Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

Bộ đội Cụ Hồ - Một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam Tiếp tục khẳng định, phát huy hệ giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ

 

Bộ đội Cụ Hồ là sản phẩm chính trị, đạo đức, văn hóa, mang ý nghĩa nhân dân sâu sắc, được chính nhân dân cảm nhận, đúc kết, khẳng định và truyền tụng, đồng thời có cội nguồn sâu xa từ lịch sử đặc biệt của dân tộc.

Đó là di sản, là sản phẩm, là tài sản tinh thần vô giá chứa đựng những giá trị văn hóa cao đẹp, bền vững, đồng thời mang tính độc đáo của lịch sử dân tộc. Vì vậy, chắc chắn rằng, cùng với những di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được khẳng định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể rất độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại.

Tiếp tục tạo sức sống mới cho hệ giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ

Sự xuất hiện của Bộ đội Cụ Hồ trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta đã trải qua 80 năm. Thời gian đó so với lịch sử dân tộc không dài, song chỉ bằng thời gian đó, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đã đi vào lịch sử, đi vào đời sống đất nước, đi vào lòng dân và đời sống cộng đồng một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn, trở thành một trong những giá trị văn hóa tiêu biểu của thời đại mới.

Những đặc trưng của kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trở thành một hệ giá trị văn hóa thống nhất, được nhân dân xác định, đồng thuận, ngợi ca. 80 năm qua, biết bao thế hệ người mẹ, người cha đã tin tưởng gửi con em mình vào Quân đội để tuổi trẻ trở thành chiến sĩ cách mạng được mang danh hiệu đầy khiêm tốn mà kiêu hãnh, tự hào: Bộ đội Cụ Hồ.

Với ý nghĩa đó, có 3 vấn đề lớn đặt ra trong hiện tại và tương lai, đó là tiếp tục phát huy, phát triển và khẳng định giá trị văn hóa này, để nó có sức sống ngày càng bền vững, trở thành chuẩn mực văn hóa cho các thế hệ chiến sĩ và góp phần làm giàu có, phong phú cho các di sản, tài sản văn hóa của dân tộc ta. Cũng có ý kiến cho rằng, hình tượng, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong hai phần trên cho phép chúng ta khẳng định rằng, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân tộc ta.

Vì vậy, từ cội nguồn dân tộc và nhân dân, nó có sức sống bền vững, phải được bảo vệ, củng cố và phát triển trong thời gian tới. Mặt khác, từ yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới, theo mục tiêu cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, việc tập trung mọi nỗ lực để tiếp tục xây dựng, nuôi dưỡng kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trở nên tất yếu, trở thành một nội dung xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng Quân đội từ nay về sau. Tất nhiên, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ không phải và không thể là sản phẩm tự phát mà cần một sự chuẩn bị và tiến hành công phu, khoa học, kiên trì, sáng tạo không ngừng.

Nuôi dưỡng và xây dựng nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong giai đoạn mới nhằm mục tiêu tạo ra những thế hệ kế tiếp nhau trở thành người quân nhân cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng và bảo vệ nhân dân, góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, tạo khả năng phát triển toàn diện của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trước yêu cầu mới đó, nhiệm vụ tiếp tục phát huy, phát triển kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ phải đồng thời xử lý hai mối quan hệ cơ bản.

Quan hệ lớn bảo đảm sự thống nhất hài hòa giữa yêu cầu chung đối với con người Việt Nam thời kỳ mới và yêu cầu riêng mang tính đặc thù của người chiến sĩ trong tổ chức quân sự. Xử lý biện chứng quan hệ lớn này sẽ tạo được hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, đồng thời chuẩn bị cho sự phát triển phẩm chất công dân theo những đòi hỏi hiện đại, khi người cán bộ, chiến sĩ xuất ngũ. Sự đổi mới toàn diện các lĩnh vực cơ bản trong hoạt động Quân đội, đặc biệt là công tác Đảng, công tác chính trị, tư tưởng-văn hóa trong Quân đội sẽ là chìa khóa giải quyết hiệu quả quan hệ trên.

Quan hệ đặc thù trong bản thân Quân đội, đó là vừa khẳng định những giá trị cốt lõi, cơ bản, dứt khoát không thể thay đổi, vừa sẵn sàng bổ sung, phát triển các nội dung mới cần có, phải có trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Định hướng và xử lý đúng quan hệ đặc thù giúp Quân đội chủ động trong quá trình nuôi dưỡng nhân cách Bộ đội Cụ Hồ, tránh được hai khuynh hướng, hoặc là bảo thủ, cứng nhắc trong ý chí; hoặc là bị động trước tác động ngày càng phức tạp đối với tổ chức Quân đội chắc chắn sẽ tiếp tục xảy ra trong tương lai. Từ quan hệ này, việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa "xây" và "chống" trở thành “vũ khí” hữu hiệu để bảo vệ và phát triển nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới.

Chú trọng “văn hóa hóa” đời sống Quân đội

Con đường và giải pháp cơ bản, bao trùm là: Trên nguyên tắc lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, làm nền tảng, cần chú trọng “văn hóa hóa” toàn bộ đời sống Quân đội.

Văn hóa hóa toàn bộ đời sống Quân đội là nuôi dưỡng và xây dựng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ thành những quân nhân có văn hóa mang phẩm chất, giá trị văn hóa, thành nhu cầu của chính mình; là sự biến đổi mọi lĩnh vực của đời sống quân nhân từ ăn, ở, mặc, huấn luyện, lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi, vui chơi, quan hệ nội bộ và quan hệ với nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi theo các chuẩn mực văn hóa, ngày càng nỗ lực hướng tới chân-thiện-mỹ và sự hoàn thiện của nhân cách Bộ đội Cụ Hồ. Trong đó, cái gốc của văn hóa là tình yêu Tổ quốc, nhân dân, là chủ nghĩa nhân văn, tôn trọng con người dân chủ, công bằng, bình đẳng, minh bạch... tạo lập cho quân nhân một môi trường văn hóa-môi trường sống thực sự lành mạnh, tốt đẹp và phong phú. Ở đó, mỗi quân nhân được thể hiện hết mọi khả năng của mình với sự nỗ lực cao nhất trong tình thương yêu của tập thể, đồng chí, đồng đội.

Văn hóa hóa còn mang ý nghĩa sâu xa, bền chặt hơn là ở quá trình, thông qua toàn bộ hoạt động tư tưởng, chuyển những yêu cầu chính trị cơ bản: Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại thành những văn hóa thấm sâu trong nhân cách cán bộ, chiến sĩ. Có nghĩa là, các yêu cầu trên không dừng lại ở nhận thức lý thuyết khô cứng mà phải được chuyển hóa thành bản lĩnh, tình cảm, thành tố chất bên trong mỗi cán bộ, chiến sĩ. Nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được hình thành, phát triển và dần định hình từ quá trình đó. Truyền thống Bộ đội Cụ Hồ không chỉ của quá khứ mà được hiện thực hóa, phát triển, khẳng định trong hiện tại và tương lai.

Tính bền vững, thấm sâu trong đời sống, trong tình cảm của nhân dân suốt 80 năm là đặc điểm hết sức rõ ràng của hình tượng Bộ đội Cụ Hồ. Có lẽ chưa ở đâu hình tượng đó không chỉ lan tỏa trong đời sống mà còn đi vào văn hóa, văn học, văn nghệ, tạo nên trong lịch sử văn hóa-văn nghệ Việt Nam một dòng chảy mạnh mẽ, hào sảng, trung thực, đầy sức vẫy gọi, cổ vũ con người về hình tượng người chiến sĩ “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” (Lê Anh Xuân), “Đẹp như hoa hồng, cứng như sắt thép” (Nam Hà), “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” (Quang Dũng), “Những cuộc đời đã hóa núi sông ta” (Nguyễn Khoa Điềm)... Hầu như ở tất cả loại hình văn hóa-nghệ thuật Việt Nam suốt 80 năm qua, các nghệ sĩ, chiến sĩ đều dành những tình cảm đẹp và trân trọng nhất cho việc tái hiện hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

Khác với nhiều hình tượng văn học-nghệ thuật do sự sáng tạo thông qua đặc trưng khám phá cuộc sống hình tượng và hư cấu, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ là kết quả của sự đúc kết, tái hiện từ bản thân đời sống, từ nguyên mẫu Bộ đội Cụ Hồ trong hiện thực. Chính những nguyên mẫu đó đã tạo nên cảm xúc, cảm hứng sáng tạo của người chiến sĩ.

Thử nêu vài ví dụ quen thuộc trong sáng tác âm nhạc. Trong 80 năm qua, hàng loạt ca khúc đi cùng năm tháng, sống trong tình cảm sâu lắng của nhân dân đều mang âm hưởng “hành quân” của đoàn quân chiến thắng Bộ đội Cụ Hồ, như: “Cùng nhau đi hồng binh” (Đinh Nhu), “Cảm tử quân” (Hoàng Quý), “Tiến quân ca”, “Chiến sĩ Việt Nam” (Văn Cao), “Vì nhân dân quên mình” (Doãn Quang Khải), “Tiến bước dưới quân kỳ” (Doãn Nho), “Đội cận vệ bất diệt” (giao hưởng Đàm Linh), “Anh vẫn hành quân” (Huy Du), “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” (Huy Thục), “Hành khúc ngày và đêm” (Phan Huỳnh Điểu), “Bước chân trên dải Trường Sơn” (Vũ Trọng Hối), “ Chào anh Giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng” (Hoàng Vân), “Hát mãi khúc quân hành” (Diệp Minh Tuyền)...

Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ xứng đáng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Có thể khẳng định rằng, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ có giá trị kép. Một là, bản thân danh hiệu đó là một giá trị văn hóa quân sự nói riêng và giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại nói chung. Hai là, vẻ đẹp, sức hấp dẫn, lan tỏa của danh hiệu đã tạo ra một giá trị riêng của văn học-nghệ thuật Việt Nam hiện đại: Dòng văn học-nghệ thuật về LLVT và chiến tranh cách mạng mà hình tượng trung tâm là Bộ đội Cụ Hồ. Phải chăng chỉ nước ta mới có được một giá trị kép, gắn kết chặt chẽ với nhau như vậy?

Bộ đội Cụ Hồ là sản phẩm chính trị, đạo đức, văn hóa, mang ý nghĩa nhân dân sâu sắc, được chính nhân dân cảm nhận, đúc kết, khẳng định và truyền tụng, đồng thời có cội nguồn sâu xa từ lịch sử đặc biệt của dân tộc. Đó là di sản, là sản phẩm, là tài sản tinh thần vô giá chứa đựng những giá trị văn hóa cao đẹp, bền vững, đồng thời mang tính độc đáo của lịch sử dân tộc. Vì vậy, chắc chắn rằng, cùng với những di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được khẳng định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể rất độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại.

Danh hiệu cao quý đó không chỉ là di sản của quá khứ mà là tài sản tinh thần của Quân đội ta, hôm nay và mai sau. Trong ý nghĩa đó, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục củng cố, bảo vệ, phát huy và phát triển trong toàn bộ quá trình xây dựng từ nay về sau giá trị Bộ đội Cụ Hồ mà nhân dân, Bác Hồ và Đảng đã trao tặng.

 

Bộ đội Cụ Hồ - Một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại : Những đặc trưng của nhân cách Bộ đội Cụ Hồ

 

Những đặc trưng nổi bật của Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành hành trang quý báu trên hành trình tiến lên, trưởng thành và chiến thắng của lực lượng vũ trang ta. Đó chính là một hệ giá trị văn hóa độc đáo của nền văn hóa Việt Nam hiện đại-nền văn hóa vì con người, gắn kết hài hòa giữa truyền thống, cốt cách Việt Nam và các giá trị hiện đại trong thời kỳ lịch sử mới.

Đặc trưng của nhân cách Bộ đội Cụ Hồ không thể có ngay từ đầu mà phải trải qua một quá trình cực kỳ gian khổ, muôn vàn thử thách, chiến đấu, tôi luyện và trưởng thành, phát triển và định hình trong quá trình đó. Chúng ta vô cùng biết ơn và tự hào về 34 cán bộ, chiến sĩ trong Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22-12-1944 dưới quyền chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp (sau này là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội).

Với chiến công đầu tiên và phẩm chất cách mạng cao đẹp của mình, họ đã đặt nền móng vững chắc đầu tiên xây đắp nên đặc trưng, vẻ đẹp của hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, mà đặc trưng cốt lõi được cô đúc trong lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-1964): “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Lời biểu dương đó chính là sự khái quát đầy đủ bản chất cách mạng của Quân đội ta. 80 năm qua, Quân đội đã thực hiện trọn vẹn sự khẳng định đó của Bác. Trong đó, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ là biểu hiện tập trung nhất các phẩm chất và giá trị chính trị-văn hóa thể hiện trong lời dạy của Bác Hồ.

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, “hiếu với dân” là đặc trưng bao trùm trong toàn bộ hoạt động của bộ đội, của nhân cách và chiều sâu tình cảm của Bộ đội Cụ Hồ. Ngay từ khi mới ra đời, họ đã được nhân dân tin yêu, coi như con em ruột thịt của mình. Tình yêu đó không đơn giản chỉ vì lời thề “không lấy cái kim, sợi chỉ của nhân dân” mà sâu xa hơn, Bộ đội Cụ Hồ sẵn sàng xả thân “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”.

Bộ đội Cụ Hồ là bộ đội của nhân dân vì lý do như vậy. Trong lịch sử 80 năm, mọi chiến công của Quân đội ta đều gắn chặt với sức mạnh của nhân dân và sự đoàn kết quân dân, vì vậy, không một thế lực thù địch nào có thể tách rời Bộ đội Cụ Hồ với nhân dân. “Hiếu với dân” luôn luôn và mãi mãi là lời thề sắt son của Bộ đội Cụ Hồ.

Bộ đội Cụ Hồ là những người chiến sĩ có lòng trung thành vô hạn với Đảng Cộng sản Việt Nam. Trung thành với Đảng đồng nghĩa là trung thành với dân tộc và Tổ quốc Việt Nam. Chính từ sự trung thành đó mà Bộ đội Cụ Hồ nuôi trong mình sự căm ghét mọi kẻ thù xâm lược và các thế lực không tôn trọng độc lập, chủ quyền và sự nghiệp cách mạng của chúng ta, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tử để Tổ quốc quyết sinh tạo nên dáng đứng cao đẹp của người chiến sĩ, của Bộ đội Cụ Hồ có “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”.

Lòng trung thành của Bộ đội Cụ Hồ chính là sự kế thừa truyền thống “Sát thát” giết giặc bằng được, “dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa cũng cam lòng” của những người lính thời Trần.

Vì cùng chung một lý tưởng chiến đấu, đều là con em của nhân dân, gắn bó với nhau trong suốt cuộc đời quân ngũ, chia ngọt sẻ bùi, sống chết có nhau nên Bộ đội Cụ Hồ có một tình đồng đội cao cả. Đồng đội đồng thời cũng là đồng chí. Đây là nét rất đặc thù của Quân đội cách mạng. Nếu như những người lính Việt Nam trước đây coi nhau như “huynh đệ” thì từ năm 1944 đến nay, những người cầm súng Việt Nam đã nâng lên tinh thần đồng đội, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như lúc ra trận.

“Nghĩa tình đồng đội”, “bạn chiến đấu”, “tấm lòng đồng đội”, “tâm tình đồng đội”, “đi tìm đồng đội”... từ lâu đã trở thành những nét đẹp trong đời sống Quân đội và lan tỏa trong cộng đồng người Việt Nam, trở thành một trong những biểu hiện cao nhất của truyền thống đoàn kết, nhân ái của con người Việt Nam.

Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là những người cầm súng thuần túy. Từ khi ra đời, Quân đội ta đã được xác định chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Trong thời chiến, lúc hòa bình, 3 chức năng đó đều được coi trọng. Vì vậy, trải qua 80 năm đấu tranh, xây dựng và trưởng thành, Quân đội ta không những đã chứng tỏ là một đội quân chiến đấu tinh nhuệ mà còn là đội quân công tác tốt, đội quân lao động sản xuất giỏi.

Bộ đội Cụ Hồ luôn luôn có mặt giúp đỡ nhân dân trước mọi thử thách. Hình ảnh thân thương bộ đội về làng, đi dân nhớ, ở dân thương mãi mãi là nét đẹp văn hóa độc đáo lan tỏa trong tình cảm của nhân dân dành cho Bộ đội Cụ Hồ. Rèn luyện trong chiến đấu, đồng thời nâng cao năng lực, trình độ, sức sáng tạo trong lao động sản xuất (sản xuất quốc phòng và sản xuất để góp phần phát triển kinh tế đất nước) là một đặc trưng ngày càng phát triển trong Quân đội ta.

Phải chăng, truyền thống, đặc trưng này có cội nguồn từ thời nhà Trần với chính sách “ngụ binh ư nông” và được phát triển lên một chất lượng cao và mới, góp phần tạo nên tính toàn diện trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ: Gan dạ, dũng cảm gắn với năng lực tự lực, tự cường và sáng tạo.

Một nét đặc trưng tiêu biểu khác của Bộ đội Cụ Hồ, đó là tinh thần, ý thức kỷ luật tự giác rất cao. Trước đây, trong lịch sử, những người lính Việt Nam đã có truyền thống “quân lệnh như sơn”, đến thời nay, Bộ đội Cụ Hồ được rèn luyện tinh thần kỷ luật tự giác bằng 12 điều kỷ luật, bằng việc chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và mệnh lệnh, chỉ thị của các cấp chỉ huy. Nét riêng được nuôi dưỡng trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong suốt 80 năm qua trong việc chấp hành kỷ luật thể hiện rõ nhất là chuyển từ kỷ luật cưỡng bức (ở nhiều quân đội khác) sang kỷ luật tự giác là chủ yếu.

Đó là quá trình rèn luyện rất công phu, mà trước hết và quan trọng nhất là xây dựng trong nhân cách người chiến sĩ lòng tự trọng, coi trọng danh dự là trước hết, trên hết. Tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự trọng danh dự và sự gắn bó, giúp đỡ nhau bằng tình đồng đội tạo nên ý thức tự giác của Bộ đội Cụ Hồ. Vì thế, tính kỷ luật đã trở thành nếp quen và cao hơn trở thành nhu cầu tự thân của người chiến sĩ được tôi luyện trong môi trường Quân đội. Mặt khác, kỷ luật nghiêm minh gắn liền với dân chủ trong chỉ huy, quản lý và tổ chức Quân đội để phát huy tốt nhất những năng lực tiềm ẩn trong người chiến sĩ, giúp họ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Bộ đội Cụ Hồ còn là những người chiến sĩ có tinh thần quốc tế cao cả, bắt nguồn từ truyền thống nhân ái của dân tộc “tắt lửa tối đèn có nhau”, “thương người như thể thương thân”. Mấy chục năm qua, với tinh thần “cứu bạn là tự cứu mình” đầy nhân bản, nhiều thế hệ chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã thành những chiến sĩ quốc tế, những tình nguyện quân vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, chiến đấu bên cạnh nhân dân và chiến đấu chống các thế lực tay sai, phản động, diệt chủng. Ý thức sâu sắc “cứu bạn là tự cứu mình” cùng tinh thần “hạt muối cắn đôi, bát cơm sẻ nửa”, người lính Cụ Hồ đã góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng Quân đội các nước láng giềng anh em.

Nhân dân Campuchia gọi người lính tình nguyện Việt Nam là “lính nhà Phật” thể hiện cực kỳ sâu sắc vẻ đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và tình cảm sâu nặng của người dân Campuchia dành cho Quân tình nguyện Việt Nam. Đó là tình cảm vô cùng đáng quý, thiêng liêng. Những năm gần đây, Bộ đội Cụ Hồ lại có mặt trong đội quân “mũ nồi xanh” của Liên hợp quốc trên các quốc gia còn nhiều khó khăn, xung đột. Tinh thần quốc tế cao cả, vô tư của Bộ đội Cụ Hồ là một nét đẹp văn hóa rất mới trong lịch sử đấu tranh của dân tộc ta, Quân đội ta.

Những đặc trưng nổi bật của Bộ đội Cụ Hồ như trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc Việt Nam, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có tình yêu đồng đội sâu sắc, tinh thần kỷ luật tự giác cao, ham học hỏi, cầu tiến bộ, năng động, sáng tạo trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, vô tư... đã trở thành hành trang quý báu trên hành trình tiến lên, trưởng thành và chiến thắng của lực lượng vũ trang ta. Đó chính là một hệ giá trị văn hóa độc đáo của nền văn hóa Việt Nam hiện đại - nền văn hóa vì con người, gắn kết hài hòa giữa truyền thống, cốt cách Việt Nam và các giá trị hiện đại trong thời kỳ lịch sử mới.

 

Bộ đội Cụ Hồ - Một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại: Cội nguồn lịch sử và văn hóa của kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ

 

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2024) và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2024), Báo Quân đội nhân dân tổ chức diễn đàn với chủ đề “Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ-Xứng đáng Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”.

Thông qua diễn đàn nhằm tập hợp ý kiến rộng rãi của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà văn hóa, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ LLVT và nhân dân về giá trị danh xưng, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ; khơi dậy niềm tự hào và phát huy giá trị cao quý danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc. Diễn đàn là một gợi mở để cơ quan có thẩm quyền xem xét, công nhận danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Để diễn đàn có nội dung phong phú, sâu sắc và lan tỏa rộng rãi trong xã hội, Báo Quân đội nhân dân trân trọng kính mời các chuyên gia, nhà khoa học, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ và cộng tác viên, bạn đọc trong cả nước viết bài tham gia diễn đàn. Bài viết gửi về địa chỉ: Phòng biên tập Văn hóa-Thể thao, Báo Quân đội nhân dân; email: vanhoa@qdnd.vn.

Bộ đội Cụ Hồ - Một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại

Bài 1: Cội nguồn lịch sử và văn hóa của kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ

Kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có cội nguồn sâu xa trong lịch sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân tộc ta. Đó là biểu tượng và đỉnh cao của hình ảnh người lính cầm vũ khí chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc Việt Nam, vì hạnh phúc của nhân dân trong thời đại mới.

Xuất xứ và ý nghĩa tên gọi Bộ đội Cụ Hồ

Trong một hồi ức của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể về xuất xứ của tên gọi Bộ đội Cụ Hồ như sau: “Tôi nhớ rằng từ trong khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc đã trìu mến gọi các đơn vị vũ trang ta là “Bộ đội Ông Ké” hay “Bộ đội Ông Cụ” một cách thân thương, chân thành như tấm lòng của đồng bào đối với lãnh tụ của mình mà nhiều người lúc đó chưa biết tên Bác. Có lẽ, về sau, khi biết tên Người, đó là Bác Hồ, là Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam mới, mọi người đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là Bộ đội Cụ Hồ. Và cũng từ chiến khu Việt Bắc, tên gọi yêu dấu ấy xuất hiện từ khời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp”.

Từ đó đến nay, qua 80 năm chiến đấu và trưởng thành, Bộ đội Cụ Hồ trở thành một danh hiệu cao quý của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hình ảnh và tên gọi Bộ đội Cụ Hồ là một hiện tượng rất độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng. Ít thấy có dân tộc nào trên thế giới mà chính nhân dân lấy tên lãnh tụ tối cao của mình đặt cho Quân đội. Danh hiệu đó thể hiện sâu sắc mối quan hệ khăng khít giữa người chiến sĩ với Bác Hồ và giữa Bác Hồ với người chiến sĩ.

Trước hết, đó là tình cảm, tình yêu và niềm tin sâu xa của quần chúng dành cho LLVT cách mạng. Hiếm có một dân tộc nào mà hình ảnh người lính lại được toàn dân coi đó là một hình mẫu của con người trong thời đại mới, để hết lòng tin yêu, quý trọng, động viên mọi thế hệ con cháu kế tiếp và noi theo gương sáng của Bộ đội Cụ Hồ như dân tộc Việt Nam ta. Đó là một cách gọi rất Việt Nam, vô cùng gần gũi, trìu mến và có lẽ chỉ có ở Việt Nam .

Nhân dân gọi bộ đội là Bộ đội Cụ Hồ chính vì bản thân các thế hệ chiến sĩ Quân đội trải qua 80 năm chiến đấu đã luôn luôn xứng đáng với niềm tin của Người và từ đó hình ảnh người chiến sĩ đã trở thành một mẫu hình cao đẹp, bình dị về con người mới với lý tưởng, đạo đức cao thượng, trong sáng, thực hiện trọn vẹn xuất sắc chỉ thị, niềm tin và những lời căn dặn đầy yêu thương của Bác Hồ.

Ý nghĩa sâu xa hơn, nhân dân ta gọi Bộ đội Cụ Hồ vì Cụ Hồ-tên gọi trìu mến, ấm áp của nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người tiêu biểu cho ý chí đấu tranh bất khuất của nhân dân, là hiện thân của niềm tin và sức mạnh, là người tổ chức và dẫn dắt nhân dân ta đứng lên tự giải phóng, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nhân dân ta gọi Bộ đội Cụ Hồ vì cảm nhận sâu sắc quan hệ đặc biệt hiếm có giữa Bác và Quân đội, Bác và chiến sĩ. Bác là người cha thân yêu của các LLVT nhân dân Việt Nam, là người khai sinh ra Quân đội ta. Bác chăm lo từng bước trưởng thành của Quân đội, giáo dục chiến sĩ, khuyên bảo cán bộ... Nét đẹp hiếm có và có lẽ chỉ có ở Bác, trong tình cảm, đạo đức của Người là sự vô cùng gần gũi, yêu thương bộ đội, tin tưởng ở tinh thần dũng cảm và sáng tạo của bộ đội, thấu hiểu, cảm thông và xúc động trước sức chịu đựng gian khổ, khó khăn, hy sinh của người chiến sĩ... Bác Hồ đã để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn thể bộ đội trước lúc đi xa.

Chỉ có 4 từ “Bộ đội Cụ Hồ”, song đã chứa đựng trong đó một giá trị văn hóa đặc sắc của lịch sử hiện đại Việt Nam, khi mà lý tưởng cách mạng, tấm gương sáng ngời của Bác Hồ hòa quyện và thống nhất tuyệt đối với khát vọng giải phóng, độc lập, tự do của nhân dân, của Quân đội cách mạng do Đảng và Bác sáng lập.

Kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có cội nguồn văn hóa quân sự của dân tộc Việt Nam

Bộ đội Cụ Hồ là sản phẩm của lịch sử hiện đại Việt Nam, song nếu xét từ góc độ truyền thống dân tộc và truyền thống văn hóa nước ta từ hàng nghìn năm trước, thì kiểu mẫu Bộ đội Cụ Hồ còn có nguồn gốc sâu xa hơn, bởi vì, nó không chỉ là sản phẩm của 80 năm qua, mà còn bắt nguồn, nối tiếp và phát triển của kiểu mẫu những người cầm vũ khí, của nghĩa sĩ, nghĩa binh, nghĩa quân đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc cả nghìn năm lịch sử.

Họ đã tự nguyện sung vào Quân đội chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp trong suốt nghìn năm dựng nước, giữ nước, trong một nghìn năm Bắc thuộc, trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm thời phong kiến và trong gần một thế kỷ đô hộ của thực dân Pháp. Họ là những người con ưu tú của dân tộc Việt Nam. Có lẽ giống trong truyền thuyết, Thánh Gióng là người lính đầu tiên trong lịch sử nước nhà cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ và giải phóng quê hương! Gióng đánh quân xâm lược một mình? Không phải! Ai nuôi Gióng từ một cậu bé bỗng lớn lên thành Phù Đổng? Dân làng. Ai rèn đúc vũ khí (ngựa sắt, gươm sắt) cho Gióng? Cơm gạo của dân làng. Gậy sắt bị gãy, vũ khí thay thế cho Gióng là các cụm tre làng. Gióng đã thắng, đuổi quân xâm lược khỏi bờ cõi đất nước, song, đó chính là sức mạnh nhân dân trong Gióng đã làm nên chiến thắng. Hình như có một sự tương đồng kỳ diệu giữa huyền thoại người anh hùng làng Gióng với Quân đội nhân dân của chúng ta hàng nghìn năm sau.

Nói về những nghĩa binh, nghĩa quân của cả nghìn năm lịch sử không thể không kể tới hình ảnh của các nữ binh thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, những nữ binh cưỡi voi xung trận với tinh thần “đền nợ nước, trả thù nhà”, với khí thế “muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi”, đánh đuổi giặc, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, làm nên truyền thống Việt Nam “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Phải chăng, đó là cội nguồn tạo tiền đề đầu tiên cho sự ra đời của các “đội quân tóc dài”, của nữ thanh niên xung phong và nữ chiến sĩ cách mạng sau này?

Nói về những nghĩa binh, nghĩa quân thời xa xưa ấy không thể không nhắc tới những người “cờ lau tập trận” trong đội quân Đinh Bộ Lĩnh thời phục thù dẹp 12 sứ quân năm 967, những người áo vải cờ đào trong khởi nghĩa Tây Sơn (năm 1786) nhằm lập lại nền thống nhất đất nước, chấm dứt cuộc xung đột Nam-Bắc và cuộc Trịnh-Nguyễn phân tranh. Nói về những nghĩa sĩ, nghĩa binh trong lịch sử giữ nước, cần phải nói nhiều hơn đến hình ảnh những người lính đã làm nên chiến công lẫy lừng trên sông Bạch Đằng, sông Cầu, ở bến Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, Xương Giang, Tốt Động, Chúc Động, Rạch Gầm, Xoài Mút, Ngọc Hồi, Đống Đa... Đó là thế hệ những người lính nối tiếp nhau của những thời điểm lịch sử oai hùng với những chiến công lẫm liệt. Đó là hình ảnh của những tráng sĩ mài gươm, những “Hội nghị Diên Hồng”, những cuộc dấy binh “Lam Sơn tụ nghĩa”, là tiếng hô “Sát Thát”, là tiếng thơ sang sảng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, là lời “Hịch tướng sĩ” đầy sức động viên, vẫy gọi khí thế chiến đấu. Họ bất tử trong lịch sử và đi vào những tác phẩm văn hóa bất hủ: Sông núi nước Nam (thơ thời Lý Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bình ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu), Phú núi Chí Linh (Nguyễn Mộng Tuân), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Ai Tư Vãn (Lê Ngọc Hân) và thơ của Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung...

Di sản tinh thần quý giá trên để lại cho các thế hệ sau, đặc biệt từ khi có Đảng và Bác Hồ, một truyền thống bền vững, đó là lòng yêu nước, ý chí bất khuất, quật cường, đồng thời đó còn là phẩm giá đạo đức tuyệt vời của người lính “Phụ tử chi binh” của thời Trần, “Huynh đệ chí binh” của thời Lê, thời Tây Sơn. Các giá trị truyền thống trên là cơ sở, là cội nguồn lịch sử để sau này chúng ta xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì Tổ quốc sẵn sàng hy sinh.

Ở đây, trong cảm nhận về vẻ đẹp độc đáo của người lính Việt Nam, từ nghĩa binh, nghĩa quân đến Bộ đội Cụ Hồ là một dòng chảy lịch sử không đứt đoạn. Ví như, tinh thần quân và dân như cá với nước, nghĩa tình đồng đội, đồng chí thương yêu nhau như ruột thịt phải chăng đã bắt nguồn từ thời “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” có từ thời khởi nghĩa Lam Sơn!

Từ sự phân tích, cảm nhận trên cho phép chúng ta khẳng định rằng, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có cội nguồn sâu xa trong lịch sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân tộc ta. Đó là biểu tượng và đỉnh cao của hình ảnh người lính cầm vũ khí chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc Việt Nam, vì hạnh phúc của nhân dân trong thời đại mới.

(Còn nữa)

 

Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ - Biểu tượng văn hóa quân sự thời đại Hồ Chí Minh - Bài 1: Bộ đội Cụ Hồ - một biểu tượng văn hóa cơ bản của văn hóa Việt Nam sau 1945

 Đất nước ta nửa cuối thế kỷ 20 trải qua hai cuộc kháng chiến cực kỳ ác liệt chống kẻ thù xâm lược. Lịch sử trao cho bộ đội sứ mệnh đứng ở vị trí tuyến đầu đuổi giặc để giành lại hòa bình, độc lập, tự do. Từ góc nhìn lý thuyết nào thì Bộ đội Cụ Hồ cũng là một biểu tượng văn hóa trung tâm của thời đại. Là nhân tố góp phần cơ bản, chủ yếu kiến tạo nên thời đại anh hùng, Bộ đội Cụ Hồ là biểu tượng văn hóa đích đáng cho thời đại anh hùng.

Biểu tượng văn hóa là thành tố cơ bản, là gương mặt văn hóa

Để thuận lợi cho giao tiếp trong cuộc sống luôn vô cùng đa dạng, phong phú, phức tạp, con người mượn sự vật, hiện tượng làm ký hiệu, gửi vào đó những quy ước chung. Theo thời gian, nhờ được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, ký hiệu lắng đọng, kết thành biểu tượng. Bước vào thời toàn cầu hóa, nhu cầu giao lưu, trao đổi ngày càng trở nên cấp thiết, biểu tượng văn hóa trở thành cầu nối giữa các quốc gia.

Hiểu theo nghĩa Hán Việt, “biểu” là dấu hiệu, ký hiệu; “tượng” là hình tượng. “Biểu tượng” là ký hiệu chứa đựng một hoặc nhiều ý nghĩa. Tiếng Anh gọi là “symbol”, có gốc từ tiếng La Mã (symbolus) và tiếng Hy Lạp (symbolon), có nghĩa nguyên thủy là “một nhóm người đồng ý sự vật, hình ảnh ấy có nhiều hơn một ý nghĩa của chính nó”. Tức nội dung ý nghĩa luôn lớn hơn cái vỏ hình thức biểu tượng.

Mỗi dân tộc đều có một hệ biểu tượng tiêu biểu, như là “cửa ngõ” mời gọi thế giới bước vào một không gian văn hóa khác lạ để thưởng thức, chiêm ngưỡng. Vì thế, giải mã văn hóa là giải mã biểu tượng, phải hiểu biểu tượng theo hướng triết học, đi tìm cội nguồn phát sinh, bản chất, ảnh hưởng trong đời sống hôm qua và hôm nay.

Có những biểu tượng riêng của từng nơi nhưng cũng có biểu tượng mang tính phổ quát chung, như hoa hồng là biểu tượng của tình yêu, chim bồ câu biểu tượng cho hòa bình... Biểu tượng luôn mang màu sắc biểu cảm sâu đậm. Nghe một điệu hát ru, ta nôn nao nhớ về quá khứ truyền thống ngàn năm ân tình, ân nghĩa. Nhìn màu cờ đỏ, nghe âm thanh của bài Quốc ca trước một trận đấu thể thao, trong ta dâng lên niềm tự hào dân tộc khó tả... Là sự kết tinh các giá trị mang bản sắc văn hóa nên biểu tượng mang tính thông điệp rất rõ.

Luôn bao chứa lượng tri thức văn hóa sâu rộng, có tính cộng đồng cao nên biểu tượng là “căn cước văn hóa” của mỗi dân tộc, tồn tại ở hai dạng: Những cái nhìn thấy hoặc có thể cầm nắm được, thuộc văn hóa vật thể và những biểu tượng trừu tượng (lòng yêu nước, yêu thiên nhiên...), thuộc văn hóa phi vật thể. Là thành tố cơ bản, là hạt nhân của văn hóa nên tìm hiểu, nghiên cứu biểu tượng sẽ thấy được một cách toàn vẹn, trung thực, rõ ràng hơn bản sắc văn hóa. Thế giới biết và hiểu Việt Nam hơn qua biểu tượng nón lá, áo dài, qua mái đình làng, qua cây đa cổ thụ... Vì thế, nghiên cứu văn hóa không thể không nghiên cứu biểu tượng.

Bộ đội Cụ Hồ - một biểu tượng văn hóa trung tâm của thời đại

Biểu tượng luôn đa nghĩa nhưng có hai loại nghĩa cơ bản, nhiều trường phái gọi là biểu hình (visible sign) và biểu ý (idea). Ký hiệu học gọi là cái biểu đạt, tức hình thức tồn tại dưới dạng các sự vật, hiện tượng và cái được biểu đạt là các nội dung mang tính giá trị, chuẩn mực văn hóa. Đất nước ta nửa cuối thế kỷ 20 trải qua hai cuộc kháng chiến cực kỳ ác liệt chống kẻ thù xâm lược. Lịch sử trao cho bộ đội sứ mệnh đứng ở vị trí tuyến đầu đuổi giặc để giành lại hòa bình, độc lập, tự do. Từ góc nhìn lý thuyết nào thì Bộ đội Cụ Hồ cũng là một biểu tượng văn hóa trung tâm của thời đại. Điều đó được thể hiện ở những nội dung sau.

Một là: Bộ đội Cụ Hồ - sự kế thừa xứng đáng truyền thống lịch sử anh hùng.

Tự thân biểu tượng luôn mang một chiều sâu văn hóa, theo thời gian được bồi đắp, tích lũy thêm các lớp mã ý nghĩa mới. Là hạt giống của cây văn hóa cổ xưa gieo vào mảnh đất đương đại, nảy mầm, lớn lên cho hoa quả ý nghĩa mới, do vậy biểu tượng luôn mang tính truyền thống. Giải mã biểu tượng cũng là một cách tìm về truyền thống. Không am hiểu sâu sắc “mẫu gốc” và hoàn cảnh lịch sử văn hóa, không tri giác tường tận mảnh đất đương đại, khó có thể kiến tạo ra biểu tượng mới.

Dễ chứng minh trong hình tượng Bộ đội Cụ Hồ là sự kế thừa hình tượng Thánh Gióng, Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền cho đến người lính trong “Sông núi nước Nam...” (tương truyền của Lý Thường Kiệt), “Hịch tướng sĩ” (Hưng Đạo Vương), “Cáo bình Ngô” (Nguyễn Trãi), đến hình tượng người nghĩa sĩ của Nguyễn Đình Chiểu... Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì thế hệ những người lính lại lên đường đuổi giặc bằng mọi thứ vũ khí và luôn chiến thắng kẻ thù một cách vẻ vang nhất.

Theo hướng nghiên cứu liên văn hóa (intercultural), nhiều nghiên cứu lịch sử quân sự thế giới lý giải sức mạnh của Quân đội Việt Nam trước nay được thể hiện trong mã văn hóa “ngụ binh ư nông” rất riêng. Khi hòa bình thì binh lính về làm ruộng, khi có chiến tranh thì toàn dân làm lính nên đặc trưng của Quân đội là rất linh hoạt, nhanh gọn, cơ động, có thể tác chiến trên mọi địa hình, thời tiết, hoàn cảnh, lại có thể tự nuôi mình... Sống trong dân, từ dân mà ra nên khi cầm vũ khí giữ nước, người lính được tiếp sức mạnh từ dân, từ bầu khí quyển, từ mảnh đất văn hóa họ sống.

Đặc trưng ấy được kết tinh và phát huy cao độ ở thời hiện đại nên Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, vì dân, được Đảng lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện nên đã vượt qua những chướng ngại tưởng chừng không thể. Trên thế giới hiếm có đội quân nào đạt được những chiến công như thế!

Học tập, kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao tinh hoa văn hóa quân sự cha ông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần Thánh Gióng, 80 năm qua, Bộ đội Cụ Hồ đã viết tiếp những trang sử mới mang tầm thời đại, xứng đáng với truyền thống anh hùng.

Hai là: Bộ đội Cụ Hồ - hiện thân của bản sắc văn hóa Việt Nam yêu nước, hòa bình, hữu nghị.

Vượt qua mọi vất vả, hy sinh “mưa dầm cơm vắt”, “máu trộn bùn non”, Bộ đội Cụ Hồ đã làm nên một Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Tiếp đó, Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành “Thạch Sanh của thế kỷ 20” chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược Mỹ hung bạo, thiện chiến.

Không những vậy, Bộ đội Cụ Hồ đã tình nguyện làm nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia hồi sinh, thoát khỏi nạn diệt chủng man rợ, được nhân dân xứ sở chùa tháp gọi là “đội quân nhà Phật”. Trong lịch sử quân sự thế giới, hiếm thấy một đội quân nào anh dũng, yêu nước, nhân văn cao cả, được nhân dân tin tưởng tuyệt đối như vậy!

Ba là: Bộ đội Cụ Hồ - biểu tượng cho chân lý, sức mạnh, bản lĩnh thời đại.

Nhà thơ Tố Hữu diễn đạt tinh tế bằng thơ về sứ mệnh vinh quang, thiêng liêng cao cả của Bộ đội Cụ Hồ: “Nếu được làm hạt giống để mùa sau/ Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa/ Vui gì hơn làm người lính đi đầu/ Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa!” (Chào xuân 67).

Thế giới có câu chuyện nổi tiếng về chàng Đan-kô móc trái tim mình làm ngọn đuốc soi đường cho đoàn người đi về phía tự do, hạnh phúc. Bộ đội Cụ Hồ cũng vậy, họ đã mang tuổi xuân đẹp nhất của mình cống hiến cho Tổ quốc. Thế nên Bộ đội Cụ Hồ mang tầm vóc vũ trụ: “Anh đi, xuôi ngược tung hoành/ Bước dài như gió, lay thành chuyển non/ Mái chèo một chiếc xuồng con/ Mà sông nước dậy sóng cồn đại dương!” (Tố Hữu - "Tiếng hát sang xuân").

Kẻ thù phi nghĩa muốn đốt cả dân tộc ta thành tro bụi, nhờ có Bộ đội Cụ Hồ mà “ta hóa vàng nhân phẩm, lương tâm”. Bọn cướp nước muốn ta “bán mình ô nhục”. Nhờ có Bộ đội Cụ Hồ, đất nước mình “làm sen thơm ngát” (ý thơ Tố Hữu trong “Việt Nam, máu và hoa”). Một hình tượng đẹp, lớn lao, kỳ vĩ như thế xứng đáng là một biểu tượng trung tâm của thời đại!

Là nhân tố góp phần cơ bản, chủ yếu kiến tạo nên thời đại anh hùng, Bộ đội Cụ Hồ là biểu tượng văn hóa đích đáng cho thời đại anh hùng. Đó là chân lý và cũng là đạo lý!

(còn nữa)

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÚ TRỌNG NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ NỀN TẢNG TRONG LĨNH VỰC TUYÊN GIÁO!

     Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa đề nghị toàn ngành tuyên giáo chú trọng nghiên cứu các vấn đề có tính chất nền tảng, bao quát, lâu dài trong lĩnh vực tuyên giáo!

Sáng 8/7, tại thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lĩnh vực công tác tuyên giáo 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024.

Ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, chủ trì và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Cùng dự có đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo các Đảng ủy trực thuộc Trung ương; Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành ủy, tổ chức chính trị xã hội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam...

Phát biểu tại Hội nghị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa đề nghị toàn ngành tuyên giáo tiếp tục phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, quyết tâm vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra, tập trung thực hiện một số vấn đề trọng tâm, trọng điểm.

Cụ thể là làm tốt công tác tham mưu cấp ủy xây dựng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng trên lĩnh vực xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và công tác tuyên giáo, trong đó, chú trọng nghiên cứu các vấn đề có tính chất nền tảng, bao quát, lâu dài trong lĩnh vực tuyên giáo.

Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa yêu cầu ngành tuyên giáo triển khai xây dựng các đề án sơ kết, tổng kết nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp ban hành văn bản mới để lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và công tác tuyên giáo.

Ngành tuyên giáo chủ động, kịp thời nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời định hướng xử lý các vấn đề phức tạp, nhạy cảm phát sinh; đồng thời, nâng cao năng lực dự báo, tăng cường giám sát chặt chẽ không gian mạng, chủ động phát hiện, gỡ bỏ các trang thông tin điện tử, tài khoản mạng xã hội đăng tải thông tin xấu độc, sai sự thật.

Cùng với đó là phối hợp xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân, lợi dụng sự kiện chính trị, lịch sử, tình hình phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; khẩn trương xây dựng hướng dẫn thực hiện Quy định 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị toàn ngành tuyên giáo tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn, đôn đốc việc triển khai các lĩnh vực công tác tuyên giáo; lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng các hoạt động báo chí, xuất bản, phát huy vai trò cơ quan báo chí, xuất bản trong thông tin tích cực, truyền thông chính sách, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch.

Đồng thời sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo Quy định số 137-QĐ/TW, ngày 1/12/2023 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương và Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương tiến tới thống nhất trong toàn ngành tuyên giáo.

Trong 6 tháng đầu năm 2024, toàn ngành tuyên giáo đã tập trung tham mưu, giúp việc Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, góp phần nâng cao nhận thức, hành động trong hệ thống chính trị về vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của lĩnh vực này đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay và đạt được kết quả khá toàn diện trên các mặt.

Tại Hội nghị, các đại biểu cũng thẳng thắn nhìn nhận bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên giáo còn một số vấn đề cần quan tâm. Trong đó, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và khoa giáo triển khai bước đầu tại một số địa phương còn lúng túng, hiệu quả chưa cao. Chưa có nhiều bài viết sắc bén, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Công tác nắm bắt, dự báo tình hình tư tưởng, dư luận xã hội có lúc, có nơi chưa chủ động, chưa nhanh nhạy, chưa bám sát thực tiễn.

Việc tham mưu, đề xuất, định hướng thông tin tuyên truyền một số vấn đề, vụ việc nhạy cảm đôi khi còn chậm, thiếu tính chủ động, nhạy bén.

Vấn đề vi phạm đạo đức, tôn chỉ, mục đích trong hoạt động báo chí chưa được khắc phục triệt để.

Chưa thực hiện thống nhất, đồng bộ về số lượng phòng và tên phòng chuyên môn của ban tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy...

Các đại biểu đã trao đổi, thảo luận và thống nhất, thời gian qua, công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, đạo đức đã có những chuyển biến tích cực, đạt được kết quả khá toàn diện.

Nổi bật là Ban Tuyên giáo Trung ương tham mưu Bộ Chính trị ban hành Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9/5/2024 “Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.”

Nội dung quy định ngắn gọn, chứa đựng nhiều nội hàm, tiêu chí mới, thể hiện toàn diện phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên.

Quy định được ban hành kịp thời, có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá rất cao.

Mặt khác, toàn ngành triển khai đồng bộ, toàn diện với nhiều đổi mới về nội dung và phương thức; xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm để tập trung chỉ đạo, định hướng, triển khai, qua đó, đạt kết quả nổi bật trên các mặt chỉ đạo, định hướng kịp thời, hiệu quả công tác tuyên truyền, báo chí-xuất bản, thông tin đối ngoại, nắm bắt dư luận xã hội, nhất là những vấn đề, sự kiện chính trị quan trọng trong nước và quốc tế; bảo đảm giữ vững kỷ luật thông tin, có trọng tâm, trọng điểm, nội dung, liều lượng hợp lý, phù hợp.

Công tác văn hóa, văn nghệ, khoa giáo tiếp tục được đổi mới theo hướng bám sát thực tiễn, triển khai đồng bộ, toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ban Tuyên giáo Trung ương tiếp tục tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp và trực tiếp tổ chức thành công nhiều hội nghị, sự kiện lớn, tạo dấu ấn và sức lan tỏa rộng; tham mưu, chỉ đạo, phối hợp tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước và ngày sinh các đồng chí lãnh đạo tiền bối, tiêu biểu, nhiều hoạt động, sự kiện quan trọng, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong xã hội./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÍNH PHỦ THỐNG NHẤT 3 NỘI DUNG VỀ SỬA ĐỔI LUẬT SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM!

         Chính phủ vừa ban hành nghị quyết về đồng ý với đề xuất của Bộ Quốc phòng trong xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam!

Theo đó, Chính phủ đánh giá cao việc Bộ Quốc phòng đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan lập đề nghị xây dựng luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Chính phủ cơ bản thống nhất 3 vấn đề của đề nghị sửa đổi Luật Sĩ quan QĐND Việt Nam.
Thứ nhất, đánh giá tác động kỹ lưỡng, thuyết minh rõ về sự cần thiết bổ sung chức vụ của sĩ quan là cấp phó vào hệ thống chức vụ cơ bản của sĩ quan quân đội; quy định chức vụ, chức danh tương đương đối với cấp phó và sĩ quan không giữ chức vụ chỉ huy.

Thứ hai, về chính sách nâng hạn tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan QĐND Việt Nam, cần tính đến các trường hợp nhân tài đặc biệt được kéo dài hạn tuổi phục vụ nhằm tránh lãng phí nguôn nhân lực đã được đào tạo và có nhiều kinh nghiệm; đồng thời tiếp tục nghiên cứu các chính sách thu hút, “giữ chân” nhân tài phù hợp với đặc thù của QĐND Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển quốc phòng, an ninh, đồng thời bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Thứ ba, một số nội dung liên quan đến chế độ, chính sách đối với sĩ quan như phong quân hàm của học viên tốt nghiệp đào tạo sĩ quan dự bị, chính sách về nhà ở, tiền lương, thôi phục vụ tại ngũ. Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động chính sách theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm đồng bộ với pháp luật có liên quan như nhà ở, đất đai…

Chính phủ giao Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật gửi Bộ Tư pháp; giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung luật này vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024 của Quốc hội (xây dựng dự án Luật theo trình tự, thủ tục rút gọn, trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV sẽ diễn ra tháng 10-2024./.
Môi trường ST.

TRỊ TẬN GỐC TỆ NHŨNG NHIỄU!

     Hiện tượng cán bộ, công chức nhũng nhiễu, vòi vĩnh trong thực thi công vụ, gây bức xúc trong dư luận tồn tại bấy lâu không chỉ làm mất niềm tin của nhân dân vào bộ máy hành chính nhà nước, ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo của Đảng mà còn làm mất cơ hội sản xuất, kinh doanh và làm giàu của người dân, doanh nghiệp!

Đây là lực cản vô hình, ngăn trở tiến trình phát triển đất nước phồn vinh và hạnh phúc, cần phải triệt xóa tận gốc.

1. Trước hết phải khẳng định rằng, cho đến nay, thực hiện chủ trương phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cải cách hành chính bằng các giải pháp, biện pháp cụ thể, hiệu quả từ trung ương xuống địa phương, tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp, người dân của một bộ phận cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn thoái hóa, biến chất đã có những chuyển biến rõ nét, góp phần xây dựng bộ máy hành chính nhà nước làm việc khách quan, công tâm, công bằng.

Những quy định về tổ chức vận hành trung tâm hành chính công cấp tỉnh, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện, cấp xã…, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ hành chính công liên thông đạt đến mức độ 4, đã giúp đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp một cách nhanh chóng, tiện lợi. Kết quả này được tổng hợp, báo cáo và Chính phủ theo tiến trình, đã công khai số liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thật mừng khi nhìn vào thực tế ấy. Càng mừng hơn khi hàng nghìn “giấy phép con”, văn bản chồng chéo ẩn chứa “quyền anh”, “quyền tôi” và lợi ích nhóm đã bị xóa bỏ, tạo ra sự thông thoáng trong thực thi pháp luật, củng cố niềm tin của nhân dân.

Ấy thế nhưng, khi tìm hiểu sâu thực tế thì ở góc khuất nào đó, tình trạng nhũng nhiễu, vòi vĩnh, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp vẫn hiện hữu, dưới nhiều trạng thái, sự việc khác nhau. Vẫn còn những người dân, doanh nghiệp khi đến cơ quan hành chính để thực hiện thủ tục, hồ sơ theo quy định bị “hành”, gây khó dễ vì những lý do khác nhau.

Có thể kể đến việc chính quyền phường Trường Thi (thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) mới đây đã đưa ra xử lý 1 cán bộ về hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân hay nhiều hành vi nhũng nhiễu, đòi chung chi trong giải quyết các vấn đề về quyền sử dụng đất, tranh chấp tài sản, xử lý đối tượng vi phạm pháp luật... khác, đã bị đưa ra ánh sáng thời gian vừa qua, cho thấy hiện tượng nhũng nhiễu, vòi vĩnh vẫn đang hiện hữu một cách đáng lo ngại trong đời sống.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới những hiện tượng trên. Nguyên nhân trực tiếp là do cán bộ phụ trách còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân, cậy quyền, cậy thế. Họ dùng quyền, vị trí công tác để kiếm chác từ chính công việc được phân công phụ trách. Nguyên nhân nữa là do thói quen nhờ vả, thích chạy cửa sau của một bộ phận trong xã hội, đã vô tình kích thích lòng tham, khiến một số người không giữ được sự liêm khiết, chính trực. Bên cạnh đó là sự quản lý lỏng lẻo cả về nghiệp vụ, đạo đức của cơ quan chủ quản, không xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Ngoài ra còn có nguyên nhân từ nhiều thủ tục hành chính chưa được cắt giảm. Ví dụ, để có chức năng thực hiện hoạt động đo đạc khảo sát xây dựng theo quy định của pháp luật thì chủ doanh nghiệp cùng lúc phải xin 2 giấy phép ở 2 cơ quan khác nhau. Một là phải có “chứng chỉ năng lực tổ chức khảo sát xây dựng” do Bộ Xây dựng hoặc sở xây dựng các tỉnh cấp. Hai là phải được Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cấp giấy phép, dẫn đến nhiều phiền hà, rắc rối cho đơn vị cần cấp phép.

2. Để trị tận gốc hiện tượng cán bộ cửa quyền, gây phiền hà, sách nhiễu thì giải pháp tốt nhất là các cơ quan chức năng và các địa phương cần thường xuyên rà soát hệ thống văn bản pháp luật, loại bỏ sự chồng chéo trong cấp phép, tạo sự thông thoáng cho người dân và doanh nghiệp.

Cơ quan chức năng cần thúc đẩy và mở rộng dân chủ trong giám sát cán bộ, công chức thực thi công vụ; kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật với những trường hợp, cá nhân có biểu hiện sách nhiễu, vòi vĩnh trong thực thi công vụ. Cấp ủy Đảng các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên phụ trách mảng công tác dễ phát sinh tiêu cực, nhằm ngăn ngừa hiện tượng thông đồng trong thực thi công vụ để trục lợi.

Các cơ quan, đơn vị, địa phương cần thực hiện nghiêm Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18-9-2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức và Nghị định số 71/2023/NĐ-CP ngày 20-9-2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2020/NĐ-CP về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm dân chủ, khách quan, kịp thời và công bằng khi phát hiện ra những trường hợp cán bộ, công chức, viên chức sách nhiễu, vòi vĩnh.

Sách nhiễu, vòi vĩnh đòi “bôi trơn”, đòi “chia lợi ích” là những hành vi trái với tinh thần phục vụ, lấy người dân và doanh nghiệp là chủ thể để phục vụ. Các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tăng cường hơn nữa sự giám sát của nhân dân, lắng nghe góp ý của nhân dân để loại bỏ triệt để các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu. Chỉ khi tiến hành thực thi công vụ công khai, minh bạch thì các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu mới thực sự bị triệt tiêu, không còn đất sống./.
Yêu nước ST.

Bản chất của công nghiệp lần thứ tư

 


Bản chất của công nghiệp lần thứ tư là sự hình thành của thế giới số, vốn dĩ là sự phản ảnh sinh động, tồn tại song song với thế giới vật lý. Sự kết nối giữa hai thế giới vật lý và thế giới số tạo ra những tác động “mang tính cách mạng” trên mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của loài người. Số hóa và dữ liệu hóa ngày nay không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp mà làm thay đổi một cách căn bản mô hình kinh doanh của doanh nghiệp. Trong thời đại của công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa trở nên sâu sắc hơn, sự thay đổi diễn ra với phạm vi, cường độ và tốc độ lớn hơn và khó dự báo hơn, các ngành công nghiệp được định hình lại xoay quanh các nhu cầu của con người, vì lợi ích và vì mục tiêu tối thượng là hạnh phúc của con người.

Công nghệ số, công nghệ sinh học và vật lý là ba nền tảng chủ đạo tạo nên cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số trong cuộc cách mạng này sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data). Trên lĩnh vực công nghệ sinh học, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tập trung vào nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong Nông nghiệp, Thủy sản, Y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu. Lĩnh vực Vật lý với thành tựu chủ yếu là robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions…) và công nghệ nano. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của các nhà máy thông minh. Trong các nhà máy này, các hệ thống vật lý không gian ảo sẽ giám sát các quá trình vật lý, tạo ra một bản sao ảo của thế giới vật lý. Với Internet của vạn vật, các hệ thống vật lý không gian ảo này tương tác với nhau và với con người theo thời gian thực, và thông qua Internet của các dịch vụ thì người dùng sẽ được tham gia vào chuỗi giá trị thông qua việc sử dụng các dịch vụ này.

 Có thể nói, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ tạo ra “môi trường cộng sinh” giữa người và robot mà còn tạo ra “môi trường cộng sinh” giữa thế giới ảo và thế giới thực. So sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển với tốc độ ở cấp số nhân chứ không phải cấp số cộng. Hơn nữa, nó đang làm biến đổi mọi nền công nghiệp ở mọi quốc gia. Bề rộng và chiều sâu của những thay đổi này tạo nên sự biến đổi của toàn bộ các hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị.

 

Lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp

 


Cho đến nay, nhân loại đã và đang trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp:

 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất được đánh dấu bằng sự ra đời của động cơ hơi nước do James Watt phát minh ra lần đầu tiên vào năm 1784. Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại - kỷ nguyên sản xuất cơ khí, cơ giới hóa. Nó khiến lực lượng sản xuất được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, tạo nên bước phát triển vượt bậc của nền công nghiệp và nền kinh tế. Nhờ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa có sự phát triển nhanh chóng và có quy mô ngày càng lớn. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen từng nói: “Trong chưa đầy một thế kỷ, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực lượng sản xuất nhiều hơn toàn bộ lực lượng sản xuất của loài người đã tạo ra trước đó”[1].

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai bắt đầu năm 1870, đánh dấu bằng việc chế tạo ra động cơ điện và sử dụng năng lượng điện trong sản xuất và đời sống. Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần này là việc sử dụng năng lượng điện và sự ra đời của các dây chuyền sản xuất hàng loạt trên quy mô lớn. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra khi có sự phát triển của ngành điện, vận tải, hóa học, sản xuất thép, đặc biệt là sản xuất và tiêu dùng hàng loạt.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba xuất hiện vào khoảng từ năm 1969, với sự ra đời và lan tỏa của công nghệ thông tin, sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất.

Cuộc cách mạng này thường được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính, máy tính cá nhân và Internet.

Cách mạng công nghiệp lần thứ ba đưa tới cho nhân loại nền sản xuất tự động, tạo điều kiện tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội, đồng thời kéo theo sự thay đổi cơ cấu của nền sản xuất xã hội.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (ra đời và phát triển trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba). Khái niệm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (hay cách mạng công nghiệp 4.0) xuất phát từ khái niệm “Industrie 4.0” được sử dụng lần đầu vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover.[2] 5 năm sau, tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) lần thứ 46 tổ chức ở Davos, Thụy Sỹ, ngày 20/1/2016, với sự có mặt của 40 nguyên thủ quốc gia và hơn 2.500 quan khách từ hơn 100 nước trên thế giới với chủ đề “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã đưa ra một định nghĩa mới, mở rộng hơn khái niệm Công nghiệp 4.0 của Đức đồng thời khẳng định: Nhân loại đang đứng trước một cuộc cách mạng công nghiệp mới, có thể thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống, làm việc và quan hệ với nhau. Quy mô, phạm vi và sự phức tạp của lần chuyển đổi này không giống như bất kỳ điều gì mà loài người đã từng trải qua.

Đến đây nội hàm khái niệm Cách mạng mạng công nghiệp lần thứ 4 chính thức được nhận diện. Công nghiệp 4.0 đã vượt ra khỏi khuôn khổ dự án của Đức với sự tham gia của nhiều nước và trở thành một phần quan trọng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Từ đó đến nay, nhiều nghiên cứu cho rằng thế giới đang bước sang một cuộc cách mạng mới - “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ra đời khi công nghệ đạt được những bước phát triển vượt bậc, có sự kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đưa đến cho nhân loại nền sản xuất thông minh, được dự báo sẽ tạo ra sự biến đổi mạnh mẽ về lực lượng sản xuất và cách thức tổ chức sản xuất của con người.

 



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 4,“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.603.

[2] Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có trong lịch sử từ năm 2011, thuật ngữ “cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đã được đề cập và sử dụng phổ biến trên toàn thế giới. Khái niệm “công nghiệp 4.0” (industry 4.0) hay nhà máy thông minh lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ công nghiệp Hannover (Cộng hòa Liên bang Đức) vào năm 2011. Năm 2013, thuật ngữ công nghiệp 4.0 bắt đầu được tìm hiểu và tìm kiếm rộng rãi xuất phát từ một báo cáo của Chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Tại Diễn đàn kinh tế thế giới lần thứ 46 ở thành phố Davos-Klosters, Thụy Sĩ (tháng 01/2016) với chủ đề “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, Giáo sư Klaus Schwab - Chủ tịch Diễn đàn kinh tế thế giới đã đưa ra một khái niệm mới, mang tính phổ quát hơn: “Một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với hệ thống vật lý không gian ảo, internet kết nối vạn vật (IoT) và internet các dịch vụ (IoS).

Ý nghĩa nghiên cứu những biến đổi của thời đại trong giai đoạn hiện nay đối với Quân đội nhân dân Việt Nam

 


Nghiên cứu những biến đổi của thời đại trong giai đoạn hiện nay là cơ sở để nâng cao nhận thức lý luận cho cán bộ, chiến sĩ về thời đại hiện nay, những yếu tố đã và đang tác động đến công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; là cơ sở để mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nâng cao kỹ năng tư duy chính trị, khả năng nhận định, đánh giá về tình hình thời đại, thời cuộc…, từ đó củng cố lập trường giai cấp công nhân, tin tưởng vào sự tất thắng của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc nắm vững những vấn đề lý luận về thời đại là cơ sở để mọi cán bộ, chiến sĩ hiểu được cơ sở khoa học tất yếu của sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta.

Vì vậy, quân đội phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, phòng chống có hiệu quả “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, ổn định của đất nước. Đồng thời, Quân đội ta phải làm tốt chức năng của đội quân chiến đấu, lao động sản xuất và công tác. Quân đội ta cần phải chăm lo nâng cao sức mạnh chiến đấu, nâng cao năng lực công tác vận động quần chúng và hoạt động thực tiễn.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, quân đội phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, ngày càng hiện đại; tăng cường an ninh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa tư tưởng; giữ vững ổn định chính trị, xã hội; chủ động làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở. Tăng cường sức mạnh quốc phòng an ninh, dựa vào xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó các lực lượng vũ trang làm nòng cốt; kết hợp với thực hiện đồng bộ đường lối đối ngoại đúng đắn, tạo mối quan hệ quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

 Cán bộ, chiến sĩ quân đội càng cần phải là những người có nhận thức sâu sắc nhất, niềm tin vững vàng, đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đồng thời, phải ra sức học tập, rèn luyện nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, bản chất giai cấp công nhân; hiểu biết sâu sắc về thời đại hiện nay.

Nhận thức rõ nội dung, tính chất, đặc điểm, xu hướng và mâu thuẫn của thời đại trong giai đoạn hiện nay. Nắm vững quan điểm đường lối, nghị quyết của Đảng về vấn đề thời đại ngày nay. Xác định và làm tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong tình hình mới. Ra sức xây dựng quân đội, đơn vị cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy tinh nhuệ về chính trị làm cơ sở. Sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.