Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI

 Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm; quản lý, bảo vệ biên giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức chống phá trên tất cả lĩnh vực. Là lực lượng nòng cốt, chuyên trách bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, Bộ đội biên phòng luôn tích cực, chủ động, triển khai toàn diện, đồng bộ các giải pháp nhằm ngăn chặn và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là ở khu vực biên giới.

Xây dựng lực lượng vững vàng có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ đường biên giới. Đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên tuyến biên giới luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, các thế lực thù địch, phản động vẫn ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết hữu nghị truyền thống của Việt Nam và Campuchia; hoạt động vi phạm pháp luật trên biên giới và một số tệ nạn xã hội như: Cờ bạc, mua bán, tàng trữ và sử dụng trái phép các chất ma túy, buôn lậu, có chiều hướng gia tăng và ngày càng tinh vi.

Là cán bộ trẻ, Bộ đội biên phòng việc tiếp cận các nguồn thông tin trên internet và mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Điều đầu tiên phải khẳng định, trên internet là kho kiến thức số khổng lồ có thể phục vụ tốt cho nhiệm vụ học tập, công tác của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Không chỉ vậy, với đặc thù công tác ở xa, ít khi được về với gia đình thì việc sử dụng mạng xã hội sẽ giúp việc kết nối, liên lạc giữa cán bộ, chiến sĩ và gia đình trở nên dễ dàng hơn, khoảng cách sẽ được rút ngắn hơn, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, mạng xã hội cũng là mảnh đất rất màu mỡ để các thông tin xấu, độc được lan truyền nhanh chóng và tiếp cận với rất nhiều người. Đặc biệt, với hình ảnh lực lượng vũ trang như bộ đội, công an lại thường xuyên bị cắt ghép, bôi nhọ, xuyên tạc với mục đích hạ uy tín.

Ngoài ra, lãnh đạo, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải là tấm gương trong mọi hoạt động, lời nói và việc làm để mọi cán bộ, đảng viên học tập. Xác định, đây là giải pháp quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong đơn vị. Vì vậy, BĐBP tỉnh đã thành lập các ban chỉ đạo, tổ thư ký, tổ giúp việc, cộng tác viên..., trong đó xác định người đứng đầu cấp ủy đảng các cấp phải là người trực tiếp tham gia và lãnh đạo, chỉ đạo. Từ đó xây dựng mỗi cán bộ, chiến sĩ trở thành một tuyên truyền viên tích cực không chỉ tuyên truyền cho đồng chí, đồng đội, cho gia đình, người thân, bạn bè mà còn tuyên truyền cho người dân trên địa bàn đơn vị đóng quân.

Bộ đội biên phòng còn có lực lượng cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp có khả năng sử dụng tiếng Campuchia thành thạo, lực lượng này không chỉ thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để quản lý, bảo vệ biên giới mà còn là những nhân tố cốt cán tuyên truyền, vận động nhân dân khu vực giáp biên về những chính sách, chủ trương, đường lối cũng như hiệp định, hiệp nghị của hai nhà nước đã ký kết. Nhất là trong việc tuyên truyền, nắm bắt những thông tin liên quan đến vấn đề chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động về chủ quyền, biên giới, lãnh thổ.

Việc làm cấp thiết nữa là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, dân trí, cung cấp đầy đủ, khách quan, kịp thời những thông tin cần thiết để cộng đồng dân cư ở khu vực biên giới thuận lợi trong việc tiếp nhận, nắm, biết rõ mọi vấn đề. Từ đó tạo ra “sức đề kháng” trước các luồng thông tin xấu, độc, giảm thiểu việc tiếp nhận thông tin ở tình trạng thụ động, mơ hồ cũng là nhiệm vụ hết sức cần thiết để ngăn chặn những luồng thông tin xấu, độc, sai trái. Đây là giải pháp được đơn vị làm thường xuyên, liên tục, lâu dài và đóng vai trò chủ đạo để nhân dân có niềm tin tuyệt đối vào Đảng, có bản lĩnh vững vàng, nâng cao khả năng tự quản lý, tự “miễn dịch” trước mọi thông tin sai trái, xấu, độc phát tán trên mạng xã hội và trong cộng đồng dân cư.

Bộ đội biên phòng còn phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương cử hàng trăm cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm tham gia cấp ủy các cấp và tham gia sinh hoạt tại chi bộ thôn, ấp, phụ trách các hộ dân khu vực biên giới. Qua đó, không chỉ góp phần cùng với địa phương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân mà còn tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội.

 

THẾ GIỚI VẤN ĐỀ -SỰ KIỆN: TỔNG THỐNG MỸ CAM KẾT TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC PHÒNG KHÔNG CHO UKRAINE!

     Ngày 8-7, Tổng thống Mỹ Joe Biden cam kết sẽ có “các biện pháp mới” để tăng cường năng lực phòng không của Ukraine sau khi loạt tên lửa của Nga nhằm vào Kiev và nhiều thành phố khác của Ukraine khiến 36 người thiệt mạng!
Trong tuyên bố, ông Biden nhấn mạnh Mỹ và các đồng minh sẽ công bố khoản hỗ trợ mới này tại hội nghị thượng đỉnh Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) ở Washington vào tuần này, đồng thời bình luận các cuộc tấn công tên lửa nêu trên là “lời nhắc nhở khủng khiếp về sự tàn bạo của Nga” trong cuộc xung đột bùng phát vào tháng 2-2022.

Tổng thống Mỹ cam kết tăng cường năng lực phòng không cho Ukraine
Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg. Ảnh: TTXVN 
Cùng ngày, Bộ Ngoại giao Mỹ lên án vụ tấn công vào một bệnh viện nhi ở Kiev là "dã man" và cho rằng hành động tấn công này của Nga là cố ý. Phát biểu với báo giới, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Matthew Miller nói: “Nga đã tiến hành một cuộc tấn công tên lửa dã man khác vào dân thường”./.

Yêu nước ST.

“Quân đội đẩy mạnh đấu tranh chống diễn biến hòa bình trên các trang mạng xã hội”

 

Âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội cũng không loại trừ với Quân đội nhân dân Việt Nam, vì đây là lực lượng chủ yếu, lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và nhân dân. Các thế lực thu địch thường lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết quân đội với nhân dân, kích động đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm.

Là lực lượng xung kích, nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” thông qua mạng xã hội, lực lượng vũ trang nói chung, quân đội nói riêng đã luôn nhận thức đúng tình hình, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được đảng ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy đảng các cấp đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp trên về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu, tham gia đấu tranh và bảo đảm các điều kiện vật chất thực hiện công tác này ở từng cấp. Đồng thời, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Tuy nhiên, vẫn còn một số ít cán bộ, chiến sĩ nhận thức chưa đúng đắn tình hình nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; còn lơ là, thiếu sót trong công tác và sinh hoạt thường ngày dễ dẫn đến bị kẻ xấu lợi dụng, kích động, bội nhọ nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Còn có cán bộ thiếu tích cực nghiên cứu, tham gia đấu tranh kém hiệu quả, chưa phát huy hết trách nhiệm trong phát hiện, đấu tranh, phản bác những cái xấu, cái tiêu cực, những luận điệu sai trái, phản động; chưa có những bài viết, thông tin chuyên sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm thù địch, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng.

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên các trang mạng xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, sắc bén, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính.  Đối với quân đội trong thời gian tới cần củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng bằng một số giải pháp như sau:

Trước hết, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, phù hợp chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; Chỉ thị số 47/CT-CT, ngày 08/01/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội; đồng thời, bám sát thực tiễn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trước những sự kiện quan trọng, vụ việc phức tạp, nhạy cảm… kịp thời thông tin, định hướng tư tưởng cho cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Qua đó, để cán bộ, chiến sĩ nắm chắc về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam và nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; nêu cao tinh thần cảnh giác và ý thức tổ chức kỷ luật, “tự miễn dịch” trước hoạt động chống phá tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 của đảng ủy các cấp thực hiện tốt việc tham mưu, xây dựng, ban hành đồng bộ hệ thống quy chế, quy định, chương trình hành động cụ thể; chủ động xây dựng, tổ chức lực lượng để hoạt động đấu tranh trên không gian mạng có nền nếp, bảo đảm bí mật, rộng khắp, thống nhất, hiệu quả và bảo vệ mình. Thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, cung cấp thông tin, “chỉ thị mục tiêu” và định hướng để đấu tranh kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm. Các nghị quyết, kết luận lãnh đạo thường kỳ của các cấp ủy, tổ chức đảng đều có nội dung, biện pháp lãnh đạo đấu tranh trên không gian mạng, gắn với thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, bảo đảm tính nhạy bén, sáng tạo, nhưng phải chấp hành nghiêm quy định bảo vệ chính trị nội bộ, không để lọt, lộ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, ngăn chặn kịp thời các tài liệu phản động, văn hóa phẩm xấu độc thâm nhập vào nội bộ.

Thứ hai, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần xác định: đấu tranh trên mạng xã hội là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; phải kiên quyết, kiên trì và nhạy bén, linh hoạt. Cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp cần chú trọng quản lý hoạt động trên mạng xã hội của cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ khi sử dung internet, tham gia mạng xã hội và trong công tác đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng; kịp thời chấn chỉnh các trường hợp chưa chuẩn mực trên mạng xã hội, bảo đảm hoạt động đấu tranh luôn đúng định hướng.

Cấp ủy đảng các cấp phải xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng cần tập trung lãnh đạo, vận dụng phù hợp với thực tiễn nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị bằng kế hoạch, chương trình cụ thể. Cần linh hoạt, sắc sảo, sáng tạo, tránh giáo điều, dập khuôn, máy móc; đề cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quy định phát ngôn,... nắm chắc tình hình trên mạng xã hội của quân nhân, kịp thời phát hiện những biểu hiện dao động, suy thoái về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để có biện pháp giáo dục; kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm.

Thứ ba, cần giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thái độ chủ động, tích cực tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn vậy, trước hết các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”, nâng cao nhận thức lý luận chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, kịp thời định hướng một cách thấu đáo, thuyết phục những vấn đề mới nảy sinh có ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm, tâm lý của bộ đội. Phải giáo dục cho quân nhân hiểu rõ “tính hai mặt” của không gian mạng cũng như âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; tạo khả năng “tự miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước các thông tin xấu độc, cũng như tăng cường sức “đề kháng” để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng.

Thứ tư, duy trì thường xuyên và có hiệu quả hoạt động thông báo thời sự và công tác tuyên truyền trong nhân dân. Với tỉ lệ người dân sử dụng internet và mạng xã hội đông đảo như Việt Nam hiện nay, cùng với tình trạng nhiễu loạn thông tin trong thời gian qua, thực trạng “phản ứng chậm” với những thông tin sai trái, bịa đặt trên mạng xã hội của các cơ quan, đơn vị diễn ra còn phổ biến. Do đó, các cơ quan, đơn vị phải nhạy bén, thường xuyên, kịp thời, chủ động cung cấp thông tin chính thống thông qua chế độ thông báo thời sự và các hình thức tuyên truyền trong nhân dân. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tranh thủ sự chỉ đạo, định hướng của cơ quan cấp trên, chủ động thông báo, thông tin chính thống trên các trang mạng xã hội, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn; duy trì hiệu quả chế độ đọc báo, nghe tin, giao ban, hội ý để cung cấp thông tin, định hướng nội dung, thống nhất biện pháp tuyên truyền, đấu tranh. Cần xác định rõ căn cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn để phản bác đối với những thông tin sai trái; hướng dẫn cụ thể biện pháp, hình thức thông tin tuyên truyền trong nhân dân cho cán bộ, chiến sĩ.

Thứ năm, phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng trên địa bàn xây dựng cơ chế và phát huy có hiệu quả các thiết chế để kịp thời cung cấp thông tin chính thống cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn đóng quân. Trong đó, cần chú trọng thiết lập các trang, nhóm cộng đồng trên nền tảng có sẵn như: Facebook, Zalo, Mocha... thu hút được đông đảo người dân tham gia. Đồng thời, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Luật An ninh mạng và Nghị định số 15/2020/ND-CP ngày 3-2-2020 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện và giao dịch điện tử. Tuy nhiên, cũng cần phải thống nhất nhận thức: không phải thông tin phản ánh tiêu cực nào cũng đều là thông tin sai trái, phản động, thù địch; cần có cách nhìn nhận khách quan, toàn diện, từ đó tránh quy chụp, tạo hiềm khích, gây mất uy tín và chất lượng của các trang, nhóm, làm giảm sút hiệu quả của hoạt động thông tin, tuyên truyền trên địa bàn.

Tóm lại, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, gay gắt, lâu dài và vô cùng phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, Lực lượng vũ trang nói chung, các đơn vị quân đội nói riêng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay.

TƯ TƯỞNG CỦA BÁC HỒ VỀ NGHỀ GIÁO

 

Có thể khẳng định, dù ở thời đại nào, nghề dạy học luôn được coi là nghề cao quý nhất. Vị trí, vai trò của người thầy luôn được xã hội tôn vinh với sự kính trọng và biết ơn: “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”.

          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng, việc dạy, việc học. Cách mạng Tháng Tám thành công, Người đã gửi thư cho các em học sinh trong cả nước nhân ngày khai trường đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dành sự quan tâm rất lớn đến nghề dạy học, “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Theo Người, thầy luôn phải là một chuẩn mực đạo đức, nhân cách để xã hội noi theo. Người thầy giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục. Tháng 10/1964, tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong bài phát biểu, Người nói: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang”.

          Trong sự nghiệp giáo dục, người thầy có nhiệm vụ lớn lao, đào tạo ra những thế hệ tương lai cho đất nước; những công dân tốt, những cán bộ cho nước nhà; những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa… Người thầy có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc; bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển của xã hội. Thầy là yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục, sản phẩm của dạy học là tương lai của đất nước.

Với tầm nhìn chiến lược của một Lãnh tụ, một nhà chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò người thầy trong công cuộc kiến thiết nước nhà. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy, người trí thức có sứ mệnh quan trọng là hun đúc nguyên khí quốc gia, đào tạo lớp người tài - đức kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao phó nhiệm vụ quan trọng, khó khăn cho đội ngũ nhà giáo. Đây là nhiệm vụ rất vất vả nhưng rất tự hào của những ai đã, đang và sẽ theo đuổi sự nghiệp trồng người.

          Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy phải là những người lấy việc phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc làm mục tiêu phấn đấu suốt đời; người thầy phải có tinh thần đoàn kết, kỷ luật, phát huy dân chủ trong nhà trường. Đặc biệt hơn, phẩm chất đạo đức và năng lực của người thầy quyết định chất lượng đào tạo con người; người thầy phải giữ gìn về nhân cách lối sống, thương yêu con người và phải có phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đây là những phẩm chất không thể thiếu được đối với người làm thầy, dù khó khăn, gian khổ đến đâu cũng phải thi đua dạy thật tốt. Vì vậy, không chỉ có quyết tâm, sự hy sinh mà phải có kế hoạch, phương pháp và sự sáng tạo mới hoàn thành được nhiệm vụ. Người thầy giáo phải là tấm gương sáng về rèn luyện đạo đức nhân cách, đánh giá kết quả của người học phải khách quan, công bằng, không thiên vị.

          Thầy là tấm gương cho nhân dân, cho thế hệ trẻ của đất nước noi theo. Người thầy có trách nhiệm đi tiên phong trong việc tự học, tự nghiên cứu nâng cao năng lực công tác, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nhà giáo phải gương mẫu thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi đầu trong mọi công việc của cơ quan, đơn vị. Bản thân mỗi thầy, cô giáo phải xây dựng cho mình một phong cách sống khiêm tốn, giản dị, ngăn nắp, yêu lao động, ứng xử văn hóa, không ham danh lợi, chức quyền.

          Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất đáng quý mà nhà giáo nào cũng cần phải có đó là sự tâm huyết với nghề và tình thương yêu bao la đối với học trò. Yêu nghề sẽ dẫn đến yêu trò và ngược lại. Trong môi trường sư phạm, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất rõ giá trị của sự đoàn kết. Đoàn kết sẽ tạo ra bầu không khí vui vẻ thoải mái, kích thích sự khám phá, sáng tạo trong giảng dạy cũng như nghiên cứu; đồng thời sẽ tạo ra môi trường thi đua lành mạnh, phát huy được khả năng của cá nhân và sức mạnh của tập thể, cống hiến cho sự nghiệp giáo dục.

          Cuộc vận động lớn của Đảng về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là dịp để mỗi nhà giáo thấm nhuần hơn tư tưởng đạo đức của Người. Cần phải quán triệt hơn nữa, vận dụng triệt để hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của nhà giáo trong giáo dục. Trước những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường, người thầy lại càng phải biết giữ mình, tránh xa mọi cám dỗ tầm thường, giữ cho tâm hồn trong sáng, mọi hành vi được nâng lên thành văn hóa trong ứng xử. Giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ là một chiến lược quan trọng của quốc gia mà trọng trách lớn được đặt trên vai những nhà giáo. Vì vậy, thầy cô giáo chính là tấm gương để học sinh noi theo. Khi tấm gương ấy thực sự trong sáng, thì những tiêu cực, hạn chế sẽ sớm được đẩy lùi.

          Ngày nay, khi xã hội càng phát triển, vai trò của người thầy ngày càng được nâng lên. Thầy có trách nhiệm không chỉ dạy chữ mà phải biết quan tâm, chăm sóc tìm hiểu người học bằng cả trái tim và lòng bao dung. Biết đánh thức tiềm năng trong mỗi người học, khơi dậy và phát triển cái nội lực của người học. Kiến thức rộng bao la, người học không thể nào tự nắm bắt được, nên vai trò của người thầy càng thể hiện rõ hơn - là người hướng dẫn, chỉ đường đưa người học đến gần hơn với bến bờ tri thức.

          Đất nước ta trong quá trình mở cửa hội nhập quốc tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Việt Nam trên đà phát triển đòi hỏi cần phải có một đội ngũ trí thức hùng hậu, có kiến thức, trình độ chuyên môn, khoa học – kỹ thuật, đạo đức nghề nghiệp. Đây là đội ngũ có trọng trách phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh và xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa; đưa đất nước sánh bước cùng các nước trong khu vực và trên thế giới. Để thực hiện thành công vấn đề trên thì đòi hỏi phải đào tạo cho được những con người có “đức” có “tài” đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đào tạo được đội ngũ trí thức thì cần phải có đội ngũ thầy, cô giáo có năng lực chuyên môn và tâm huyết với nghề xứng đáng là những “Nhà giáo ưu tú”, “Nhà giáo nhân dân”, trong sự nghiệp trồng người.

          Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” nhấn mạnh: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân”. Để đạt được những mục tiêu mà Nghị quyết đề ra, cần phải có sự nỗ lực, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, trong đó đội ngũ thầy giáo, cô giáo đóng một vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển của nền giáo dục nước nhà.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của một nhà giáo cách mạng, suốt đời vì nước, vì dân, vì nền giáo dục nước nhà và là tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học. Vì vậy, chúng ta cần xây dựng đội ngũ những người làm công tác giáo dục có đầy đủ phẩm chất, năng lực, vừa “hồng”, vừa “chuyên” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng mong muốn. Điều này không những khẳng định tri thức, trình độ phát triển giáo dục của nước nhà mà còn góp phần quan trọng trong công cuộc hội nhập quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước.

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN TRONG THỜI ĐẠI SỐ

 

Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.

Tự do ngôn luận và những hành vi lợi dụng trên không gian mạng

Thời gian qua, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, hình thức thể hiện của tự do ngôn luận có sự biến đổi lớn. Internet, mạng xã hội trở thành công cụ phổ biến để mọi cá nhân, tổ chức bày tỏ quan điểm, tư tưởng, truyền bá thông tin, thể hiện quyền tự do ngôn luận. Sức lan tỏa và ảnh hưởng của nó rất mạnh mẽ và nhanh chóng, tạo được sự chú ý, quan tâm theo dõi của số đông người dân, nhất là những người có ảnh hưởng trong xã hội.

Chỉ cần sở hữu phương tiện điện tử (điện thoại thông minh, laptop) có kết nối Internet, cá nhân có quyền tự do truyền đạt thông tin, ý kiến của mình đến người khác mọi nơi, mọi lúc. Tình trạng các hội, nhóm tiêu cực xuất hiện trên không gian mạng có xu hướng ngày càng gia tăng gây tác động xấu đối với người sử dụng mạng nói riêng và việc giữ gìn an ninh, trật tự xã hội nói chung.

Thông qua các hội, nhóm tiêu cực, người dùng có thể tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm, đăng tải hay lan truyền bất cứ thông tin gì thông qua tài khoản cá nhân của mình. Điều này mang đến những nguy cơ khi quyền này bị lạm dụng, nhất là khi những người đăng tải thông tin trên không gian mạng có quan điểm sai trái, thái độ cực đoan, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, dẫn đến bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động hoặc vì động cơ cá nhân, một số trường hợp đã đăng tải thông tin sai sự thật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Điển hình như các trường hợp: Nguyễn Phước Trung Bảo, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Thanh Nhã, Lê Thế Thắng, Trương Châu Hữu Danh (trú tại Long An), Nguyễn Phương Hằng, Lê Anh Dũng (trú tại TP Hồ Chí Minh), Lê Chí Thành (trú tại Bình Thuận)... Những trường hợp trên đều bị truy cứu theo Điều 331, BLHS 2015 về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, cụ thể là lạm dụng quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội. Sự lợi dụng các quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng đã và đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn cho cộng đồng.

Tự do ngôn luận trên không gian mạng phải tuân thủ pháp luật

Theo quy định tại Điều 19, Công ước ICCPR năm 1966: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế, quyền tự do ngôn luận không phải là tuyệt đối.

Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, mạng xã hội xuyên quốc gia như Facebook, Twitter, Youtube… đã tạo ra những cơ hội, khả năng tiếp xúc, giao lưu văn hóa, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới. Nhưng chưa bao giờ môi trường ảo lại nhiều tác động tiêu cực như hiện nay. Tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận phát tán tin giả, tin sai sự thật, các nội dung phản cảm, thiếu tính giáo dục, kích động bạo lực trên không gian mạng đang diễn biến rất phức tạp.

Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Tự do ngôn luận được xem là quyền hiến định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” (Điều 10).

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Khung pháp lý của nước ta về quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy đủ, đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người.

Nhận thức rõ tầm quan trọng, lợi ích cũng như những hiểm họa từ mặt trái của Internet và mạng xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách phù hợp nhằm phát triển Internet và mạng xã hội; đồng thời bảo vệ an ninh mạng và phòng, chống lợi dụng Internet, mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá chính quyền, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Bên cạnh các quy định của pháp luật, các biện pháp quản lý không gian mạng từ cơ quan có thẩm quyền thì vai trò của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người thông qua cơ chế giám sát cũng hết sức cần thiết.

Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng mạng Internet. Nâng cao nhận thức và năng lực tự sàng lọc thông tin của người dân và cộng đồng, hình thành thói quen hành xử tích cực trên môi trường mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt và lâu dài để mỗi người dân trở thành bộ lọc thông tin hiệu quả cho chính mình và cộng đồng.

HÃY THỂ HIỆN LẬP TRƯỜNG VỮNG VÀNG TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC

Hiện nay, lợi dụng xã hội thông tin mở và đa chiều, các thế lực thù địch, phản động ra sức tìm đủ mọi cách chống phá nhà nước ta. Người dùng điện thoại thông minh chỉ cần “dạo” trên các nền tảng nền tảng mạng xã hội thì ngay lập tức là một ma trận thông tin được bày ra và tấn công người dùng bởi rất nhiều tin giả, tin xuyên tạc, tin sai sự thật. Do đó nếu người dùng không đủ tỉnh táo, không giữ được lập trường, bản lĩnh vững vàng thì rất dễ sập bẫy, dẫn đến những trạng thái tâm lý, hành động tiêu cực.

Thời gian gần đây xảy ra không ít vụ việc nóng, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội; từ đó xuất hiện nhiều những tin đồn, những thuyết âm mưu: vụ việc có liên quan đến thế lực này, lãnh đạo kia, có quan chức chống lưng,… Các thông tin được thổi phồng, thêm bớt, cắt ghép, sâu chuỗi có vẻ rất hợp lý, nếu mỗi người dùng không có hiểu biết, không bản lĩnh thực sự thì chắc chắn sẽ bị sập bẫy bởi những thông tin xuyên tạc đó. Khi được hỏi họ thông tin lan truyền từ đâu, thì câu trả lời là từ “đài, báo”. Và rồi họ kể ra một loạt cái tên, hóa ra đó toàn là những kênh, trang chuyên đăng thông tin phản động, xuyên tạc.

Nếu người dùng tiếp nhận và tin theo các thông tin mù mờ không rõ ràng đó thì quả thực là vô cùng nguy hiểm. Bởi họ không biết các tổ chức khủng bố, phản động như Việt Tân, hội những người yêu dân chủ, các thành phần lưu vong chống phá nhà nước,…lập ra rất nhiều website, facebook, lập nhiều hội nhóm nhằm tuyên truyền phát tán thông tin, tài liệu, hình ảnh có nội dung “xấu”, “độc”.

Thông tin trên không gian mạng thì không có biên giới, tất cả mọi người ai cũng có thể trở thành con mồi bị tấn công của chúng. Ngay cả việc Việt Nam trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền liên hợp quốc thông qua việc bỏ phiếu tại Đại hội đồng một cách dân chủ, công khai, khách quan cũng bị các trang thông tin của Việt Tân xuyên tạc, khẳng định kết quả là không khách quan.

Những thông tin xấu độc thường được đăng tải với nội dung hấp dẫn, thu hút người đọc, tạo ra dư luận tiêu cực cho người đọc, mang tính kích động cao. Chúng đưa vào đó khoảng 2-3 phần là sự thật, còn 7-8 phần là xuyên tạc, suy diễn với các thuyết âm mưu nhằm dẫn dụ người đọc, người xem. Nếu không thận trọng, tỉnh táo trong cách nhận diện các vấn đề thì người đọc sẽ rất dễ tin vào các trang phản động, chống phá Nhà nước, chống phá chế độ. Đây là điều cực kỳ nguy hiểm.

Để không bị các phần tử xấu kích động, “dắt mũi” bởi các thông tin xấu độc thì mỗi chúng ta cần giữ được lập trường, bản lĩnh vững vàng, kiểm chứng và chọn lọc thông tin một cách rõ ràng, thận trọng trong việc chia sẻ thông tin. Sự hiểu biết và thận trọng trong tiếp nhận thông tin sẽ là giải pháp hữu ích để giúp người đọc tránh được các thông tin xấu và độc hại. 

CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CHUNG TAY XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA LÀNH MẠNH

 

Sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động và các tệ nạn xã hội nếu thâm nhập vào các cơ quan, đơn vị trong quân đội sẽ gây tác hại khôn lường. Nó làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ ta bị vẩn đục; làm xói mòn niềm vào mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nghi ngờ về sự thành công của đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thậm chí làm hoen ố phẩm giá, nhân cách con người Việt Nam, phai mờ hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” trong con mắt bạn bè quốc tế, gây dư luận xấu trong lòng xã hội ta, là cơ sở “ươm mầm”, “nảy nở” mọi thói hư, tật xấu, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và sẽ là nguy cơ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

          Lây nhiễm lối sống phương Tây, đề cao thái quá đời sống vật chất, sùng bái đồng tiền, vì tiền; coi thường nhân nghĩa, đạo lý, vi phạm pháp luật, kỷ luật rất nghiêm trọng. Phải chăng, việc phạm pháp, thoái hóa, biến chất, mất nhân cách ở một số cán bộ, chiến sĩ có nguyên nhân sâu xa từ sự “lây nhiễm” các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động, các tệ nạn xã hội thẩm lậu vào các cơ quan, đơn vị không được kiểm soát, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi?

          Thấy rõ sự nguy hại đặc biệt nghiêm trọng của các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động và các tệ nạn xã hội đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ; cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị các cấp trong quân đội đã có nhiều chủ trương, giải pháp tích cực như xác định đúng và trúng mục tiêu, mô hình, nội dung, tiêu chuẩn xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu".

          Nhờ đó đã góp phần ngăn chặn, đẩy lùi, khắc phục có hiệu quả những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa phẩm đồi trụy; không để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; giữ vững, nuôi dưỡng và phát huy tốt vai trò, bản lĩnh, nhân cách cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong xây dựng môi trường văn hóa trong sạch lành mạnh; làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ ngày càng tốt hơn theo hướng chân, thiện, mỹ.

DANH DỰ MỚI LÀ ĐIỀU THIÊNG LIÊNG, CAO QUÝ NHẤT

 

“Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất” - Đó là lời nhắc nhở sâu sắc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với các cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh một thông điệp đó là cán bộ, đảng viên phải luôn coi trọng danh dự bởi vì danh dự là điều thiêng liêng nhất. Trước yêu cầu công cuộc đổi mới ngày càng gay gắt, ngày càng phức tạp và ngày càng khó khăn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng muốn gửi đến cán bộ, đảng viên lời nhắn nhủ nếu không vượt qua được chính mình, không giữ được danh dự, liêm sỉ thì không chỉ cá nhân, gia đình đó mất hết mà sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHẬN DIỆN, PHÂN TÍCH, PHÊ PHÁN MỘT VÀI KHUYNH HƯỚNG GIẢI THIÊNG TRONG VĂN HỌC!

     Vận dụng những tri thức mới nhất về triết học liên văn hóa, căn cứ vào thực tế diễn ra của văn học đương đại Việt Nam và thế giới, căn cứ vào những đặc trưng cơ bản của văn học, lấy điểm tựa là quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về vai trò, sứ mệnh của văn học nghệ thuật, bài viết nhận diện một vài khuynh hướng giải thiêng trong văn học Việt Nam từ sau 1975: Về quan niệm “văn học minh họa”; về khuynh hướng hạ bệ thần tượng; hạ thấp, xuyên tạc các giá trị văn hóa; về khuynh hướng cổ vũ “diễn ngôn bên lề”, “diễn ngôn ngoại vi”, phân tích các biểu hiện, chỉ ra một cách cụ thể nguyên nhân. Trên cơ sở đó, trên nét lớn, bài viếtss đưa ra những giải pháp khắc phục hạn chế, tiêu cực cả ở phía chủ quan và khách quan!
Triết học liên văn hóa (The Intercultural Philosophy) đang là hướng nghiên cứu ưu trội được vận dụng, hưởng ứng mạnh mẽ trên thế giới, nhất là trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Với quan niệm bất kỳ hiện tượng văn hóa nào cũng là sự hội tụ, kết tinh từ nhiều luồng văn hóa để hướng đến những điểm tương đồng trên nền tảng các khác biệt, do vậy nhận thức một vấn đề không chỉ từ cái nhìn dân tộc, đa chiều hơn, từ nhiều hướng khác nhau để tìm ra những giá trị phổ quát, nhân loại. Trên cơ sở đó, bài viết sẽ nhận diện, phân tích, phê phán một vài quan niệm chưa đúng, vội vã, lệch lạc hoặc cố tình hiểu sai (để phủ nhận) về văn học, góp phần đưa vấn đề về đúng vị trí vốn có. Trọng tâm là tập trung vào vấn đề “giải thiêng” biểu hiện ở nhiều cấp độ.

Khái niệm “giải thiêng” (désacraliser) có nghĩa là xóa bỏ tính thiêng liêng của một đối tượng vốn không xứng đáng như thế. Gắn liền với sự phân tích, đánh giá trên cơ sở những cứ liệu thuyết phục nên đó là khoa học, nhất là trong khoa học lịch sử. Trái với “giải thiêng” là “chiêu tuyết” tức rửa oan, giải oan cho một nhân vật nào đó. Thế kỷ XV vua Lê Thánh Tông “chiêu tuyết” cho Nguyễn Trãi là một ví dụ. Như vậy “giải thiêng” đích thực không có nghĩa tiêu cực, nhưng nếu vô tình hoặc lợi dụng, nhất là với những người có vị thế, uy tín thì dễ gây hiệu ứng không tốt trong xã hội.

Về quan niệm “văn học minh họa”
Trước hết, xin được khẳng định trong số những người đi theo khuynh hướng này, có không ít người tốt, tâm huyết với văn chương, đau đáu một tâm nguyện văn học cần phục vụ tốt hơn nữa, cống hiến nhiều hơn nữa cho nhân dân, cho cách mạng. Tiêu biểu là nhà văn tài năng Nguyễn Minh Châu. Nhưng phát ngôn của họ, do thiếu một sự chặt chẽ, vội vã, nôn nóng nên bị lợi dụng, bị đẩy lên thành một “quan niệm” mang tính phủ nhận nền văn học cách mạng giai đoạn 1945 – 1975. Đây là bài học không chỉ cho các văn nghệ sỹ mà còn cho cả các cơ quan báo chí khi đăng tải cần sự biên tập kỹ càng, thấu đáo. Ngay tên bài viết của Nguyễn Minh Châu “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” (Báo Văn nghệ số 49 & 50, ngày 5/12/1987) đã “sơ hở”. “Ai điếu” là đọc điếu văn buồn, tức muốn “chôn” vào quá khứ cả “một giai đoạn văn nghệ”, trong đó có cả tác phẩm của nhà văn. Hạt nhân hợp lý của bài viết là không thể phủ nhận nhưng rõ ràng cách dùng “tít” như thế gây ấn tượng về sự tiêu cực nhiều hơn. Hơn nữa đây lại là lời “kêu gọi” (Hãy) của một nhà văn có công lao bậc nhất thì hiệu ứng bất lợi càng lớn, thế là tạo ra cả một “khuynh hướng”. Cần nhìn nhận vấn đề thế nào?

1. Xin được nhắc lại một đặc trưng cơ bản mang tính nguyên lý, phổ biến của văn học là tiếng nói của tâm hồn, là tấm gương của cuộc sống, là hơi thở của thời đại. Văn học thời Trần (thế kỷ XIII) mang âm hưởng sử thi được kết từ muôn vạn tiếng thét “Sát Thát” quyết giết giặc Nguyên hung bạo để đất nước hòa bình. Văn học thời Lê (thế kỷ XV) tiêu biểu là “Cáo bình Ngô” hùng tráng của Nguyễn Trãi phản ánh khí thế quật khởi của cả dân tộc đứng lên dưới cờ đại nghĩa đuổi giặc thù…

Nhìn ra thế giới, ngược về lịch sử, các nền văn học Hy Lạp - La Mã, văn học Ấn Độ cổ đại đều mang giọng điệu sử thi chủ âm được vọng vào từ thực tế lịch sử các cuộc chiến tranh… Sau này, ở thời cận đại, văn học Pháp, văn học Mỹ đều mang dấu ấn sâu đậm hình ảnh, tính chất các cuộc cách mạng… Thế nên giai đoạn văn học cách mạng 1945 – 1975 của ta phản ánh trung thực các cuộc kháng chiến chính nghĩa thần thánh của dân tộc là hoàn toàn đúng với quy luật. Con thuyền văn học luôn trôi xuôi dòng chảy thời đại, bắt nó chảy ngược là sự phi lý, phản lịch sử. Không ai có thể bắt văn học nói tiếng nói khác với thời đại mà nó có nhiệm vụ phản ảnh, miêu tả.

Phải chống lại các siêu cường thực dân, đế quốc lớn nhất, giàu có nhất thế giới nên cả dân tộc ta phải đoàn kết muôn người như một mới có thể tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù. Là một thành viên của đại gia đình văn hóa Việt Nam, văn học cũng phải “gồng mình” lên để cùng chiến đấu. Thế nên, hôm nay nhìn về văn học ngày ấy sẽ thấy các phạm trù mỹ học văn chương cũng tự phải phá vỡ các khung khái niệm thông thường để trở thành các “siêu nhân vật”, “siêu không gian”, “siêu kết cấu”, “siêu ngôn ngữ”, “siêu giọng điệu”… Ngôn ngữ thông thường không đủ diễn tả cái quá ác liệt, cái phi thường nên vươn tới ngôn ngữ của lương tri, của lý tưởng, chính nghĩa… Giọng điệu cá nhân không thể nói hết được cái hoành tráng, kỳ vỹ nên phải nhờ tới giọng điệu của thời đại... Chiến tranh là sự khủng khiếp, là mất mát, hy sinh. Nhưng cả dân tộc trọng danh dự này vẫn buộc phải cầm súng vì không chịu sống trong cảnh mất nước, không chịu làm nô lệ. Dễ hiểu vì sao giai đoạn văn học 1945 -1975 có sự đa dạng, giàu có nhất về giọng điệu, không thể có ở các thời trước đó, cũng rất khó gặp lại, có anh hùng ca, tráng ca, bi ca, tụng ca, hoan ca… Với tầm vóc lớn lao như vậy, một thái độ đúng đắn nhất là sự khẳng định mạnh mẽ hơn nữa giá trị văn hóa, ghi vào trang vàng lịch sử nước nhà nền văn học nhân đạo ấy. Sản sinh ra trong một thời kỳ đặc biệt nên văn học có những đặc điểm riêng, như vì dồn sức cho nhiệm vụ chính trị nên phải chạy theo sự kiện, coi trọng sự kiện, do vậy vấn đề con người chưa được chú ý đúng mức. Đây không phải là hạn chế, mà là một đặc trưng bởi hoàn cảnh cuộc sống kháng chiến cực kỳ ác liệt quy định. Chả lẽ vì một đặc trưng tất yếu mà phủ nhận cả một nền văn học sao?

2. Dưới góc nhìn liên văn hóa, các giai đoạn lịch sử không bao giờ đứng riêng rẽ mà luôn có sự tiếp nối, trao truyền. Như một dòng chảy, có khi phù sa văn hóa của thời trước chảy đến thời sau, gặp cơ hội mới lắng xuống, kết tinh tạo ra các sự kiện. Đúng như một nhà thơ nói, khi cả dân tộc đứng lên đuổi giặc Pháp và Mỹ thì còn có “cả bốn nghìn năm cùng ra trận”. Không hiện hữu, sức mạnh từ lịch sử nằm trong “vô thức cộng đồng” rồi truyền vào tinh thần thời đại. Ngày nay, triết học tâm linh (của thế giới) còn cho rằng linh khí tổ tiên, linh khí núi sông, đất trời cùng hội tụ với tinh thần cháu con làm việc nghĩa lớn. Nói theo cụ Nguyễn Trãi, thắng giặc còn là “Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ” (Cáo bình Ngô).

Nhìn từ liên văn hóa thời gian, trong văn học 1945- 1975 có sự vọng về từ quá khứ âm hưởng hùng tráng của các cuộc vệ quốc vĩ đại. Nhìn từ liên văn hóa không gian, thời điểm ấy cả nhân loại tiến bộ ngước nhìn và trao gửi tới Việt Nam một niềm tin, niềm hy vọng chính nghĩa sẽ thắng phi nghĩa. Đó cũng là cách giúp đỡ, ủng hộ, tiếp thêm sức mạnh. Với tư cách những ký hiệu văn hóa, các tác phẩm lớn luôn là mã nghệ thuật lưu giữ trong đó nhiều lớp ý nghĩa, không chỉ của thời này, mà còn của nhiều thời trước. Mở một trang sách quý sẽ thấy bóng dáng nhiều thời, nhiều nơi. Văn hay nói mãi không cùng là như vậy. Không ít tác phẩm văn học 1945 – 1975 của ta xứng đáng được như thế. Quy kết nó chỉ mang tính “minh họa”, cũng có nghĩa là “quy kết” cả lịch sử ư?

3. Vẫn theo liên văn hóa, các luồng tiếp biến, giao lưu văn hóa gặp gỡ, hội tụ sẽ kết tinh thành ba phạm trù mỹ học cơ bản là biểu tượng, nhân vật và ngôn ngữ. Một biểu tượng mang tính tỏa sáng, soi đường trong văn học 1945-1975 của ta làm nhiều nhà nghiên cứu phương Tây ngạc nhiên là biểu tượng ngày hội lên đường. Chỉ có thể là một dân tộc giàu có niềm tin, yêu hòa bình đến cháy bỏng, dũng cảm đến vô song mới biến ngày ra trận là ngày hội: “Xóm dưới làng trên, con gái con trai/ Xôi nắm cơm đùm, ríu rít theo nhau/ Súng nhỏ súng to chiến trường chật chội/ Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu” (Đường ra mặt trận - Chính Hữu).

Hình tượng Bác Hồ được văn học miêu tả như là sự kết tinh của các phạm trù thiêng liêng của lịch sử, của cả tương lai: Vĩ đại, anh hùng, trí tuệ, tinh anh, giản dị… Không chỉ mang tầm thời đại, trong hình tượng anh bộ đội còn có cả bóng dáng của người anh hùng thời Trần, thời Lê, thời Quang Trung… Hình tượng “cô gái mở đường” (tên một bài hát của nhạc sỹ Xuân Giao) được vẽ bằng ngôn ngữ lãng mạn của thơ và giai điệu trong trẻo của nhạc: “Em đi lên rừng cây xanh mở lối/ Em đi lên núi núi ngả cúi đầu”. Hình tượng được đẩy vượt lên vươn tới tầm vóc vũ trụ: “rừng cây xanh mở lối”, “núi ngả cúi đầu”. Bởi có gì vẻ vang, thánh thiện hơn công việc đuổi giặc để đất nước tự do đâu? Ở đời có gì quý hơn thân thế mình đâu, thế mà khi cần, những người tuổi trẻ sẵn sàng đem cái quý giá nhất là thân thể mình cống hiến cho Tổ quốc. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ tạc vào lịch sử hình tượng những người anh hùng ấy bằng thơ: “Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa/ Đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom” (Khoảng trời hố bom). Nhờ những con người vĩ đại ấy mà đất nước mới nở hoa Độc Lập, kết trái Tự Do để nhân dân ta có cuộc sống hạnh phúc như ngày nay!

Có một biểu tượng không gian đặc biệt là hình ảnh con đường – một biểu trưng sinh động cho bản lĩnh, ý chí, niềm tin Việt Nam... Mở đường Trường Sơn đi đánh Mỹ cũng là mở đường đi tới tương lai: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu). Làm đường cho quân ta đi đuổi giặc tức là mở ra chân trời mới rực rỡ: “Những đội làm đường hành quân trong đêm/ Nào cuốc nào choòng xoong nồi xủng xoảng/ Rực rỡ mặt đất bình minh” (Phạm Tiến Duật)…

Theo dòng thời gian, những lớp phù sa văn hóa lắng đọng sẽ kết thành biểu tượng. Nhờ được trồng vào mảnh đất lịch sử vẻ vang nhất nên rừng cây văn học 1945-1975 đã kết những trái cây biểu tượng tràn đầy sức sống, giàu có dinh dưỡng ý nghĩa văn hóa, mà trong lịch sử chưa bao giờ có được. Là thành tố cơ bản, biểu tượng quy định nội dung, tính chất của nền văn hóa. Nhìn từ biểu tượng cũng đủ khẳng định đây là một trong những giai đoạn văn hóa rực rỡ nhất của dân tộc. Văn học đã góp phần xứng đáng làm nên những giá trị ấy. Sao lại có thể hạ thấp nó?

Về khuynh hướng hạ bệ thần tượng; hạ thấp, xuyên tạc các giá trị văn hóa
Thần tượng là những danh nhân có thật trong lịch sử hoặc trong truyền thuyết đã được cộng đồng thừa nhận, khẳng định. Nhưng với ý đồ xấu mà có người “hạ bệ” họ bằng cách dung tục hóa, bôi nhọ, xuyên tạc. Lại có người cố tình dùng thủ đoạn đòi hạ thấp một giá trị văn hóa. Tạm khoanh nhóm này vào ba dạng:
Một là, bôi đen các nhân vật truyền thuyết với mục đích “giải thiêng” nguồn cội vẻ vang. Ví như có “tác giả” gốc Việt viết về bánh chưng nhưng với giọng dè bỉu gọi đó là món ăn tiểu nông chứng minh sự đói kém, vụng về, thô tục. Tức là mượn món ăn truyền thống cúng Tổ tiên trong ngày Tết cổ truyền để “giải thiêng” một biểu tượng văn hóa, thâm hiểm hơn là “giải thiêng” các Vua Hùng - một biểu tượng thiêng về cội nguồn cũng như tinh thần đoàn kết dân tộc. Cũng một “tác giả” ngoài nước gốc Việt lại cố tình hiểu thô tục chi tiết “Âu Cơ đem năm mươi người con lên núi, Lạc Long Quân đem năm mươi người con xuống biển” là “tạo ra truyền thống về sự ly dị”. Nhà văn nữ người Pháp Yveline Féray trong tiểu thuyết Vạn Xuân xuyên tạc hình tượng Nguyễn Trãi thành kẻ đầy bản năng tính dục làm tình với gái làng chơi…

Ở trong nước, qua tiểu thuyết “Giàn thiêu”, Võ Thị Hảo xuyên tạc huyền thoại Ỷ Lan cho xây chùa, khuyến khích đạo Phật là cách “hối lộ” Phật tổ để thoát tội giết Thái hậu Thượng Dương cùng bảy mươi sáu cung nữ; bôi đen huyền thoại thiền sư Từ Đạo Hạnh đầy bản năng dục vọng, ích kỉ nhỏ nhen... Một ý đồ xấu dễ thấy của họ là làm phân rã tính thiêng đạo Phật vốn ăn sâu vào tâm hồn, tính cách Việt, gieo rắc sự nghi ngờ dẫn tới phá hoại sự đoàn kết tôn giáo…

Nguyễn Quang Thân trong tác phẩm “Hội thề” lại đưa ra cái nhìn ngược khi miêu tả một vài tướng lĩnh quân Minh xâm lược hào hoa lịch lãm còn các vị tướng lĩnh Lam Sơn xuất thân ít học, thô lỗ, cuồng sát… Nguyễn Huy Thiệp từng miêu tả vua Quang Trung hám gái, tầm thường, Trần Vũ trong “Mùa mưa gai sắc” còn đi xa hơn khi mô tả có tính xuyên tạc cho rằng Nguyễn Huệ như “con mãnh thú” vô nhân tính. Theo hướng phân tâm học, Nguyễn Thúy Ái trong tập truyện ngắn “Tột đỉnh tình yêu” lại miêu tả Nguyễn Trãi theo nguyên tắc “bản năng gốc” thấp kém trong quan hệ tình ái với Thị Lộ…

Hai là, hạ bệ các danh nhân lịch sử có thật, tiêu biểu là sự tập trung điên cuồng xuyên tạc, phủ nhận hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở phương diện tư tưởng và đạo đức bằng cách bịa đặt, xuyên tạc với dụng ý tạo ra một con người Hồ Chí Minh khác hẳn, đối lập với con người Hồ Chí Minh lớn lao, trong sáng ở đời thường. Vì hình tượng là một cá nhân thực sự vĩ đại nên để tạo ra một hình tượng khác thì “tác giả” cũng phải có thủ đoạn tinh vi, đó là: Lê Hữu Mục, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Vũ Thư Hiên, rồi Nguyễn Minh Cần, Thế Anh, Minh Võ….

Ba là, xuyên tạc về cuộc kháng chiến, nhất là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước anh hùng của dân tộc không phải là cuộc đấu tranh chống xâm lược mà chỉ là sự xung đột ý thức hệ giữa “cộng sản” và “tư bản”. Luận điệu này khó lừa bịp được ai vì vấn đề đã trở nên rõ ràng nhưng vì là phát ngôn của những “tên tuổi” (như Dương Thu Hương) nên gây ngộ nhận ở không ít độc giả nước ngoài, nhất là với người gốc Việt “bất đồng chính kiến”. Có nhà văn cho nhân vật nhại câu thơ nổi tiếng (Đường ra trận mùa này đẹp lắm!) để ngầm mỉa mai cả một thời anh hùng. Lại có kiểu “hạ bệ” một cách hồn nhiên của một vài “nghiên cứu”. Ví như có người “khẳng định” tư duy văn học cách mạng 1945-1975 là “tư duy cổ tích”...

Không bàn đến vấn đề động cơ, mục đích đã quá rõ ràng của những kẻ xấu, trên cơ sở khoa học, ở đây xin được vạch ra những sai lầm, ngụy biện, tư biện rất đáng chê trách.

Chủ nghĩa hậu hiện đại (post modernism) phương Tây đã có từ những năm 60 thế kỷ trước, ảnh hưởng vào nước ta đúng thời kỳ “mở cửa” nên một số người đã tiếp thu thiếu chọn lọc một vài đặc trưng “giải thiêng”, “phá phách”, “hỗn loạn”, “vô trật tự”… Lại thêm sự lợi dụng lý thuyết mô hình (một lý thuyết tiến bộ) với quan niệm nhà văn sáng tạo tác phẩm tức là kiến tạo nên một mô hình đời sống mới. Mô hình này thoát thai từ đời sống, chỉ thống nhất chứ không đồng nhất với đời sống. Cấu trúc mô hình (tác phẩm) này hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng, sự liên tưởng, tưởng tượng, hư cấu của nhà văn. Có khi nó đồng dạng, có khi “lộn ngược” với đời sống. Hầu hết các “tác phẩm” thuộc khuynh hướng giải thiêng thuộc dạng mô hình “lộn ngược”, mà sai lầm lớn nhất là đi ngược chiều với quan niệm tích cực, tiến bộ. Các biểu tượng thiêng liêng (như kể ở trên) đã ổn định trong nhận thức của lịch sử văn hóa dân tộc, đã trở thành “mẫu gốc” (archetyp) cực kỳ bền vững, nhưng đến lượt họ lại đưa ra cái nhìn ngược lại. Tưởng như thế là độc đáo, mới lạ có thể gây chú ý nhưng thực tế thì, xét về khoa học là phản chân lý, phản sự thật; xét về đạo lý là xúc phạm cộng đồng. Mỹ học tiếp nhận hiện đại gọi đó là “nói ngược”, “phản tiếp nhận”... Chiêu trò này không mới, đã có từ rất xa xưa mà nhân loại đã đúc kết vào thành ngữ: “Kẻ đốt đền”. Muốn được nổi tiếng nên có kẻ khùng (Herostratos) đã phóng hỏa đốt đền thờ thần Artemis, một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Thế là hắn “nổi tiếng” thật nhưng theo kiểu bị nhân loại đời đời nguyền rủa. Một số “tác giả” kể trên không biết có được “nổi tiếng” như “kẻ đốt đền” kia không nhưng dứt khoát bị độc giả lên án, tẩy chay.

Lợi dụng đặc trưng mơ hồ, đa nghĩa (ambiguity) vốn là một nét bản chất của nghệ thuật. Lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống, nhờ tài năng hư cấu, óc tưởng tượng, liên tưởng, nhà nghệ sỹ kiến tạo nên tác phẩm. Từ hiện thực khách quan, hình tượng nghệ thuật đi vào tác phẩm sẽ bị khúc xạ bởi lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ, do vậy tất yếu luôn mang một độ “mờ” nhất định. Hình tượng được miêu tả càng xa hiện tại, độ “mờ” càng lớn. Thế nên hầu hết các “tác phẩm” đi theo lối “hạ bệ thần tượng” thường là truyện/tiểu thuyết lịch sử. Các “tác giả” trên đã làm cái việc ngược đời là trồng cây độc lên trên nền móng bằng vàng của lịch sử nên cây không thể sống được, nó tự héo úa, sớm muộn cũng bị độc giả dọn vứt đi. Một vài trong số họ “biện luận” rằng đã là văn cương thì phải hư cấu, nếu viết đúng như lịch sử thì không còn là văn chương nữa. Nhìn từ triết học liên hóa thì quá khứ là bệ phóng, là điểm tựa nên hiện tại phải tôn trọng, trân trọng lịch sử để rút ra bài học cho tương lai. Với văn chương, chỉ được phép hư cấu trên cái nền ổn định của lịch sử. Hiểu vậy thì nhà văn hoàn toàn có thể sáng tạo mới về Nguyễn Trãi, Quang Trung… theo hướng làm tôn lên những phẩm chất anh hùng cao cả, nhân văn. Còn viết ngược lại là phá vỡ cấu trúc một biểu tượng văn hóa tức phá hoại tài sản văn hóa dân tộc. Một thái độ khoa học, phục tùng chân lý, tôn trọng công lý là chỉ có thể “giải thiêng” những nhân vật lịch sử nào bị nhìn nhận sai lệch, bản chất xấu nhưng lại được đánh giá là tốt!

Vận dụng thô thiển “giải cấu trúc” (deconstructivism) vốn là lí thuyết chống lại sự tuyệt đối hóa của chủ nghĩa cấu trúc coi ngôn ngữ là hệ thống ổn định, bất biến. Giải cấu trúc kêu gọi khám phá mâu thuẫn của văn bản để tìm ra “nghĩa bỏ sót” còn bị đóng kín. Có người căn cứ vào một đặc điểm của văn học kháng chiến là phân cực địch/ta; tốt/xấu; dũng cảm/hèn hạ… rồi xếp văn học này vào loại hình tư duy cổ tích, tức đẩy nó về với thời xa xưa, lạc hậu. Chỉ lấy một đặc trưng, cố tình bỏ qua các đặc điểm khác để ép vấn đề vào một loại hình khác, dân gian mỉa mai cách làm này là “gọt chân cho vừa giày”. Sự quy chụp khiên cưỡng này không chỉ thể hiện sự thiếu tính khoa học, còn là thái độ thiếu tôn trọng lịch sử, thiếu trân trọng giá trị văn hóa dân tộc. Chỉ cần hỏi lại: một nét đặc trưng tư duy của thi pháp cổ tích là phi thời gian, phi không gian, trong văn học kháng chiến có như vậy không. “Nhà nghiên cứu” ấy sẽ không bao giờ chứng minh được!

Về khuynh hướng cổ vũ “diễn ngôn bên lề”, “diễn ngôn ngoại vi”.
Những năm giữa thế kỷ XX, ở phương Tây, do sự phát triển không đều giữa các khu vực, các trung tâm đô thị tập trung vốn tư bản ngày càng trở nên giàu có, các vùng ngoại vi vẫn nghèo nàn. Tác giả Immanuel Wallerstein (1930 – 2019) – nhà sử học (lịch sử kinh tế), nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ, đã khái quát thành lý thuyết trung tâm – ngoại vi (Core – Peripheral Theory), lấy đó làm công cụ tìm hiểu, khám phá những quan hệ kiến tạo nên hệ thống thế giới ngày nay (được nâng thành Lý thuyết hệ thống thế giới hiện đại Modern World-Systems Theory). Thuyết này khẳng định nếu “trung tâm của sự tích lũy” (centers of accumulation) ngày càng lớn sẽ làm sâu sắc thêm sự phát triển không đồng đều, do vậy phải chuyển hướng ra “ngoại vi”. Khái niệm “marginalism” (ngoại biên, ngoại vi, bên lề) ra đời ảnh hưởng đến nhiều ngành khoa học. Khái niệm “văn hóa ngoại biên” (marginal culture) xuất hiện để chỉ vùng trung gian gặp gỡ, tức các “đường biên” là nơi cộng sinh, pha tạp, chồng chéo nhau của nhiều dòng/luồng văn hóa, do vậy ở đây sức sống văn hóa mới mãnh liệt nhất.

Chưa hiểu thấu đáo lý thuyết này nhưng ở ta đã có không ít người vội vã vận dụng với quan niệm cái gì “ngoài lề” mới là giàu có “hàm lượng ý nghĩa” nhất nên muốn hiểu sâu “trung tâm” phải nghiên cứu “ngoài lề”. Tiêu biểu cho cách hiểu sai này là luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Thoan có tên “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở miệng từ góc nhìn văn hóa” (2010). Không chỉ vậy, nó nhanh chóng tràn vào ngôn ngữ tạo ra những “hiệu ứng ngoại biên, bên lề” (edge effect) thiên về tiêu cực. Đây chính là hiện tượng “giải thiêng ngôn ngữ”, nếu ngôn ngữ trong văn học sử thi (trung tâm) thành kính, đạo mạo, khuôn mẫu nên đơn điệu, cứng nhắc thì phải dùng ngôn ngữ thông tục (ngoại biên, bên lề) cho suồng sã, gần gũi, tự nhiên, giàu sắc thái…

Theo đó, về nội dung, nếu tình yêu trong “trung tâm” là thánh thiện, trong sáng thì ra “ngoại vi” nó phải “trần tục” như vốn có. Nhưng cũng phải “tế nhị” đôi chút nên khoác cho cái vỏ ngôn từ “diễn ngôn tính dục”. Trong văn xuôi được miêu tả một cách cặn kẽ, chi tiết với những cảnh sex khêu gợi, xa lạ với thị hiếu, mỹ cảm truyền thống. Trong thơ, bệnh hoạn hơn, có những hình ảnh đầy chất “quái lạ”: “Ăn trái vú em săn chắc thõng vào mặt như hai quả chuông”. Một so sánh phản cảm mang tính “vật hóa” con người. Diễn ngôn này thường sử dụng phép so sánh để dễ “nổi loạn”, thể hiện cái gì “khác thường”: “Bầy tinh trùng như bầy đom đóm bay trong đêm”; “Mùi gạch non như mùi nách đàn bà”. Hay sử dụng lối ấn dụ “trực quan”: “Em đi đùi mọng, vú mọng”… Tả người chưa đủ, còn tả cảnh “làm tình” của con vật: “Hai con thạch sùng làm tình không đủ làm ô uế bàn thờ/Cởi truồng trước ngàn con mắt nhện không cảm thấy xấu hổ”…

“Diễn ngôn tính dục” tràn vào ngôn ngữ âm nhạc cổ vũ cho thứ tình yêu tay ba, tay bốn: “Tôi tưởng em chỉ yêu thêm một người…/Nào ngờ đâu ngoài tôi em còn ba người nữa…”. Lại có “ca từ” quái gở: “Anh có một sở thích kỳ lạ là ăn thịt thỏ.../Nhưng mà anh chưa có cơ hội bỏ em vào nồi.../Là tại vì anh đã lỡ yêu em mất rồi...”.

Khoác cái áo “diễn ngôn thế tục”, với quan niệm ngoài đời có ngôn ngữ gì thì trong văn học cũng cần có ngôn ngữ ấy, nên nhiều “tác phẩm” vô tư sử dụng những ngôn từ, mà người bình thường đọc lên đã thấy xấu hổ. Có “ca từ” của một bài hát kêu rống lên: Bẹn ơi, mông ơi, háng ơi, nọn nường ơi... Có “nhà thơ” trẻ “cách tân” đưa “lông” vào thơ: “Tôi hỏi một không tám không/ Chị ơi nỗi nhớ thì lông màu gì?”. Cũng “tác giả” này từng “thảng thốt” “nhắc nhờ”: “Em ơi hở sịp rồi kìa…”. Những bài gọi là “thơ” dùng “thi liệu” “quái đản” như thế đọc qua đã thấy lợm cả họng, vậy nhưng không hiểu sao vẫn có người có thể viết ra được.

Nguyên nhân và những giải pháp khắc phục những hạn chế, tiêu cực trên
Tự thân các đơn vị nội dung trình bày ở trên đã phần nào cho thấy nguyên nhân những hạn chế, tiêu cực, có cả chủ quan, khách quan. Dưới đây xin khái quát một vài nét cơ bản.
1. Triết học liên văn hóa quan niệm cây xanh nghệ sỹ cần cắm sâu các chùm rễ khỏe khoắn vào ba mảnh đất: truyền thống dân tộc (cơ bản, quan trọng nhất), văn hóa nhân loại và cuộc sống đương đại để hút dưỡng chất văn hóa rồi vươn cao cành lá quang hợp ánh sáng lý tưởng của thời đại mà kết những trái cây tác phẩm hàm chứa những giá trị tinh hoa mang hương vị tư tưởng truyền thống và hiện đại, cá nhân và phổ quát. Chiểu theo quan niệm này thì một nguyên nhân lâu nay chúng ta coi nhẹ, thậm chí bỏ qua là tính nhân dân - một khái niệm lý luận nghệ thuật quan trọng bậc nhất. Trong các giáo trình đại học, hình như các bậc học giả do bị “hấp dẫn” bởi các “hậu hiện đại”, “hậu thực dân”, “trung tâm – ngoại vi”, “giới tính”,… (trong đó có cái đã lạc hậu) mà thiếu sự quan tâm khái niệm này. Trong khi đó đường lối đúng đắn của Đảng là tất cả đều vì dân. Xét riêng trong nghệ thuật thì nhân dân vừa sáng tạo ra của cải vật chất vừa sáng tạo ra những giá trị tinh thần. Vô luận trong trường hợp nào, tác phẩm nghệ thuật đều phải phản ánh những sự kiện, những vấn đề của đời sống có ý nghĩa đối với vận mệnh, hạnh phúc của nhân dân. Không chỉ là cội nguồn, là động lực, là mục tiêu của sáng tạo nghệ thuật, còn là người tiếp nhận, phổ biến, trao truyền, do vậy nhân dân cũng là người điều chỉnh nghệ thuật đi đúng với quỹ đạo tiến bộ. Vì thế mọi sự “chấn hưng”, “đổi mới” đều phải căn cứ vào vấn đề gốc là nhân dân. Phải hướng về nhân dân, viết về họ với những quan niệm, suy nghĩ, ước mơ, những khát khao, những nỗi buồn… Phải dùng ngôn ngữ, nếp nghĩ, nếp cảm của nhân dân để sáng tạo. Nghệ thuật cần “cái khác” nhưng “mỹ học cái khác” phải phù hợp, phải nằm trong nền mỹ học dân tộc - một nền mỹ học của nhân dân.

2. Trong nghệ thuật, tư tưởng quan niệm là vấn đề nền tảng nên phải thật quan tâm chú ý đến việc giáo dục tư tưởng chính trị và cập nhật tri thức cho văn nghệ sỹ một cách thực chất, hiệu quả. Thực tế vừa qua cho thấy, vì gốc không vững nên có “cây” nghệ sỹ ngả theo xu hướng ngoại lai đã lạc hậu với thiên hạ, xa lạ với văn hóa Việt lại đem về “lai ghép” thành ra hỗn độn, tối tăm. Đây không chỉ là quan niệm, còn là vấn đề nhận thức và tri thức về văn hóa, văn minh thời đại. Vì không hiểu lịch sử, trường phái, ý thức, không phân biệt tích cực, tiêu cực, những cái không phù hợp… của “hậu hiện đại” mà có người “bứng” cả cái cũ, cái lạ (không phải mới) về Việt Nam rồi “sáng tác”… Ngoài sự thiếu tỉnh táo, cảm tính còn cho thấy sự đọc chưa rộng về cái hay dở, cũ mới của thế giới.

3. Phải có chiến lược xây dựng hệ thống lý luận văn học nghệ thuật của riêng Việt Nam với quan điểm bên cạnh việc học tập tinh hoa lý luận văn nghệ nước ngoài, cơ bản và chủ yếu là nghiên cứu tiếp thu, kế thừa, phát triển lý luận văn nghệ truyền thống dân tộc. Vấn đề này Bác Hồ đã nhắc nhở mấy chục năm trước: “Muốn thấy hết cái hay, cái đẹp của nghệ thuật dân tộc ta, thì phải đừng bị trói buộc bởi những tiêu chuẩn này nọ của nghệ thuật phương Tây… phải dựa trên tiêu chuẩn của ta. Tiêu chuẩn ấy là gì? Đó là nền mỹ học ẩn chứa trong thực tiễn truyền thống nghệ thuật dân gian, dân tộc”[1]. Bất kỳ lý thuyết nào cũng ra đời trên một cơ sở xã hội riêng, do vậy lý thuyết nước ngoài nào vào Việt Nam bao giờ cũng có “độ vênh” nhất định. Nếu không có sự điều chỉnh, khắc phục, “độ vênh” ấy sẽ tạo ra những hệ lụy tất yếu. Trong khi đó mỹ học của cả một nền văn học nghệ thuật truyền thống của ta là cả một kho vàng tư tưởng còn chìm trong các sáng tác văn chương chưa được khám phá, khai thác.

4. Cần thiết tổ chức cho văn nghệ sĩ các chuyến thâm nhập thực tế dài ngày. Nghệ sỹ chỉ có thể kiến trúc mô hình tác phẩm vững vàng, chắc chắn từ chất liệu phong phú, sinh động ngoài cuộc sống thực. Phải sống sâu sắc, nhập thân vào đời mới thấu hiểu đời, thấu cảm người, mới đủ cách thức, tập quán, ngôn ngữ, quan niệm, suy nghĩ… để mã hóa vào tác phẩm rồi truyền cảm vào thế giới tinh thần bạn đọc./.
---------------------------
(1). Davidovich, V.E. (2002). Dưới lăng kính triết học, Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội.
(2). Mịch Quang (2004). Khơi nguồn mĩ học dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội
(3). Ngô Đức Thịnh (2004). Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam, Nxb. Trẻ. Tp. Hồ Chí Minh.
(4). Stephen Norris (2004) – Thomas Kuhn’s Impact on Science Education: What lessons can be learned? Science Education Volumn88, Issuel January.
(5). J.A. Cuddon (1999). Literary Terms and Literary Theory, Fourth Edition, Penguin books. London.
(6). Thomas Kuhn (2008) – Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học. Nxb Tri thức. Chu Lan Đình dịch.
[1] Mịch Quang (2004) Khơi nguồn mĩ học dân tộc. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 8-9.
Yêu nước ST.

 XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LẤY ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG LÀ "GỐC"


Trong bài phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng "Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập cụ thể tiêu chuẩn của các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV. Đó là phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có phẩm chất đạo đức và lối sống trong sáng, gương mẫu, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tín nhiệm; có trí tuệ, tầm nhìn, tư duy chiến lược và kiến thức tương đối toàn diện để tham gia hoạch định đường lối, chính sách… 

Trong đó, Tổng Bí thư nhấn mạnh tới phẩm chất đạo đức cách mạng, xem đây là gốc: "Nói tóm lại là phải vừa có Đức vừa có Tài, trong đó Đức là gốc". Đây cũng chính là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn, cán bộ cần phải vừa có đức, vừa có tài. Không có tài thì làm việc gì cũng khó. Nhưng có tài mà không dựa trên nền tảng đạo đức thì thành người vô dụng, thậm chí là có hại. Đạo đức cách mạng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là: Trung với nước hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW (ngày 9/5/2024): Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới. Quy định thể hiện quyết tâm của Đảng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ vững vàng về phẩm chất chính trị, trong sáng về đạo đức, lối sống.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, trong công tác cán bộ, Đảng ta luôn đề cao phẩm chất đạo đức cách mạng và có nhiều giải pháp để cán bộ, đảng viên rèn luyện, nâng cao. Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII đề cập đến chiến lược đội ngũ cán bộ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xác định nội dung đào tạo phải chú trọng bồi dưỡng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các kiến thức về lịch sử, địa lý, văn hóa...

Nghị quyết Trung ương 7, khóa XII đề cập đến xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược tiếp tục xác định nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trước tiên là nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thực hiện nghiêm túc các chủ trương của Đảng, đến nay chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp ngày càng nâng cao; đa số có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện; trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường đã làm không ít cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" sa vào nạn quan liêu, tham nhũng làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Theo Tổng Bí thư, tình hình tư tưởng trong Đảng và tâm trạng trong nhân dân hiện nay, bên cạnh mặt tích cực là cơ bản, thì sự suy thoái dẫn đến tham nhũng, tiêu cực của đội ngũ cán bộ chính là "những biểu hiện đáng lo ngại".

Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực đầy cam go thời gian qua cho thấy, chính "gốc đạo đức" không bền là nguyên nhân dẫn tới nhiều cán bộ, đảng viên trong đó có cả cán bộ lãnh đạo quản lý bị tha hóa, biến chất, có hành vi nhận tham ô, hối lộ. Để ngăn chặn những biểu hiện này, phải bắt đầu từ việc vun xới sao cho "gốc vững, cây bền" nghĩa là người cán bộ trước tiên đạo đức cách mạng phải thật vững.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh "Đức làm gốc", bởi vậy trong xây dựng, lựa chọn đội ngũ cán bộ, chúng ta cần làm tốt hơn nữa những chủ trương, định hướng của Đảng về nội dung này như: Đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021, Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; Quy định số 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương…

Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW (ngày 9/5/2024): Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới. Quy định thể hiện quyết tâm của Đảng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ vững vàng về phẩm chất chính trị, trong sáng về đạo đức, lối sống.

Quy định ngắn gọn, gồm 5 điều chính, chứa đựng nội dung cốt lỗi về phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ cách mạng chân chính; là cẩm nang cho các cấp ủy đảng trong công tác giáo dục đảng viên cũng như tấm gương để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa hằng ngày. Việc trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng là việc khó, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

Thời gian chuẩn bị cho đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng không còn nhiều. Thiết nghĩ mỗi cấp ủy, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh thực hiện những chủ trương, định hướng về rèn luyện đạo đức cách mạng của Đảng, nhất là những quy định mới để góp phần xây dựng, lựa chọn được những cán bộ thật sự tiêu biểu, đủ đức đủ tài, có uy tín, năng lực lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới./.

   Chiến tranh đã đi qua nhiều năm nhưng những hậu quả và dư âm của nó còn sót lại vẫn rất lớn lao và khốc liệt, ghi dấu mãi mãi trong tâm trí mỗi thế hệ người dân Việt Nam, ngày 27/7 lại đang đến gần, đó là ngày mà nhân dân cả nước đã giành riêng để tưởng nhớ công lao của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống hi sinh vì đất nước, vì độc lập tự do của dân tộc chúng ta có được hòa bình độc lập như ngày hôm nay chính là nhờ một phần lớn công lao của các thế hệ đi trước.

    Chiến tranh đã lùi xa nhưng máu đào của các anh hùng liệt sĩ vẫn luôn thắm đỏ, sự hy sinh của các anh hùng liệt sỹ sự đau thương mất mát của thân nhân liệt sĩ của các đ/c thương binh, bệnh binh, các đ/c thanh niên xung phong, những người ảnh hưởng di chứng chiến tranh vẫn chưa thể nguôi ngoai, vẫn còn biết bao vết thương chưa lành trên dải đất hình chữ S. Sự hy sinh cao cả ấy Tổ quốc và nhân dân luôn trân trọng và ghi nhận.Thấu hiểu những hy sinh to lớn đó, Bác Hồ đã viết: "Máu đào của các liệt sĩ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do". Cho nên đối với "những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng", và Người giải thích: "Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy, mọi người phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sỹ, để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã để lại".
    Ghi nhận công ơn của các thương binh, liệt sỹ Trong thư gửi đồng bào Việt Nam Chủ tich Hồ Chí Minh đã bày tỏ “ Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam đã vì Tổ quốc mà hy sinh anh dũng”. Và để nhân dân ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, biết ơn đối với những thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với đất nước tháng 6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh Chỉ thị chọn một ngày trong năm làm “Ngày Thương binh - Liệt sĩ”. Thực hiện Chỉ thị của Người, Hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở Trung ương, các khối và các tỉnh họp tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã bàn bạc, nhất trí lấy ngày 27 tháng 7 hằng năm làm “Ngày Thương binh - Liệt sĩ”. Kể từ đó, ngày 27 tháng 7 trở thành ngày có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội nhân văn sâu sắc, mang đậm bản sắc truyền thống Việt Nam. Những ngọn nến lung linh được thắp trên hàng vạn ngôi mộ liệt sĩ từ Bắc vào Nam, những ngọn hoa đăng thả xuống những dòng sông, trên Biển Đông bạc sóng trong những ngày tháng 7 hằng năm không chỉ là lời nhắc nhở về chủ quyền thiêng liêng, mà còn là để chúng ta suy nghĩ về trách nhiệm, tình cảm của mỗi người dân Việt hôm nay với lớp lớp anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng.     Kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, với lòng biết ơn vô hạn, thế hệ chúng tôi đi sau xin kính cẩn tưởng nhớ các bậc cách mạng tiền bối, các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì nền độc lập, tự do và sự thống nhất đất nước và nguyện tiếp tục nêu cao đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, bằng tình cảm và trách nhiệm tiếp tục quan tâm, thực hiện tốt hơn nữa chính sách đối với thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công.