi đầu" trong quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương; 6 tháng cuối năm phải tốt hơn 6 tháng đầu năm, năm sau phải tốt hơn năm trước, nhiệm kỳ sau phải tốt hơn nhiệm kỳ trước, an ninh, trật tự ngày càng phải tốt lên.

    Hai là, Đảng uỷ Công an Trung ương tiếp tục làm tốt công tác nắm tình hình, tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ về mặt chiến lược, duy trì, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, tạo thuận lợi cao nhất cho phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng

    Đề nghị các đồng chí bám sát Chương trình làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2024, hoàn thành các đề án, dự án bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng; nắm chắc, đánh giá, dự báo sát, đúng tình hình thế giới, khu vực, nhất là sự điều chỉnh chiến lược, chính sách của các nước lớn, các nước láng giềng có liên quan đến lợi ích, an ninh quốc gia của Việt Nam; kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương xử lý hài hoà quan hệ với các nước; tránh đối đầu, xung đột. Huy động sự vào cuộc và sức mạnh của cả hệ thống chính trị, quyết liệt thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ về bảo đảm, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, phục hồi kinh tế, chăm lo đời sống của Nhân dân bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 khoá XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    Ba làtăng cường các giải pháp bảo vệ an ninh quốc gia, tuyệt đối không để các vụ việc mất an ninh, trật tự ở cơ sở chuyển hoá thành các vụ việc phức tạp về an ninh quốc gia trong mọi tình huống; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ phục vụ các công việc hệ trọng của Đảng.

    Như các đồng chí đã biết, các công việc chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng đang được tiến hành chuẩn bị rất khẩn trương; Hội nghị Trung ương 10 khoá XIII tới đây sẽ bàn, thảo luận và cho ý kiến về nhiều nội dung quan trọng (về dự thảo các văn kiện và phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIV). Đây là những vấn đề mà cả nước quan tâm, nhưng đồng thời đây cũng là những vấn đề thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động, nói xấu… gây hoang mang, nghi ngờ trong quần chúng nhân dân, gây chia rẽ nội bộ, chia rẽ Đảng với nhân dân, cao hơn là phủ nhận những thành tích, kết quả đạt được qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới; tác động thay đổi đường lối, chính sách, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa… Do đó, tôi đề nghị các đồng chí cần nắm chắc tình hình, làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, bảo vệ đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược; có giải pháp khắc phục triệt để tình trạng lộ, mất bí mật nhà nước, "trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã tường". Tập trung các biện pháp phòng, chống thâm nhập, tác động chuyển hoá nội bộ, cài cắm nội gián của các thế lực địch, phòng, chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", nhất là ở các cơ quan trọng yếu, cơ mật. Đồng thời triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, nắm chắc tình hình, xử lý hiệu quả từ sớm, từ cơ sở mọi vấn đề tiềm ẩn phức tạp, nhất là có giải pháp hiệu quả hơn nữa để ngăn chặn các nguy cơ, thách thức từ không gian mạng đang rất phức tạp hiện nay.

    Thượng tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an thông báo toàn văn Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Trọng gửi đến Hội nghị.

    Bốn là, cần quyết liệt, đồng bộ hơn nữa trong việc thực hiện các giải pháp phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân

    Tập trung nhận diện phương thức, thủ đoạn hoạt động mới của tội phạm, quyết liệt, không khoan nhượng trong đấu tranh với các loại tội phạm, tiếp tục nghiên cứu triển khai thí điểm xã, phường, huyện, tỉnh an toàn giao thông, không tội phạm, không ma tuý. Các đồng chí phải thực sự là lực lượng nòng cốt phát huy vai trò của lực lượng bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở. Bảo đảm tiến độ, nâng cao chất lượng điều tra, xử lý tội phạm, nhất là các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo với tinh thần "không ngừng", "không nghỉ", "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể đó là ai"; đồng thời chú trọng phát hiện, kiến nghị khắc phục từ sớm các sơ hở, thiếu sót để giảm thiểu thiệt hại cho Nhà nước, Nhân dân và các giải pháp phòng ngừa "không thể, không dám" tham nhũng, tiêu cực.

    Năm là, tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân theo Nghị quyết số 12 của Bộ Chính trị. Chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII.

    Tôi tha thiết mong rằng, các đồng chí tiếp tục coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của cả nhiệm kỳ và những năm tiếp theo. Với tinh thần "Phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân""Còn Đảng thì còn mình""Danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất", các đồng chí cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong nội bộ lực lượng Công an nhân dân. Luôn khắc ghi lời dạy của Bác Hồ kính yêu: "Công an của ta là Công an nhân dân, vì dân phục vụ và dựa vào dân mà làm việc…", "phải thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân", phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng nhân dân, lễ phép với nhân dân, dựa vào nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, xây dựng môi trường xã hội yên bình cho cuộc sống của nhân dân; không ngừng đổi mới lề lối, phương pháp công tác, phải làm cho dân ngày càng tin Công an hơn, ngày càng giúp đỡ Công an hơn. Lực lượng Công an phải đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với lực lượng Quân đội nhân dân, thực sự là thanh kiếm và lá chắn, hai cánh của một con chim, bảo vệ giữ gìn hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Mong các đồng chí chuẩn bị thật tốt các điều kiện để tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2025 - 2030; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, thử thách đối với các đồng chí là nhân sự được quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV và các đồng chí trong diện quy hoạch tham gia cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ các cấp; góp phần tạo nguồn cán bộ cấp chiến lược, lãnh đạo, chỉ huy thật sự đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

    Từ nay đến hết năm 2024 và hết nhiệm kỳ, chúng ta có nhiều việc phải làm. Thời gian không còn nhiều, chỉ còn hơn 1 năm để hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VII; kết quả của nhiệm kỳ này là tiền đề quan trọng để thực thắng lợi các mục tiêu chiến lược của đất nước trong giai đoạn tiếp theo. Trong Báo cáo của các đồng chí cũng đã đề ra 7 nhiệm vụ về công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng; 8 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về công tác chuyên môn từ nay đến cuối năm 2024. Như vậy, về phương hướng, nhiệm vụ đã rõ, mục tiêu đã cụ thể, vấn đề là với quyết tâm chính trị thế nào, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo ra sao và quá trình tổ chức triển khai thực hiện, kết quả đạt được là gì? Do vậy, Tôi đề nghị các đồng chí tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt thật sâu sắc trong toàn lực lượng Công an nhân dân để cùng thống nhất nhận thức, quyết tâm, nỗ lực phấn đấu hoàn thành toàn diện những mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra với tinh thần "tháng đầu năm 2024 vừa qua đã nỗ lực cố gắng rồi, đã tốt rồi thì 6 tháng còn lại của năm 2024 phải nỗ lực cố gắng nhiều hơn nữa, đạt kết quả tốt hơn nữa".

    Một lần nữa, chúc các đồng chí sức khoẻ, hạnh phúc và thành công"./.

    TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DANH HIỆU QUAN BỘ ĐỘI CỤ HỒ - BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA QUÂN SỰ THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH!

    BÀI 3: TIẾP TỤC KHẢNG ĐỊNH, PHÁT HUY HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA BỘ ĐỘI CỤ HỒ!
    (Tiếp theo và hết)
         Bộ đội Cụ Hồ là sản phẩm chính trị, đạo đức, văn hóa, mang ý nghĩa nhân dân sâu sắc, được chính nhân dân cảm nhận, đúc kết, khẳng định và truyền tụng, đồng thời có cội nguồn sâu xa từ lịch sử đặc biệt của dân tộc!

    Đó là di sản, là sản phẩm, là tài sản tinh thần vô giá chứa đựng những giá trị văn hóa cao đẹp, bền vững, đồng thời mang tính độc đáo của lịch sử dân tộc. Vì vậy, chắc chắn rằng, cùng với những di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được khẳng định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể rất độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại.

    Tiếp tục tạo sức sống mới cho hệ giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ
    Sự xuất hiện của Bộ đội Cụ Hồ trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta đã trải qua 80 năm. Thời gian đó so với lịch sử dân tộc không dài, song chỉ bằng thời gian đó, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đã đi vào lịch sử, đi vào đời sống đất nước, đi vào lòng dân và đời sống cộng đồng một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn, trở thành một trong những giá trị văn hóa tiêu biểu của thời đại mới.

    Những đặc trưng của kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trở thành một hệ giá trị văn hóa thống nhất, được nhân dân xác định, đồng thuận, ngợi ca. 80 năm qua, biết bao thế hệ người mẹ, người cha đã tin tưởng gửi con em mình vào Quân đội để tuổi trẻ trở thành chiến sĩ cách mạng được mang danh hiệu đầy khiêm tốn mà kiêu hãnh, tự hào: Bộ đội Cụ Hồ.

    Với ý nghĩa đó, có 3 vấn đề lớn đặt ra trong hiện tại và tương lai, đó là tiếp tục phát huy, phát triển và khẳng định giá trị văn hóa này, để nó có sức sống ngày càng bền vững, trở thành chuẩn mực văn hóa cho các thế hệ chiến sĩ và góp phần làm giàu có, phong phú cho các di sản, tài sản văn hóa của dân tộc ta. Cũng có ý kiến cho rằng, hình tượng, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong hai phần trên cho phép chúng ta khẳng định rằng, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân tộc ta.

    Vì vậy, từ cội nguồn dân tộc và nhân dân, nó có sức sống bền vững, phải được bảo vệ, củng cố và phát triển trong thời gian tới. Mặt khác, từ yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới, theo mục tiêu cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, việc tập trung mọi nỗ lực để tiếp tục xây dựng, nuôi dưỡng kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trở nên tất yếu, trở thành một nội dung xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng Quân đội từ nay về sau. Tất nhiên, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ không phải và không thể là sản phẩm tự phát mà cần một sự chuẩn bị và tiến hành công phu, khoa học, kiên trì, sáng tạo không ngừng.

    Nuôi dưỡng và xây dựng nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong giai đoạn mới nhằm mục tiêu tạo ra những thế hệ kế tiếp nhau trở thành người quân nhân cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng và bảo vệ nhân dân, góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, tạo khả năng phát triển toàn diện của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trước yêu cầu mới đó, nhiệm vụ tiếp tục phát huy, phát triển kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ phải đồng thời xử lý hai mối quan hệ cơ bản.

    Quan hệ lớn bảo đảm sự thống nhất hài hòa giữa yêu cầu chung đối với con người Việt Nam thời kỳ mới và yêu cầu riêng mang tính đặc thù của người chiến sĩ trong tổ chức quân sự. Xử lý biện chứng quan hệ lớn này sẽ tạo được hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, đồng thời chuẩn bị cho sự phát triển phẩm chất công dân theo những đòi hỏi hiện đại, khi người cán bộ, chiến sĩ xuất ngũ. Sự đổi mới toàn diện các lĩnh vực cơ bản trong hoạt động Quân đội, đặc biệt là công tác Đảng, công tác chính trị, tư tưởng-văn hóa trong Quân đội sẽ là chìa khóa giải quyết hiệu quả quan hệ trên.

    Quan hệ đặc thù trong bản thân Quân đội, đó là vừa khẳng định những giá trị cốt lõi, cơ bản, dứt khoát không thể thay đổi, vừa sẵn sàng bổ sung, phát triển các nội dung mới cần có, phải có trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Định hướng và xử lý đúng quan hệ đặc thù giúp Quân đội chủ động trong quá trình nuôi dưỡng nhân cách Bộ đội Cụ Hồ, tránh được hai khuynh hướng, hoặc là bảo thủ, cứng nhắc trong ý chí; hoặc là bị động trước tác động ngày càng phức tạp đối với tổ chức Quân đội chắc chắn sẽ tiếp tục xảy ra trong tương lai. Từ quan hệ này, việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa "xây" và "chống" trở thành “vũ khí” hữu hiệu để bảo vệ và phát triển nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới.

    Chú trọng “văn hóa hóa” đời sống Quân đội
    Con đường và giải pháp cơ bản, bao trùm là: Trên nguyên tắc lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, làm nền tảng, cần chú trọng “văn hóa hóa” toàn bộ đời sống Quân đội.

    Văn hóa hóa toàn bộ đời sống Quân đội là nuôi dưỡng và xây dựng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ thành những quân nhân có văn hóa mang phẩm chất, giá trị văn hóa, thành nhu cầu của chính mình; là sự biến đổi mọi lĩnh vực của đời sống quân nhân từ ăn, ở, mặc, huấn luyện, lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi, vui chơi, quan hệ nội bộ và quan hệ với nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi theo các chuẩn mực văn hóa, ngày càng nỗ lực hướng tới chân-thiện-mỹ và sự hoàn thiện của nhân cách Bộ đội Cụ Hồ. Trong đó, cái gốc của văn hóa là tình yêu Tổ quốc, nhân dân, là chủ nghĩa nhân văn, tôn trọng con người dân chủ, công bằng, bình đẳng, minh bạch... tạo lập cho quân nhân một môi trường văn hóa-môi trường sống thực sự lành mạnh, tốt đẹp và phong phú. Ở đó, mỗi quân nhân được thể hiện hết mọi khả năng của mình với sự nỗ lực cao nhất trong tình thương yêu của tập thể, đồng chí, đồng đội.

    Văn hóa hóa còn mang ý nghĩa sâu xa, bền chặt hơn là ở quá trình, thông qua toàn bộ hoạt động tư tưởng, chuyển những yêu cầu chính trị cơ bản: Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại thành những văn hóa thấm sâu trong nhân cách cán bộ, chiến sĩ. Có nghĩa là, các yêu cầu trên không dừng lại ở nhận thức lý thuyết khô cứng mà phải được chuyển hóa thành bản lĩnh, tình cảm, thành tố chất bên trong mỗi cán bộ, chiến sĩ. Nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được hình thành, phát triển và dần định hình từ quá trình đó. Truyền thống Bộ đội Cụ Hồ không chỉ của quá khứ mà được hiện thực hóa, phát triển, khẳng định trong hiện tại và tương lai.

    Tính bền vững, thấm sâu trong đời sống, trong tình cảm của nhân dân suốt 80 năm là đặc điểm hết sức rõ ràng của hình tượng Bộ đội Cụ Hồ. Có lẽ chưa ở đâu hình tượng đó không chỉ lan tỏa trong đời sống mà còn đi vào văn hóa, văn học, văn nghệ, tạo nên trong lịch sử văn hóa-văn nghệ Việt Nam một dòng chảy mạnh mẽ, hào sảng, trung thực, đầy sức vẫy gọi, cổ vũ con người về hình tượng người chiến sĩ “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” (Lê Anh Xuân), “Đẹp như hoa hồng, cứng như sắt thép” (Nam Hà), “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” (Quang Dũng), “Những cuộc đời đã hóa núi sông ta” (Nguyễn Khoa Điềm)... Hầu như ở tất cả loại hình văn hóa-nghệ thuật Việt Nam suốt 80 năm qua, các nghệ sĩ, chiến sĩ đều dành những tình cảm đẹp và trân trọng nhất cho việc tái hiện hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

    Khác với nhiều hình tượng văn học-nghệ thuật do sự sáng tạo thông qua đặc trưng khám phá cuộc sống hình tượng và hư cấu, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ là kết quả của sự đúc kết, tái hiện từ bản thân đời sống, từ nguyên mẫu Bộ đội Cụ Hồ trong hiện thực. Chính những nguyên mẫu đó đã tạo nên cảm xúc, cảm hứng sáng tạo của người chiến sĩ.

    Thử nêu vài ví dụ quen thuộc trong sáng tác âm nhạc. Trong 80 năm qua, hàng loạt ca khúc đi cùng năm tháng, sống trong tình cảm sâu lắng của nhân dân đều mang âm hưởng “hành quân” của đoàn quân chiến thắng Bộ đội Cụ Hồ, như: “Cùng nhau đi hồng binh” (Đinh Nhu), “Cảm tử quân” (Hoàng Quý), “Tiến quân ca”, “Chiến sĩ Việt Nam” (Văn Cao), “Vì nhân dân quên mình” (Doãn Quang Khải), “Tiến bước dưới quân kỳ” (Doãn Nho), “Đội cận vệ bất diệt” (giao hưởng Đàm Linh), “Anh vẫn hành quân” (Huy Du), “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” (Huy Thục), “Hành khúc ngày và đêm” (Phan Huỳnh Điểu), “Bước chân trên dải Trường Sơn” (Vũ Trọng Hối), “ Chào anh Giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng” (Hoàng Vân), “Hát mãi khúc quân hành” (Diệp Minh Tuyền)...

    Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ xứng đáng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Có thể khẳng định rằng, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ có giá trị kép. Một là, bản thân danh hiệu đó là một giá trị văn hóa quân sự nói riêng và giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại nói chung. Hai là, vẻ đẹp, sức hấp dẫn, lan tỏa của danh hiệu đã tạo ra một giá trị riêng của văn học-nghệ thuật Việt Nam hiện đại: Dòng văn học-nghệ thuật về LLVT và chiến tranh cách mạng mà hình tượng trung tâm là Bộ đội Cụ Hồ. Phải chăng chỉ nước ta mới có được một giá trị kép, gắn kết chặt chẽ với nhau như vậy?

    Bộ đội Cụ Hồ là sản phẩm chính trị, đạo đức, văn hóa, mang ý nghĩa nhân dân sâu sắc, được chính nhân dân cảm nhận, đúc kết, khẳng định và truyền tụng, đồng thời có cội nguồn sâu xa từ lịch sử đặc biệt của dân tộc. Đó là di sản, là sản phẩm, là tài sản tinh thần vô giá chứa đựng những giá trị văn hóa cao đẹp, bền vững, đồng thời mang tính độc đáo của lịch sử dân tộc. Vì vậy, chắc chắn rằng, cùng với những di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được khẳng định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể rất độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại.

    Danh hiệu cao quý đó không chỉ là di sản của quá khứ mà là tài sản tinh thần của Quân đội ta, hôm nay và mai sau. Trong ý nghĩa đó, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục củng cố, bảo vệ, phát huy và phát triển trong toàn bộ quá trình xây dựng từ nay về sau giá trị Bộ đội Cụ Hồ mà nhân dân, Bác Hồ và Đảng đã trao tặng./.
    Yêu nước ST.

    TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DANH HIỆU QUAN BỘ ĐỘI CỤ HỒ - BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA QUÂN SỰ THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH!

    BÀI 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA NHÂN CÁCH BỘ ĐỘI CỤ HỒ!
         Những đặc trưng nổi bật của Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành hành trang quý báu trên hành trình tiến lên, trưởng thành và chiến thắng của lực lượng vũ trang ta. Đó chính là một hệ giá trị văn hóa độc đáo của nền văn hóa Việt Nam hiện đại-nền văn hóa vì con người, gắn kết hài hòa giữa truyền thống, cốt cách Việt Nam và các giá trị hiện đại trong thời kỳ lịch sử mới!
    Đặc trưng của nhân cách Bộ đội Cụ Hồ không thể có ngay từ đầu mà phải trải qua một quá trình cực kỳ gian khổ, muôn vàn thử thách, chiến đấu, tôi luyện và trưởng thành, phát triển và định hình trong quá trình đó. Chúng ta vô cùng biết ơn và tự hào về 34 cán bộ, chiến sĩ trong Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22-12-1944 dưới quyền chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp (sau này là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội).

    Với chiến công đầu tiên và phẩm chất cách mạng cao đẹp của mình, họ đã đặt nền móng vững chắc đầu tiên xây đắp nên đặc trưng, vẻ đẹp của hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, mà đặc trưng cốt lõi được cô đúc trong lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 /22-12-1964): “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

    Bộ đội Cụ Hồ - Một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại - Bài 2: Những đặc trưng của nhân cách Bộ đội Cụ Hồ

    Lời biểu dương đó chính là sự khái quát đầy đủ bản chất cách mạng của Quân đội ta. 80 năm qua, Quân đội đã thực hiện trọn vẹn sự khẳng định đó của Bác. Trong đó, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ là biểu hiện tập trung nhất các phẩm chất và giá trị chính trị-văn hóa thể hiện trong lời dạy của Bác Hồ.

    Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, “hiếu với dân” là đặc trưng bao trùm trong toàn bộ hoạt động của bộ đội, của nhân cách và chiều sâu tình cảm của Bộ đội Cụ Hồ. Ngay từ khi mới ra đời, họ đã được nhân dân tin yêu, coi như con em ruột thịt của mình. Tình yêu đó không đơn giản chỉ vì lời thề “không lấy cái kim, sợi chỉ của nhân dân” mà sâu xa hơn, Bộ đội Cụ Hồ sẵn sàng xả thân “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”.

    Bộ đội Cụ Hồ là bộ đội của nhân dân vì lý do như vậy. Trong lịch sử 80 năm, mọi chiến công của Quân đội ta đều gắn chặt với sức mạnh của nhân dân và sự đoàn kết quân dân, vì vậy, không một thế lực thù địch nào có thể tách rời Bộ đội Cụ Hồ với nhân dân. “Hiếu với dân” luôn luôn và mãi mãi là lời thề sắt son của Bộ đội Cụ Hồ.

    Bộ đội Cụ Hồ là những người chiến sĩ có lòng trung thành vô hạn với Đảng Cộng sản Việt Nam. Trung thành với Đảng đồng nghĩa là trung thành với dân tộc và Tổ quốc Việt Nam. Chính từ sự trung thành đó mà Bộ đội Cụ Hồ nuôi trong mình sự căm ghét mọi kẻ thù xâm lược và các thế lực không tôn trọng độc lập, chủ quyền và sự nghiệp cách mạng của chúng ta, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tử để Tổ quốc quyết sinh tạo nên dáng đứng cao đẹp của người chiến sĩ, của Bộ đội Cụ Hồ có “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”.

    Lòng trung thành của Bộ đội Cụ Hồ chính là sự kế thừa truyền thống “Sát thát” giết giặc bằng được, “dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa cũng cam lòng” của những người lính thời Trần.

    Vì cùng chung một lý tưởng chiến đấu, đều là con em của nhân dân, gắn bó với nhau trong suốt cuộc đời quân ngũ, chia ngọt sẻ bùi, sống chết có nhau nên Bộ đội Cụ Hồ có một tình đồng đội cao cả. Đồng đội đồng thời cũng là đồng chí. Đây là nét rất đặc thù của Quân đội cách mạng. Nếu như những người lính Việt Nam trước đây coi nhau như “huynh đệ” thì từ năm 1944 đến nay, những người cầm súng Việt Nam đã nâng lên tinh thần đồng đội, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như lúc ra trận.

    “Nghĩa tình đồng đội”, “bạn chiến đấu”, “tấm lòng đồng đội”, “tâm tình đồng đội”, “đi tìm đồng đội”... từ lâu đã trở thành những nét đẹp trong đời sống Quân đội và lan tỏa trong cộng đồng người Việt Nam, trở thành một trong những biểu hiện cao nhất của truyền thống đoàn kết, nhân ái của con người Việt Nam.

    Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là những người cầm súng thuần túy. Từ khi ra đời, Quân đội ta đã được xác định chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Trong thời chiến, lúc hòa bình, 3 chức năng đó đều được coi trọng. Vì vậy, trải qua 80 năm đấu tranh, xây dựng và trưởng thành, Quân đội ta không những đã chứng tỏ là một đội quân chiến đấu tinh nhuệ mà còn là đội quân công tác tốt, đội quân lao động sản xuất giỏi.

    Bộ đội Cụ Hồ luôn luôn có mặt giúp đỡ nhân dân trước mọi thử thách. Hình ảnh thân thương bộ đội về làng, đi dân nhớ, ở dân thương mãi mãi là nét đẹp văn hóa độc đáo lan tỏa trong tình cảm của nhân dân dành cho Bộ đội Cụ Hồ. Rèn luyện trong chiến đấu, đồng thời nâng cao năng lực, trình độ, sức sáng tạo trong lao động sản xuất (sản xuất quốc phòng và sản xuất để góp phần phát triển kinh tế đất nước) là một đặc trưng ngày càng phát triển trong Quân đội ta.

    Phải chăng, truyền thống, đặc trưng này có cội nguồn từ thời nhà Trần với chính sách “ngụ binh ư nông” và được phát triển lên một chất lượng cao và mới, góp phần tạo nên tính toàn diện trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ: Gan dạ, dũng cảm gắn với năng lực tự lực, tự cường và sáng tạo.

    Một nét đặc trưng tiêu biểu khác của Bộ đội Cụ Hồ, đó là tinh thần, ý thức kỷ luật tự giác rất cao. Trước đây, trong lịch sử, những người lính Việt Nam đã có truyền thống “quân lệnh như sơn”, đến thời nay, Bộ đội Cụ Hồ được rèn luyện tinh thần kỷ luật tự giác bằng 12 điều kỷ luật, bằng việc chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và mệnh lệnh, chỉ thị của các cấp chỉ huy. Nét riêng được nuôi dưỡng trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong suốt 80 năm qua trong việc chấp hành kỷ luật thể hiện rõ nhất là chuyển từ kỷ luật cưỡng bức (ở nhiều quân đội khác) sang kỷ luật tự giác là chủ yếu.

    Đó là quá trình rèn luyện rất công phu, mà trước hết và quan trọng nhất là xây dựng trong nhân cách người chiến sĩ lòng tự trọng, coi trọng danh dự là trước hết, trên hết. Tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự trọng danh dự và sự gắn bó, giúp đỡ nhau bằng tình đồng đội tạo nên ý thức tự giác của Bộ đội Cụ Hồ. Vì thế, tính kỷ luật đã trở thành nếp quen và cao hơn trở thành nhu cầu tự thân của người chiến sĩ được tôi luyện trong môi trường Quân đội. Mặt khác, kỷ luật nghiêm minh gắn liền với dân chủ trong chỉ huy, quản lý và tổ chức Quân đội để phát huy tốt nhất những năng lực tiềm ẩn trong người chiến sĩ, giúp họ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

    Bộ đội Cụ Hồ còn là những người chiến sĩ có tinh thần quốc tế cao cả, bắt nguồn từ truyền thống nhân ái của dân tộc “tắt lửa tối đèn có nhau”, “thương người như thể thương thân”. Mấy chục năm qua, với tinh thần “cứu bạn là tự cứu mình” đầy nhân bản, nhiều thế hệ chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã thành những chiến sĩ quốc tế, những tình nguyện quân vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, chiến đấu bên cạnh nhân dân và chiến đấu chống các thế lực tay sai, phản động, diệt chủng. Ý thức sâu sắc “cứu bạn là tự cứu mình” cùng tinh thần “hạt muối cắn đôi, bát cơm sẻ nửa”, người lính Cụ Hồ đã góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng Quân đội các nước láng giềng anh em.

    Nhân dân Campuchia gọi người lính tình nguyện Việt Nam là “lính nhà Phật” thể hiện cực kỳ sâu sắc vẻ đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và tình cảm sâu nặng của người dân Campuchia dành cho Quân tình nguyện Việt Nam. Đó là tình cảm vô cùng đáng quý, thiêng liêng. Những năm gần đây, Bộ đội Cụ Hồ lại có mặt trong đội quân “mũ nồi xanh” của Liên hợp quốc trên các quốc gia còn nhiều khó khăn, xung đột. Tinh thần quốc tế cao cả, vô tư của Bộ đội Cụ Hồ là một nét đẹp văn hóa rất mới trong lịch sử đấu tranh của dân tộc ta, Quân đội ta.

    Những đặc trưng nổi bật của Bộ đội Cụ Hồ như trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc Việt Nam, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có tình yêu đồng đội sâu sắc, tinh thần kỷ luật tự giác cao, ham học hỏi, cầu tiến bộ, năng động, sáng tạo trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, vô tư... đã trở thành hành trang quý báu trên hành trình tiến lên, trưởng thành và chiến thắng của lực lượng vũ trang ta. Đó chính là một hệ giá trị văn hóa độc đáo của nền văn hóa Việt Nam hiện đại - nền văn hóa vì con người, gắn kết hài hòa giữa truyền thống, cốt cách Việt Nam và các giá trị hiện đại trong thời kỳ lịch sử mới./.
    Ảnh: Người dân xã Tam Đồng (Mê Linh, Hà Nội) mời bộ đội Tiểu đoàn Trinh sát 20 (Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội) uống nước sau giờ lao động giúp dân trên địa bàn, tháng 7-2023.
    (còn nữa).
    Yêu nước ST.

    Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tạo ra nhiều tác động tiêu cực đối với con người và nguồn lực con người

     


    Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tạo ra nhiều tác động tiêu cực đối với con người và nguồn lực con người. Sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất xã hội do thúc đẩy của cuộc cách mạng này đã dẫn đến một bộ phận xã hội tới trạng thái dư thừa vật chất, tạo nên lối sống thụ động, ỷ lại, xa hoa, lãng phí. Sự khác nhau trong cơ hội tiếp cận những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm sâu sắc hơn tình trạng phân hóa xã hội, gây ra tình trạng bất công, bất bình đẳng, tạo tiền đề cho sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân và lối sống cơ hội, thực dụng, tuyệt đối hóa vật chất, thờ ơ, lãnh cảm với đồng loại. Các chuẩn mực giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống bị đặt vào một thử thách lớn trước sự thay đổi quá nhanh của đời sống xã hội do Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo nên.

    Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng làm mất đi ưu thế tương đối của các nước đang phát triển, chậm phát triển về nguồn nhân công lao động giá rẻ, đẩy các nước này vào tình trạng thừa nhân công lao động phổ thông, thiếu nhân lực chất lượng cao. Tình trạng người lao động thất nghiệp, mất việc làm đặt ra thách thức lớn trong giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội ở các nước đang phát triển, chậm phát triển. Khoảng cách quá lớn giữa yêu cầu của nền sản xuất hiện đại với khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực đẩy một bộ phận người lao động vào tình thế phải chấp nhận những bất công, bất bình đẳng để tham gia thị trường lao động, gây ra nguy cơ về tình trạng bóc lột hiện đại, tạo nên trạng thái “phản phát triển” trong chính quá trình phát triển.

    Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động đến nguồn lực con người

     


    Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động toàn diện đến con người từ tư duy, lối sống, mức sống, đạo đức nhân cách đến tác phong, phong cách lao động. Những đột phá trong nghiên cứu khoa học và công nghệ làm cho con người nhận thức thế giới sâu sắc hơn cả bề rộng lẫn chiều sâu, cả tầm vĩ mô lẫn vi mô. Con người ngày càng đi sâu vào khám phá, hiểu biết hơn về thế giới nhờ khoa học và công nghệ, khắc phục những huyền bí, hư ảo về thế giới khách quan. Mặt khác, cuộc cách mạng này kích thích con người tự giác, tích cực học tập, nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm, khám phá sáng tạo mới để có thể làm chủ và sử dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động thực tiễn, nếu như không muốn tụt hậu, bị động hoặc chất lượng, hiệu quả hoạt động thấp.

    Nhờ ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại, nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, cho phép ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người. Khoa học, công nghệ và nhu cầu của con người có sự tác động biện chứng. Khoa học và công nghệ sáng tạo ra những phương tiện vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu con người, đồng thời nhu cầu con người ngày càng cao đòi hỏi khoa học và công nghệ không ngừng vươn lên những tầm cao mới.

    Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số, công nghệ thông minh làm biến đổi phong cách tư duy của con người. Đó là tư duy nhanh, lô gíc, khoa học, tính chuyên nghiệp trong xây dựng và thực thi kế hoạch, sự gắn kết giữa tri thức với cuộc sống, giữa lý thuyết và thực hành, lý luận và thực tiễn, cũng như chiều hướng vận động của nó trong quá trình chuyển dần sang nền văn minh công nghiệp, văn minh tri thức.

    Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đòi hỏi con người luôn nhạy cảm về chính trị, sự phát triển những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức trên cơ sở giá trị cốt lõi của nó là chân, thiện, mỹ... Trong một xã hội có sự phát triển khoa học và công nghệ mạnh mẽ, con người ngày càng vươn tới sự hoàn thiện về phẩm chất, nhân cách, mở rộng khả năng hòa nhập xã hội, đồng thời sống hài hòa với môi trường tự nhiên. Cách mạng khoa học và công nghệ giúp cho con người đoạn tuyệt được với những dấu vết của sự lạc hậu, cổ hủ, vươn tới những chuẩn mực mới cả về văn hóa, đạo đức và lối sống.

    Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra sự thay đổi mang tính bước ngoặt về vai trò của con người trong hoạt động sản xuất.

     


     Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự tiếp nối liền mạch và bứt phá xu thế của cách mạng công nghiệp lần thứ ba trong việc giải phóng con người ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp, biến họ trở thành những chủ thể sáng tạo thực sự. Với sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, con người sẽ dần được giải phóng khỏi các chức năng thực hiện, chức năng quản lí và cả chức năng logic. Nền kinh tế thật sự là nền kinh tế tri thức - thông minh. Kỷ nguyên rô bốt thông minh sẽ ra đời, hoàn toàn thay thế con người trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mối quan hệ giữa con người và rôbốt, máy móc tiếp tục thay đổi nhanh chóng. Con người trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ là người điều khiển máy móc, mà là “hợp tác” với máy móc, tồn tại “cộng sinh” cùng với máy móc.

    Có thể nói, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mới ở giai đoạn đầu tiên, chưa thể hiện hết những khả năng phát triển, nên những phân tích, khái quát về đặc điểm của nó vẫn chủ yếu mang tính dự báo. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, cuộc cách mạng này sẽ đem đến cho nhân loại những đổi thay chưa từng có cả về quy mô, tính chất và mức độ.

    Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra “môi trường cộng sinh” giữa “thế giới ảo” và “thế giới thực.

     


    Trong các công nghệ mang tính nền tảng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Các lĩnh vực mũi nhọn, đặc trưng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là trí tuệ nhân tạo; công nghệ thông tin, Internet kết nối vạn vật, điện toán đám mây, cơ sở dữ liệu lớn... Nhờ các công nghệ này, hầu hết mọi yếu tố của đời thực đều sẽ được số hóa. “Thế giới ảo” sẽ trở thành nhân tố chi phối không chỉ hoạt động sản xuất mà còn chi phối cả hoạt động sống của con người. Thực chất đây cũng là sự “cộng sinh” giữa trí tuệ sáng tạo của con người và những sản phẩm trí tuệ nhân tạo trên phạm vi rộng lớn và có tính phổ quát. Trong tương lai gần, khi mọi thiết bị đều được xây dựng dựa trên tương tác với môi trường ảo để hoạt động, thì cuộc sống của con người sẽ phụ thuộc một cách trực tiếp với “thế giới ảo”.

    Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy mạnh mẽ sự kết hợp giữa khoa học và công nghệ, giữa các công nghệ với nhau.

     

    Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự tích hợp của nhiều loại hình công nghệ và những thành tựu mới của nhiều lĩnh vực nghiên cứu vật lý, hóa học, sinh học, xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực khoa học này. Bên cạnh việc phát triển chuyên sâu từng lĩnh vực khoa học riêng lẻ, xuất hiện những lý thuyết ngày càng bao trùm hơn của nhiều ngành khoa học khác nhau, dẫn đến làm gia tăng tính liên kết giữa các ngành khoa học nhằm thúc đẩy sự phát triển của sản xuất và tăng tính hiệu quả của quá trình sản xuất. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ xóa nhòa ranh giới giữa khoa học và công nghệ, giữa nghiên cứu và hoạt động sản xuất. Tri thức, thành tựu khoa học - công nghệ, các ý tưởng đổi mới, sáng tạo trở thành động lực chính cho sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, làm cho nền sản xuất ngày càng “thông minh” hơn. Các máy móc, thiết bị thông minh, dây chuyền sản xuất thông minh, hệ thống quản trị thông minh sẽ nhanh chóng ra đời.

    Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tốc độ phát triển và phạm vi ảnh hưởng lớn

     


    So với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tiến triển rất nhanh. Với tốc độ phát triển này, thời gian từ nghiên cứu, phát minh đến ứng dụng vào sản xuất trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ bị rút ngắn tối đa, thậm chí bị xóa nhòa. Trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vòng đời các công nghệ sản xuất ngày càng rút ngắn, do vậy vòng đời các sản phẩm cũng phải rút ngắn theo. Tốc độ phát triển của công nghệ, công nghiệp, của sản xuất, đặc biệt của các lực lượng sản xuất được thể hiện qua vòng đời công nghệ. Vòng đời công nghệ sẽ là một trong những thang đo tốc độ phát triển của công nghiệp và của các lực lượng sản xuất. Vòng đời công nghệ càng rút ngắn, thì tương ứng vòng đời các sản phẩm cũng bị rút ngắn, tốc độ vận động của đời sống xã hội và con người cũng tăng nhanh.

    Về phạm vi ảnh hưởng, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang và sẽ có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi ngành sản xuất ở mọi quốc gia trên thế giới. Nó đang phá vỡ hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia, tạo ra sự thay đổi toàn diện đối với hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị. Cuộc cách mạng này sẽ có những tác động mạnh mẽ, sâu sắc, làm thay đổi căn bản từ phương thức sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, đến chính trị và an ninh thế giới, tổ chức và sinh hoạt xã hội của con người trong từng gia đình, từng quốc gia, tới toàn cầu. Mặt khác, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đồng thời tạo ra những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, nhiều đối tượng xã hội, trên nhiều lĩnh vực.

    Nội dung của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

     


    Nội dung của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất; nhấn mạnh những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy... Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là xu hướng hiện tại của tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất. Nó bao gồm các hệ thống mạng vật lý, mạng Internet kết nối vạn vật và điện toán đám mây.

    Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ là về các máy móc, hệ thống thông minh và được kết nối, mà còn có phạm vi rộng lớn hơn nhiều. Đồng thời là các làn sóng của những đột phá xa hơn trong các lĩnh vực khác nhau từ mã hóa chuỗi gen cho tới công nghệ nano, từ các năng lượng tái tạo tới tính toán lượng tử. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra các nhà máy thông minh hay “nhà máy số”. Trong các nhà máy thông minh này, các hệ thống vật lý không gian ảo sẽ giám sát các quá trình vật lý, tạo ra một bản sao ảo của thế giới vật lý. Với IoT, các hệ thống vật lý không gian ảo này tương tác với nhau và với con người theo thời gian thực, và thông qua IoS thì người dùng sẽ được tham gia vào chuỗi giá trị thông qua việc sử dụng các dịch vụ này. Như vậy, thế giới đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp và đang trong giai đoạn Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nếu như Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là cơ khí hóa với máy chạy bằng thủy lực và hơi nước, thì Cách mạng công nghiệp lần thứ hai sử dụng động cơ điện và dây chuyền lắp đặt, sản xuất hàng loạt, tiếp đến là kỷ nguyên máy tính và tự động hóa trong Cách mạng công nghiệp lần thứ ba, và hiện nay là các hệ thống liên kết thế giới thực và ảo của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

    Có thể tóm lược lại, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự hội tụ của một loạt các công nghệ mới xuất hiện dựa trên nền tảng kết nối và công nghệ số và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Các công nghệ, lĩnh vực mới có thể kể đến như: Internet kết nối vạn vật (IoT); Cơ sở dữ liệu tập trung (Big data); Trí tuệ nhân tạo (AI); Năng lượng tái tạo/Công nghệ sạch (Renewable energy/ Clean tech); Người máy (Robotics); Công nghệ in 3D (3D printing); Vật liệu mới (graphene, skyrmions, bio-plastic,...); Blockchain; Kết nối thực ảo (Virtual/Augmented Reality); Thành phố thông minh (Smart cities); Công nghệ màng mỏng (Fintech); Các nền kinh tế chia sẻ (Shared economics); v.v.

    Khác với các cuộc cách mạng trước đó, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có sự khác biệt rất lớn về tốc độ, phạm vi và sự tác động. Cuộc cách mạng này có tốc độ phát triển và lan truyền nhanh hơn rất nhiều so với trước đó. Phạm vi của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra rộng lớn, bao trùm, trong tất cả các lĩnh vực, không chỉ trong sản xuất chế tạo mà trong cả dịch vụ, bao gồm dịch vụ công. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư dự báo sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trên toàn thế giới, tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, nhà nước, chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân... Do đó, để duy trì lợi thế cạnh tranh, và có thể bắt kịp được các nước tiên tiến, các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đều đang tập trung phát triển và ứng dụng các thành tựu công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cuộc cách mạng lần này tạo cơ hội cho các nước đi sau, tuy nhiên cũng tạo ra nhiều thách thức đối với những nước đi chậm.

    Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng về giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.

     


    Sức mạnh lãnh đạo của Đảng trước hết thể hiện ở đường lối, phương hướng chính trị đúng đắn. Đường lối đó phải là sự kết tinh giữa bản lĩnh chính trị và năng lực, trí tuệ, biểu hiện ở trình độ tư duy lý luận khoa học; sự kết hợp sức mạnh giai cấp công nhân, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đảng phải luôn giữ vững nền tảng tư tưởng của mình là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động.

    Đảng đã có Nghị quyết Trung ương 6 khóa X (năm 2008) về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình giai cấp công nhân qua hơn 20 năm đổi mới, Nghị quyết đã chỉ rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục xây dựng, phát huy vai trò, địa vị của giai cấp công nhân, tạo điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hơn một thập kỷ qua, Nghị quyết Trung ương 6 khóa X vẫn còn nguyên giá trị định hướng, dẫn dắt quá trình tiếp tục xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới.

    Đảng cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương về giai cấp công nhân Việt Nam với các khía canh: Một là, tiếp tục khẳng định địa vị chính trị, kinh tế, xã hội của giai cấp công nhân. Về địa vị chính trị, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; Về địa vị kinh tế, giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; lực lượng đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế; Về xã hội, giai cấp công nhân là lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển; là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hai là, những định hướng lớn về hoạch định và thực thi chính sách giai cấp, chính sách xã hội đối với giai cấp công nhân tạo động lực cho họ phát triển toàn diện, từng bước trưởng thành trở thành giai cấp công nhân hiện đại cùng với tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Ba là, bổ sung, hoàn thiện chủ trương về phát triển các tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, nhất là các tổ chức đại diện với những mục tiêu, nhiệm vụ, cơ chế, chính sách phù hợp, thực sự là “những cánh tay nối dài” giữa Đảng với giai cấp công nhân.