Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của
con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và Công ước
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
Tự do ngôn luận và những hành vi lợi dụng trên không gian
mạng
Thời gian qua, cùng với sự phát triển của công nghệ thông
tin, hình thức thể hiện của tự do ngôn luận có sự biến đổi lớn. Internet, mạng
xã hội trở thành công cụ phổ biến để mọi cá nhân, tổ chức bày tỏ quan điểm, tư
tưởng, truyền bá thông tin, thể hiện quyền tự do ngôn luận. Sức lan tỏa và ảnh
hưởng của nó rất mạnh mẽ và nhanh chóng, tạo được sự chú ý, quan tâm theo dõi của
số đông người dân, nhất là những người có ảnh hưởng trong xã hội.
Chỉ cần sở hữu phương tiện điện tử (điện thoại thông
minh, laptop) có kết nối Internet, cá nhân có quyền tự do truyền đạt thông tin,
ý kiến của mình đến người khác mọi nơi, mọi lúc. Tình trạng các hội, nhóm tiêu
cực xuất hiện trên không gian mạng có xu hướng ngày càng gia tăng gây tác động
xấu đối với người sử dụng mạng nói riêng và việc giữ gìn an ninh, trật tự xã hội
nói chung.
Thông qua các hội, nhóm tiêu cực, người dùng có thể tự do
bày tỏ ý kiến, quan điểm, đăng tải hay lan truyền bất cứ thông tin gì thông qua
tài khoản cá nhân của mình. Điều này mang đến những nguy cơ khi quyền này bị lạm
dụng, nhất là khi những người đăng tải thông tin trên không gian mạng có quan
điểm sai trái, thái độ cực đoan, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, dẫn đến bị
các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động hoặc vì động cơ cá nhân, một
số trường hợp đã đăng tải thông tin sai sự thật, xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
Điển hình như các trường hợp:
Nguyễn Phước Trung Bảo, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Thanh Nhã, Lê Thế Thắng, Trương
Châu Hữu Danh (trú tại Long An), Nguyễn Phương Hằng, Lê Anh Dũng (trú tại TP Hồ
Chí Minh), Lê Chí Thành (trú tại Bình Thuận)... Những trường hợp trên đều bị
truy cứu theo Điều 331, BLHS 2015 về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, cụ
thể là lạm dụng quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội. Sự lợi dụng các quyền tự
do ngôn luận trên không gian mạng đã và đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn
cho cộng đồng.
Tự do ngôn luận trên không
gian mạng phải tuân thủ pháp luật
Theo quy định tại Điều 19,
Công ước ICCPR năm 1966: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu
một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật,
nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc
trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Như vậy, theo quy định
của pháp luật quốc tế, quyền tự do ngôn luận không phải là tuyệt đối.
Với sự phát triển nhanh
chóng của công nghệ, mạng xã hội xuyên quốc gia như Facebook, Twitter, Youtube…
đã tạo ra những cơ hội, khả năng tiếp xúc, giao lưu văn hóa, hiểu biết lẫn nhau
giữa các dân tộc trên thế giới. Nhưng chưa bao giờ môi trường ảo lại nhiều tác
động tiêu cực như hiện nay. Tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận phát tán tin giả,
tin sai sự thật, các nội dung phản cảm, thiếu tính giáo dục, kích động bạo lực
trên không gian mạng đang diễn biến rất phức tạp.
Đảng và Nhà nước ta luôn
tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của
công dân. Tự do ngôn luận được xem là quyền hiến định ngay trong bản Hiến pháp
đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946: “Công dân Việt Nam có quyền:
tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự
do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” (Điều 10).
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục
khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông
tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy
định” (Điều 25). Khung pháp lý của nước ta về quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy
đủ, đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người.
Nhận thức rõ tầm quan trọng,
lợi ích cũng như những hiểm họa từ mặt trái của Internet và mạng xã hội, Đảng
và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách phù hợp nhằm phát triển
Internet và mạng xã hội; đồng thời bảo vệ an ninh mạng và phòng, chống lợi dụng
Internet, mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá chính quyền, xâm hại quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân.
Bên cạnh các quy định của
pháp luật, các biện pháp quản lý không gian mạng từ cơ quan có thẩm quyền thì
vai trò của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức
của con người thông qua cơ chế giám sát cũng hết sức cần thiết.
Đẩy mạnh giáo dục, tuyên
truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng mạng Internet. Nâng cao nhận
thức và năng lực tự sàng lọc thông tin của người dân và cộng đồng, hình thành
thói quen hành xử tích cực trên môi trường mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa
then chốt và lâu dài để mỗi người dân trở thành bộ lọc thông tin hiệu quả cho
chính mình và cộng đồng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét