Hướng
tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 /
22-12-2024) và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2024),
Báo Quân đội nhân dân tổ chức diễn đàn với chủ đề “Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ-Xứng
đáng Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”.
Thông qua diễn đàn nhằm tập hợp ý kiến rộng rãi của
các chuyên gia, nhà khoa học, nhà văn hóa, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ LLVT và
nhân dân về giá trị danh xưng, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ; khơi dậy niềm tự hào và
phát huy giá trị cao quý danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ trong sự nghiệp củng cố quốc
phòng, xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc. Diễn đàn là một gợi mở để cơ quan
có thẩm quyền xem xét, công nhận danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ là Di sản văn hóa phi
vật thể quốc gia theo nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân.
Để diễn đàn có nội dung phong phú, sâu sắc và lan
tỏa rộng rãi trong xã hội, Báo Quân đội nhân dân trân trọng kính mời các chuyên
gia, nhà khoa học, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ và cộng tác viên, bạn đọc trong
cả nước viết bài tham gia diễn đàn. Bài viết gửi về địa chỉ: Phòng biên tập Văn
hóa-Thể thao, Báo Quân đội nhân dân; email: vanhoa@qdnd.vn.
Bộ đội Cụ Hồ - Một giá trị độc đáo của văn hóa Việt
Nam hiện đại
Bài 1: Cội nguồn lịch sử và văn hóa của kiểu mẫu
nhân cách Bộ đội Cụ Hồ
Kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có cội nguồn sâu xa
trong lịch sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân
tộc ta. Đó là biểu tượng và đỉnh cao của hình ảnh người lính cầm vũ khí chiến
đấu vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc Việt Nam, vì hạnh phúc của nhân
dân trong thời đại mới.
Xuất xứ và ý nghĩa tên gọi Bộ đội Cụ Hồ
Trong một hồi ức của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp
đã kể về xuất xứ của tên gọi Bộ đội Cụ Hồ như sau: “Tôi nhớ rằng từ trong khu
giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc đã trìu mến gọi các đơn vị vũ trang
ta là “Bộ đội Ông Ké” hay “Bộ đội Ông Cụ” một cách thân thương, chân thành như
tấm lòng của đồng bào đối với lãnh tụ của mình mà nhiều người lúc đó chưa biết
tên Bác. Có lẽ, về sau, khi biết tên Người, đó là Bác Hồ, là Chủ tịch Hồ Chí
Minh của nước Việt Nam mới, mọi người đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là Bộ đội Cụ Hồ.
Và cũng từ chiến khu Việt Bắc, tên gọi yêu dấu ấy xuất hiện từ khời kỳ đầu của
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp”.
Từ đó đến nay, qua 80 năm chiến đấu và trưởng
thành, Bộ đội Cụ Hồ trở thành một danh hiệu cao quý của cán bộ, chiến sĩ Quân
đội nhân dân Việt Nam.
Hình ảnh và tên gọi Bộ đội Cụ Hồ là một hiện tượng
rất độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam nói chung và
văn hóa Việt Nam nói riêng. Ít thấy có dân tộc nào trên thế giới mà chính nhân
dân lấy tên lãnh tụ tối cao của mình đặt cho Quân đội. Danh hiệu đó thể hiện
sâu sắc mối quan hệ khăng khít giữa người chiến sĩ với Bác Hồ và giữa Bác Hồ
với người chiến sĩ.
Trước hết, đó là tình cảm, tình yêu và niềm tin sâu
xa của quần chúng dành cho LLVT cách mạng. Hiếm có một dân tộc nào mà hình ảnh
người lính lại được toàn dân coi đó là một hình mẫu của con người trong thời
đại mới, để hết lòng tin yêu, quý trọng, động viên mọi thế hệ con cháu kế tiếp
và noi theo gương sáng của Bộ đội Cụ Hồ như dân tộc Việt Nam ta. Đó là một cách
gọi rất Việt Nam, vô cùng gần gũi, trìu mến và có lẽ chỉ có ở Việt Nam .
Nhân dân gọi bộ đội là Bộ đội Cụ Hồ chính vì bản thân
các thế hệ chiến sĩ Quân đội trải qua 80 năm chiến đấu đã luôn luôn xứng đáng
với niềm tin của Người và từ đó hình ảnh người chiến sĩ đã trở thành một mẫu
hình cao đẹp, bình dị về con người mới với lý tưởng, đạo đức cao thượng, trong
sáng, thực hiện trọn vẹn xuất sắc chỉ thị, niềm tin và những lời căn dặn đầy
yêu thương của Bác Hồ.
Ý nghĩa sâu xa hơn, nhân dân ta gọi Bộ đội Cụ Hồ vì
Cụ Hồ-tên gọi trìu mến, ấm áp của nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, là
người tiêu biểu cho ý chí đấu tranh bất khuất của nhân dân, là hiện thân của
niềm tin và sức mạnh, là người tổ chức và dẫn dắt nhân dân ta đứng lên tự giải
phóng, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh
phúc. Nhân dân ta gọi Bộ đội Cụ Hồ vì cảm nhận sâu sắc quan hệ đặc biệt hiếm có
giữa Bác và Quân đội, Bác và chiến sĩ. Bác là người cha thân yêu của các LLVT
nhân dân Việt Nam, là người khai sinh ra Quân đội ta. Bác chăm lo từng bước
trưởng thành của Quân đội, giáo dục chiến sĩ, khuyên bảo cán bộ... Nét đẹp hiếm
có và có lẽ chỉ có ở Bác, trong tình cảm, đạo đức của Người là sự vô cùng gần
gũi, yêu thương bộ đội, tin tưởng ở tinh thần dũng cảm và sáng tạo của bộ đội,
thấu hiểu, cảm thông và xúc động trước sức chịu đựng gian khổ, khó khăn, hy
sinh của người chiến sĩ... Bác Hồ đã để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn
thể bộ đội trước lúc đi xa.
Chỉ có 4 từ “Bộ đội Cụ Hồ”, song đã chứa đựng trong
đó một giá trị văn hóa đặc sắc của lịch sử hiện đại Việt Nam, khi mà lý tưởng
cách mạng, tấm gương sáng ngời của Bác Hồ hòa quyện và thống nhất tuyệt đối với
khát vọng giải phóng, độc lập, tự do của nhân dân, của Quân đội cách mạng do
Đảng và Bác sáng lập.
Kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có cội nguồn văn
hóa quân sự của dân tộc Việt Nam
Bộ đội Cụ Hồ là sản phẩm của lịch sử hiện đại Việt
Nam, song nếu xét từ góc độ truyền thống dân tộc và truyền thống văn hóa nước
ta từ hàng nghìn năm trước, thì kiểu mẫu Bộ đội Cụ Hồ còn có nguồn gốc sâu xa
hơn, bởi vì, nó không chỉ là sản phẩm của 80 năm qua, mà còn bắt nguồn, nối
tiếp và phát triển của kiểu mẫu những người cầm vũ khí, của nghĩa sĩ, nghĩa
binh, nghĩa quân đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc cả nghìn năm
lịch sử.
Họ đã tự nguyện sung vào Quân đội chiến đấu vì lý
tưởng cao đẹp trong suốt nghìn năm dựng nước, giữ nước, trong một nghìn năm Bắc
thuộc, trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm thời phong kiến và trong gần
một thế kỷ đô hộ của thực dân Pháp. Họ là những người con ưu tú của dân tộc
Việt Nam. Có lẽ giống trong truyền thuyết, Thánh Gióng là người lính đầu tiên
trong lịch sử nước nhà cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ và giải phóng quê hương!
Gióng đánh quân xâm lược một mình? Không phải! Ai nuôi Gióng từ một cậu bé bỗng
lớn lên thành Phù Đổng? Dân làng. Ai rèn đúc vũ khí (ngựa sắt, gươm sắt) cho
Gióng? Cơm gạo của dân làng. Gậy sắt bị gãy, vũ khí thay thế cho Gióng là các
cụm tre làng. Gióng đã thắng, đuổi quân xâm lược khỏi bờ cõi đất nước, song, đó
chính là sức mạnh nhân dân trong Gióng đã làm nên chiến thắng. Hình như có một sự
tương đồng kỳ diệu giữa huyền thoại người anh hùng làng Gióng với Quân đội nhân
dân của chúng ta hàng nghìn năm sau.
Nói về những nghĩa binh, nghĩa quân của cả nghìn
năm lịch sử không thể không kể tới hình ảnh của các nữ binh thời Hai Bà Trưng,
Bà Triệu, những nữ binh cưỡi voi xung trận với tinh thần “đền nợ nước, trả thù
nhà”, với khí thế “muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở
biển khơi”, đánh đuổi giặc, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, làm nên truyền
thống Việt Nam “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Phải chăng, đó là cội nguồn tạo
tiền đề đầu tiên cho sự ra đời của các “đội quân tóc dài”, của nữ thanh niên
xung phong và nữ chiến sĩ cách mạng sau này?
Nói về những nghĩa binh, nghĩa quân thời xa xưa ấy
không thể không nhắc tới những người “cờ lau tập trận” trong đội quân Đinh Bộ
Lĩnh thời phục thù dẹp 12 sứ quân năm 967, những người áo vải cờ đào trong khởi
nghĩa Tây Sơn (năm 1786) nhằm lập lại nền thống nhất đất nước, chấm dứt cuộc
xung đột Nam-Bắc và cuộc Trịnh-Nguyễn phân tranh. Nói về những nghĩa sĩ, nghĩa
binh trong lịch sử giữ nước, cần phải nói nhiều hơn đến hình ảnh những người
lính đã làm nên chiến công lẫy lừng trên sông Bạch Đằng, sông Cầu, ở bến Chương
Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, Xương Giang, Tốt Động, Chúc Động, Rạch Gầm, Xoài Mút,
Ngọc Hồi, Đống Đa... Đó là thế hệ những người lính nối tiếp nhau của những thời
điểm lịch sử oai hùng với những chiến công lẫm liệt. Đó là hình ảnh của những
tráng sĩ mài gươm, những “Hội nghị Diên Hồng”, những cuộc dấy binh “Lam Sơn tụ
nghĩa”, là tiếng hô “Sát Thát”, là tiếng thơ sang sảng “Nam quốc sơn hà Nam đế
cư”, là lời “Hịch tướng sĩ” đầy sức động viên, vẫy gọi khí thế chiến đấu. Họ
bất tử trong lịch sử và đi vào những tác phẩm văn hóa bất hủ: Sông núi nước Nam
(thơ thời Lý Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bình ngô đại cáo
(Nguyễn Trãi), Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu), Phú núi Chí Linh (Nguyễn
Mộng Tuân), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Ai Tư Vãn (Lê Ngọc Hân)
và thơ của Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung...
Di sản tinh thần quý giá trên để lại cho các thế hệ
sau, đặc biệt từ khi có Đảng và Bác Hồ, một truyền thống bền vững, đó là lòng
yêu nước, ý chí bất khuất, quật cường, đồng thời đó còn là phẩm giá đạo đức
tuyệt vời của người lính “Phụ tử chi binh” của thời Trần, “Huynh đệ chí binh”
của thời Lê, thời Tây Sơn. Các giá trị truyền thống trên là cơ sở, là cội nguồn
lịch sử để sau này chúng ta xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà
ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì Tổ quốc sẵn sàng hy sinh.
Ở đây, trong cảm nhận về vẻ đẹp độc đáo của người
lính Việt Nam, từ nghĩa binh, nghĩa quân đến Bộ đội Cụ Hồ là một dòng chảy lịch
sử không đứt đoạn. Ví như, tinh thần quân và dân như cá với nước, nghĩa tình
đồng đội, đồng chí thương yêu nhau như ruột thịt phải chăng đã bắt nguồn từ thời
“Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” có từ thời khởi
nghĩa Lam Sơn!
Từ sự phân tích, cảm nhận trên cho phép chúng ta
khẳng định rằng, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có cội nguồn sâu xa trong lịch
sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân tộc ta. Đó
là biểu tượng và đỉnh cao của hình ảnh người lính cầm vũ khí chiến đấu vì độc
lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc Việt Nam, vì hạnh phúc của nhân dân trong
thời đại mới.
(Còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét