Đất nước ta nửa cuối thế kỷ 20 trải qua hai cuộc kháng chiến cực kỳ ác liệt chống kẻ thù xâm lược. Lịch sử trao cho bộ đội sứ mệnh đứng ở vị trí tuyến đầu đuổi giặc để giành lại hòa bình, độc lập, tự do. Từ góc nhìn lý thuyết nào thì Bộ đội Cụ Hồ cũng là một biểu tượng văn hóa trung tâm của thời đại. Là nhân tố góp phần cơ bản, chủ yếu kiến tạo nên thời đại anh hùng, Bộ đội Cụ Hồ là biểu tượng văn hóa đích đáng cho thời đại anh hùng.
Biểu tượng văn hóa là thành tố cơ bản, là gương mặt
văn hóa
Để thuận lợi cho giao tiếp trong cuộc sống luôn vô
cùng đa dạng, phong phú, phức tạp, con người mượn sự vật, hiện tượng làm ký
hiệu, gửi vào đó những quy ước chung. Theo thời gian, nhờ được bồi đắp nhiều
lớp phù sa văn hóa, ký hiệu lắng đọng, kết thành biểu tượng. Bước vào thời toàn
cầu hóa, nhu cầu giao lưu, trao đổi ngày càng trở nên cấp thiết, biểu tượng văn
hóa trở thành cầu nối giữa các quốc gia.
Hiểu theo nghĩa Hán Việt, “biểu” là dấu hiệu, ký
hiệu; “tượng” là hình tượng. “Biểu tượng” là ký hiệu chứa đựng một hoặc nhiều ý
nghĩa. Tiếng Anh gọi là “symbol”, có gốc từ tiếng La Mã (symbolus) và
tiếng Hy Lạp (symbolon), có nghĩa nguyên thủy là “một nhóm người đồng ý sự
vật, hình ảnh ấy có nhiều hơn một ý nghĩa của chính nó”. Tức nội dung ý nghĩa
luôn lớn hơn cái vỏ hình thức biểu tượng.
Mỗi dân tộc đều có một hệ biểu tượng tiêu biểu, như
là “cửa ngõ” mời gọi thế giới bước vào một không gian văn hóa khác lạ để thưởng
thức, chiêm ngưỡng. Vì thế, giải mã văn hóa là giải mã biểu tượng, phải hiểu
biểu tượng theo hướng triết học, đi tìm cội nguồn phát sinh, bản chất, ảnh
hưởng trong đời sống hôm qua và hôm nay.
Có những biểu tượng riêng của từng nơi nhưng cũng
có biểu tượng mang tính phổ quát chung, như hoa hồng là biểu tượng của tình
yêu, chim bồ câu biểu tượng cho hòa bình... Biểu tượng luôn mang màu sắc biểu
cảm sâu đậm. Nghe một điệu hát ru, ta nôn nao nhớ về quá khứ truyền thống ngàn
năm ân tình, ân nghĩa. Nhìn màu cờ đỏ, nghe âm thanh của bài Quốc ca trước một
trận đấu thể thao, trong ta dâng lên niềm tự hào dân tộc khó tả... Là sự kết
tinh các giá trị mang bản sắc văn hóa nên biểu tượng mang tính thông điệp rất
rõ.
Luôn bao chứa lượng tri thức văn hóa sâu rộng, có
tính cộng đồng cao nên biểu tượng là “căn cước văn hóa” của mỗi dân tộc, tồn
tại ở hai dạng: Những cái nhìn thấy hoặc có thể cầm nắm được, thuộc văn hóa vật
thể và những biểu tượng trừu tượng (lòng yêu nước, yêu thiên nhiên...), thuộc
văn hóa phi vật thể. Là thành tố cơ bản, là hạt nhân của văn hóa nên tìm hiểu,
nghiên cứu biểu tượng sẽ thấy được một cách toàn vẹn, trung thực, rõ ràng hơn
bản sắc văn hóa. Thế giới biết và hiểu Việt Nam hơn qua biểu tượng nón lá, áo
dài, qua mái đình làng, qua cây đa cổ thụ... Vì thế, nghiên cứu văn hóa không
thể không nghiên cứu biểu tượng.
Bộ đội Cụ Hồ - một biểu tượng văn hóa trung tâm của
thời đại
Biểu tượng luôn đa nghĩa nhưng có hai loại nghĩa cơ
bản, nhiều trường phái gọi là biểu hình (visible sign) và biểu
ý (idea). Ký hiệu học gọi là cái biểu đạt, tức hình thức tồn tại dưới dạng
các sự vật, hiện tượng và cái được biểu đạt là các nội dung mang tính
giá trị, chuẩn mực văn hóa. Đất nước ta nửa cuối thế kỷ 20 trải qua hai cuộc
kháng chiến cực kỳ ác liệt chống kẻ thù xâm lược. Lịch sử trao cho bộ đội sứ
mệnh đứng ở vị trí tuyến đầu đuổi giặc để giành lại hòa bình, độc lập, tự do.
Từ góc nhìn lý thuyết nào thì Bộ đội Cụ Hồ cũng là một biểu tượng văn hóa trung
tâm của thời đại. Điều đó được thể hiện ở những nội dung sau.
Một là: Bộ đội Cụ Hồ - sự kế thừa
xứng đáng truyền thống lịch sử anh hùng.
Tự thân biểu tượng luôn mang một chiều sâu văn hóa,
theo thời gian được bồi đắp, tích lũy thêm các lớp mã ý nghĩa mới. Là hạt giống
của cây văn hóa cổ xưa gieo vào mảnh đất đương đại, nảy mầm, lớn lên cho hoa
quả ý nghĩa mới, do vậy biểu tượng luôn mang tính truyền thống. Giải mã biểu
tượng cũng là một cách tìm về truyền thống. Không am hiểu sâu sắc “mẫu gốc” và
hoàn cảnh lịch sử văn hóa, không tri giác tường tận mảnh đất đương đại, khó có
thể kiến tạo ra biểu tượng mới.
Dễ chứng minh trong hình tượng Bộ
đội Cụ Hồ là sự kế thừa hình tượng Thánh Gióng, Bà Trưng, Bà
Triệu, Ngô Quyền cho đến người lính trong “Sông núi nước Nam...” (tương truyền
của Lý Thường Kiệt), “Hịch tướng sĩ” (Hưng Đạo Vương), “Cáo bình Ngô” (Nguyễn
Trãi), đến hình tượng người nghĩa sĩ của Nguyễn Đình Chiểu... Mỗi khi Tổ quốc
bị xâm lăng thì thế hệ những người lính lại lên đường đuổi giặc bằng mọi thứ vũ
khí và luôn chiến thắng kẻ thù một cách vẻ vang nhất.
Theo hướng nghiên cứu liên văn hóa (intercultural),
nhiều nghiên cứu lịch sử quân sự thế giới lý giải sức mạnh của Quân đội Việt
Nam trước nay được thể hiện trong mã văn hóa “ngụ binh ư nông” rất riêng. Khi
hòa bình thì binh lính về làm ruộng, khi có chiến tranh thì toàn dân làm lính
nên đặc trưng của Quân đội là rất linh hoạt, nhanh gọn, cơ động, có thể tác
chiến trên mọi địa hình, thời tiết, hoàn cảnh, lại có thể tự nuôi mình... Sống
trong dân, từ dân mà ra nên khi cầm vũ khí giữ nước, người lính được tiếp sức
mạnh từ dân, từ bầu khí quyển, từ mảnh đất văn hóa họ sống.
Đặc trưng ấy được kết tinh và phát huy cao độ ở
thời hiện đại nên Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, vì dân, được
Đảng lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện nên đã vượt qua những chướng ngại tưởng
chừng không thể. Trên thế giới hiếm có đội quân nào đạt được những chiến công
như thế!
Học tập, kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao
tinh hoa văn hóa quân sự cha ông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần
Thánh Gióng, 80 năm qua, Bộ đội Cụ Hồ đã viết tiếp những trang sử mới mang tầm
thời đại, xứng đáng với truyền thống anh hùng.
Hai là: Bộ đội Cụ Hồ - hiện thân của
bản sắc văn hóa Việt Nam yêu nước, hòa bình, hữu nghị.
Vượt qua mọi vất vả, hy sinh “mưa dầm cơm vắt”,
“máu trộn bùn non”, Bộ đội Cụ Hồ đã làm nên một Điện Biên Phủ “chấn động địa
cầu”, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Tiếp đó, Bộ đội Cụ Hồ đã
trở thành “Thạch Sanh của thế kỷ 20” chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược Mỹ
hung bạo, thiện chiến.
Không những vậy, Bộ đội Cụ Hồ đã tình nguyện làm
nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia hồi sinh, thoát khỏi nạn diệt chủng
man rợ, được nhân dân xứ sở chùa tháp gọi là “đội quân nhà Phật”. Trong lịch sử
quân sự thế giới, hiếm thấy một đội quân nào anh dũng, yêu nước, nhân văn cao
cả, được nhân dân tin tưởng tuyệt đối như vậy!
Ba là: Bộ đội Cụ Hồ - biểu tượng
cho chân lý, sức mạnh, bản lĩnh thời đại.
Nhà thơ Tố Hữu diễn đạt tinh tế bằng thơ về sứ mệnh
vinh quang, thiêng liêng cao cả của Bộ đội Cụ Hồ: “Nếu được làm hạt giống để
mùa sau/ Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa/ Vui gì hơn làm người lính đi đầu/
Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa!” (Chào xuân 67).
Thế giới có câu chuyện nổi tiếng về chàng Đan-kô
móc trái tim mình làm ngọn đuốc soi đường cho đoàn người đi về phía tự do,
hạnh phúc. Bộ đội Cụ Hồ cũng vậy, họ đã mang tuổi xuân đẹp nhất của mình cống
hiến cho Tổ quốc. Thế nên Bộ đội Cụ Hồ mang tầm vóc vũ trụ: “Anh đi, xuôi ngược
tung hoành/ Bước dài như gió, lay thành chuyển non/ Mái chèo một chiếc xuồng
con/ Mà sông nước dậy sóng cồn đại dương!” (Tố Hữu - "Tiếng hát sang
xuân").
Kẻ thù phi nghĩa muốn đốt cả dân tộc ta thành tro
bụi, nhờ có Bộ đội Cụ Hồ mà “ta hóa vàng nhân phẩm, lương tâm”. Bọn cướp nước
muốn ta “bán mình ô nhục”. Nhờ có Bộ đội Cụ Hồ, đất nước mình “làm sen thơm
ngát” (ý thơ Tố Hữu trong “Việt Nam, máu và hoa”). Một hình tượng đẹp, lớn lao,
kỳ vĩ như thế xứng đáng là một biểu tượng trung tâm của thời đại!
Là nhân tố góp phần cơ bản, chủ yếu kiến tạo nên
thời đại anh hùng, Bộ đội Cụ Hồ là biểu tượng văn hóa đích đáng cho thời đại
anh hùng. Đó là chân lý và cũng là đạo lý!
(còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét